Thứ Tư, 20 tháng 8, 2025

VỀ SỰ KIỆN LIÊN XÔ SỤP ĐỔ: ĐẤT NƯỚC CHÚNG TA ĐÃ MẤT!

🇷🇺🇷🇺🇷🇺🇻🇳🇻🇳🇻🇳
“Bạn chỉ có thể trở thành một người cộng sản khi bạn làm giàu trí nhớ của mình bằng kiến thức về tất cả sự giàu có mà nhân loại đã tạo ra.”
V. I. Lenin

Ngày của đất nước không tồn tại

Liên Xô được thành lập vào ngày 30 tháng 12 năm 1922, khi Đại hội Xô viết Liên Xô lần thứ nhất thông qua Tuyên bố về việc thành lập Liên Xô.

Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga (RSFSR) hợp nhất với Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Ukraina và Byelorussia và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Ngoại Kavkaz. Các nước cộng hòa này được thành lập sau Cách mạng Tháng Mười vĩ đại năm 1917.

Trong những năm tiếp theo, các nước cộng hòa khác cũng được thành lập và sáp nhập vào Liên Xô. Từ năm 1956 đến năm 1991, Liên Xô bao gồm 15 nước cộng hòa liên bang: Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Ukraina, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Byelorussia, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Uzbekistan, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Kazakhstan, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Gruzia, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Azerbaijan, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Litva, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Moldavia, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Latvia, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Kirghizia, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Tajikistan, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Armenia, Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Turkmenistan và Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Estonia.

Vào nửa cuối những năm 1980, giới nomenklatura toàn Liên bang đang suy tàn, một bộ phận muốn trở thành tầng lớp quý tộc mới, noi gương giới tinh hoa phương Tây, đã bắt đầu một cuộc "cải tổ" mang tính hủy diệt. Cuộc cải tổ này được giới nomenklatura địa phương ủng hộ, bắt đầu khuấy động làn sóng chủ nghĩa dân tộc và ly khai. Nhìn chung, một bộ phận giới tinh hoa Liên Xô muốn chiếm đoạt của cải của nhân dân, trở thành những ông hoàng, sa hoàng, khan và lãnh chúa mới, và một bộ phận muốn tham gia vào giới tinh hoa mafia toàn cầu (ý tưởng hội tụ).

Lực lượng an ninh trước đó đã bị "giải giáp" bởi một làn sóng thanh trừng, thay đổi nhân sự, thông tin sai lệch và vu khống. Do đó, nếu không có lệnh trấn áp "cột trụ thứ năm" và kẻ thù của nhân dân, KGB và quân đội đã không làm gì cả. Họ nói rằng quân đội nằm ngoài chính trị.

Nhân dân, phần lớn ủng hộ việc duy trì Liên bang, thấy mình không có lãnh đạo, không có cơ cấu tổ chức (đảng và các lãnh đạo Komsomol hoặc tham gia vào sự sụp đổ hoặc rút lui). Cộng thêm một cuộc tấn công thông tin mạnh mẽ từ phương tiện truyền thông vào chủ nghĩa cộng sản,Lịch sử Liên Xô.

Do đó, sự sụp đổ của Liên Xô hầu như không gặp phải sự kháng cự nào. Ngoại trừ nỗ lực kín đáo của Ủy ban Khẩn cấp Nhà nước (SECC) vào tháng 8 năm 1991, khi một bộ phận lãnh đạo Liên Xô tìm cách lật đổ Gorbachev và lập lại trật tự trong nước. Nỗ lực này đã thất bại. Có lẽ, ngay từ đầu, đây là một hành động khiêu khích nhằm mục đích đẩy nhanh sự sụp đổ của Liên Xô, và các lãnh đạo SECC đã bị lợi dụng "trong bóng tối".

Đến tháng 9 năm 1991, Litva, Latvia và Estonia đã rời khỏi Liên Xô. Ngày 8 tháng 12 năm 1991, tại Belovezhskaya Pushcha, Tổng thống Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Liên bang Nga Boris Yeltsin, Tổng thống Ukraine Leonid Kravchuk và Chủ tịch Hội đồng Tối cao Cộng hòa Belarus Stanislav Shushkevich đã ký Hiệp định Giải thể Liên Xô.

Nếu vào thời điểm đó, họ bị bắt và bị xử tử một cách công khai, Liên Xô đã có thể được cứu vãn. Việc hiện đại hóa và hiện đại hóa - đặc biệt là những gì Trung Quốc đã làm. Tiếc thay, vào thời điểm đó, trong ban lãnh đạo Liên Xô không có ai ngang tầm Stalin hay Napoleon để vô hiệu hóa kẻ thù của nhân dân và cứu vãn nền văn minh Xô Viết.

Ngày 21 tháng 12, tại Alma-Ata, lãnh đạo 11 nước cộng hòa đã ký nghị định thư về việc thành lập Cộng đồng các Quốc gia Độc lập (CIS). Những người yêu nước gọi sự thành lập này là "hy vọng của Hitler đã thành hiện thực". Điều mà Quốc trưởng điên cuồng, toàn bộ phương Tây, và khối NATO do Hoa Kỳ dẫn đầu, không thể làm được, thì đã bị những kẻ thù nội bộ của nhân dân, những người theo chủ nghĩa Vlasov và Bander mới, làm thay.

Ngày 25 tháng 12, tổng thống đầu tiên và cuối cùng của Liên Xô, Mikhail Gorbachev, từ chức, và ngày hôm sau Liên Xô tan rã.

Nền văn minh tương lai

Những kẻ làm chủ mới của cuộc sống, 1% người giàu và những người hầu của họ, đã hạ thấp và chỉ trích Liên Xô theo mọi cách (Liên Xô Vĩ đại và Bị vu khống ). Họ đã tạo ra và ủng hộ những huyền thoại rằng những người Bolshevik đã lật đổ Sa hoàng và phá hủy Đế quốc Nga "thịnh vượng", rằng phe Đỏ đã gây ra một cuộc Nội chiến đẫm máu, giết hại và làm chết đói hàng triệu người trong thời kỳ Khủng bố Đỏ. Rằng những người Cộng sản đã tạo ra một đế chế toàn trị, biến người dân Liên Xô thành nô lệ. Rằng "chế độ đẫm máu" của Stalin và Beria đã giết hại hàng chục triệu người, đã phát động một cuộc chiến tranh xâm lược chống lại Phần Lan "hòa bình" (Tại sao Liên Xô lại tấn công Phần Lan , chiếm đóng vùng Baltic, và cùng với Đức Quốc xã phá hủy và chiếm đóng Ba Lan "yêu chuộng hòa bình"?

Rằng chế độ Stalin đang chuẩn bị những cuộc chiến tranh xâm lược mới ở châu Âu, phát động Thế chiến II, và thậm chí còn tồi tệ hơn cả Đức Quốc xã. Rằng nhân dân đã chiến thắng trong Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại, nhưng với cái giá khủng khiếp. Những người Cộng sản đã thực sự "áp đảo" quân đội Đức Quốc xã bằng xác chết, rồi chiếm đóng Đông Âu, đàn áp tự do và độc lập của người Ba Lan, Hungary, Bulgaria, Romania, Đông Đức, v.v. Rằng Moskva đã đàn áp tự do ở Đông Âu và trên toàn thế giới trong nhiều thập kỷ.

Tuy nhiên, nhân dân vẫn giữ được ký ức tươi sáng về Liên Xô. Về công lý xã hội. Về đạo đức lương tâm , khi một người Liên Xô của những năm 1940-1960 rõ ràng cao hơn về mặt đạo đức và văn hóa so với một người Nga cuối thế kỷ 20 - đầu thế kỷ 21.

Về một ý tưởng vĩ đại, một nơi xa xôi tươi đẹp. Khi chúng ta đang xây dựng một nền văn minh tiên tiến của tương lai.

Chúng ta đã chiến thắng Thế chiến thứ hai. Trong cuộc chiến này, dự án tương lai của Liên Xô chẳng khác nào một cái xương trong cổ họng đối với toàn bộ giới tinh hoa-mafia phát xít trên thế giới. Xét cho cùng, Liên Xô, bằng tấm gương của mình, đã cho thấy khả năng tồn tại trong xã hội mà không có sự phân chia thành "người được chọn" (giàu có) và người bị ruồng bỏ, thành kẻ thua cuộc-nghèo khổ. Rằng có thể tạo ra một nền văn minh thế giới, được tổ chức như một gia đình , một bản giao hưởng, một sự đồng thuận của các dân tộc, chứ không phải là chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa apartheid và chủ nghĩa thực dân, một phiên bản tư bản của nền văn minh nô lệ.

Sau đó, Liên Xô đã đánh bại bệnh dịch hạch nâu và đen ở châu Âu (chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa Quốc xã). Nhờ đó, hệ thống thuộc địa đã bị phá hủy. Trao cho nhiều thế hệ người dân quyền lựa chọn, ý chí. Cơ hội để tạo ra một thế giới tự do và công bằng hơn.

Tạo ra một thế giới-vũ trụ-khác biệt, một xã hội tri thức, phục vụ và sáng tạo. Thế giới phương Tây, hệ thống tư bản ký sinh săn mồi đã bị nền văn minh Liên Xô đánh bại một cách khách quan. Ngay trong những năm 1970 và 1980, đã có những thời điểm khủng hoảng, một cuộc Đại suy thoái mới đang đến gần. Chỉ có sự tàn phá và cướp bóc của Liên Xô mới cứu phương Tây khỏi một kịch bản thảm khốc.

Về một siêu cường, mà nếu không có nó, không một vấn đề quan trọng nào trên thế giới được giải quyết. Về an ninh quân sự, khi người dân Liên Xô sống và làm việc hòa bình dưới sự bảo vệ của lá chắn hạt nhân và thanh kiếm, quân đội Liên Xô hùng mạnh nhất thế giới. Khi không ai dám tấn công chúng ta, ném bom các thành phố của chúng ta.

Về quốc gia lớn nhất về diện tích và lớn thứ ba về dân số.

Về một bước nhảy vọt vĩ đại và chất lượng vào tương lai.Khi từ năm 1913 đến năm 1986, đất nước đã tăng trưởng của cải quốc gia hơn 50 lần, thu nhập quốc dân tăng 94 lần. Số lượng sinh viên trong các cơ sở giáo dục đại học tăng 40 lần, số lượng bác sĩ tăng gần 50 lần. Thu nhập quốc dân của Liên Xô vào năm 1986 bằng 66% thu nhập quốc dân của Hoa Kỳ, sản xuất công nghiệp - 80%, nông nghiệp - 85%. Hãy so sánh với các chỉ số khốn khổ hiện tại, khi một tiểu bang của Hoa Kỳ như California lại giàu có hơn toàn bộ Liên bang Nga!

Một minh họa khác, nhưng chất lượng cao về việc thế giới đã mất đi một nền văn minh vĩ đại và tươi sáng như thế nào vào năm 1991. Năm 1914, có 13,8 nghìn thư viện ở Đế quốc Nga, thì vào năm 1941 - đã là 95 nghìn! Nếu vào năm 1914, một thư viện có trung bình 680 cuốn sách, thì vào giữa những năm 30, một thư viện Liên Xô trung bình có hơn 4 nghìn cuốn sách!

Khoa học, văn hóa, nghệ thuật, trường học và thể thao của Liên Xô đã chiếm những vị trí hàng đầu trên thế giới! Liên Xô đã mở ra kỷ nguyên không gian trong lịch sử nhân loại , phóng vệ tinh đầu tiên vào không gian, đưa con người đầu tiên,Tên lửa đẩy , xây dựng sân bay vũ trụ đầu tiên (Baikonur), phóng trạm quỹ đạo đầu tiên trên thế giới (Salyut-1)./.
Yêu nước ST.

Văn hóa Nga là nền văn hóa dễ nhận biết nhất thế giới vào thời điểm đó. Nước Nga vĩ đại (Liên Xô) đã truyền lại những tiêu chuẩn và giá trị tiên tiến của mình cho nhân loại.

Thứ Ba, 19 tháng 8, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: SỰ LÃNH ĐẠO TÀI TÌNH, SÁNG SUỐT CỦA ĐẢNG - NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH THẮNG LỢI CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945!

     Cách đây tròn 80 năm, cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 đã đưa đất nước ta từ thân phận nô lệ trở thành quốc gia độc lập, mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Trong cuộc hành trình ấy, sự lãnh đạo tài tình và sáng suốt của Đảng Cộng sản Đông Dương, tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam, là nhân tố quyết định thắng lợi.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một sự kiện vĩ đại, trang sử chói lọi nhất của lịch sử dân tộc Việt Nam trong thế kỷ 20. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh, toàn thể dân tộc đã nhất tề đứng lên lật đổ chính quyền thực dân, phong kiến, xóa bỏ ách thống trị hơn 80 năm của đế quốc Pháp và chấm dứt ách đô hộ quân phiệt Nhật Bản, giành lại chính quyền về tay nhân dân, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, mở ra một kỷ nguyên mới của đất nước, kỷ nguyên độc lập dân tộc tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH). Như Văn kiện Đại hội II của Đảng đã khẳng định: “Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi của Chủ nghĩa Mác-Lênin ở một nước thuộc địa, là thắng lợi của đường lối cách mạng đúng đắn, là thắng lợi của sự lãnh đạo sáng suốt và kiên cường của Đảng”[1].

Bài viết này tập trung phân tích, làm rõ vai trò lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng, nhân tố quyết định của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thể hiện trên 3 yếu tố nổi bật: (1) Hoạch định đường lối cách mạng đúng đắn, sáng suốt; (2) xây dựng và tổ chức lực lượng rộng khắp; (3) nghệ thuật sáng tạo trong nắm bắt thời cơ và tổ chức khởi nghĩa thành công.

Vai trò của Đảng trong tầm nhìn và hoạch định đường lối cách mạng đúng đắn, sáng suốt

Ngay từ khi ra đời năm 1930, Đảng Cộng sản Đông Dương đã thể hiện tư duy và tầm nhìn chiến lược vượt trội so với các phong trào đấu tranh yêu nước trước đó khi khẳng định con đường giải phóng dân tộc không thể tách rời CNXH. Đây không chỉ là lựa chọn lý luận mà là kết quả rút ra từ thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam và phong trào cộng sản quốc tế. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo và được hội nghị thành lập Đảng thông qua đã xác định: “Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”[2]. Như vậy, ngay từ đầu Đảng ta đã khẳng định đường lối độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Độc lập dân tộc vì lợi ích và hạnh phúc của nhân dân. Cái mới và sáng tạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong nhận thức về bản chất của chủ nghĩa xã hội chính là phát hiện lý tưởng xã hội chủ nghĩa từ sự kết tinh tất cả những lý tưởng về giải phóng con người, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng xã hội khỏi áp bức, bất công, mang lại tự do, dân chủ, công bằng và cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

Nói cách khác, CNXH là ước mơ ngàn đời của mọi người dân lao động, mọi dân tộc cần lao, yêu chuộng hòa bình. Diễn giải một các giản dị, CNXH nghĩa là nơi “đưa quần chúng đến một cuộc sống xứng đáng, vẻ vang và ngày càng phồn vinh, làm cho mọi người lao động có một Tổ quốc tự do, hạnh phúc và hùng cường, hướng tới những chân trời tươi sáng”[3]; và “xây dựng cho nhân dân một đời sống ngày càng sung sướng. Đó là CNXH”[4]. Vì thế, CNXH là điều kiện để bảo đảm sự bền vững của độc lập dân tộc và lợi ích, hạnh phúc của nhân dân. Tư tưởng này vừa mang tính cách mạng triệt để, tính nhân văn cao cả, vừa phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa và lịch sử của nước ta, cũng là chưa từng có tiền lệ trong cách mạng Việt Nam; đã trở thành một tư tưởng nền tảng, chỉ đạo, bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử gần 100 năm qua.

Sự sáng tạo trong đường lối cách mạng của Đảng thể hiện rõ trong việc xác định hình thái cách mạng Việt Nam là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, là bước chuyển tiếp tất yếu hướng tới cách mạng xã hội chủ nghĩa. Một nhận thức lý luận nhất quán và xuyên suốt quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng là giai cấp luôn gắn liền với dân tộc, là một bộ phận không tách rời của dân tộc, giải phóng dân tộc cũng chính là điều kiện để giải phóng giai cấp. Đảng chủ trương xây dựng khối liên minh công-nông là lực lượng nòng cốt của cách mạng, nhưng đồng thời phải mở rộng đến các tầng lớp yêu nước khác như trí thức, tiểu tư sản, tư sản dân tộc và một bộ phận địa chủ có tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc. Nói cách khác, đường lối cách mạng của Đảng không tách rời tính chất của dân tộc, đặt dân tộc trong mối quan hệ chặt chẽ với mục tiêu của cách mạng vô sản, của mục tiêu xây dựng CNXH, giải quyết các vấn đề dân tộc hài hòa với các yêu cầu, mục tiêu của giai cấp, hướng tới của CNXH. Đây là nền tảng, cơ sở để hình thành và không ngừng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo thành sức mạnh to lớn, điều kiện không thể thiếu của những thành công vĩ đại của cách mạng Việt Nam.

Trong các cao trào cách mạng 1930-1931, 1936-1939 và nhất là cao trào 1939-1945, Đảng không ngừng tôi luyện bản lĩnh, rút kinh nghiệm từ thất bại, mở rộng lực lượng, phát triển căn cứ địa. Đặc biệt, tại Hội nghị Trung ương 8 (tháng 5-1941), trước tình hình chính trị quốc tế và trong nước thay đổi nhanh chóng, Đảng đã thể hiện sự nhạy bén về tư duy, tầm nhìn xa trông rộng và năng lực đổi mới nhận thức chiến lược, tạo ra một bước ngoặt quan trọng trong đường lối cách mạng. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị 8 của Trung ương Đảng đã quyết định chuyển trọng tâm từ cách mạng ruộng đất sang giải phóng dân tộc, xác định kẻ thù chính là đế quốc phát xít xâm lược, từ đó đề ra nhiệm vụ tối cao là đánh đuổi phát xít Nhật, giành độc lập dân tộc. Hội nghị xác định: Nhiệm vụ trước hết và bức thiết nhất của cách mạng Việt Nam lúc này là phải giành được độc lập cho dân tộc và tự do, hạnh phúc cho nhân dân, do đó tạm gác khẩu hiệu: “Tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho dân cày”; đề ra chủ trương tịch thu ruộng đất của đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo; giảm tô, giảm tức, chia lại ruộng công, tiến tới thực hiện người cày có ruộng; chủ trương giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ mỗi nước ở Đông Dương; tăng cường lãnh đạo việc thành lập và phát triển các tổ chức vũ trang, nửa vũ trang; chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang, đi từ khởi nghĩa từng phần đến tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Để tập hợp được mọi người dân Việt Nam yêu nước trong một khối đại đoàn kết thống nhất, tạo thành sức mạnh lật đổ chế độ thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật, hội nghị quyết định thành lập một mặt trận thống nhất dân tộc lấy tên là Việt Nam Độc lập Đồng minh hội (gọi tắt là Việt Minh). Chủ trương thành lập Mặt trận Việt Minh thể hiện sự vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện thực tiễn của Việt Nam, đồng thời mở ra hình thức mặt trận dân tộc thống nhất rộng lớn, linh hoạt, tạo ra sự đồng thuận và ủng hộ rộng rãi trong xã hội.

Từ Cương lĩnh đầu tiên năm 1930 đến Hội nghị Trung ương 8 (năm 1941), tư tưởng “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” đã trở thành định hướng xuyên suốt. Trên cơ sở tư tưởng chỉ đạo đó, Đảng Cộng sản đã nắm bắt kịp thời những diễn biến thời cuộc và biến đổi tình hình trong nước và thế giới, đề ra những chủ trương, định hướng đúng đắn, sáng suốt và kịp thời, dẫn tới thắng lợi của Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước Tháng Tám năm 1945.

Sự tài tình và sáng suốt trong việc xây dựng và tập hợp lực lượng cách mạng

Thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không thể tách rời vai trò, sự tài tình, sáng suốt của Đảng trong huy động và tổ chức lực lượng cách mạng. Ngay từ những ngày đầu mới thành lập, trong khi khẳng định “Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp”, “Đảng phải thu phục cho được đại bộ phận dân cày” để tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của cách mạng, Đảng Cộng sản cũng đồng thời khẳng định yêu cầu phải tập hợp một lực lượng quần chúng rộng rãi ngoài hai giai cấp công nhân và nông dân: “Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, thanh niên, Tân Việt... để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp. Còn đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập. Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (Đảng lập hiến…) thì phải đánh đổ…”[5].

Đây là một chủ trương vô cùng sáng suốt dựa trên sự nhìn nhận đánh giá rất đúng đắn bối cảnh, tình hình kinh tế-xã hội và những đặc thù văn hóa của Việt Nam. Vào thời điểm năm 1930, nền kinh tế nước ta chủ yếu là sản xuất nông nghiệp manh mún, kỹ thuật canh tác lạc hậu. Chính sách cai trị, bóc lột khắc nghiệt của thực dân Pháp càng đẩy nền kinh tế của xứ Đông Dương vào lạc hậu, chậm phát triển. Sự ra đời của giai cấp công nhân nước ta gắn liền với quá trình khai thác thuộc địa của thực dân Pháp. Một khi nền công nghiệp còn rất nhỏ bé, chủ yếu là khai khoáng và một số cơ sở dệt may, chế biến nông sản, tất yếu kéo theo lực lượng công nhân vừa nhỏ bé lại phân tán. Theo thống kê, đến cuối năm 1929, tổng số công nhân làm việc trong các doanh nghiệp của tư bản Pháp là hơn 22 vạn người, trong đó có 5,3 vạn thợ mỏ, 8,6 vạn công nhân các ngành công thương nghiệp, 8,1 vạn công nhân các đồn điền trồng cây công nghiệp. Đó là chưa kể đến những người làm ở xí nghiệp thủ công lớn, nhỏ, thợ may, thợ cạo, thợ giặt, bồi bếp, khuân vác ở hải cảng.

Mặt khác, dân tộc Việt Nam trải qua một lịch sử dựng nước và giữ nước lâu dài, đã hun đúc nên tinh thần đoàn kết, yêu thương, gắn bó cùng nhau với những quan hệ huyết thống cùng tình làng, nghĩa xóm, truyền thống yêu nước, ý chí quật cường đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước”[6].

Trong điều kiện ấy, Đảng đã sáng suốt nhận thức rằng, chỉ khi tập hợp được mọi tầng lớp yêu nước, bất kể giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo, dân tộc, xây dựng thành một khối đại đoàn kết toàn dân tộc thì cách mạng mới có thể thắng lợi. Việc mở rộng mặt trận nhân dân, thu hút các tầng lớp quần chúng rộng rãi, tập họp họ lại dưới ngọn cờ cách mạng của Đảng là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của đất nước và yêu cầu của cách mạng. Đường lối tập hợp quần chúng rộng rãi không chỉ thể hiện chính sách đoàn kết dân tộc sáng suốt, mang lại sức mạnh to lớn của lực lượng cách mạng, hơn thế nữa còn là điều kiện cho sự phát triển của chính đội ngũ đảng viên của Đảng. Thực tế cho thấy, nhiều đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng xuất thân từ tầng lớp trí thức, trong các gia đình nhân sĩ, tư sản yêu nước, được rèn luyện và trưởng thành trong phong trào cách mạng, đã trở thành những cán bộ cốt cán, trung kiên của Đảng, có đồng chí đã hy sinh, cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng.

Khối đại đoàn kết toàn dân được hình thành và phát huy qua Mặt trận Việt Minh, một sáng kiến chiến lược đúng thời điểm, đúng đối tượng. Thông qua Việt Minh, Đảng mở rộng và phát triển lực lượng chính trị rộng khắp trên toàn quốc. Mạng lưới cán bộ cách mạng được xây dựng khắp các khu vực từ đồng bằng đến miền núi, từ nông thôn đến đô thị. Các tổ chức quần chúng như thanh niên cứu quốc, phụ nữ cứu quốc, nông dân cứu quốc, tự vệ cứu quốc… được thành lập rộng rãi, đóng vai trò quan trọng trong việc lan tỏa tinh thần yêu nước, giác ngộ chính trị và tập hợp lực lượng tham gia, ủng hộ cách mạng.

Cùng với chủ trương huy động rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân trong toàn dân tộc để xây dựng lực lượng cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đồng thời quan tâm đến các mối quan hệ quốc tế, nhất là phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân và cộng sản quốc tế, đặc biệt cuộc đấu tranh của giai cấp vô sản và nhân dân lao động ở nước Pháp. “Trong khi tuyên truyền các khẩu hiệu nước An Nam độc lập phải đồng thời tuyên truyền và thực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vô sản giai cấp Pháp”[7], đó là đường lối được xác định ngay trong Sách lược đấu tranh được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng (tháng 2-1930). Đường lối ấy xuất phát từ nhận thức đúng đắn và sáng suốt của Đảng là cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới, cách mạng giải phóng của một thuộc địa như Việt Nam trong quan hệ với cách mạng ở chính quốc như đôi cánh của một con chim. Nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Chủ nghĩa tư bản là một con đỉa có một cái vòi bám vào giai cấp vô sản ở chính quốc và một cái vòi khác bám vào giai cấp vô sản ở các thuộc địa. Nếu người ta muốn giết con vật ấy, người ta phải đồng thời cắt cả hai vòi”[8]. Đương nhiên, cách mạng giải phóng dân tộc muốn được biết đến và có được sự ủng hộ của cách mạng chính quốc và phong trào cách mạng thế giới thì phải có thực lực, phải dựa vào sức mạnh của dân tộc mình là chính, phải “lấy sức ta mà giải phóng cho ta” là chủ yếu.

Từ nền tảng nhận thức lý luận ban đầu này, Đảng đã không ngừng tổng kết thực tiễn, hoàn thiện đường lối hợp tác quốc tế để tận dụng và phát huy sức mạnh của sự ủng hộ, giúp đỡ của các lực lượng cách mạng, tiến bộ, yêu chuộng hòa bình trên thế giới, tạo thành một mặt trận thứ hai, góp phần vào những thành công của cách mạng Việt Nam. Đường lối ấy không chỉ là một trong những yếu tố quan trọng dẫn tới thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mà còn tiếp tục phát huy trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết: Dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ tích cực của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và của nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ.

Sự sáng tạo tài tình trong việc tận dụng thời cơ và tổ chức tổng khởi nghĩa giành thắng lợi

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không thể thành công nếu Đảng Cộng sản Việt Nam không sáng suốt nắm bắt lấy “thời cơ vàng”, lãnh đạo kiên quyết và hành động nhanh chóng, kịp thời việc tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Sau khi vào Đông Dương, chính quyền phát xít Nhật đã bắt tay với thực dân Pháp tiến hành đàn áp phong trào cách mạng nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phân tích tình hình, chỉ ra mâu thuẫn không thể tránh khỏi giữa các thế lực đế quốc xâm lược, nhận định không sớm thì muộn phát xít Nhật sẽ đảo chính hất cẳng thực dân Pháp ở Đông Dương và chủ động chuẩn bị kế hoạch hành động khi có tình hình mới. Vì thế, ngay trong đêm 9-3-1945, khi quân phiệt Nhật Bản đảo chính Pháp, Trung ương Đảng đã triệu tập hội nghị thường vụ mở rộng do Tổng Bí thư Trường Chinh chủ trì và ra Chỉ thị “Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” vào ngày 12-3-1945. Chỉ thị xác định kẻ thù chính, cụ thể, trước mắt của nhân dân Đông Dương là phát xít Nhật, do đó phải thay đổi khẩu hiệu “đánh đuổi Nhật, Pháp” bằng khẩu hiệu “đánh đuổi phát xít Nhật”, chống lại chính quyền Nhật và chính phủ bù nhìn của bọn Việt gian thân Nhật. Đây là văn kiện rất quan trọng, một thể hiện điển hình cho khả năng đánh giá tình hình chính trị sắc sảo, sự sáng suốt của Đảng trong chủ động đề ra các quyết sách chiến lược lãnh đạo cách mạng.

Sau khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh vào ngày 15-8-1945, tình hình chính trị ở Đông Dương chuyển biến nhanh chóng, chính quyền tay sai của quân phiệt Nhật Bản rệu rã, mất phương hướng, không còn chỗ dựa. Đây chính là “thời cơ ngàn năm có một” mà Đảng ta đã kỳ công chuẩn bị từ lâu và sẵn sàng để tận dụng.

Ngay trước cuộc đảo chính của Nhật, dưới sự chủ tọa của lãnh tụ Hồ Chí Minh, Hội nghị cán bộ toàn quốc của Đảng đã được tổ chức tại Tân Trào (Tuyên Quang) từ ngày 13 đến 15-8-1945. Hội nghị đưa ra nhận định 7 điểm: 1) Từ ngày 9-3-1945, chính sách tàn ngược, vô nhân đạo của Nhật càng rõ rệt; 2) Nhân dân Đông Dương cực khổ, căm tức, cách mạng hóa; đến cả một phần quan lại cũng ngả về phe cách mạng; 3) Cao trào kháng Nhật, cứu nước do Đảng lãnh đạo ngày một mạnh mẽ, sâu rộng khắp Bắc-Trung-Nam... Khu giải phóng và Quân giải phóng Việt Nam thành lập. Chính quyền địa phương của nhân dân đã lập trên 6 tỉnh thượng du và trung du Bắc Kỳ. Hơn 1 triệu đồng bào đã được hưởng quyền tự do dân chủ và được miễn trừ sưu thuế; 4) Nhật đổ, hàng ngũ chỉ huy của chúng ở Đông Dương chia rẽ đến cực điểm; quân lính Nhật tan rã, mất tinh thần, bọn Việt gian thân Nhật hoảng sợ; 5) Quân Đồng minh sắp vào nước ta và đế quốc Pháp lăm le khôi phục lại địa vị cũ ở Đông Dương; 6) Toàn dân tộc đang sôi nổi đợi chờ khởi nghĩa giành quyền độc lập; 7) Điều kiện khởi nghĩa ở Đông Dương như đã chín muồi.

Để bảo đảm lãnh đạo khởi nghĩa thắng lợi, hội nghị đề ra 3 nguyên tắc: 1) Tập trung: Tập trung lực lượng vào những việc chính; 2) Thống nhất: Thống nhất mọi phương diện, chính trị, hoạt động chỉ huy; 3) Kịp thời: Kịp thời hành động, không bỏ lỡ thời cơ. Đồng thời, hội nghị cũng yêu cầu: “Phải tập trung lực lượng vào những chỗ cần thiết để đánh”; “đánh chiếm ngay những nơi chắc thắng, không kể thành phố hay thôn quê”; phối hợp chặt chẽ quân sự và chính trị trong tác chiến; hết sức bảo toàn lực lượng; tiến hành công tác binh vận, “làm tan rã tinh thần quân địch và dụ chúng hàng trước khi đánh”.

Hội nghị cán bộ toàn quốc của Đảng tại Tân Trào có ý nghĩa rất quan trọng đối với cách mạng nước ta. Những tư tưởng của hội nghị không chỉ có ý nghĩa chỉ đạo đối với Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 mà còn có ý nghĩa, tác dụng định hướng đối với các công tác của Đảng sau khi giành chính quyền, với việc bảo vệ và phát huy thành quả cách mạng, hơn thế nữa còn là bài học về lâu dài cho cách mạng Việt Nam.

Ngay sau Hội nghị cán bộ toàn quốc của Đảng, ngày 16 và 17-8-1945, Quốc dân Đại hội được tổ chức tại Tân Trào. Đại hội đã quyết định phát động tổng khởi nghĩa trên phạm vi toàn quốc; thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh; quy định về Quốc kỳ, Quốc ca; cử ra Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam, tức Chính phủ lâm thời do lãnh tụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

Trước khi Ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam ra đời, ngày 13-8-1945, Trung ương Đảng đã quyết định thành lập Ủy ban Khởi nghĩa do Tổng Bí thư Trường Chinh trực tiếp phụ trách. Ủy ban Khởi nghĩa đã ra bản Quân lệnh số 1, phát lệnh khởi nghĩa: “Giờ tổng khởi nghĩa đã đánh! Cơ hội có một cho quân, dân Việt Nam vùng dậy giành lấy quyền độc lập của nước nhà!”. Khởi nghĩa giành chính quyền nổ ra thành công ở Hà Nội ngày 19-8, Huế ngày 23-8, Sài Gòn ngày 25-8. Đến cuối tháng 8, tất cả địa phương trong cả nước đã giành chính quyền về tay nhân dân. Ngày 2-9-1945, trên Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập lịch sử, trịnh trọng tuyên bố: “Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy”.

Toàn bộ cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên toàn cõi Việt Nam diễn ra trong vòng nửa tháng, hầu như không đổ máu với tốc độ thần tốc.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một thành quả vĩ đại của lịch sử dân tộc, được hun đúc từ trí tuệ chiến lược, nghệ thuật tổ chức cách mạng của Đảng Cộng sản Đông Dương, đặc biệt là sự đồng lòng, đồng sức của toàn dân tộc. Từ thắng lợi ấy, nhiều bài học lịch sử lớn vẫn còn nguyên giá trị và mang ý nghĩa sâu sắc trong sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước hiện nay./.
-------------------
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, HN, 2001, t.12, tr. 442.
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, HN, 2011, t. 3, tr.1.
[3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr. 12
[4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.13, tr. 432.
[5] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.3.
[6] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.7, tr.38.
[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.3, tr.3.
[8] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.1, tr.320.


Yêu nước ST .

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHẾ ĐỘ, CHÍNH SÁCH HIỆN HÀNH ĐỐI VỚI SĨ QUAN QUÂN ĐỘI NGHỈ HƯU!

     Chế độ an điều dưỡng; chế độ khám, chữa bệnh; chế độ chăm sóc cán bộ Quân đội nghỉ hưu mắc bệnh hiểm nghèo; chế độ thông tin và trợ cấp khó khăn; chế độ tổ chức lễ tang và chế độ gặp mặt, tặng quà nhân các ngày lễ, Tết đối với sĩ quan Quân đội nghỉ hưu hiện đang được thực hiện theo Văn bản hợp nhất số 09/VBHN-BQP của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Văn bản hợp nhất số 09/VBHN-BQP Thông tư về thực hiện một số chế độ, chính sách góp phần chăm sóc đối với cán bộ Quân đội nghỉ hưu hợp nhất Thông tư số 158/2011/TT-BQP ngày 15-8-2011 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định về thực hiện một số chế độ, chính sách góp phần chăm sóc đối với cán bộ Quân đội nghỉ hưu và Thông tư số 13/2024/TT-BQP ngày 18-3-2024 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền ban hành của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng liên quan đến việc kê khai thông tin cá nhân khi thực hiện thủ tục hành chính.

Đối tượng áp dụng
Văn bản hợp nhất số 09/VBHN-BQP quy định một số chế độ, chính sách góp phần chăm sóc về tinh thần, vật chất đối với cán bộ Quân đội nghỉ hưu, áp dụng đối với:

1. Đối tượng 1:
a) Sĩ quan cấp quân hàm Thiếu tướng trở lên;

b) Sĩ quan cấp quân hàm Đại tá, mức lương 668 đồng theo Nghị định số 235/HĐBT ngày 18-9-1985 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về cải tiến chế độ tiền lương của công nhân viên chức và lực lượng vũ trang (sau đây viết tắt là Nghị định số 235/HĐBT);

c) Sĩ quan cấp quân hàm Đại tá nâng lương lần 2 hệ số 7,2 theo Nghị định số 25/CP ngày 23-5-1993 của Chính phủ quy định tạm thời chế độ tiền lương mới của công chức, viên chức hành chính sự nghiệp và lực lượng vũ trang (sau đây viết tắt là Nghị định số 25/CP); hoặc hệ số 8,6 theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14-12-2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức và lực lượng vũ trang (sau đây viết tắt là Nghị định số 204/2004/NĐ-CP);

d) Sĩ quan nguyên là Tư lệnh, Chính ủy quân đoàn; Tư lệnh, Chính ủy binh chủng; cục trưởng có chức năng chỉ đạo toàn quân và tương đương trở lên; hoặc có hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo từ 0,9 trở lên theo Nghị định số 25/CP hoặc từ 1,1 trở lên theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP;

2. Đối tượng 2:
a) Sĩ quan cấp quân hàm Đại tá, mức lương 655 đồng theo Nghị định số 235/HĐBT; Đại tá nâng lương lần 1 hệ số 6,85 theo Nghị định số 25/CP hoặc 8,4 theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP;

b) Sĩ quan nguyên là Phó tư lệnh, Phó chính ủy quân đoàn; Phó tư lệnh, Phó chính ủy binh chủng và tương đương; hoặc có hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo 0,8 theo Nghị định số 25/CP hoặc 1,0 theo Nghị định số 204/2004/NĐ-CP.

3. Đối tượng 3: Sĩ quan cấp quân hàm Đại tá, Thượng tá hoặc sĩ quan nguyên là chỉ huy sư đoàn hoặc Bộ CHQS tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và tương đương.

4. Đối tượng 4: Sĩ quan cấp quân hàm Trung tá, Thiếu tá hoặc sĩ quan nguyên là chỉ huy Trung đoàn, Ban CHQS huyện (quận) và tương đương.

5. Đối tượng 5: Sĩ quan cấp ủy và các chức danh khác tương đương.

6. Quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên chức quốc phòng có cấp bậc quân hàm, hoặc mức lương, hoặc hệ số phụ cấp chức vụ tương đương với cấp bậc quân hàm, hoặc mức lương, hoặc hệ số phụ cấp chức vụ của sĩ quan cấp nào thì được hưởng chế độ quy định tại Thông tư này như đối với sĩ quan cấp đó.

7. Trường hợp thôi giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý thì cán bộ được đăng ký và được thực hiện chế độ, chính sách đối với chức vụ lãnh đạo cao nhất đã qua.

Các trường hợp không áp dụng được quy định tại Điều 3 Văn bản hợp nhất số 09/VBHN-BQP, gồm:

- Các đối tượng đã được hưởng chế độ quy định tại Quyết định số 205/2004/QĐ-TTg ngày 10-12-2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện một số chính sách, chế độ đối với cán bộ cao cấp.

- Cán bộ Quân đội nghỉ hưu thuộc đối tượng nêu tại Điều 2 Thông tư này đang chấp hành án phạt tù; đầu hàng địch; bị kết án về một trong các tội xâm phạm an ninh quốc gia./.
Ảnh: Cán bộ Quân đội nghỉ hưu, nghỉ công tác trên địa bàn tỉnh Quảng Bình (nay là tỉnh Quảng Trị) dự gặp mặt dịp kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944 / 22-12-2024), 35 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22-12-1989 / 22-12-2024) do Bộ CHQS tỉnh Quảng Bình tổ chức.
Môi trường ST.

LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC LÀM PHAI NHẠT GIÁ TRỊ VĨ ĐẠI CỦA CÁCH MẠNG THÁNG TÁM!

     Trong không khí cả nước sôi nổi kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2-9, các thế lực thù địch lại có những hoạt động xuyên tạc, bóp méo ý nghĩa lịch sử của sự kiện vĩ đại này. Trước âm mưu thâm độc đó, việc bảo vệ sự thật lịch sử, đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, nhất là mỗi cán bộ, đảng viên!

Luận điệu lạc lõng

Ngày nay, các thế lực thù địch không còn tấn công một cách rời rạc mà đã xây dựng những chiến dịch có hệ thống, nhắm vào từng nhóm đối tượng cụ thể, lợi dụng các nền tảng giải trí, mạng xã hội như TikTok, YouTube để tung ra những nội dung có vẻ khách quan nhưng thực chất là bịa đặt, áp dụng chiêu bài “mưa dầm thấm đất”-lặp đi lặp lại những luận điệu xuyên tạc độc hại, cụ thể là:
Thứ nhất, phủ nhận bản chất cách mạng và thành quả lịch sử. Họ rêu rao rằng: “Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là sai lầm lịch sử”, “không có gì thay đổi chế độ xã hội ở Việt Nam, chẳng qua chỉ là thay từ chế độ “vua trị” sang chế độ “đảng trị”. Luận điệu này nhằm phủ nhận hoàn toàn tính chất và ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám. Thứ hai, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng. Họ cho rằng: “Những thắng lợi mà Việt Nam giành được là sự ăn may”; “do khoảng trống quyền lực nên Việt Nam dễ giành được kết quả nhanh chóng”. Những luận điệu này cố tình phủ nhận quá trình chuẩn bị lâu dài và sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng. Thứ ba, đổ lỗi và bôi nhọ Cách mạng Tháng Tám “là nguyên nhân dẫn đến hai cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam”, “nếu không có Cách mạng Tháng Tám, nước ta đã giàu mạnh từ lâu”. Đây là luận điệu đặc biệt độc hại, đảo ngược nhân quả lịch sử. Một thâm đồ bôi nhọ.

Sự lãnh đạo của Đảng - nhân tố quyết định thành công của cách mạng

Trái với luận điệu cho rằng thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám chỉ là “sự ăn may của lịch sử”, thành công vĩ đại này là kết quả của sự kết hợp biện chứng giữa điều kiện khách quan thuận lợi và nhân tố chủ quan mang tính quyết định. Về điều kiện khách quan, tháng 8-1945 xuất hiện thời cơ “nghìn năm có một”-phát xít Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng minh vào ngày 15-8-1945, quân đội Nhật ở Đông Dương rệu rã và chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim thì hoang mang, tê liệt. Tuy nhiên, như V.I.Lênin từng chỉ rõ: “Không phải bất cứ một tình thế cách mạng nào cũng dẫn đến cách mạng”, nghĩa là thời cơ khách quan dù thuận lợi đến mấy cũng tự nó không thể làm nên lịch sử. Chỉ có nhân tố chủ quan, đó là sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, đứng đầu là lãnh tụ Hồ Chí Minh, cùng quá trình chuẩn bị kỹ lưỡng về mọi mặt mới có thể chuyển hóa thời cơ ngắn ngủi ấy thành hiện thực thắng lợi.

Thực tế, Đảng ta đã có 15 năm chuẩn bị chu đáo cho tổng khởi nghĩa. Đó là: Xây dựng đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam; phát triển lực lượng chính trị với hơn 5.000 đảng viên gắn bó mật thiết với quần chúng; thành lập, rèn luyện lực lượng vũ trang cách mạng thông qua các cao trào cách mạng 1930-1931, 1936-1939, 1939-1945; gây dựng căn cứ địa cách mạng và Mặt trận Việt Minh làm chỗ dựa vững chắc cho khởi nghĩa. Đặc biệt, Đảng ta đã nhận định, đánh giá đúng tình hình và chớp thời cơ rất kịp thời. Ngay trong đêm 13-8-1945, khi hay tin Nhật đầu hàng Đồng minh, Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc được thành lập và Quân lệnh số 1 được ban bố, hạ lệnh tổng khởi nghĩa trên toàn quốc. Tiếp đó, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào ngày 14 và 15-8-1945 thông qua quyết định phát động toàn dân nổi dậy, thành lập Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam và chuẩn bị mọi mặt cho chính quyền mới-tất cả diễn ra trong thời gian rất ngắn nhưng hết sức chủ động, bài bản. Nhờ sự chỉ đạo nhạy bén, thần tốc đó, quân và dân ta đã kịp thời nổi dậy giành chính quyền trên phạm vi cả nước trước khi quân Đồng minh kéo vào, hoàn toàn không để “thời cơ vàng” trôi qua.

Từ thân phận nô lệ đến quyền làm chủ đất nước

Trước năm 1945, nước ta chỉ là một xứ thuộc địa nghèo nàn, lạc hậu, 95% dân số mù chữ, thậm chí tên nước “Việt Nam” còn chưa có trên bản đồ thế giới. Dưới ách áp bức của phát xít và thực dân, nhân dân ta bị bóc lột, đàn áp thậm tệ; riêng nạn đói năm 1945 do phát xít Nhật gây ra đã cướp đi sinh mạng của hơn 2 triệu đồng bào. Trình độ dân trí rất thấp, với 95% dân số không biết viết, không biết đọc-một con số thể hiện sự tàn phá ghê gớm của chế độ thực dân. Nếu không có Cách mạng Tháng Tám và sự lãnh đạo của Đảng, khó có thể hình dung viễn cảnh dân tộc ta tiếp tục chịu thân phận nô lệ cùng cực kéo dài như thế nào. Chính thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã đưa dân tộc ta thoát khỏi đêm trường nô lệ, đưa nhân dân ta từ thân phận người dân mất nước trở thành chủ nhân đất nước.

Ngay sau khi chính quyền cách mạng được thành lập, trước tình thế “thù trong giặc ngoài”, "ngàn cân treo sợi tóc”, dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, hàng loạt nhiệm vụ cấp bách vì dân sinh, dân trí đã được tiến hành quyết liệt, phong trào “diệt giặc đói, diệt giặc dốt” được triển khai trên khắp cả nước. Chỉ trong vòng chưa đầy một năm, nạn đói cơ bản được đẩy lùi và hơn 2,5 triệu người đã thoát nạn mù chữ nhờ các lớp bình dân học vụ được mở khắp nơi. Những thành quả đầu tiên ấy đã chứng tỏ tính ưu việt của chế độ mới, nâng cao uy tín của Đảng, củng cố niềm tin, tinh thần đoàn kết của nhân dân vào chính quyền cách mạng non trẻ.

Nền tảng cho thắng lợi và phát triển của dân tộc Việt Nam

Ngay sau khi nhân dân ta vừa giành được độc lập, Chính phủ non trẻ đã hết sức thiện chí, nỗ lực giữ gìn hòa bình. Thế nhưng, chỉ 3 tuần sau ngày độc lập, rạng sáng 23-9-1945, thực dân Pháp nổ súng tái chiếm Nam Bộ, chính thức phát động chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai. Dã tâm xâm lược của chủ nghĩa thực dân là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến chiến tranh, chứ tuyệt đối không phải như luận điệu mà các thế lực thù địch xuyên tạc. Đảng và Chính phủ ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh khi đó đã nhân nhượng tối đa để tránh một cuộc chiến tranh, nhưng “chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa!”.

Trải qua 9 năm kháng chiến gian khổ, quân và dân ta đã làm nên Chiến thắng "lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu", buộc thực dân Pháp ký Hiệp định Geneva năm 1954. Hiệp định này đã tạo điều kiện để miền Bắc được độc lập, tự do hoàn toàn, đi lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời chuẩn bị các điều kiện để cùng quân và dân miền Nam tiến hành kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Dân tộc ta lại bước vào cuộc trường chinh 21 năm chống đế quốc Mỹ xâm lược do thực dân Pháp cấu kết “bật đèn xanh” cho Mỹ “nhảy vào” miền Nam Việt Nam. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta kết thúc bằng Đại thắng mùa xuân 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Rõ ràng, nguyên nhân sâu xa và trực tiếp dẫn đến hai cuộc chiến tranh chính là dã tâm xâm lược tàn bạo của chủ nghĩa thực dân, đế quốc và bè lũ tay sai, chứ tuyệt đối không phải do Cách mạng Tháng Tám như các thế lực thù địch xuyên tạc. Hơn nữa, chính nền độc lập do Cách mạng Tháng Tám mang lại đã tạo tiền đề để nhân dân ta đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược, thu giang sơn về một mối và kiến thiết một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, ngày càng phát triển. Nếu không có Cách mạng Tháng Tám, nước ta không thể có cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay; nhân dân ta cũng không thể có được quyền làm chủ vận mệnh của mình. 80 năm qua, từ một xứ thuộc địa đói nghèo, Việt Nam đã vươn lên thành một quốc gia độc lập, tự cường, phát triển mạnh mẽ. Những thực tế đó là minh chứng hùng hồn bác bỏ mọi sự phủ nhận và xuyên tạc ý nghĩa lịch sử, giá trị vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Giá trị lịch sử và thời đại không thể xuyên tạc

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không chỉ mở ra một kỷ nguyên mới cho Việt Nam mà còn là thắng lợi của cách mạng giành chính quyền chỉ diễn ra trong thời gian ngắn nhất, tổn thất nhỏ nhất, nhưng mang lại thành công lớn nhất và triệt để nhất trong lịch sử nhân loại. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là biểu tượng cao đẹp, là kết quả của sự phát huy các nguồn lực con người, trí tuệ và cả của cải của chính nhân dân; là hội tụ của các nguồn xung lực mạnh mẽ của toàn dân tộc, trong thời khắc bước ngoặt lịch sử dưới ngọn cờ chói lọi tinh thần yêu nước của Mặt trận Việt Minh do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công đã phá vỡ một mảng quan trọng của chủ nghĩa đế quốc tại khâu yếu nhất của nó là chế độ thuộc địa-nửa phong kiến; mở ra thời kỳ sụp đổ, tan rã không cách gì cứu vãn nổi của chủ nghĩa thực dân cũ, cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc và phong trào đấu tranh cho dân chủ, tiến bộ xã hội trên thế giới.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám không phải là “sự ăn may”, “khoảng trống quyền lực”, “sai lầm lịch sử” hay “nguyên nhân gây chiến tranh”... như các thế lực thù địch xuyên tạc, mà là kết quả tất yếu của sự kết hợp biện chứng giữa điều kiện khách quan thuận lợi và nhân tố chủ quan quyết định. Những thành tựu tức thì ngay sau cách mạng được thể hiện qua con số cụ thể và kết quả thực tế chính là minh chứng hùng hồn nhất cho tính đúng đắn của con đường cách mạng và sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng. Đây chính là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin vững chắc để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta kiên quyết đấu tranh, bảo vệ sự thật lịch sử trước mọi âm mưu xuyên tạc của các thế lực thù địch, đồng thời tiếp tục vững bước trên con đường xây dựng và phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới./.
Ảnh: Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi vẻ vang của dân tộc.
Yêu nước ST.

Thứ Hai, 18 tháng 8, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM GẶP MẶT CÁN BỘ LÃO THÀNH CÁCH MẠNG, NGUYÊN ỦY VIÊN TRUNG ƯƠNG ĐẢNG NHÂN KỶ NIỆM 80 NĂM CÁCH MẠNG THÁNG TÁM VÀ QUỐC KHÁNH 2-9!

     Sáng 18-8, tại Hà Nội, Tổng Bí thư Tô Lâm gặp mặt các đồng chí lão thành cách mạng, các đồng chí nguyên Ủy viên Trung ương Đảng các khóa, nguyên lãnh đạo các ban, cơ quan của Đảng, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội Trung ương nhân Kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công (19-8-1945 / 19-8-2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2-9-1945 / 2-9-2025).

Tham dự chương trình gặp mặt có: Nguyên Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh; Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Lương Cường; nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang; Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính; nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng; Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn; các đồng chí nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng và Nguyễn Thị Kim Ngân; Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú; nguyên Ủy viên Thường vụ Thường trực Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Phạm Thế Duyệt; các nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thường trực Ban Bí thư Phan Diễn, Lê Hồng Anh và Trần Quốc Vượng. Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Đỗ Văn Chiến.

Dự chương trình có các đồng chí Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Trung ương Đảng; các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng các khóa; các đồng chí đại biểu lão thành cách mạng, nguyên lãnh đạo các cơ quan Trung ương của Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội, đại diện lãnh đạo một số ban, bộ, ngành, Trung ương.

Đại biểu Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng dự chương trình gặp mặt có: Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Đại tướng Trịnh Văn Quyết, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam.

Chương trình gặp mặt nhằm ôn lại truyền thống lịch sử cách mạng vẻ vang của Đảng, dân tộc nhân kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công (19-8-1945 / 19-8-2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2-9-1945 / 2-9-2025); thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước đối với các đồng chí lão thành cách mạng, các đồng chí nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, các đồng chí nguyên lãnh đạo của các cơ quan của Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội ở Trung ương; ghi nhận, tri ân những cống hiến, đóng góp to lớn của các đồng chí đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; lắng nghe ý kiến đóng góp quý báu, trách nhiệm, tâm huyết, trí tuệ được kết tinh giữa kinh nghiệm thực tiễn sâu sắc và tầm nhìn chiến lược của các đồng chí nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đại biểu đã từng chèo lái con thuyền cách mạng của đất nước ta.

Tại buổi gặp mặt, các đại biểu đã chia sẻ ký ức xúc động, tự hào về những năm tháng tham gia cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc, những đóng góp to lớn của quân và dân cả nước để làm nên chiến thắng vĩ đại để đất nước được độc lập, tự do, nhân dân được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Trong niềm xúc động, Đại tướng Phạm Văn Trà, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương), nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chia sẻ về chặng đường hoạt động cách mạng với biết bao gian khổ nhưng rất hào hùng. Đại tướng Phạm Văn Trà đã từng tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, bị thương nhiều lần, kinh qua nhiều hiểm nguy nhưng vẫn luôn giữ một lòng tuyệt đối trung thành với Đảng, lý tưởng cách mạng, gắn bó mật thiết với nhân dân.

Với tinh thần phấn khởi chứng kiến đất nước đổi mới và đạt được những kết quả to lớn, đồng chí Phạm Quang Nghị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội bày tỏ sự biết ơn vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, nhớ và biết ơn lớp lớp các anh hùng liệt sĩ, những người có công với nước, với dân, và cùng với đó là lòng trân trọng, tri ân sự hy sinh lớn lao của nhân dân ta trong Cách mạng Tháng Tám và trong cả thời kỳ tiếp sau.

Buổi gặp mặt càng thêm ý nghĩa khi các đại biểu chia sẻ những câu chuyện xúc động, đồng thời, bày tỏ sự ủng hộ, tin tưởng vào các chủ trương, chính sách của Đảng trong thời gian gần đây liên quan đến tinh gọn bộ máy, phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo, đưa đất nước vào kỷ nguyên phát triển mới. 

Phát biểu tại buổi gặp mặt, Tổng Bí thư Tô Lâm bày tỏ xúc động khi được gặp lại đông đảo các đồng chí, nhiều bác là bậc tiền bối, đã trải qua những năm tháng khó khăn của Cách mạng Việt Nam, từ thời kỳ giành chính quyền, xây dựng chính quyền non trẻ, vượt qua khói lửa chiến tranh để thống nhất non sông đất nước và xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa vững mạnh như ngày hôm nay. Trong số các đồng chí có nhiều người trực tiếp cầm súng chiến đấu hoặc chỉ đạo kháng chiến; có nhiều người đã miệt mài, bền bỉ trên mặt trận kiến thiết, đổi mới, hội nhập, đưa đất nước ta tiến lên.

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Tổng Bí thư Tô Lâm trân trọng gửi tới các đồng chí đại biểu lời chào trân trọng, lời thăm hỏi ân cần và những lời chúc tốt đẹp nhất.

Nhìn lại chặng đường 80 năm qua, lịch sử dân tộc ta được dệt nên từ biết bao hy sinh, gian khổ, nhưng cũng rực rỡ những chiến công và thành quả. Và trong từng trang sử đó, có dấu ấn đậm nét của các đồng chí, những người đã ở vị trí lãnh đạo cao nhất của Đảng qua các thời kỳ, cùng toàn Đảng hoạch định đường lối, dẫn dắt công cuộc cách mạng. Mỗi đồng chí là một câu chuyện, một hành trình cống hiến riêng, nhưng tất cả đều có một điểm chung đó là sự kiên định với lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, sự tận tụy với nhân dân, sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích của Đảng, của dân tộc.

Ngày nay, đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên mới với khát vọng phát triển nhanh và bền vững, trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào giữa thế kỷ XXI. Để công cuộc đổi mới tiếp tục được thực hiện với quyết tâm mới, thế và lực mới, tầm vóc mới, ngoài nỗ lực của Ban Chấp hành Trung ương, cả hệ thống chính trị và nhân dân thì Đảng và Nhà nước cũng cần sự đồng hành, đóng góp trí tuệ, kinh nghiệm của các đồng chí nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, các cán bộ cấp cao, những người hiểu sâu về quy luật phát triển, từng trải qua những tình huống khó khăn, luôn kiên định mục tiêu vì nước vì dân và điều đặc biệt quý là các đồng chí vẫn là những trái tim hồng.

Tổng Bí thư Tô Lâm thông tin một số thành tựu cũng như một số định hướng phát triển đất nước trong thời gian tới, đặc biệt là việc phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ XIII và chuẩn bị thật tốt để tổ chức thành công Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đảm bảo thực hiện thắng lợi hai mục tiêu 100 năm mà Đảng đã đề ra, đặc biệt là nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn hòa bình, ổn định, trật tự xã hội; phát triển đất nước nhanh và bền vững và không ngừng nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân.

Kể từ Hội nghị Trung ương 10 khóa XIII (tháng 9-2024) đến nay, Ban Chấp hành Trung ương đã giải quyết một khối lượng công việc khổng lồ để quyết tâm, quyết liệt thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII, đạt các chỉ tiêu phát triển kinh tế xã hội của nhiệm kỳ 2020-2025, đặc biệt là việc triển khai mạnh mẽ, quyết liệt, khoa học Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25-10-2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và quyết định tổ chức chính quyền 3 cấp gồm 2 cấp ở địa phương với việc cơ cấu lại không gian phát triển của địa giới hành chính cấp tỉnh, thành phố và cấp xã, phường, đặc khu.

Nhiều việc khó, việc lớn được đưa ra bàn bạc trong tập thể Bộ Chính trị, Ban Bí thư và xin ý kiến của Ban Chấp hành Trung ương, về cơ bản những nội dung quan trọng, chiến lược, cách mạng đó đều đạt thống nhất cao về chủ trương, phương án, kế hoạch, lộ trình triển khai... Chính vì vậy mà những công việc mà Ban Chấp hành Trung ương thực hiện vừa qua được coi là “đúng”, “trúng”, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình ủng hộ; khối lượng công việc được giải quyết được đánh giá là “một năm bằng nhiều năm”, đã thể hiện đúng tinh thần “nói đi đôi với làm”.
 
Tổng Bí thư Tô Lâm cũng thông tin về thành tựu phát triển kinh tế; công tác an sinh xã hội, đối ngoại hội nhập quốc tế, về Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV. Nhấn mạnh về quốc phòng, an ninh, Tổng Bí thư Tô Lâm nêu rõ: Chưa giai đoạn nào mà Đảng và Nhà nước lại quan tâm đầu tư phát triển cho quốc phòng, an ninh như giai đoạn hiện nay. Lực lượng vũ trang nhân dân của chúng ta đang tiến nhanh đến mục tiêu chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đủ sức chiến đấu và chiến thắng trước mọi loại hình chiến tranh, đủ sức giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, không để đất nước rơi vào tình huống bị động, bất ngờ. Quốc phòng, an ninh hiện nay là kênh đối ngoại hiệu quả để giữ hòa bình, ổn định và phát triển cho đất nước.

Cả Quân đội và Công an đều được tổ chức lại theo hướng tinh, gọn, mạnh; thế trận quốc phòng, an ninh được bố trí phù hợp với không gian phát triển mới của đất nước; nghệ thuật quân sự, nghệ thuật an ninh được nâng lên một bước phù hợp với tình hình hiện nay. Lực lượng, vũ khí, trang thiết bị quân sự, an ninh đủ sức đáp ứng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Chủ quyền lãnh thổ, toàn vẹn quốc gia được bảo đảm và giữ vững; sức mạnh quốc phòng, an ninh mạnh hơn trước rất nhiều. Quân đội, Công an đã làm chủ, sản xuất nhiều loại vũ khí, thiết bị hiện đại.

Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: Các đồng chí nguyên ủy viên Trung ương, cán bộ lão thành, cán bộ cấp cao dù đã nghỉ công tác lãnh đạo trực tiếp, nhưng tôi tin rằng trong tim mỗi đồng chí, ngọn lửa cách mạng vẫn cháy bền bỉ. Các đồng chí vẫn có thể, và rất nên tiếp tục góp sức trên nhiều phương diện: Đóng góp ý kiến cho Đảng về những vấn đề chiến lược, tầm nhìn dài hạn, trên cơ sở kinh nghiệm và sự từng trải của mình; truyền lửa cho thế hệ trẻ, đặc biệt là cán bộ trẻ, để họ thấm nhuần giá trị trung thành, tận tụy, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; tham gia giám sát, đóng góp ý kiến, góp phần giữ gìn sự trong sạch, vững mạnh của Đảng và hệ thống chính trị tại cơ sở, nơi các đồng chí sinh sống; làm cầu nối đối ngoại nhân dân, phát huy uy tín và mối quan hệ quốc tế đã tích lũy để quảng bá hình ảnh Việt Nam.

Tổng Bí thư Tô Lâm tin tưởng với tinh thần “mãi mãi tuổi 20”, các đồng chí sẽ tiếp tục đồng hành, đóng góp trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín để giúp Đảng ta lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức, vươn lên mạnh mẽ, thực hiện thắng lợi khát vọng xây dựng một Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.

Dịp này, Tổng Bí thư Tô Lâm đã trao Huy hiệu Đảng tặng các đồng chí lão thành cách mạng, nguyên lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước; trao thẻ đảng viên (mẫu mới) đối với các đồng chí nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước./.


Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BÀI VIẾT CỦA CHỦ TỊCH NƯỚC LƯƠNG CƯỜNG NHÂN KỶ NIỆM 80 NĂM NGÀY TRUYỀN THỐNG CAND!

     Nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống Công an nhân dân (19/8/1945 - 19/8/2025) và 20 năm Ngày hội Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc (19/8/2005 - 19/8/2025), Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam Lương Cường có bài viết “80 năm Công an Nhân dân Việt Nam cùng toàn dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Xin trân trọng giới thiệu bài viết này của Chủ tịch nước Lương Cường.

"Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc - kỷ nguyên độc lập, tự do và Chủ nghĩa xã hội. Để bảo vệ thành quả cách mạng và xây dựng Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, ngày 19/8/1945, lực lượng Công an nhân dân Việt Nam chính thức được thành lập.

Trong 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, bên cạnh việc bảo đảm vững chắc an ninh, trật tự, lực lượng Công an nhân dân (CAND) đã có nhiều đóng góp rất quan trọng và hiệu quả trong công tác tham mưu chiến lược với Đảng, Nhà nước về bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; chủ động đề xuất nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật quan trọng, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước.

Đặc biệt, trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến nhanh, phức tạp, Bộ Công an đã chủ động phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương trong xây dựng nền an ninh nhân dân (ANND), gắn với nền Quốc phòng toàn dân (QPTD), thế trận ANND với thế trận QPTD và thế trận “lòng dân” vững chắc, góp phần rất quan trọng cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ.

Ngay từ những ngày đầu, khi chính quyền cách mạng còn non trẻ, phải đối mặt với muôn vàn khó khăn, thử thách “thù trong giặc ngoài”. Trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” đó, lực lượng Công an nhân dân đã kề vai, sát cánh cùng Quân đội nhân dân, dựa vào Nhân dân để bảo vệ thành công Lễ Tuyên ngôn độc lập ngày 02/9/1945 và cuộc Tổng tuyển cử Quốc hội đầu tiên ngày 06/01/1946 - hai sự kiện chính trị trọng đại, khẳng định chủ quyền quốc gia và nền tảng của thể chế dân chủ mới. Đây là những chiến công đầu trong trang sử vẻ vang của lực lượng CAND Việt Nam.

Tiếp nối chiến công đó, Lực lượng Công an đã kịp thời phát hiện, trấn áp, bóc gỡ nhiều tổ chức đảng phái phản động, tiêu biểu nhất là vụ triệt phá tổ chức phản động tại số 7 phố Ôn Như Hầu (nay là Phố Nguyễn Gia Thiều, Hà Nội), chiếm và tiếp quản 40 trụ sở Quốc dân Đảng, bắt 100 tên phản động, làm thất bại âm mưu đảo chính lật đổ chính quyền do liên minh phản cách mạng giữa Quốc dân Đảng cấu kết với thực dân Pháp tiến hành.

Ở vùng giải phóng và căn cứ địa cách mạng, lực lượng Công an đã phối hợp chặt chẽ với Quân đội, các ngành chức năng, bám dân, dựa vào nhân dân, vận động nhân dân thực hiện sâu rộng phong trào “Ba không”, “Ngũ gia liên bảo”…, tạo thế trận an ninh Nhân dân vững chắc, bảo vệ tuyệt đối an toàn các cơ quan đầu não của Đảng, Chính phủ, căn cứ địa kháng chiến và các chiến dịch quân sự trọng yếu; đồng thời trực tiếp chiến đấu đánh sâu vào vùng địch tạm chiếm, phá tề, trừ gian, diệt ác, góp phần làm tan rã hệ thống kìm kẹp của địch, tạo thuận lợi cho quần chúng nổi dậy, cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân làm nên các chiến thắng trong chín năm kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, mà đỉnh cao là chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, lực lượng CAND tiếp tục lập được nhiều chiến công xuất sắc trên cả chiến trường miền Nam và bảo vệ hậu phương lớn miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Tại miền Bắc, lực lượng CAND đã vận dụng nhiều phương thức, biện pháp đấu tranh, phát động rộng rãi, mạnh mẽ phong trào “Bảo mật phòng gian”, “Bảo vệ trị an”, “Phòng gian, phòng hỏa, phòng tai nạn”… trong quần chúng Nhân dân; phòng ngừa, phát hiện và kịp thời dập tắt các tổ chức gián điệp cài lại, phát hiện, bắt giữ hàng trăm toán với hàng ngàn tên gián điệp biệt kích, trấn áp kịp thời các tổ chức phản động nhen nhóm; góp phần quan trọng làm thất bại chiến tranh tâm lý, chiến tranh phá hoại của địch…

Trên chiến trường miền Nam, các lực lượng An ninh đã phát huy cao độ tinh thần chủ động, sáng tạo, tự lực, tự cường, dựa chắc vào nhân dân, phối hợp chặt chẽ với phong trào quần chúng và các lực lượng vũ trang cách mạng, liên tục tiến công địch trên khắp các mặt trận cả rừng núi, đồng bằng, nông thôn và thành thị; tổ chức diệt ác, phá kìm, phá các khu dồn dân, ấp chiến lược, góp phần đập tan các kế hoạch càn quét “tìm diệt, bình định” của địch…

Đặc biệt, lực lượng An ninh đã cùng quân và dân miền Nam đồng loạt tiến công và đánh địch trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, cuộc tiến công chiến lược năm 1972, và đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Sau ngày 30/4/1975, lực lượng CAND cả nước tiếp tục bước vào trận chiến mới với khí thế mới, và hành trang vẻ vang của mình, nhưng cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn, gian khổ và hy sinh. Dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng và sự quản lý, tập trung, thống nhất của Nhà nước, lực lượng CAND đã phát động phong trào “Quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc”, cùng với Quân đội nhân dân, các cấp, các ngành và quần chúng Nhân dân tích cực củng cố và xây dựng chính quyền cách mạng ở vùng mới giải phóng, tổ chức quản lý, cải tạo binh lính, nhân viên của chế độ cũ, truy quét tàn quân địch...

Chiến công điển hình, có ý nghĩa chính trị - xã hội rất to lớn của lực lượng CAND thời kỳ này là đấu tranh thành công Chuyên án mang bí số KHCM 12, đập tan hoàn toàn âm mưu và hoạt động của tổ chức phản cách mạng “Mặt trận thống nhất các lực lượng yêu nước giải phóng Việt Nam” do Lê Quốc Túy và Mai Văn Hạnh cầm đầu, được các thế lực thù địch, phản động quốc tế hỗ trợ và tiếp sức hòng lật đổ chính quyền Nhân dân.

Bước vào thời kỳ đổi mới (từ năm 1986 đến nay), lực lượng CAND đã cùng với Quân đội nhân dân, các cấp, các ngành bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; phát huy tốt vai trò nòng cốt trong xây dựng nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân gắn với nền QPTD, thế trận QPTD và thế trận “lòng dân” vững chắc, huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và toàn dân tham gia bảo đảm an ninh, trật tự.

Với sự ủng hộ, giúp đỡ của Nhân dân, sự hiệp đồng chặt chẽ của Quân đội nhân dân, các cấp, các ngành Trung ương và địa phương, lực lượng CAND đã giải quyết hiệu quả nhiều vấn đề an ninh từ cơ sở, từ sớm, từ xa; đồng thời thực hiện tốt chức năng tham mưu chiến lược với Đảng, Nhà nước về nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ tuyệt đối an toàn hoạt động của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các sự kiện chính trị, văn hóa, xã hội, đối ngoại đặc biệt quan trọng của đất nước, các mục tiêu, công trình trọng điểm. Công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được thực hiện quyết liệt, bài bản, xử lý nhiều vụ án lớn, có sức răn đe, cảnh tỉnh và giáo dục cao. Điều tra làm rõ, xử lý nhiều đường dây, tổ chức phạm tội lớn, xuyên quốc gia gây bức xúc, bất an trong xã hội, được Nhân dân ghi nhận, đánh giá cao.

Gương mẫu trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, toàn lực lượng CAND đã thống nhất, quyết tâm rất cao, đi đầu thực hiện tinh gọn tổ chức lực lượng, bỏ cấp trung gian, không tổ chức Công an cấp huyện, tập trung xây dựng Công an xã vững mạnh, bám cơ sở; về chuyển đổi số trong cả nước; chủ động rà soát, cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, triển khai dịch vụ công trực tuyến thiết yếu, cấp bách, tạo thuận lợi cho Nhân dân.

Với tinh thần “lúc dân cần, lúc dân khó có Công an”, bên cạnh việc thực hiện tốt nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự, đấu tranh trấn áp tội phạm, cùng với Quân đội nhân dân và ngành y tế, CAND luôn là một lực lượng quyết liệt trong phòng, chống dịch bệnh, tích cực tham gia khắc phục hậu quả thiên tai, bão lũ, cứu nạn, cứu hộ, được Đảng, Nhà nước và Nhân dân ghi nhận, đánh giá cao, thật sự trở thành một “điểm tựa bình yên” của Nhân dân.

Thời gian qua, thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, hưởng ứng phong trào “Cả nước chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau”, Bộ Công an đã chủ động, tích cực cùng với các ban, bộ, ngành Trung ương và các địa phương triển khai chương trình xây dựng nhà ở cho các hộ gia đình có công với cách mạng, gia đình chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nghèo, cận nghèo, người dân bị ảnh hưởng bởi thiên tai, lũ lụt; đồng thời, đã huy động các nguồn lực để góp phần quan trọng hoàn thành mục tiêu xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước.

Trong giai đoạn từ năm 2019 đến nay, Bộ Công an đã chủ trì vận động và phối hợp với các địa phương xây dựng hơn 29.100 ngôi nhà, với kinh phí hơn 1.450 tỷ đồng, cùng nhiều điểm trường, trường học, bệnh viện ở Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, góp phần bảo đảm an sinh xã hội, phát triển kinh tế và sự ổn định về an ninh, trật tự tại các địa bàn chiến lược.

80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, lực lượng CAND luôn tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân, luôn nêu cao tinh thần tận tụy, sẵn sàng xả thân vì đất nước, lấy lợi ích của Tổ quốc, của Nhân dân làm mục tiêu cao nhất để phấn đấu, sẵn sàng đem hết sức lực, tài trí và cả tính mạng đóng góp vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và làm tròn nghĩa vụ quốc tế vẻ vang.

Trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, gần 15 ngàn cán bộ, chiến sĩ CAND đã anh dũng hy sinh, hơn 5 ngàn đồng chí đã hiến dâng một phần xương máu, hàng trăm đồng chí bị địch bắt, tù đày, bị tra tấn dã man, trong đó có nhiều tấm gương chiến công bất diệt, để lại sự khâm phục, tự hào trong Nhân dân, như: Anh hùng, liệt sĩ Võ Thị Sáu, Anh hùng Nguyễn Thị Lợi, Anh hùng, liệt sĩ Bùi Thị Cúc, Anh hùng, liệt sĩ Trần Văn Hoàng...

Ngày nay, đất nước đã hòa bình, thống nhất, nhưng hằng ngày trên mặt trận bảo vệ an ninh, trật tự, cán bộ, chiến sĩ CAND vẫn tràn đầy nhiệt huyết cống hiến và sẵn sàng hy sinh để cuộc sống của Nhân dân được bình yên, hạnh phúc. Hàng ngàn tấm gương cán bộ, chiến sĩ Công an anh dũng hy sinh trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ Nhân dân, trở thành biểu tượng cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng thời đại Hồ Chí Minh, khẳng định truyền thống vẻ vang “vì nước quên thân, vì dân phục vụ” của lực lượng CAND Việt Nam.

Ghi nhận những đóng góp và thành tích đặc biệt xuất sắc, lực lượng CAND đã năm lần được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao Vàng, cùng nhiều phần thưởng cao quý khác của Đảng, Nhà nước và bạn bè quốc tế.

Đất nước ta đang bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên phát triển giàu mạnh, thịnh vượng và hạnh phúc của dân tộc Việt Nam, quyết tâm thực hiện thắng lợi hai mục tiêu chiến lược 100 năm thành lập Đảng và 100 năm thành lập Nước; với khát vọng vào năm 2045, Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao. Bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, vẫn còn không ít khó khăn, thách thức; bốn nguy cơ mà Đảng ta chỉ ra vẫn còn hiện hữu không thể xem thường; các vấn đề an ninh phi truyền thống, những thách thức toàn cầu như thiên tai, dịch bệnh, an ninh con người tiếp tục diễn biến phức tạp.

Các thế lực thù địch, phản động quyết liệt thực hiện âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ” hòng xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang nhân dân; hoạt động của các đối tượng chống đối trong nước và các loại tội phạm diễn biến phức tạp, đặt ra cho lực lượng CAND những yêu cầu, nhiệm vụ mới nặng nề hơn.

Phát huy truyền thống vẻ vang qua 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, nhận thức sâu sắc mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, lực lượng CAND cần tiếp tục chủ động phối hợp chặt chẽ với các cấp, các ngành tập trung thực hiện hiệu quả một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

Thứ nhất, luôn giữ vững và kiên định nguyên tắc lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, sự thống nhất quản lý của Chính phủ đối với CAND. Bất kể lúc nào, ở đâu, trong hoàn cảnh nào lực lượng CAND phải là lực lượng tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân; không ngừng học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đặc biệt là quán triệt thực hiện tốt Sáu điều Bác Hồ dạy CAND và phải coi đó là việc làm thường xuyên, hằng ngày, thành lối sống, nếp nghĩ, cách làm của mỗi cán bộ, chiến sĩ.

Chủ động, tích cực, nghiêm túc quán triệt, cụ thể hóa, tổ chức thực hiện có hiệu quả mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong lực lượng CAND, trực tiếp góp phần quan trọng xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật về an ninh, trật tự; tăng cường đối ngoại, hợp tác quốc tế; đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, tạo đà và nền tảng vững chắc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị nhiệm kỳ Đại hội XIV của Đảng và thực hiện thành công hai mục tiêu 100 năm phát triển đất nước.

Thứ hai, trong bối cảnh, thực hiện cuộc cách mạng tinh gọn để bộ máy của hệ thống chính trị hoạt động hiệu lực, hiệu quả, gần dân, sát dân hơn, đòi hỏi lực lượng CAND cần phải có tư duy mới, tầm nhìn mới trong không gian phát triển mới của đất nước; đó không chỉ là tư duy mới về an ninh, trật tự mà còn là tư duy mới về khát vọng vươn lên của dân tộc, trong đó nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của lực lượng CAND là góp phần xây dựng và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, lành mạnh, kiến tạo cho sự phát triển của đất nước.

Vì vậy, lực lượng CAND phải tiếp tục nâng cao chất lượng công tác dự báo chiến lược, nắm chắc, nắm sâu, nắm rõ tình hình để chủ động kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các cấp những chủ trương, biện pháp bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ” của các thế lực thù địch, không bị động, bất ngờ trong mọi tình huống; trước mắt, tập trung bảo vệ tuyệt đối an toàn các hoạt động và Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử Hội đồng nhân dân các cấp, nhiệm kỳ 2026 - 2031.

Thứ ba, tập trung xây dựng CAND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thời kỳ mới, tiếp tục xây dựng tổ chức bộ máy của lực lượng CAND tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; có cơ chế phối hợp, phân công trách nhiệm, phân cấp quản lý cụ thể, rõ ràng, gắn quyền hạn với trách nhiệm và kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức, chạy quyền. Tiến hành đồng bộ các giải pháp xây dựng các tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.  

Cán bộ, chiến sĩ CAND phải “vừa có đức”, “vừa có tài”, thật sự liêm chính, tâm huyết, “vì Đảng, vì Dân”. Tiếp tục siết chặt kỷ luật, kỷ cương. Lực lượng CAND không chỉ dũng cảm đấu tranh với cái xấu, cái sai ngoài xã hội, mà còn phải kiên quyết đấu tranh làm trong sạch chính mình; thường xuyên làm tốt tự phê bình và phê bình, chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm, xử lý nghiêm các trường hợp cán bộ, chiến sĩ vi phạm pháp luật, kỷ luật, có dấu hiệu suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, quan liêu, vô cảm trước những khó khăn, bức xúc và nhu cầu chính đáng của Nhân dân. Tiếp tục thực hiện quyết liệt, đồng bộ, có hiệu quả Nghị quyết số 12-NQ/TW, ngày 16/3/2022 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh xây dựng lực lượng CAND thật sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.

Thứ tư, lực lượng CAND phải thường xuyên tự tu dưỡng, rèn luyện, quán triệt và thực hiện tốt lời dạy của Bác Hồ kính yêu: “Làm công an thì phải làm cho dân tin, dân yêu, dân ủng hộ. Có dựa vào nhân dân thì công an mới hoàn thành được tốt nhiệm vụ của mình. Nhân dân có hàng triệu tai mắt thì kẻ địch khó mà che giấu được” [1], “Khi nhân dân giúp đỡ ta nhiều thì thành công nhiều, giúp đỡ ta ít thì thành công ít, giúp đỡ ta hoàn toàn thì thắng lợi hoàn toàn” [2] , cần nhận thức sâu sắc và nỗ lực cao nhất, phát huy tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, đổi mới phong cách, lề lối làm việc thực sự gần dân, sát dân, hiểu dân, gương mẫu trước Nhân dân, thường xuyên lắng nghe, tiếp thu ý kiến góp ý, phê bình của Nhân dân; làm cho Nhân dân ngày càng thêm tin yêu, giúp đỡ Công an nhiều hơn; tích cực, chủ động xây dựng thế trận lòng dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc, đặc biệt coi trọng công tác vận động quần chúng, làm cho phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc” thực sự là của toàn dân; tiếp tục tập trung hướng dẫn, xây dựng, nhân rộng các mô hình, điển hình tiên tiến, tạo điều kiện thuận lợi để Nhân dân tham gia tích cực hơn nữa trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự tại cơ sở.

Thứ năm, chủ động phối hợp với các lực lượng chức năng liên quan xây dựng cơ chế huy động sức mạnh của Nhân dân ở trong và ngoài nước tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc từ sớm, từ xa. Lực lượng CAND cần phát huy vai trò nòng cốt trong tham mưu ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ, giúp đỡ đồng bào Việt Nam định cư ở nước ngoài ổn định cuộc sống, tiếp tục giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, hướng về Tổ quốc, đóng góp xây dựng đất nước, quê hương, giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, “sánh vai với các cường quốc năm châu” như Bác Hồ hằng mong muốn.

Đảng, Nhà nước và Nhân dân luôn mong muốn, kỳ vọng và tin tưởng lực lượng Công an nhân dân Việt Nam sẽ tiếp tục phát huy truyền thống anh hùng, luôn nêu cao tinh thần “vì nước quên thân, vì dân phục vụ”, xây dựng lực lượng thực sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, luôn luôn là “thanh bảo kiếm” sắc bén, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao cho, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới./.


-------------------
[1] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2011, t.12, tr.223.
[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2011, t.7, tr.270.

Lương Cường, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam
Yêu nước ST.

QUÂN SỰ NƯỚC NGOÀI: XE TĂNG HIỆN ĐẠI VÀ BÍ MẬT CỦA LỚP GIÁP TỔNG HỢP!

     Gần đây, trong kế hoạch nâng cấp trang bị, lục quân Mỹ đã giới thiệu xe tăng M1E3 Abrams với khả năng chống đạn tấn công từ trên cao vượt trội so với thế hệ trước. Cùng thời điểm, Đức nâng cấp Leopard 2A8, tăng khả năng chống đạn xuyên động năng lên tương đương 800 mm thép đồng nhất. Những cải tiến này gắn liền với việc ứng dụng lớp giáp tổng hợp tiên tiến.
Giáp tổng hợp là loại giáp mới được tạo thành từ hai hoặc nhiều loại vật liệu khác nhau, có thể chống lại hiệu quả các loại đạn xuyên lõm và đạn xuyên giáp. Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, tên lửa chống tăng phát triển mạnh, khiến việc tăng độ dày thép không còn khả thi vì làm xe quá nặng, giảm cơ động. Thập niên 1960, Liên Xô trang bị cho xe tăng T-64 giáp tổng hợp ba lớp “thép + sợi thủy tinh + thép”, nâng khả năng chống đạn lõm tương đương 600 mm thép đồng nhất nhưng chỉ tăng thêm 4 tấn, như “áo chống đạn nhẹ” cho xe tăng. Từ đó, giáp tổng hợp chính thức ra đời và sau hơn nửa thế kỷ đã tiến xa với nhiều cải tiến về vật liệu, cấu trúc và trí tuệ nhân tạo.
Vật liệu liên tục được cải tiến. Gốm là thành phần cốt lõi của giáp tổng hợp, và trong thời gian dài, chủng loại của nó ngày càng phong phú, phạm vi ứng dụng ngày càng rộng. Năm 1962, Mỹ là quốc gia đầu tiên kết hợp gốm oxit nhôm với hợp kim nhôm để bảo vệ trực thăng, mở ra kỷ nguyên ứng dụng gốm vào giáp tổng hợp. Hiện nay, gốm oxit nhôm thế hệ mới, nhờ cải tiến quy trình nung, đã giữ được độ cứng nhưng tăng đáng kể độ dẻo dai, giúp khả năng chống chịu nhiều cú đánh liên tiếp được cải thiện rõ rệt. Tiêu biểu như giáp “Chobham” của xe tăng Challenger 2 (Anh) sử dụng mô-đun gốm cacbua silic kết hợp với tấm thép lưng, có thể liên tiếp chống được nhiều quả đạn RPG hoặc một quả tên lửa chống tăng, nâng cao khả năng bảo vệ.
Cấu trúc bên trong và bên ngoài được tối ưu hóa. Nguyên lý mô-đun hóa hiện đang được áp dụng rộng rãi vào giáp tổng hợp. Giáp tổng hợp dạng khoảng cách của xe tăng Leopard 2A7 (Đức) sử dụng các mô-đun lắp bổ sung bằng bu-lông, đạt khả năng bảo vệ tương đương 600 mm thép đồng nhất. Cấu trúc này giúp dễ dàng sử dụng và rút ngắn thời gian sửa chữa trên chiến trường. Giáp tổng hợp mô-đun của xe tăng Leclerc (Pháp) có cách kết nối khoa học hơn giữa các mô-đun, đồng thời cấu trúc bên trong mô-đun cũng có nhiều sáng tạo, thông qua việc phối hợp và sắp xếp các vật liệu khác nhau để tăng khả năng chống chịu trước nhiều loại đạn. Ngoài ra, một số quốc gia còn đang thử nghiệm áp dụng cấu trúc dạng tổ ong hoặc dạng lưới vào giáp tổng hợp, nhằm lợi dụng biến dạng cấu trúc để hấp thụ năng lượng nổ và chống lại tác động.
Kết hợp với các biện pháp phòng thủ khác. Hiện nay, việc kết hợp hệ thống phòng thủ chủ động với giáp tổng hợp để tăng khả năng bảo vệ xe tăng đã trở thành lựa chọn của nhiều quốc gia. Radar trong hệ thống phòng thủ chủ động có thể nhanh chóng phát hiện mục tiêu đang bay tới, tính toán vị trí đánh chặn tối ưu rồi phóng đạn đánh chặn để phá hủy. Những “mục tiêu lọt lưới” sẽ bị giáp tổng hợp đỡ lại, tạo thành lớp bảo vệ kép. Không chỉ vậy, các nước còn đang nghiên cứu ứng dụng thuật toán trí tuệ nhân tạo để hệ thống phòng thủ chủ động và giáp tổng hợp có thể tự động điều chỉnh chiến lược phòng thủ tùy theo đặc tính của đạn tấn công, đạt được khả năng phòng vệ thông minh.
Khả năng bảo vệ của giáp tổng hợp phụ thuộc vào sự kết hợp và phối hợp giữa kim loại, gốm và vật liệu polymer, nhưng sự khác biệt về đặc tính vật lý khiến việc phối hợp trở nên khó khăn. Giáp tổng hợp sử dụng nhiều vật liệu hiệu suất cao nên chi phí rất đắt đỏ. Sự xuất hiện của các loại đạn xuyên lõm song song (tandem warhead) và các “đối thủ” mới khác cũng buộc giáp tổng hợp phải tiếp tục cần được nâng cấp. Tuy nhiên, trong tương lai, xe bọc thép có thể vượt ra ngoài giới hạn phòng thủ vật lý truyền thống, xây dựng lá chắn bảo vệ toàn diện trên “chiến trường đa chiều” gồm phổ điện từ, không gian thông tin và phòng thủ vật lý. Khi đó, những thách thức hiện nay có thể sẽ không còn là vấn đề./.

Khuyết danh ST.

AI HƠN AI?

     Theo thống kê chưa đầy đủ chỉ sau 5 ngày kêu gọi của hội CTĐ ( tính đến thời điểm 17h ngày 17/5/2025) thì đã có trên 1.5tr người chuyển tiền ủng hộ các bạn CU BA với số tiền quyên góp lên tới 310.9 tỷ VNĐ ( khoảng trên 12tr Usd).
Qua việc này mới thấy trân trọng truyền thống quý báu của người dân nước Việt. Đó là truyền thống Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây. Với số tiền ủng hộ khủng và chưa dừng lại mới thấy tấm lòng của người Việt đối với bạn bè nó bao la biết trừng nào. 
Ừ ...chắc nhìn lại tấm lòng này các thế lực có quan điểm trái chiều sẽ có cái nhìn khác về Việt Nam. Họ sẽ phải biết rằng ngồi đáy giếng thì tầm nhìn chỉ quanh miệng giếng.

Lời kêu gọi của chính quyền nó khác với mấy băng nhóm, bang hội lưu manh, nhận ủng hộ thì cũng không quá vài ba chục ngàn usd lấy lý do phụt quốc để rồi hòm hòm cái là cuốn gói chuồn mất. Làm gì có lý tưởng . Nhìn số tiền khủng của người dân Việt Nam thông qua lời kêu gọi của Hội CTĐ thì chúng ta khẳng định rằng chúng ta đã giàu có hơn rất rất nhiều đất nước caliphot của mấy anh lưu vong.
Thôi thì sự việc đã vậy đề nghị các anh ngoan ngoãn và trật tự, có điều kiện hơn thì quay về giúp giang sơn xã tắc được tý nào hay tý đó. Các cụ tổ tiên chắc sẽ dơ cao đánh khẽ mà tha thứ cho cảnh lầm đường lạc lối.
Việt Nam vẫn đang viết tiếp câu truyện hoà bình 
....
Cha ông ta ngày xưa ngã xuống để cho ngày sau đời ta đổi lấy hoà bình
.... 

Tạ ơn những người gìn giữ nước non đại Việt ta từ ngàn năm trước 
Tạ ơn người cha già của chúng ta trên con đường cứu nước.
Để cho đất nước yên vui từ đó, để cho tô thắm màu cờ tự do, để cho tiếng cười vang khắp nơi từ ngày chiến thắng
....
Xin cảm ơn đã đọc bài!
Khuyết danh ST.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA, NGÀY 18 THÁNG 8 NĂM 1945!

“Hỡi đồng bào yêu quý!
Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”!
Lời kêu gọi của Hồ Chí Minh trong “Thư kêu gọi tổng khởi nghĩa”, Người viết ngày 18 tháng 8 năm 1945.

Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình quốc tế, khu vực, trong nước, dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh và Hồ Chí Minh, lực lượng cách mạng đã không ngừng lớn mạnh, cao trào kháng Nhật cứu nước đã phát triển mạnh mẽ, nhất là sau cuộc đảo chính Nhật – Pháp dẫn đến sự thất bại của quân đội Nhật. Thực hiện Lệnh tổng khởi nghĩa của Trung ương Đảng, Hồ Chí Minh đã viết thư kêu gọi quân và dân cả nước tiến hành tổng khởi nghĩa để giành chính quyền. Hưởng ứng lời kêu gọi của Người, quân và dân cả nước đã đồng loạt biểu tình, đánh chiếm các công sở của địch và giành thắng lợi, đến cuối tháng 8 năm 1945, chính quyền cách mạng được thành lập trong cả nước, ngày 02 tháng 9 năm 1945 Hồ Chí Minh đã đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; nhân dân ta từ địa vị nô lệ lên địa vị làm chủ đất nước. Mở ra kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập và tự do.

Thư kêu gọi tổng khởi nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết cách đây 80 năm, song giá trị lý luận và thực tiễn vẫn vẹn nguyên, để Đảng, Nhà nước, quân đội vận dụng trong nhận định, đánh giá tình hình, xác định đúng đối tượng, đối tác của cách mạng Việt Nam; khơi dậy và phát huy tốt sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh của thời đại… để lãnh đạo thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng chủ động nghiên cứu, nắm chắc, đánh giá, dự báo tình hình một cách khách quan, toàn diện, khoa học, biện chứng để tham mưu kịp thời với Đảng, Nhà nước có đối sách xử lý hiệu quả các tình huống, mang lại hiệu quả cao trong thực hiện nhiệm vụ, hạn chế tối đa thương vong cho bộ đội trong chiến đấu và tuyết đối không để bị động bất ngờ. Luôn biết khơi dậy và phát huy tiềm năng, sức sáng tạo của cán bộ, chiến sĩ, kết hợp với sự giúp đỡ của nhân dân, của bạn bè quốc tế để tạo nên sức mạnh tổng hợp, đảm bảo cho quân đội hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ, là lực lượng nòng cốt cùng với toàn Đảng, toàn dân chiến đấu, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, giải phóng đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.
Môi trường ST.