Về thời kỳ quá độ, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt
Nam đã phát triển lý luận về thời kỳ quá độ gián tiếp bao gồm những nội dung về
đặc điểm và mâu thuẫn; độ dài và nhiệm vụ lịch sử của thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đảng đã có đột phá lý luận và thực tiễn hết sức quan
trọng trong việc nhận diện và chuẩn bị điều kiện cho việc kiến tạo con đường đi
lên chủ nghĩa xã hội. Năm 1951, Đảng đã vạch rõ: Đảng lao động Việt Nam nhằm hoàn
thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, xóa bỏ tàn tích phong kiến và nửa phong kiến,
phát triển chế độ dân chủ nhân dân, làm cho nước Việt Nam độc lập và thống nhất,
dân chủ và tự do, phú cường tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Về đặc
trưng của chủ nghĩa xã hội, trong cuốn Thường thức chính trị (1954), Hồ Chí
Minh đã chỉ ra các đặc điểm của chủ nghĩa xã hội là: Công cụ sản xuất
và tư liệu sản xuất đều là của chung; Tư bản, địa chủ, phú nông không có nữa,
chỉ có công nhân và nông dân. Không ai bóc lột họ, cố nhiên họ cũng không bóc lột
ai; “Ai không làm thì không được ăn” và “làm nhiều hưởng nhiều, làm ít hưởng
ít”; Kinh tế có kế hoạch; Không có sự đối lập giữa thành thị và thôn quê, giữa
lao động chân tay và lao động trí óc...[1] Đề cập đến mục tiêu, bản
chất của chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội
nhằm làm cho đời sống nhân dân ngày càng sung sướng, ăn no, mặc ấm, được học
hành, ốm đau có thuốc”[2]. Trong chủ nghĩa xã hội,
“không có chế độ người bóc lột người, một xã hội bình đẳng, nghĩa là ai cũng phải
lao động và có quyền lao động, ai làm nhiều thì hưởng nhiều, làm ít hưởng ít,
không làm không hưởng”[3]. Như vậy, về phương diện
kinh tế, người dân phải được sống trong giàu có, sung sướng; về phương diện
chính trị - xã hội, người dân phải được sống trong độc lập, tự do, công bằng, hạnh
phúc.
Về cách mạng
xã hội chủ nghĩa, Đại hội III xác định đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở
miền Bắc là: “đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh,
tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc ở miền
Bắc và củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thực hiện hòa
bình, thống nhất nước nhà, góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa, bảo vệ hòa
bình ở Đông Nam Á và trên thế giới.
Muốn
đạt được mục tiêu ấy phải sử dụng chính quyền dân chủ nhân dân làm nhiệm vụ lịch
sử của chuyên chính vô sản để thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa...; thực hiện
công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa bằng cách ưu
tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển
nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa về tư tưởng,
văn hóa, kỹ thuật, biến nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa có công nghiệp
hiện đại, nông nghiệp hiện đại, văn hóa và khoa học tiên tiến”[4].
Về
chuyên chính vô sản và dân chủ xã hội chủ nghĩa, sau thắng lợi của cách mạng
Tám năm 1945, chế độ chính trị kiểu mới ở nước ta được
hình thành. Bản Hiến pháp đầu tiên khẳng định tính hợp hiến, hợp pháp của nhà
nước dân chủ, đó là chính quyền do nhân dân lập ra, đại biểu cho ý chí, quyền lực
của dân, được dân ủy quyền và phấn đấu vì lợi
ích của nhân dân. Từ Đại hội
III của Đảng (tháng 9/1960), hệ thống chính trị nước ta được tổ chức và hoạt động
theo các yêu cầu, mục tiêu, nhiệm vụ của chuyên chính vô sản nên được xác định
là hệ thống chuyên chính vô sản. Nhà
nước thực hiện vai trò, chức năng quản lý xã hội, chịu sự lãnh đạo của Đảng,
thể chế hóa đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng thành luật pháp và chính
sách, phục vụ cuộc sống của nhân dân, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân, trừng
trị những hành vi vi phạm quyền làm chủ đó. Hệ thống chuyên chính vô sản dựa trên nền
tảng của khối đại đoàn kết dân tộc; không chủ trương đấu tranh giai cấp, đặt lợi
ích của dân tộc là cao nhất; xây dựng một chính quyền là công bộc của dân. Cơ sở
kinh tế chủ yếu của hệ thống chính trị dân chủ nhân dân là nền sản xuất tư nhân
hàng hóa nhỏ, phân tán, tự cấp, tự túc; bị kinh tế thực
dân và chiến tranh kìm hãm, chưa có viện trợ.
[1] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 8, “Thường thức chính trị” (1953),
Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.290
[2] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 13, “Bài nói chuyện với trường thanh niên lao động xã hội chủ nghĩa hòa
bình” (1962), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.437
[3] Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 11, “Nói chuyện với anh chị em học viên,
cán bộ, công nhân viên trường đại học nhân dân Việt
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Tập 21, Nxb Chính trị quốc gia
Sự thật, Hà Nội, 2002, tr.559
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét