Chủ Nhật, 2 tháng 3, 2025

Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến dự Lễ ra quân huấn luyện tại Trung đoàn 141 (Sư đoàn 3, Quân khu 1).

 Sáng 3-3, Trung đoàn 141 (Sư đoàn 3, Quân khu 1) tổ chức Lễ ra quân huấn luyện năm 2025. Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng dự, phát biểu chỉ đạo.

Cùng dự có Trung tướng Nguyễn Hồng Thái, Ủy viên Trung ương Đảng, Tư lệnh Quân khu 1.

Năm 2024, Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 1, Đảng ủy, chỉ huy Sư đoàn 3 và Trung đoàn 141 đã quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của cấp trên, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai toàn diện và hoàn thành tốt các nhiệm vụ.

Để chuẩn bị tốt công tác chuẩn bị huấn luyện năm 2025, Trung đoàn 141 đã quán triệt tới cán bộ, chiến sĩ chỉ lệnh của Quân khu về công tác quân sự, quốc phòng; các mệnh lệnh, hướng dẫn về huấn luyện chiến đấu năm 2025.

Xác định năm 2025, Trung đoàn là đơn vị điểm về xây dựng chính quy, quản lý kỷ luật, huấn luyện thể lực giỏi cấp trung đoàn; Tiểu đoàn 9 là đơn vị điểm về huấn luyện kỹ thuật chiến đấu bộ binh cho chiến sĩ mới.

Qua đó, 100% cán bộ, chiến sĩ đơn vị nắm chắc nhiệm vụ, nội dung, mức độ, thời gian, phân cấp huấn luyện; nội dung, chỉ tiêu, biện pháp xây dựng đơn vị điểm, xác định quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ năm 2025.

Trung đoàn đã kiện toàn biên chế khung cán bộ huấn luyện chiến sĩ mới theo đúng quy định, cán bộ huấn luyện đủ 100% từ tiểu đội trưởng trở lên, bảo đảm 100% hạ sĩ quan chỉ huy, nhân viên chuyên môn kỹ thuật cho khung huấn luyện chiến sĩ mới.

Biểu dương, ghi nhận những thành tích trong thời gian qua của cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn 141, thay mặt Thường vụ Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến yêu cầu Trung đoàn 141 quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng; các nghị quyết, chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về công tác huấn luyện, nhất là Nghị quyết số 44 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới... Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện và khả năng sẵn sàng chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Trung đoàn duy trì nghiêm nền nếp, chế độ trực sẵn sàng chiến đấu; thường xuyên rà soát, điều chỉnh, bổ sung kịp thời hệ thống văn kiện sẵn sàng chiến đấu ở các cấp. 

Chủ động phối hợp chặt chẽ với các lực lượng và cấp ủy, chính quyền địa phương nắm, dự báo chính xác tình hình, xử lý linh loạt các tình huống, không để bị động, bất ngờ, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn đóng quân.

Đồng chí Thứ trưởng Bộ Quốc phòng yêu cầu Trung đoàn tích cực nghiên cứu sáng kiến, cải tiến mô hình học cụ, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong huấn luyện. Chủ động xây dựng kế hoạch, quản lý, chỉ đạo, điều hành huấn luyện, bảo đảm “tập trung, thống nhất, đồng bộ, hiệu quả, không chồng chéo”.

Đội ngũ cán bộ phải khắc phục mọi khó khăn, nêu cao tinh thần trách nhiệm, tận tụy, gương mẫu, gần gũi với chiến sĩ, để tổ chức huấn luyện có chất lượng các nội dung, khoa mục, bảo đảm an toàn tuyệt đối. Đẩy mạnh Phong trào Thi đua Quyết thắng ở các cấp, tạo khí thế thi đua sôi nổi ngay từ những ngày đầu ra quân huấn luyện.

Cấp ủy, chỉ huy các cấp trong Trung đoàn cần kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện quân sự, giáo dục chính trị với xây dựng nền nếp chính quy, rèn luyện kỷ luật, chăm lo tốt đời sống vật chất, tinh thần bộ đội; bảo đảm đủ số lượng, chất lượng vũ khí trang bị cho nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu.

Thượng tướng Hoàng Xuân Chiến cũng lưu ý: Để phấn đấu trở thành người chiến sĩ ưu tú của Trung đoàn 141 - Đoàn Hoài Ân anh hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, các chiến sĩ mới cần nhận thức được niềm vinh dự, tự hào của người quân nhân, nhanh chóng hòa nhập môi trường quân ngũ. Đoàn kết thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, chấp hành nghiêm kỷ luật, góp phần xây dựng đơn vị vững mạnh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.

Dịp này, Trung đoàn 141 phát động đợt thi đua cao điểm “Thần tốc - Quyết thắng”, quyết tâm lập thành tích xuất sắc chào mừng kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.


Nhận thức về mô hình chủ nghĩa xã hội

 


 Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam (1991), Đảng ta đã xác định 6 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là: Xã hội do nhân dân lao động làm chủ. Có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất tiên tiến, hiện đại và chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu. Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Con người được giải phóng khỏi mọi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân. Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng phát triển. Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới. Đến Văn kiện Đại hội X (2006) so với Cương lĩnh 1991 có 6 điểm mới: Thứ nhất, đặc trưng “dân giàu, nước mạnh” được nêu thêm và đặt ngay từ đầu. Thứ hai, quan niệm về “nhân dân” thay cho “Nhân dân lao động”. Thứ ba, “quan hệ sản xuất phù hợp” thay cho “chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu”. Thứ tư, không đề cập đến vấn đề “bóc lột” trong đặc trưng “phát triển con người”. Thứ năm, “có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới” thay cho “với nhân dân tất cả các nước trên thế giới”. Thứ sáu, bổ sung đặc trưng “có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng”.

Cương lĩnh (bổ sung và phát triển năm 2011), Đảng ta tiếp tục có sự bổ sung, phát triển lý luận về mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”[1]HHHH

. So với Văn kiện Đại hội X, Đảng ta tiếp tục khẳng định 8 đặc trưng cơ bản, đồng thời, bổ sung, phát triển rõ hơn, đầy đủ hơn về mục tiêu tổng quát, về đặc trưng kinh tế và con người. Đến Đại hội XIII, tiêu chí “hạnh phúc”, tuy chưa đưa vào hệ mục tiêu của xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, nhưng được Đảng ta nêu ra như một thành tố trong mục tiêu tổng quát, đó là “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội,2011, tr.70.

Lý luận về giai cấp công nhân và xây dựng giai cấp công nhân

 


Lần đầu tiên Đảng ta đã nêu khái niệm giai cấp công nhân trong Văn kiện Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 6 (Khóa X): “Giai cấp công nhân Việt Nam là lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất, kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất, kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp”[1]. Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân được Đảng ta khẳng định: “Giai cấp công nhân nước ta có sứ mệnh lịch sử to lớn; là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam; giai cấp đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến; giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, lực lượng đi đầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; là lực lượng nòng cốt trong liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng”[2]. Để thực hiện sứ mệnh đó, trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng đã từng bước bổ sung các chủ trương, giải pháp để xây dựng và phát huy vai trò của giai cấp công nhân trong sự nghiệp đổi mới. Văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta tiếp tục bổ sung: “Xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh; nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn, chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng cho giai cấp công nhân. Chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, nhà ở và phúc lợi xã hội cho công nhân; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân. Đổi mới tổ chức và hoạt động của công đoàn phù hợp với cơ cấu lao động, nhu cầu, nguyện vọng của công nhân và yêu cầu hội nhập quốc tế; tập trung làm tốt vai trò đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân, tập thể công nhân. Định hướng, quản lý tốt sự ra đời, hoạt động của các tổ chức của công nhân tại doanh nghiệp ngoài tổ chức công đoàn hiện nay”[3].



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 6 (Khóa X), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2008, tr.43.

[2] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 6 (Khóa X), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2008, tr.43-44.

[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội,2021, tr.166.

Nhận thức mới về thời đại ngày nay

 


Kiên định với quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về thời đại, kế thừa các quan điểm của Hội nghị các đảng cộng sản và công nhân trên thế giới, từ 1986 đến nay, trong các văn kiện Đại hội, nhất là Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991) và Cương lĩnh (bổ sung và phát triển năm 2011), Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định nội dung, tính chất thời đại và nêu bật những phát triển mới về đặc điểm, xu thế giai đoạn hiện nay của thời đại. Đảng ta khẳng định: “Với thắng lợi của cách mạng Tháng Mười Nga - cuộc cách mạng vĩ đại mở ra thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội...”[1]. Mục tiêu của thời đại hiện nay là hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

Đặc điểm của thời đại hiện nay được Cương lĩnh 1991 đã chỉ rõ: đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc diễn ra quyết liệt, phức tạp, là đặc điểm nổi bật nhất; cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại diễn ra mạnh mẽ tác động đến tất cả các nước ở các mức độ khác nhau; chủ nghĩa xã hội hiện thực ở một số nước khủng hoảng, sụp đổ, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế tạm thời lâm vào thóai trào; chủ nghĩa tư bản còn có khả năng phát triển nhất định song những mâu thuẫn vốn có của nó vẫn ngày càng gay gắt và nhất định diệt vong; các vấn đề toàn cầu ngày càng gay gắt. Trong Văn kiện Đại hội IX, Đảng ta đã nêu lên một số nhận định về nội dung, tính chất của thời đại, đồng thời dự báo về đặc điểm thế giới trong thế kỷ XXI. Đến Đại hội XI, trong Cương lĩnh (bổ sung và phát triển năm 2011) chỉ rõ: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc”[2]. Đại hội XIII của Đảng ta đã bổ sung những nhận định phản ánh nội dung, đặc điểm và xu thế của thời đại. Đó là: Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư, nhất là công nghệ số phát triển mạnh mẽ; hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn; cục diện thế giới tiếp tục biến đổi theo xu hướng đa cực, đa trung tâm; chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền, chủ nghĩa dân túy gia tăng. Các nước đang phát triển, nhất là các nước nhỏ đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới…

Các mâu thuẫn cơ bản của thời đại hiện nay được Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh: “Các mâu thuẫn lớn của thời đại vẫn rất gay gắt”[3] và “biểu hiện dưới những hình thức và mức độ khác nhau vẫn tồn tại và phát triển”[4]. Mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản vẫn tồn tại và có sự phát triển mới. Mâu thuẫn giữa các nước thuộc địa, phụ thuộc với chủ nghĩa đế quốc được biểu hiện ở mâu thuẫn giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa đế quốc, giữa các nước đang phát triển với các nước tư bản phát triển và cũng biểu hiện dưới nhiều hình thức trên các lĩnh vực. Mâu thuẫn giữa đế quốc với đế quốc, biểu hiện hiện nay là mâu thuẫn giữa các nước tư bản phát triển, giữa các tập đoàn kinh tế tư bản đa quốc gia, xuyên quốc gia, giữa các trung tâm kinh tế, chính trị của chủ nghĩa tư bản với nhau. Mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, phát triển thành mâu thuẫn giữa lao động và tư bản, mâu thuẫn giữa đại đa số nhân dân với thiểu số giai cấp tư sản nắm quyền thống trị về kinh tế và chính trị.



[3] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2006, tr.79.

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.67.

HOÀN CẢNH LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM BỔ SUNG, PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY


Trên thế giới, cuối những năm 80 đầu những năm 90 thế kỷ XX, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại mà gần đây là Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư phát triển mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến các lĩnh vực đời sống xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc cũng như toàn thế giới. Toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, kinh tế tri thức phát triển trở thành đặc trưng nổi bật của nền kinh tế thế giới, tạo ra cơ hội và thách thức cho các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển.

Hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển là xu thế lớn, nhưng đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, chiến tranh cục bộ, xung đột dân tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, tranh chấp lãnh thổ, tài nguyên và cạnh tranh kinh tế tiếp tục diễn ra phức tạp. Chủ nghĩa khủng bố có chiều hướng gia tăng, lan rộng ở nhiều nơi trên thế giới. Các mâu thuẫn cơ bản của thời đại vẫn tồn tại và có những biểu hiện mới cả về nội dung, hình thức.

Trật tự thế giới sau sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở các nước Đông Âu và Liên Xô đã có sự thay đổi lớn, trật tự thế giới hai cực tan rã. Từ đó đến nay, đang hình thành một trật tự thế giới mới theo hướng đa cực, đa trung tâm, làm cho cục diện chính trị thế giới luôn biến đổi, khó lường. Các liên kết khu vực, tiểu khu vực ngày càng mạnh tạo nên những chủ thể quốc tế mới. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương ngày càng phát triển năng động, tác động mạnh mẽ đến sự điều chỉnh chiến lược tổng thể quốc gia của nhiều nước, nhất là các nước lớn.

Chủ nghĩa xã hội hiện thực trên thế giới có sự biến động sâu sắc. Cuối những năm 80 đầu những năm 90 của thế kỷ XX, chế độ xã hội chủ nghĩa ở các nước Đông Âu và Liên Xô lâm vào khủng hoảng, sụp đổ, làm cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế tạm thời lâm vào thóai trào. Tuy nhiên, một số nước xã hội chủ nghĩa vẫn kiên định mục tiêu, lý tưởng cộng sản, tiến hành cải cách, đổi mới, điều chỉnh, cập nhật đã đứng vững và giành được những thành tựu có ý nghĩa lịch sử. Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào cánh tả có bước phục hồi và phát triển mạnh ở một số khu vực.

Chủ nghĩa tư bản hiện đại chiếm ưu thế về vốn, khoa học, công nghệ, trình độ quản lý, tiến hành điều chỉnh, thích nghi, còn tiềm năng phát triển nhưng bản chất không thay đổi. Những mâu thuẫn vốn có của chủ nghĩa tư bản không những không mất đi, mà ngày càng sâu sắc. Chủ nghĩa tư bản tiếp tục lâm vào khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội, điển hình là khủng hoảng kinh tế 1997 - 1998; 2008 - 2010, khủng hoảng nợ công… đã minh chứng điều đó.

Các nước đang phát triển, kém phát triển đang tiến hành cuộc đấu tranh rất khó khăn, phức tạp để bảo vệ độc lập chủ quyền quốc gia, lợi ích quốc gia, dân tộc, chống đói nghèo, lạc hậu, phát triển kinh tế, xã hội. Ở nhiều nước và khu vực xảy ra những mâu thuẫn, xung đột về dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, mất ổn định chính trị - xã hội do những nguyên nhân nội tại và sự chia rẽ, phá hoại từ bên ngoài.

Các vấn đề toàn cầu, an ninh phi truyền thống như: biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, sinh thái, cạn kiệt tài nguyên; tình trạng đói nghèo; sự bùng nổ dân số và mất cân đối cơ cấu dân cư; các đại dịch lớn; xung đột dân tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang và chủ nghĩa khủng bố…ngày càng trở nên nghiêm trọng đòi hỏi sự hợp tác, giải quyết của cả cộng đồng quốc tế.

Ở trong nước, nền kinh tế nước ta bên cạnh những thành tựu đã đạt được còn nhiều hạn chế, yếu kém do sự giảm sút sản xuất vào cuối những năm 70, cùng với những sai lầm, khuyết điểm trong bố trí cơ cấu kinh tế, đầu tư và xây dựng cơ bản, đã để lại những hậu quả nặng nề. Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước yếu kém, đời sống nhân dân khó khăn; đất nước bị bao vây, cấm vận về kinh tế. Trước thực tế đó, với tinh thần “tôn trọng quy luật khách quan”, những chủ trương, chính sách đã được ban hành và thực hiện, làm cho nền kinh tế có chuyển biến tích cực. Việt Nam đã phá được thế bị bao vây cấm vận; cơ chế quản lý tập trung bao cấp từng bước được xóa bỏ, chuyển sang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ năm 1996 bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và đạt được những thành tựu rất quan trọng. Tình hình chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được củng cố vững chắc.

Quan hệ quốc tế của Việt Nam ngày càng rộng mở và đi vào chiều sâu ổn định; hội nhập quốc tế mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực, vị thế và vai trò của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Năm 1989, hoàn thành việc rút quân tình nguyện Việt Nam ra khỏi Campuchia; năm 1995 Việt Nam trở thành thành viên ASEAN, bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ; năm 1998 là thành viên của Diễn đàn kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC); năm 2007 là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)…quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước láng giềng ngày càng đi vào ổn định; xúc tiến đàm phán, ký kết và thực hiện phân định cắm mốc biên giới với Trung Quốc, Lào và Campuchia. Tuy nhiên, tình hình chính trị vẫn tiềm ẩn nhiều nhân tố có thể gây mất ổn định. Các nguy cơ như: sự suy thóai về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, quan liêu, tham nhũng, chệch hướng xã hội chủ nghĩa, sự chống phá quyết liệt về chính trị - tư tưởng của “diễn biến hòa bình” vẫn tồn tại, có mặt gay gắt hơn. Những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” vẫn diễn ra; các vấn đề dân tộc, tôn giáo chưa được giải quyết triệt để; tình trạng xâm phạm quyền làm chủ của nhân dân còn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều nơi, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Đời sống văn hóa, xã hội được quan tâm xây dựng, phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” được nhân dân tích cực hưởng ứng. Các hoạt động và sinh hoạt văn hóa cộng đồng dưới nhiều hình thức và qui mô được tổ chức sôi nổi; nhiều giá trị văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể được thế giới tôn vinh. Các vấn đề xã hội được quan tâm giải quyết, tỷ lệ đói nghèo được thu hẹp; chính sách xã hội, chính sách giai cấp, dân tộc, tôn giáo được thực hiện với nhiều tiến bộ, an sinh xã hội được bảo đảm. Tuy nhiên, vấn đề văn hóa, xã hội cũng còn nhiều hạn chế yếu kém như: Sự suy thóai về đạo đức, lối sống lan rộng trong nhiều tầng lớp xã hội; nhiều giá trị chuẩn mực về văn hóa bị biến dạng và xuống cấp; bản sắc văn hóa dân tộc bị xói mòn; tệ nạn xã hội gia tăng; công tác quản lý văn hóa, xã hội còn nhiều khuyết điểm, có lúc bị buông lỏng; đời sống vật chất, tinh thần của một bộ phận nhân dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa còn thấp; tỷ lệ đói nghèo còn lớn… Nhiều chương trình, dự án kém hiệu quả, thất thóat lớn; tình hình dân tộc, tôn giáo vẫn có diễn biến phức tạp. 

Ý nghĩa sự bổ sung, phát triển của chủ nghĩa xã hội khoa học giai đoạn từ năm 1930 đến năm 1986

 


Sự phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học của Đảng ta trong giai đoạn này đã góp phần khẳng định tính khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin; làm cho hệ thống lý luận của triết học Mác - Lênin, kinh tế chính trị học Mác - Lênin trở nên sâu sắc hơn. Đặc biệt, những nội dung chủ nghĩa xã hội khoa học được Đảng phát triển đã góp phần bổ sung, hoàn thiện chủ nghĩa xã hội khoa học, làm rõ những quy luật khách quan của cách mạng xã hội chủ nghĩa; mục tiêu cuối cùng và con đường giải phóng xã hội, giải phóng con người; vai trò, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân cùng với các tầng lớp nhân dân lao động; tính tất yếu, mục tiêu, động lực, phương pháp cách mạng vô sản, lý luận về thời kỳ quá độ, chuyên chính vô sản, dân chủ vô sản, trong điều kiện một nước thuộc địa nửa phong kiến.

Những nội dung chủ nghĩa xã hội khoa học được Đảng ta phát triển chứng tỏ chủ nghĩa Mác - Lênin thực sự là nền tảng lý luận, hệ tư tưởng của phong trào công nhân cách mạng; là thế giới quan khoa học, vũ khí lý luận của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh cách mạng. Chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn được các đảng cộng sản vận dụng sáng tạo vào hoàn cảnh cụ thể để hoạch định cương lĩnh, đường lối xây dựng và bảo vệ đất nước. Những nội dung chủ nghĩa xã hội khoa học được Đảng ta phát triển đã đáp ứng yêu cầu của thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đầu thế kỷ XX, cách mạng Việt Nam bế tắc, khủng hoảng về đường lối, phương pháp cách mạng giải phóng dân tộc. Sự ra đời của Đảng cùng với hệ thống lý luận cách mạng vô sản đúng đắn đã kịp thời định hướng, chỉ đạo, xác định chiến lược, sách lược đưa cách mạng giải phóng dân tộc đến thắng lợi. Sau khi đất nước thống nhất, sự bổ sung, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học của Đảng đã củng cố niềm tin cách mạng, bước đầu giải quyết những vấn đề cơ bản trong công cuộc cải tạo, xây dựng chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa trong phạm vi cả nước.

Tuy nhiên trong giai đoạn này, Đảng ta chưa thực sự nhận thức đầy đủ về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Do đó có tư tưởng nóng vội, chủ quan, duy ý chí, bắt hiện thực khuôn theo các đặc trưng chủ nghĩa xã hội ở dạng cấu trúc hoàn chỉnh của tương lai. Đảng ta cũng chưa thật sự thừa nhận những quy luật của sản xuất hàng hóa đang tồn tại khách quan, không chú ý vận dụng chúng vào việc định chế các chủ trương, chính sách kinh tế; chưa chú ý đầy đủ việc tổng kết kinh nghiệm thực tiễn của mình và nghiên cứu kinh nghiệm của các nước anh em. Trong hệ thống chuyên chính vô sản, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân chưa được xác định rõ ràng. Bộ máy nhà nước cồng kềnh và kém hiệu quả mà nguyên nhân trực tiếp là cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp. Sự lãnh đạo của Đảng chưa ngang tầm những nhiệm vụ của giai đoạn mới, chưa đáp ứng được yêu cầu giải quyết nhiều vần đề kinh tế - xã hội cơ bản và cấp bách.

Về xây dựng nền văn hóa mới, con người mới

 


 Đảng ta quan tâm phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, các lĩnh vực đấu tranh xóa bỏ các sản phẩm phản văn hóa do chế độ cũ để lại, tích cực xây dựng văn hóa mới. Đồng thời, ngay từ Đại hội III, Đảng đã xác định xây dựng con mới xã hội chủ nghĩa, trung tâm là con người làm chủ tập thể. Xây dựng “Con người xã hội chủ nghĩa là con người có phẩm chất cao quý, thể hiện nhân sinh quan cộng sản, trung thành vô hạn với sự nghiệp của giai cấp và dân tộc, sống và làm việc theo tinh thần làm chủ tập thể, … mọi người vì mỗi người, mỗi người vì mọi người”[1];... có lòng yêu nước nòng nàn, có tình thương yêu sâu sắc đối với đồng bào, đồng chí; có chí khí quật cường, bất khuất; tinh thần độc lập tự do; ...thấm nhuần chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, trong lao động sáng tạo xây dựng xã hội mới, thấm nhuần chủ nghĩa quốc tế vô sản, hấp thu được những thành tựu mới nhất của nền văn minh nhân loại, kế thừa và phát triển những đức tính tốt đẹp tiêu biểu cho tâm hồn con người Việt Nam”[2].



[1] Lê Duẩn, Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1972, tr.84

[2] Lê Duẩn, Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1972, tr.83 - 84

Chuyên chính vô sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa trước đổi mới

 


Đại hội IV của Đảng tiếp tục khẳng định, muốn đưa sự nghiệp cách mạng đến toàn thắng, “điều kiện quyết định trước tiên là phải thiết lập và không ngừng tăng cường chuyên chính vô sản, thực hiện và không ngừng phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”. Xây dựng hệ thống chuyên chính vô sản được quan niệm là xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa; tức là xây dựng một hệ thống hoàn chỉnh các quan hệ xã hội thể hiện ngày càng đầy đủ sự làm chủ của nhân dân lao động trên tất cả các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, làm chủ xã hội, làm chủ thiên nhiên, làm chủ bản thân. Chủ trương xây dựng hệ thống chuyên chính vô sản gồm các nội dung: xác định quyền làm chủ của nhân dân được thể chế hóa bằng pháp luật và tổ chức; Nhà nước trong thời kỳ quá độ là “Nhà nước chuyên chính vô sản thực hiện chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa”; Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo toàn bộ hoạt động xã hội trong điều kiện chuyên chính vô sản; Mặt trận và các đoàn thể là đảm bảo cho quần chúng tham gia và kiểm tra công việc của Nhà nước, đồng thời là trường học của chủ nghĩa xã hội; mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, là cơ chế chung trong quản lý toàn bộ xã hội. Điểm sáng tạo của Đảng là đã coi làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa là bản chất của hệ thống chuyên chính vô sản ở nước ta, đã xây dựng mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, thành cơ chế chung trong hoạt động của hệ thống chính trị ở tất cả các cấp, các địa phương.

Hoàn cảnh lịch sử chủ nghĩa xã hội khoa học được bổ sung, phát triển từ năm 1976 đến năm 1986

 


Trên thế giới, từ thập kỷ 70 của thế kỷ XX, sự tiến bộ nhanh chóng của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã thúc đẩy lực lượng sản xuất thế giới phát triển mạnh. Nhật Bản và Tây Âu vươn lên trở thành hai trung tâm lớn của kinh tế thế giới. Xu thế chạy đua phát triển kinh tế đã dẫn đến cục diện hòa hoãn giữa các nước lớn.

Chủ nghĩa tư bản có sự điều chỉnh thích nghi bắt đầu từ những năm 80 của thế kỷ XX, sự phát triển mạnh mẽ của quá trình toàn cầu hóa kinh tế và chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước chuyển thành chủ nghĩa tư bản độc quyền xuyên quốc gia, điều chỉnh trong quan hệ phân phối. Chủ nghĩa tư bản hiện đại chuyển sang dùng sức mạnh về tiền vốn, công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm quản lý và thị trường làm công cụ, cùng với các thủ đoạn chính trị, ngoại giao, văn hóa, tư tưởng để “giành thắng lợi không cần chiến tranh”, thực hiện “diễn biến hòa bình”.

Hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đang lớn mạnh không ngừng. Phong trào độc lập dân tộc và phong trào cách mạng của giai cấp công nhân đang tiếp tục phát triển mạnh. Tuy nhiên, từ giữa thập niên 70 của thế kỷ XX, tình hình kinh tế - xã hội ở các nước xã hội chủ nghĩa bắt đầu xuất hiện sự trì trệ và mất ổn định.

Ở trong nước, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước toàn thắng, cả nước thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội. Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội bước đầu đạt được một số thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, trong khi nước ta đang phải tập trung khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh, lại phải đối phó với chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc. Các thế lực thù địch sử dụng những thủ đoạn thâm độc chống phá cách mạng Việt Nam. Ngoài ra, do tư tưởng chủ quan, nóng vội, muốn tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội trong một thời gian ngắn, đã làm cho kinh tế khủng hoảng, đời sống nhân dân rất khó khăn.

Nhận thức về thời kỳ quá độ từ năm 1976 đến năm 1986

Tuy chưa thấy hết những khó khăn, phức tạp của con đường lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế sản xuất nhỏ là phổ biến, nhưng từ năm 1975, lý luận về đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa đã có sự phát triển mới. Tập trung phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt, công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng tâm trong suốt thời kỳ quá độ. Trong tổ chức thực tiễn, còn bộc lộ biểu hiện chủ quan nóng vội, bỏ qua bước đi ban đầu về thực hiện “nhiều thành phần kinh tế” của thời kỳ quá độ.

Trò “chọc gậy” lỗi thời và thiển cận.

 Trong quá trình tiếp tục triển khai chính sách, đường lối đối ngoại và gặt hái thêm nhiều thành tựu trong lĩnh vực này, chúng ta cần tiếp tục cảnh giác và chủ động đập tan mọi chiêu trò nhằm phá bĩnh quan hệ giữa Việt Nam với các nước cũng như các tổ chức quốc tế, trong đó có quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ.

Lâu nay, các thế lực phản động vẫn “chọc ngoáy” quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ bằng các luận điệu tràn lan trên mạng xã hội đại loại như: Quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ sẽ không thể phát triển nếu Việt Nam không cải thiện tình hình nhân quyền và không xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng; hoặc thậm chí kêu gọi Chính phủ Hoa Kỳ gây sức ép với Việt Nam trong vấn đề dân chủ, nhân quyền. Thế nhưng, khi chiêu bài “dân chủ, nhân quyền” đã không còn phát huy tác dụng, họ chuyển sang chống phá bằng cách khai thác và xuyên tạc những chuyển động trong quan hệ hai nước. Nhìn thấy quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ phát triển tốt đẹp lên thì họ cố nặn ra những bài viết tỏ rõ sự hậm hực, còn khi mối quan hệ ấy nảy sinh vướng mắc thì họ hả hê, tha hồ tung ra những phân tích, đánh giá mang tính chủ quan và hết sức vô căn cứ.

Chẳng hạn, gần đây, trước việc chính quyền mới ở Hoa Kỳ quyết định tạm dừng các dự án hỗ trợ của Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID), bao gồm các dự án hỗ trợ của USAID liên quan tới khắc phục hậu quả chiến tranh ở Việt Nam, Bộ Ngoại giao Việt Nam cùng một số địa phương đã bày tỏ mong muốn và đề nghị cùng Hoa Kỳ tiếp tục triển khai thực chất, hiệu quả các hoạt động hợp tác này. Ấy vậy mà một số tổ chức, cá nhân phản động lại lợi dụng vấn đề này để “chọc ngoáy” nhằm khiến dư luận hiểu sai về thực trạng quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ, điển hình là tổ chức phản động Việt Tân. Tổ chức này rêu rao trên Facebook rằng Việt Nam “mặt dày” đề nghị Hoa Kỳ tiếp tục tài trợ tiền bạc; và rằng công việc rà phá bom, mìn vốn là việc của Việt Nam, chứ chẳng nước nào có trách nhiệm làm giúp.

Trước hết, phải khẳng định rằng, việc phát triển mối quan hệ với Hoa Kỳ hay bất cứ quốc gia nào trên thế giới là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đây cũng là tất yếu khách quan, phù hợp với xu thế chung của thời đại và đường lối đối ngoại “độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; là thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, tiếp tục đưa các mối quan hệ đi vào chiều sâu, đồng thời tạo thế đan xen lợi ích, tăng độ tin cậy...” được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã đề ra. Trong các cuộc trao đổi, tiếp xúc, lãnh đạo nước ta đã nhiều lần khẳng định Việt Nam coi trọng phát triển quan hệ với Hoa Kỳ, mong muốn tiếp tục thúc đẩy quan hệ hai nước theo hướng hợp tác cùng có lợi, đóng góp vào việc duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển bền vững ở khu vực cũng như thế giới. Tương tự, quan điểm của lãnh đạo cấp cao Hoa Kỳ cũng là mong muốn thúc đẩy quan hệ với Việt Nam và cam kết ủng hộ một Việt Nam “mạnh, độc lập, tự cường và thịnh vượng”.

Việc Việt Nam và Hoa Kỳ nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược toàn diện hồi tháng 9-2023 đã mở ra cơ hội để tiếp tục phát triển quan hệ hai nước trong các lĩnh vực còn nhiều tiềm năng như: Chính trị-ngoại giao, kinh tế-thương mại-đầu tư, quốc phòng, an ninh, khoa học-công nghệ, giáo dục-đào tạo, giao lưu nhân dân, văn hóa, năng lượng, môi trường, y tế... Trong đó, ngày càng có nhiều doanh nghiệp hàng đầu của Hoa Kỳ bày tỏ mong muốn đặt thêm các cơ sở làm ăn, kinh doanh tại Việt Nam.

Rõ ràng, nếu như Việt Nam không ổn định về chính trị-xã hội, nếu mối bang giao giữa hai nước không phát triển tốt đẹp thì chắc chắn các doanh nghiệp Hoa Kỳ sẽ không sẵn lòng đầu tư tiền của vào các dự án ở Việt Nam.

Đối với những vấn đề còn tồn tại sự khác biệt về quan điểm, chẳng hạn như nhân quyền, những năm qua, Việt Nam và Hoa Kỳ đã trao đổi thẳng thắn thông qua các cơ chế đối thoại liên quan nhằm “giảm thiểu khác biệt”, dựa trên tinh thần xây dựng và những nguyên tắc được coi là nền tảng trong quan hệ song phương, đó là tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, thể chế chính trị của nhau, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi.

Thực tế cho thấy, trong nhiều năm qua, khắc phục hậu quả chiến tranh vẫn là lĩnh vực ưu tiên trong quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ, thể hiện thông qua các hoạt động tìm kiếm quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh (MIA); tìm kiếm liệt sĩ Việt Nam mất tin, mất tích; xử lý ô nhiễm dioxin, hỗ trợ người khuyết tật ở Việt Nam. Các hoạt động này nhận được sự đồng tình, ủng hộ của cả chính giới lẫn người dân hai nước, bởi góp phần giúp hai nước chữa lành vết thương chiến tranh trong quá khứ và thúc đẩy hòa giải, mở rộng hợp tác trên nhiều lĩnh vực khác.

Cũng chính vì vậy mà mới đây, 17 cựu Đại sứ Hoa Kỳ từng công tác tại Việt Nam, Lào và Campuchia đã cùng ký vào một bức thư ngỏ gửi Ngoại trưởng Hoa Kỳ, trong đó đề nghị chính quyền của Tổng thống Donald Trump nối lại viện trợ cho các chương trình rà phá bom, mìn và vật liệu chưa nổ tại 3 quốc gia này. Các cựu Đại sứ Hoa Kỳ cũng khẳng định các chương trình khắc phục hậu quả chiến tranh mang lại lợi ích cho chính an ninh quốc gia của Hoa Kỳ, bởi nó giảm nguy cơ phổ biến vật liệu nổ cho những kẻ xấu tiềm tàng có thể tái sử dụng vì mục đích bất chính, dẫn đến bạo lực hoặc bất ổn. Và nếu không được dọn sạch, bom, mìn và vật liệu chưa nổ còn đe dọa đến tính mạng của nhân viên Hoa Kỳ trong khu vực, nhà thầu và nhân viên cứu trợ.

Hơn thế nữa, chính quyền Hoa Kỳ thực tế chỉ mới “tạm dừng” các dự án viện trợ nước ngoài và đang trong quá trình đánh giá lại hiệu quả của mỗi dự án, chứ không phải dừng hẳn. Đồng thời, đây là chính sách được áp dụng trên phạm vi toàn cầu, với mọi dự án liên quan ở mọi quốc gia chứ không chỉ riêng ở Việt Nam. Việc các thế lực phản động lợi dụng vấn đề này để “chĩa mũi dùi” vào quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ thực chất chỉ là một chiêu trò chống phá lỗi thời và thiển cận.

Năm 2025 chứng kiến thêm một dấu mốc mới trong quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ khi hai nước kỷ niệm 30 năm bình thường hóa quan hệ. Sẽ ý nghĩa hơn nhiều khi trong thời điểm quan trọng này, giới lãnh đạo, người dân hai nước tiếp tục thể hiện sự ủng hộ và nỗ lực duy trì, thúc đẩy những lĩnh vực hợp tác vốn được coi là “xương sống” của quan hệ song phương. Cùng với đó, dư luận hai nước cần nhận thức đúng về thực trạng quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ và kịp thời phản bác lại những luận điệu, hành động “chọc gậy bánh xe” nhằm phá hoại mối quan hệ đang phát triển và còn nhiều tiềm năng phát triển này.

Nghệ thuật đấu tranh cách mạng từ năm 1945 đến năm 1975

 


Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta chủ trương, toàn dân đánh giặc, lấy lực lượng vũ trang ba thứ quân làm nòng cốt. Kháng chiến toàn diện, đánh địch về mọi mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, ngoại giao. Kháng chiến lâu dài để chống âm mưu đánh nhanh, thắng nhanh của Pháp, để có thời gian để củng cố, xây dựng lực lượng, nhằm chuyển hóa tương quan lực lượng từ chỗ ta yếu hơn địch đến chỗ ta mạnh hơn địch, đánh thắng địch. Kháng chiến dựa vào sức mình là chính, trước hết phải độc lập về đường lối chính trị, chủ động xây dựng và phát triển thực lực của cuộc kháng chiến, đồng thời coi trọng sự giúp đỡ của quốc tế.

Kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ đẩy mạnh kháng chiến và xây dựng vùng giải phóng, trong đó nhiệm vụ đẩy mạnh kháng chiến phải tiếp tục “Tiêu diệt sinh lực địch. Phá âm mưu của địch dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh. Bồi dưỡng lực lượng nhân dân, lực lượng kháng chiến”[1]; Nhiệm vụ kiến quốc, “Xúc tiến công tác văn hóa để đào tạo con người mới và cán bộ mới cho công cuộc kháng chiến kiến quốc. Phải triệt để tẩy trừ mọi di tích thuộc địa và ảnh hưởng nô dịch của văn hóa đế quốc. Đồng thời, phát triển những truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc và hấp thụ những cái mới của văn hóa tiến bộ thế giới, để xây dựng một nền văn hóa Việt Nam có tính chất dân tộc, khoa học và đại chúng”[2]. Vừa kháng chiến vừa kiến quốc, vừa đánh giặc vừa xây dựng chế độ mới là một chủ trường chiến lược đúng đắn, sáng tạo, phản ánh một quy luật của cách mạng nước ta là xây dựng chế độ mới phải gắn liền với bảo vệ chế độ mới. Kháng chiến đi đôi với kiến quốc thể hiện mối quan hệ giữa tiền tuyến và hậu phương, đáp ứng hai yêu cầu của sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Đồng thời, từng bước xác định và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng ở hai miền là sự sáng tạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.



[1] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 8, “Diễn văn khai mạc Hội nghị lần thứ Tư Ban chấp hành Trung ương Đảng (khóa II)” (1953), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.33

[2] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 7, “Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng” (1951), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.40

Con đường phát triển của cách mạng Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975

 


Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (1951) đã xác định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội: “Đó là một con đường đấu tranh lâu dài, đại thể trải qua ba giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất, nhiệm vụ chủ yếu là hoàn thành giải phóng dân tộc; giai đoạn thứ hai, nhiệm vụ chủ yếu là xóa bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, thực hiện triệt để người cày có ruộng, phát triển kỹ nghệ, hoàn chỉnh chế độ dân chủ nhân dân, giai đoạn thứ ba, nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội, tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã hội. Ba giai đoạn ấy không tách rời nhau, mà mật thiết liên hệ, xen kẽ với nhau”[1]. Con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Trong khi tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng, Đảng kiên trì con đường hòa bình thống nhất theo tinh thần Hiệp nghị Giơnevơ, sẵn sàng thực hiện hiệp thương tổng tuyển cử hòa bình thống nhất Việt Nam. Nhưng phải luôn luôn nâng cao cảnh giác, sẵn sàng đối phó với mọi tình thế.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 12, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2002, tr.435

Lý luận về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội

 


Về thời kỳ quá độ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã phát triển lý luận về thời kỳ quá độ gián tiếp bao gồm những nội dung về đặc điểm và mâu thuẫn; độ dài và nhiệm vụ lịch sử của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đảng đã có đột phá lý luận và thực tiễn hết sức quan trọng trong việc nhận diện và chuẩn bị điều kiện cho việc kiến tạo con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Năm 1951, Đảng đã vạch rõ: Đảng lao động Việt Nam nhằm hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, xóa bỏ tàn tích phong kiến và nửa phong kiến, phát triển chế độ dân chủ nhân dân, làm cho nước Việt Nam độc lập và thống nhất, dân chủ và tự do, phú cường tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Về đặc trưng của chủ nghĩa xã hội, trong cuốn Thường thức chính trị (1954), Hồ Chí Minh đã chỉ ra các đặc điểm của chủ nghĩa xã hội là: Công cụ sản xuất và tư liệu sản xuất đều là của chung; Tư bản, địa chủ, phú nông không có nữa, chỉ có công nhân và nông dân. Không ai bóc lột họ, cố nhiên họ cũng không bóc lột ai; “Ai không làm thì không được ăn” và “làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng ít”; Kinh tế có kế hoạch; Không có sự đối lập giữa thành thị và thôn quê, giữa lao động chân tay và lao động trí óc...[1] Đề cập đến mục tiêu, bản chất của chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội nhằm làm cho đời sống nhân dân ngày càng sung sướng, ăn no, mặc ấm, được học hành, ốm đau có thuốc”[2]. Trong chủ nghĩa xã hội, “không có chế độ người bóc lột người, một xã hội bình đẳng, nghĩa là ai cũng phải lao động và có quyền lao động, ai làm nhiều thì hưởng nhiều, làm ít hưởng ít, không làm không hưởng”[3]. Như vậy, về phương diện kinh tế, người dân phải được sống trong giàu có, sung sướng; về phương diện chính trị - xã hội, người dân phải được sống trong độc lập, tự do, công bằng, hạnh phúc.

Về cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đại hội III xác định đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là: “đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc ở miền Bắc và củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thực hiện hòa bình, thống nhất nước nhà, góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa, bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và trên thế giới.

Muốn đạt được mục tiêu ấy phải sử dụng chính quyền dân chủ nhân dân làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản để thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa...; thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa bằng cách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa về tư tưởng, văn hóa, kỹ thuật, biến nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa có công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, văn hóa và khoa học tiên tiến”[4].

Về chuyên chính vô sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa, sau thắng lợi của cách mạng Tám năm 1945, chế độ chính trị kiểu mới ở nước ta được hình thành. Bản Hiến pháp đầu tiên khẳng định tính hợp hiến, hợp pháp của nhà nước dân chủ, đó là chính quyền do nhân dân lập ra, đại biểu cho ý chí, quyền lực của dân, được dân ủy quyền và phấn đấu vì lợi ích của nhân dân. Từ Đại hội III của Đảng (tháng 9/1960), hệ thống chính trị nước ta được tổ chức và hoạt động theo các yêu cầu, mục tiêu, nhiệm vụ của chuyên chính vô sản nên được xác định là hệ thống chuyên chính vô sản. Nhà nước thực hiện vai trò, chức năng quản lý xã hội, chịu sự lãnh đạo của Đảng, thể chế hóa đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng thành luật pháp và chính sách, phục vụ cuộc sống của nhân dân, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân, trừng trị những hành vi vi phạm quyền làm chủ đó. Hệ thống chuyên chính vô sản dựa trên nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc; không chủ trương đấu tranh giai cấp, đặt lợi ích của dân tộc là cao nhất; xây dựng một chính quyền là công bộc của dân. Cơ sở kinh tế chủ yếu của hệ thống chính trị dân chủ nhân dân là nền sản xuất tư nhân hàng hóa nhỏ, phân tán, tự cấp, tự túc; bị kinh tế thực dân và chiến tranh kìm hãm, chưa có viện trợ.



[1] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 8, “Thường thức chính trị” (1953), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.290

[2] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 13, “Bài nói chuyện với trường thanh niên lao động xã hội chủ nghĩa hòa bình” (1962), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.437

[3] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 11, “Nói chuyện với anh chị em học viên, cán bộ, công nhân viên trường đại học nhân dân Việt Nam (khóa III)” (1958), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.241

[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 21, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2002, tr.559

Nội dung chủ nghĩa xã hội khoa học được bổ sung, phát triển từ năm 1945 đến năm 1975

 


Trong giai đoạn này, sự vận dụng, bổ sung, phát triển chủ nghĩa xã hội khoa học của Đảng ta được thể hiện chủ yếu trong các văn kiện, nghị quyết sau: Chỉ thị “Kháng chiến kiến quốc” (25/11/1945); Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh (20/12/1946), Chỉ thị “Toàn dân kháng chiến” của trung ương Đảng (22/12/1946), tác phẩm “Kháng chiến nhất định thắng lợi” của đồng chí Trường Chinh (9/1947), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (tháng 2/1951); Báo cáo hoàn thành giải phóng dân tộc, phát triển dân chủ nhân dân, tiến tới chủ nghĩa xã hội; các nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ Nhất (3/1951), lần thứ Hai (27/9/1951 đến ngày 5/10/1951), lần thứ Tư (tháng 1/1953), lần thứ Năm (11/1953), lần thứ Bảy (3/1955) và lần thứ Tám (8/1955), lần thứ 13, tháng 12/1957, lần thứ 15, tháng 1/1959, …Văn kiện Mấy vấn đề về đường lối cách mạng Việt Nam của Bộ Chính trị, tháng 1-1956. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng và các văn kiện hội nghị Trung ương khóa III như: Hội nghị lần thứ Chín (tháng 11/1963), lần thứ 11 (3/1965) và lần thứ 12 (12/1965), lần thứ 13 (12/1967), lần thứ 14 (1/1968), lần thứ 18, tháng 1/1970; lần thứ 21 (13/10/1973); lần thứ 22 (12/1973); các nghị quyết của Bộ Chính trị, khóa III như: Nghị quyết “Về tình hình và nhiệm vụ trước mắt” (tháng 4/1969), Nghị quyết Hội nghị Bộ Chính trị đợt I, từ ngày 30/9 đến ngày 8/10/1974; đợt II, họp từ ngày 8/12/1974 đến ngày 7/1/1975 bàn về chủ trương giải phóng hoàn toàn miền Nam…