Thứ Hai, 25 tháng 8, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BỘ CHÍNH TRỊ TÁN THÀNH PHƯƠNG ÁN NHÂN SỰ QUÂN ĐỘI THAM GIA TRUNG ƯƠNG KHÓA MỚI.

     Bộ Chính trị cơ bản đánh giá cao phương án nhân sự cán bộ quân đội tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV; nhân sự Quân ủy Trung ương, Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương nhiệm kỳ 2025-2030.

Ngày 25/8, Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương, chủ trì cuộc làm việc của Bộ Chính trị với Ban Thường vụ Quân ủy Trung ương để cho ý kiến vào dự thảo văn kiện và phương án nhân sự trình Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025-2030.

Sau khi nghe Ban Thường vụ Quân ủy Trung ương báo cáo về công tác chuẩn bị Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025-2030, Bộ Chính trị ghi nhận và đánh giá cao sự tích cực, chủ động của Quân ủy Trung ương, các cơ quan chức năng và cấp ủy, tổ chức đảng các cấp trong Đảng bộ Quân đội đã chỉ đạo chuẩn bị và tổ chức đại hội trước ở cả 3 cấp (cơ sở, trên trực tiếp cơ sở và trực thuộc Quân ủy Trung ương) thực sự mẫu mực, tiêu biểu.

Bộ Chính trị đánh giá báo cáo Chính trị của Đảng bộ Quân đội được chuẩn bị công phu, khoa học, xác định tầm nhìn, đề ra phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và xây dựng Đảng bộ Quân đội 5 năm (2025-2030) cụ thể, sát thực, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội hiện đại, nền quốc phòng toàn dân hiện đại và nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Báo cáo kiểm điểm, theo Bộ Chính trị, được chuẩn bị nghiêm túc, thẳng thắn, trung thực, dân chủ, thể hiện tính chiến đấu, tinh thần tự phê bình và phê bình cao.

Bộ Chính trị đánh giá dự thảo nghị quyết bảo đảm ngắn gọn, khái quát toàn bộ nội dung cốt lõi, quan trọng mà Đại hội cần xem xét, quyết định; thể hiện tinh thần đổi mới, quyết tâm bứt phá phát triển với phương hướng, mục tiêu, các đột phá và nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu về quân sự, quốc phòng, xây dựng Đảng bộ Quân đội nhiệm kỳ 2025-2030 rất cụ thể.

Các nội dung trong Chương trình hành động thực hiện nghị quyết đại hội Đảng bộ Quân đội được chuẩn bị kỹ lưỡng; xác định những chương trình lớn với các nhiệm vụ, đề án, dự án cụ thể, có tính khả thi.

Bộ Chính trị cơ bản tán thành và đánh giá cao phương án nhân sự cán bộ quân đội tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV; nhân sự Quân ủy Trung ương, Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương nhiệm kỳ 2025-2030 và nhân sự đại biểu dự Đại hội XIV của Đảng.

Bộ Chính trị đề nghị Ban Thường vụ Quân ủy Trung ương tiếp tục rà soát chặt chẽ để bảo đảm đúng quy định nhân sự Đại hội.

Cũng tại cuộc làm việc, Bộ Chính trị nhất trí với kế hoạch tổ chức Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XII mà Ban Thường vụ Quân ủy Trung ương đã xác định.

Trên cơ sở nội dung kết luận tại hội nghị, Bộ Chính trị đề nghị Ban Thường vụ Quân ủy Trung ương tiếp thu những ý kiến tham gia tại các buổi làm việc, ý kiến góp ý của các cơ quan để tiếp tục hoàn thiện nội dung văn kiện và công tác nhân sự Đại hội./.


Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THƯỢNG TƯỚNG NGUYỄN VĂN NGHĨA "TẬP TRUNG CAO ĐỘ CHUẨN BỊ CHO NHIỆM VỤ A80"!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THƯỢNG TƯỚNG NGUYỄN VĂN NGHĨA "TẬP TRUNG CAO ĐỘ CHUẨN BỊ CHO NHIỆM VỤ A80"!

     Chiều 25-8, Tiểu ban diễu binh, diễu hành Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (nhiệm vụ A80) tổ chức giao ban các lực lượng tham gia thực hiện nhiệm vụ. 

Thượng tướng Nguyễn Văn Nghĩa, Phó tổng Tham mưu trưởng QĐND Việt Nam, Trưởng Tiểu ban diễu binh, diễu hành chủ trì hội nghị.

Tại hội nghị, các đại biểu đánh giá, rút kinh nghiệm hai lần tổng hợp luyện tại Quảng trường Ba Đình vừa qua. Trong đó, tập trung vào công tác tổ chức cơ động lực lượng; phối hợp bảo đảm an ninh, an toàn, hậu cần, kỹ thuật; đội hình diễu binh, diễu hành; nội dung thuyết minh, âm thanh...

Phát biểu kết luận hội nghị, Thượng tướng Nguyễn Văn Nghĩa ghi nhận và biểu dương tinh thần trách nhiệm, sự nỗ lực, cố gắng vượt khó của các lực lượng trong thời gian vừa qua, đặc biệt là trong hai lần tổng hợp luyện tại Quảng trường Ba Đình. Thượng tướng Nguyễn Văn Nghĩa nhấn mạnh, kết quả đạt được đã thể hiện rõ khí thế, bản lĩnh, kỷ luật, tính chính quy, thống nhất của Quân đội, qua đó góp phần khẳng định sự chuẩn bị nghiêm túc, chu đáo, sẵn sàng cho sự kiện có ý nghĩa chính trị, lịch sử đặc biệt quan trọng này của đất nước.
 
Để chuẩn bị tốt cho chương trình sơ duyệt, tổng duyệt và lễ chính thức tới đây, Thượng tướng Nguyễn Văn Nghĩa yêu cầu các cơ quan, đơn vị tiếp tục tập trung cao độ rà soát, chuẩn bị chu đáo về mọi mặt. Chú trọng quán triệt, giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ phát huy tinh thần trách nhiệm, ý chí quyết tâm trong thực hiện nhiệm vụ. Bảo đảm tốt công tác hậu cần, kỹ thuật; giữ vững an toàn về người, phương tiện, khí tài trong suốt quá trình cơ động, nhất là trong điều kiện thời tiết diễn biến phức tạp. Cùng với đó, tích cực quan tâm, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ; nghiêm túc rút kinh nghiệm, khắc phục những điểm hạn chế, duy trì luyện tập hiệu quả, đúng kế hoạch.

Đồng thời, Thượng tướng Nguyễn Văn Nghĩa cũng chỉ đạo tiếp tục bảo đảm đầy đủ các mặt phục vụ cho các đoàn quân đội nước ngoài tham gia thực hiện nhiệm vụ A80, góp phần vào thành công trọn vẹn của Lễ kỷ niệm./.


Yêu nước ST.

ĐẠO PHÁP VÀ DÂN TỘC: DẤU ẤN ĐẶC BIỆT CỦA ĐẠO PHẬT TRONG CÔNG CUỘC KHÁNG CHIẾN - KIẾN QUỐC!

     Dưới ánh sáng từ bi và trí tuệ của Đức Phật, các thế hệ tăng ni, Phật tử không ngừng phụng đạo yêu nước, thể hiện tinh thần nhập thế sâu sắc, góp phần bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng xã hội an lành, đạo đức và văn minh.

Hội thảo khoa học chủ đề “Đạo Phật với cách mạng Việt Nam” được Giáo hội Phật giáo Việt Nam phối hợp với Trường ĐH Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức sáng nay.

Hội thảo tập trung trao đổi, thảo luận, thống nhất các quan điểm khoa học, tiếp tục tôn vinh và ôn lại những trang sử vẻ vang của dân tộc trong hành trình 80 năm qua, trong đó có dấu ấn đặc biệt của Đạo Phật đối với công cuộc kháng chiến - kiến quốc - xây dựng chủ nghĩa xã hội và hội nhập quốc tế.

Lịch sử đã ghi nhận Hòa thượng Thích Trí Độ là một trong những vị sư đi đầu trong việc truyền bá chủ nghĩa yêu nước trong giới Phật tử. Ngài từng tham gia hoạt động báo chí cách mạng, tổ chức đoàn thể Phật giáo tiến bộ và trở thành đại biểu Quốc hội khóa đầu tiên năm 1946.

Hòa thượng Thích Mật Thể từng xuất bản nhiều tác phẩm khơi dậy tinh thần độc lập dân tộc trong Phật giáo như Việt Nam Phật giáo sử lược (năm 1943), tích cực vận động tăng ni, Phật tử ủng hộ Việt Minh.

Hòa thượng Thích Thiện Chiếu tham gia phong trào Duy Tân, sau đó ngả hẳn về phía phong trào cách mạng dân tộc, cổ vũ tinh thần giải phóng bằng hành động thực tiễn.

Hòa thượng Thích Tâm Thi, Hòa thượng Thích Thanh Chân, Hòa thượng Thích Thế Long… là những vị cao tăng góp phần tích cực trong việc vận động tăng ni, Phật tử tham gia phong trào Việt Minh, nhất là ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ.

Hòa thượng Thích Đức Nhuận, ni sư Huỳnh Liên (đoàn trưởng Ni giới Khất sĩ) và nhiều tu sĩ khác đã tham gia các đoàn cứu trợ, mở lớp bình dân học vụ tại chùa...

Các thế hệ tăng ni, Phật tử không ngừng phụng đạo yêu nước

Hội thảo có các tham luận đa dạng chủ đề về: Những đóng góp của Phật giáo Việt Nam trong 2 cuộc kháng chiến; Tôn giáo và cách mạng - Trường hợp Phật giáo Việt Nam; Phật giáo Việt Nam tham gia xây dựng chính quyền cách mạng; Chùa Đồng Kỵ - cái nôi của chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”; Sư Hạnh - người chiến sĩ thầm lặng gieo hạt giống cách mạng trên quê hương Kim Bảng...

Phát biểu tại hội thảo, TS. Hoàng Anh Tuấn - Hiệu trưởng Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn - nhấn mạnh: “Đạo Phật đã đồng hành, góp phần quan trọng vào quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc trong suốt 2.000 năm qua. Đặc biệt, Đạo Phật gắn bó với hành trình 80 năm giành lại tự do - gìn giữ độc lập cho dân tộc kể từ Cách mạng tháng Tám mùa thu năm 1945”.

Dưới ánh sáng từ bi và trí tuệ của Đức Phật, các thế hệ tăng ni, Phật tử đã không ngừng phụng đạo yêu nước, thể hiện tinh thần nhập thế sâu sắc, góp phần bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng xã hội an lành, đạo đức và văn minh.

Phát huy truyền thống “Hộ quốc an dân đồng hành cùng dân tộc” của Phật giáo Việt Nam, đã có rất nhiều tấm gương chư tăng, Phật tử “vì nước quên thân hiến máu đào”, nhiều ngôi chùa là căn cứ cách mạng, địa bàn chiến đấu, nhiều nhà sư là chiến sĩ cách mạng.

“Đó là minh chứng về sự nhập thế của Phật giáo Việt Nam, là hiện thân cho giáo lý nhà Phật trong sáng hòa quyện chặt chẽ giữa đạo và đời, viết tiếp truyền thống “phò vua giúp nước” của các bậc thiền sư, pháp sư, Phật tử từ các triều đại Đinh - Lê - Lý - Trần nghìn năm về trước” - TS. Hoàng Anh Tuấn nhận định.

Qua hai phiên thảo luận, các đại biểu thống nhất cao với quan điểm: Đạo Phật không chỉ là một tôn giáo có truyền thống lâu đời mà còn là một tác nhân xã hội - chính trị quan trọng, đồng hành cùng vận mệnh dân tộc, một lực lượng có vai trò bền bỉ trong việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, bảo vệ độc lập dân tộc và phát triển đất nước.

Nhân dịp hội thảo, tại chùa Quán Sứ đã trưng bày triển lãm với gần 60 hình ảnh lịch sử về “Đạo Phật với cách mạng Việt Nam”, chia thành 3 thời kỳ: tiền khởi nghĩa, hai cuộc kháng chiến (giai đoạn 1945-1975), xây dựng và phát triển đất nước (từ năm 1975 đến nay)./.

Yêu nước ST.

BẠN CẦN BIẾT: THỦ TƯỚNG KÊU GỌI KHÔNG CHEN LẤN XÔ ĐẨY, GIỮ VỆ SINH DỊP LỄ 2/9!

     Thủ tướng Phạm Minh Chính vừa ký công điện yêu cầu các bộ ngành, địa phương tăng cường công tác bảo đảm an toàn, an ninh, trật tự, vệ sinh môi trường, y tế dịp lễ Quốc khánh 2/9.

Thủ tướng yêu cầu Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Chủ tịch các tỉnh, thành tiếp tục thực hiện nghiêm túc, sáng tạo, có hiệu quả chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương kỷ niệm các ngày lễ lớn và sự kiện quan trọng của đất nước...

Bộ Công an, Bộ Quốc phòng chỉ đạo các lực lượng chức năng tăng cường tuần tra, kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý nghiêm các trường hợp gây rối an ninh, trật tự; gây mất trật tự, an toàn giao thông, chống người thi hành công vụ; bảo đảm tuyệt đối an ninh, an toàn cho người dân, nhất là nơi diễn ra các hoạt động kỷ niệm trên phạm vi toàn quốc, bảo vệ độc lập, chủ quyền trên không gian mạng; đấu tranh ngăn chặn các thông tin xấu, độc trên các nền tảng mạng xã hội; phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng kịp thời phát hiện, xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng hoạt động kỷ niệm gây rối làm mất an ninh trật tự, an ninh, an toàn, an dân.

Thủ tướng yêu cầu Bộ Y tế chủ trì, phối hợp các bộ, cơ quan liên quan và các địa phương bảo đảm công tác y tế trong thời gian diễn ra các hoạt động kỷ niệm.

Bộ Y tế cũng chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện các hoạt động bảo đảm công tác phòng, chống dịch bệnh, vệ sinh môi trường, an toàn thực phẩm; sẵn sàng triển khai lực lượng ứng phó khi xảy ra các tình huống về dịch bệnh; thường xuyên chỉ đạo hướng dẫn vệ sinh môi trường; kiểm tra nước uống, nguyên liệu, thực phẩm sử dụng tại tất cả địa điểm diễn ra các hoạt động kỷ niệm; huy động các cơ sở y tế, bố trí, sắp xếp lực lượng cán bộ, nhân viên y tế hợp lý để tổ chức các tổ y tế ứng trực cấp cứu trong suốt thời gian và tại tất cả các địa điểm diễn ra các hoạt động kỷ niệm; bảo đảm đủ thuốc, vật tư, thiết bị, xe cứu thương; chỉ đạo một số cơ sở khám, chữa bệnh sẵn sàng giường bệnh cho các tình huống, đặc biệt trong thời gian diễn ra lễ kỷ niệm, diễu binh, diễu hành.

Thủ tướng giao UBND TP Hà Nội bảo đảm bố trí đủ nhà vệ sinh, nơi thu gom rác và gia tăng công suất vệ sinh, tạo nên một không gian sạch sẽ, an toàn và văn minh trong dịp lễ; tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức của người dân về giữ gìn vệ sinh môi trường; thu xếp nơi nghỉ mát, tránh mưa, tránh nắng cho nhân dân khi đến các nơi công cộng, phục vụ miễn phí bánh mỳ, nước uống, ô dù...

TP huy động các lực lượng tình nguyện, nhất là thanh niên, phụ nữ, cựu chiến binh..., khuyến khích xã hội hóa các hoạt động hỗ trợ cấp phát đồ ăn, nước uống miễn phí phục vụ người dân xem diễu binh, diễu hành, các hoạt động thăm quan vui chơi giải trí khác và bố trí lực lượng sẵn sàng hỗ trợ, hướng dẫn người dân tại các địa điểm diễn ra các hoạt động trong dịp lễ.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường chỉ đạo, hướng dẫn các bộ, ngành, đặc biệt là các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương công tác đảm bảo vệ sinh môi trường tại các điểm tập trung đông người, diễu binh, diễu hành và hoạt động nghệ thuật, bắn pháo hoa.

Bộ Xây dựng hướng dẫn các địa phương kiểm tra độ cứng, khả năng chịu lực, chịu tải của sân khấu, khán đài, nơi tập trung đông người, các phương tiện vận tải, góp phần đảm bảo an toàn giao thông và đặc biệt là đảm bảo an toàn, sức khỏe cho người dân.

Thủ tướng kêu gọi đồng bào cả nước chung tay góp sức thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về an toàn giao thông, cháy nổ, vệ sinh, môi trường, không để xảy ra chen lấn xô đẩy..., đảm bảo có những ngày vui an toàn trọn vẹn nhân Tết Độc lập của dân tộc./.


Yêu nước ST.

HAI CON NGƯỜI CỦA LỊCH SỬ TRONG THỜI KHẮC LỊCH SỬ TẠI ĐỊA ĐIỂM LỊCH SỬ!

     Bức ảnh tư liệu quý giá ghi lại khoảnh khắc Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng ngồi trên xe, tiến về Quảng trường Ba Đình - nơi sắp diễn ra Lễ Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945.

Đó là giây phút hội tụ đầy đủ ba giá trị thiêng liêng:
Hai con người của lịch sử – những lãnh tụ kiệt xuất dẫn dắt dân tộc.
Một địa điểm lịch sử – Quảng trường Ba Đình, trái tim của Tổ quốc.
Một thời khắc lịch sử – khoảnh khắc khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Hình ảnh ấy không chỉ có giá trị lưu giữ lại khung hình lịch sử mà còn là minh chứng cho tầm vóc vĩ đại của Bác Hồ và Đại tướng, là biểu tượng của ý chí quật cường, tinh thần đoàn kết và khát vọng độc lập tự do của cả dân tộc Việt Nam./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TOÀN VĂN THƯ CHÚC MỪNG CỦA TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM NHÂN KỶ NIỆM 80 NĂM NGOẠI GIAO VIỆT NAM!

     Nhân kỷ niệm 80 năm thành lập ngành Ngoại giao (28/8/1945-28/8/2025), Tổng Bí thư Tô Lâm đã có thư chúc mừng. Xin trân trọng giới thiệu toàn văn nội dung Thư chúc mừng.


Các đồng chí thân mến,

Nhân dịp kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập ngành Ngoại giao (28/8/1945-28/8/2025), thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tôi thân ái gửi tới toàn thể các thế hệ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động ngành Ngoại giao và những tập thể, cả nhân tham gia công tác đổi ngoại lời thăm hỏi chân tình và lời chúc mừng tốt đẹp nhất.

Niềm vinh dự, tự hào vô cùng to lớn của ngành Ngoại giao là được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp chỉ đạo, rèn luyện và dẫn dắt trên cương vị Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên sau khi đất nước giành độc lập. Trải qua 80 năm xây dựng và trưởng thành, ngành Ngoại giao đã vượt qua muôn vàn khó khăn, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ngay từ những ngày đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và trong suốt 30 năm kháng chiến chống xâm lược, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng ta và ánh sáng soi đường của Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, đối ngoại - ngoại giao là một trong những lực lượng đóng vai trò then chốt, tiên phong trong việc bảo vệ thành công chính quyền cách mạng non trẻ, đặt nền móng cho sự phát triển lâu bền của cách mạng Việt Nam. Mặt trận đối ngoại - ngoại giao luôn sát cánh cùng các mặt trận chính trị và quân sự, hình thành lực lượng tiên phong, mở ra thế trận vừa đánh vừa đàm, tranh thủ tối đa sự đồng tình ủng hộ và giúp đỡ quốc tế to lớn, kết hợp chặt chẽ giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, góp phần quan trọng giành thắng lợi từng bước, tiến tới thắng lợi hoàn toàn, non sông thu về một mối, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Sau khi đất nước thống nhất, đối ngoại - ngoại giao tiếp tục đi đầu, từng bước phá thế bao vây, cấm vận, thúc đẩy hội nhập quốc tế, mở ra cục diện đối ngoại thuận lợi, góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi đường lối Đổi mới của Đảng. Với tinh thần phụng sự Tổ quốc, đối ngoại - ngoại giao đã góp phần xứng đáng vào việc tạo lập và giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, kiên quyết, kiên trì bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng cơ đồ, tiềm lực, nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước như ngày nay. Nhiều nhà ngoại giao Việt Nam xuất sắc tham gia đảm trách những vị trí quan trọng tại các tổ chức quốc tế, được ghi nhận và đánh giá cao.

Nhân dịp này, tôi đánh giá cao và nhiệt liệt biểu dương, chúc mừng những thành tích, kết quả quan trọng mà các thế hệ cán bộ làm công tác đối ngoại đã đạt được. Đảng và Nhà nước ghi nhận những đóng góp lớn và cả sự hy sinh thầm lặng của các thế hệ cán bộ luôn một lòng trung kiên vì sự nghiệp cách mạng và công tác đối ngoại của đất nước.

Thế giới đang trải qua những thay đổi to lớn, những bước ngoặt mang tính thời đại. Đất nước Việt Nam ta đang đứng trước kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc. Kế thừa thành tựu 80 năm lịch sử đầy hào hùng của cách mạng Việt Nam, tiếp tục thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại về xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới; để đất nước Việt Nam ta sánh vai cùng các cường quốc năm châu như ước nguyện của Người và cũng là mong ước của toàn Đảng, toàn dân ta, nhiệm vụ của ngành Ngoại giao và những người làm công tác đối ngoại là hết sức nặng nề, song cũng vô cùng vẻ vang. Bên cạnh các nhiệm vụ về chính trị - đối ngoại, ngành Ngoại giao và những người làm công tác đối ngoại còn phải thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trọng tâm là phục vụ phát triển bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới.

Tôi tin tưởng rằng, với truyền thống đầy tự hào trong 80 năm qua, ngành Ngoại giao sẽ tiếp tục phát huy vai trò tiên phong trong chủ động, tích cực tranh thủ thời cơ, biến thách thức thành cơ hội, góp phần đắc lực vào việc thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược mà Nghị quyết Đại hội của Đảng đề ra. Đối ngoại - ngoại giao phải vươn lên tầm cao mới, thực sự là một trong những lực lượng trọng yếu, chiến lược trong bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định, độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không ngừng nâng cao uy tín, vị thế của đất nước, đóng góp hiệu quả vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trong thời đại hiện nay, sự phát triển của đất nước luôn gắn bó, không thể tách rời với dòng chảy phát triển chung của toàn thể nhân loại. Phương thức ngoại giao hiệu quả đã được minh chứng qua lịch sử là kết hợp chặt chẽ giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại; phối hợp chặt chẽ, đồng bộ trên cả 3 trụ cột: đối ngoại Đàng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Tôi tin tưởng rằng, các cán bộ, công chức, viên chức, người lao động làm công tác đối ngoại - ngoại giao sẽ luôn phát huy phẩm chất "vừa hồng vừa chuyên", kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng; vững mạnh về chính trị, tư tưởng, trong sạch, toàn diện về phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn; hiện đại trong tư duy và với phong cách chuyên nghiệp, tiếp tục hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Tôi thân ái chúc ngành Ngoại giao và những người làm công tác đối ngoại luôn hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân tin tưởng giao phó.

Chúc các đồng chí, các bạn và gia đình mạnh khoẻ, hạnh phúc và thành công!
Yêu nước ST.

NHIỆT LIỆT CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 114 NĂM NGÀY SINH ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP (25/8/1911-25/8/2025)!

Nguyên Uỷ viên Bộ Chính Trị;
Nguyên Bí Thư Quân ủy Trung ương;
Nguyên Phó Thủ tướng Thường trực Chính Phủ;
Nguyên Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng - Tổng Tư Lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam;
Đại biểu Quốc hội từ khóa I đến khóa VII. 

Thành kính tưởng nhớ, tri ân và biết ơn sâu sắc đối với Đại tướng Võ Nguyên Giáp - một chiến sĩ cách mạng kiên trung, người học trò xuất sắc nhất và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh - một tài năng quân sự xuất chúng, Nhà văn hóa lớn, nhà lãnh đạo mẫu mực về đạo đức cách mạng có uy tín lớn của Đảng, Nhà nước, Nhân dân, Quân đội và bè bạn quốc tế - một vị tướng lỗi lạc, Người anh cả của Quân đội nhân dân Việt Nam, Người đã dày công vun đắp, xây dựng Quân đội ta ngày càng trưởng thành, lớn mạnh, bách chiến, bách thắng.

Không chỉ là nhà quân sự chuyên gia lỗi lạc hàng đầu về đường lối chiến tranh nhân dân, Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn là một trong những người sớm nghiên cứu và viết về tư tưởng Hồ Chí Minh một cách cơ bản, toàn diện hệ thống và đặc biệt đã góp phần xây dựng nền móng cho bộ môn khoa học Hồ Chí Minh học góp phần đưa tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tư tưởng kim chỉ nam cho hành động của toàn Đảng, toàn Quân, toàn Dân ta!
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NGUYÊN PHÓ CHỦ TỊCH NƯỚC NGUYỄN THỊ BÌNH NHẬN DANH HIỆU “ANH HÙNG LAO ĐỘNG”!

     Sáng 25-8, tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập ngành Ngoại giao (28-8-1945 / 28-8-2025) do Bộ Ngoại giao tổ chức tại Hà Nội, Tổng Bí thư Tô Lâm đã trao danh hiệu “Anh hùng Lao động” tặng bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó chủ tịch nước, nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Trưởng phái đoàn đàm phán của Chính phủ Cách mạng lâm thời tại Hội nghị Paris về Việt Nam từ năm 1969 đến năm 1973.

Danh hiệu cao quý này là sự ghi nhận của Đảng, Nhà nước đối với những đóng góp quan trọng của bà Nguyễn Thị Bình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Bà Nguyễn Thị Bình, tên thật là Nguyễn Thị Châu Sa, sinh ngày 26-5-1927, quê gốc tại tỉnh Quảng Nam (cũ). Năm 1961, bà được Ban Thống nhất cử sang tham gia hoạt động ngoại giao cho Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam. Trong thời gian diễn ra các vòng đàm phán của Hội nghị bốn bên về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam tại Paris (Pháp), bà đảm nhiệm cương vị Trưởng phái đoàn Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Ngày 27-1-1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết, là kết quả của cuộc đấu tranh ngoại giao cam go, lâu dài nhất trong lịch sử ngoại giao Việt Nam, kéo dài gần 5 năm ròng rã với hàng trăm phiên họp. Hình ảnh nhà ngoại giao Nguyễn Thị Bình với những lời lẽ đanh thép đầy thuyết phục mà vô cùng mềm dẻo, tinh tế, nhạy bén thể hiện trong quá trình đàm phán đã khiến cả thế giới ngưỡng mộ và khâm phục, gọi bà với danh xưng đầy trân trọng: “Madame Bình”.

Trải qua nhiều cương vị công tác khác nhau, bà Nguyễn Thị Bình đã có nhiều đóng góp quan trọng cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, khẳng định tên tuổi là một nhà ngoại giao xuất sắc của Việt Nam./.

Yêu nước ST.

Chủ Nhật, 24 tháng 8, 2025

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THỦ TƯỚNG PHẠM MINH CHÍNH "MỤC TIÊU CAO NHẤT LÀ BẢO ĐẢM AN TOÀN TÍNH MẠNG CỦA NHÂN DÂN"!

     Chiều 24-8, tại Sở chỉ huy tiền phương Ban chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia (đặt tại Trung tâm Sở chỉ huy Quân khu 4), Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì họp trực tuyến triển khai công tác ứng phó với bão số 5.

Đồng chí Trần Hồng Hà, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó thủ tướng Chính phủ chủ trì điểm cầu tại tỉnh Thanh Hóa. Tham dự tại điểm cầu Trung tâm Sở chỉ huy Quân khu 4 có các đồng chí: Trần Đức Thắng, Ủy viên Trung ương Đảng, Quyền Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Thượng tướng Nguyễn Văn Hiền, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; đại diện lãnh đạo các bộ, ngành Trung ương và các cơ quan Bộ Quốc phòng; thủ trưởng Bộ tư lệnh Quân khu 4, lãnh đạo các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh.

Theo đánh giá của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, bão số 5 có hoàn lưu rộng, di chuyển rất nhanh, nhiều điều kiện thuận lợi để mạnh lên gây tác động tổng hợp, không chỉ đe dọa tuyến biển, vùng đồng bằng mà còn rất nguy hiểm với cả miền núi; trên biển gió rất mạnh, sóng lớn và nước dâng; trên đất liền có gió mạnh, mưa đặc biệt lớn, nguy cơ ngập lụt diện rộng, lũ quét và sạt lở đất. Cấp độ rủi ro thiên tai cấp 4 - mức rất lớn. Xác định đây là cơn bão có cường độ rất mạnh, di chuyển nhanh, ảnh hưởng trực tiếp đến đất liền các tỉnh từ Thanh Hóa đến Quảng Trị, cả hệ thống chính trị từ Trung ương tới cơ sở đã tích cực, chủ động vào cuộc chỉ đạo, quyết liệt từ sớm, từ xa theo đúng chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền được phân công.

Tại cuộc họp, sau khi nghe lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Quốc phòng, các tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa, Quảng Trị báo cáo công tác chuẩn bị ứng phó với bão số 5, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu các bộ, ngành Trung ương và địa phương tiếp tục khắc phục hậu quả cơn bão số 4 vừa qua. Trước diễn biến phức tạp của bão số 5, Thủ tướng đặt ra mục tiêu cao nhất là bảo đảm an toàn tính mạng của nhân dân; hạn chế tối đa thiệt hại về tài sản; sau khi bão tan, khắc phục khẩn trương.

Giao nhiệm vụ cho các bộ, ngành Trung ương và các địa phương, Thủ tướng Chính phủ lưu ý cần quán triệt, thực hiện nghiêm văn bản chỉ đạo của Ban Bí thư, Chính phủ về phòng, chống bão số 5. Bộ Nông nghiệp và Môi trường theo dõi tình hình, phối hợp với các cơ quan truyền thông, báo chí thông báo cho nhân dân biết, cảnh báo nguy hiểm và hướng dẫn cách phòng, chống; phối hợp với các địa phương hướng dẫn tàu thuyền thoát ra khỏi khu vực nguy hiểm; hỗ trợ người dân neo đậu tàu thuyền bảo đảm an toàn…

Các địa phương phối hợp với lực lượng Quân đội, Công an thực hiện di dời người dân từ các vùng có nguy cơ cao ngập úng, sạt lở, triều cường đến vị trí an toàn, kiên quyết không để người dân ở lại trên tàu thuyền, lồng bè, nơi có nguy cơ sạt lở. Các công trình thủy lợi, hồ đập phải điều tiết mực nước bảo đảm an toàn. Các tỉnh phải thành lập Sở chỉ huy tiền phương, sẵn sàng lực lượng ứng phó với bão, mưa lũ...

Tối cùng ngày, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã đến kiểm tra công tác ứng phó với bão số 5 tại cảng Cửa Lò và bến neo đậu tàu thuyền xã Trung Lộc, tỉnh Nghệ An./.


Theo QĐND
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THỦ TƯỚNG YÊU CẦU TẬP TRUNG HOÀN THIỆN THỂ CHẾ, PHÁP LUẬT BẢO ĐẢM KỊP THỜI, HIỆU QUẢ!

     Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính ký Công văn số 1026/TTg-PL ngày 23-8-2025 yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tập trung chỉ đạo công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật.

Công văn nêu rõ: Để tiếp tục tăng cường công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, chất lượng, kịp thời, hiệu quả, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các đồng chí bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, chủ tịch ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và pháp luật về công tác xây dựng, hoàn thiện thể chế, pháp luật.

Đồng thời, khẩn trương xây dựng, hoàn thiện trình cấp có thẩm quyền các dự án luật, nghị quyết của Quốc hội, dự thảo nghị định, nghị quyết của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các luật, nghị quyết của Quốc hội; khẩn trương ban hành các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành, bảo đảm chất lượng, đúng tiến độ theo quy định.

Thủ tướng yêu cầu các Phó thủ tướng phụ trách lĩnh vực, bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ tập trung chỉ đạo, đề cao trách nhiệm, chủ động làm việc, tăng cường phối hợp với các cơ quan của Quốc hội và các cơ quan liên quan trong quá trình xây dựng, hoàn thiện các dự án luật, nghị quyết; kịp thời hướng dẫn áp dụng pháp luật theo thẩm quyền hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền những vấn đề vướng mắc phát sinh vượt thẩm quyền.

Thực hiện nghiêm các nhiệm vụ được giao về công tác xây dựng pháp luật theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; đồng thời tiếp tục tập trung rà soát, xác định rõ những khó khăn, vướng mắc, bất cập do quy định pháp luật; chủ động sửa đổi, hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan theo chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền; kịp thời báo cáo và đề xuất cấp có thẩm quyền đối với những vấn đề vượt thẩm quyền./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NGOẠI GIAO VIỆT NAM - 80 NĂM XÂY DỰNG, TRƯỞNG THÀNH THÀNH CÙNG ĐẤT NƯỚC!

     Nhân dịp kỷ niệm 80 năm thành lập ngành ngoại giao (28-8-1945 – 28-8-2025), đồng chí Lương Cường, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đã có bài viết “Ngoại giao Việt Nam - 80 năm xây dựng, trưởng thành cùng đất nước”. Xin trân trọng giới thiệu bài viết của Chủ tịch nước:

Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 28-8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh thành lập Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trong đó quyết định thành lập Bộ Ngoại giao - chính thức khai sinh ngành ngoại giao Việt Nam hiện đại. Ngoại giao Việt Nam vô cùng vinh dự được Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp dìu dắt, lãnh đạo, chỉ đạo trên cương vị Bộ trưởng Ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam mới. Qua 80 năm xây dựng và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, ngoại giao Việt Nam luôn nêu cao tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

Ngoại giao Việt Nam trong đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước

Đất nước vừa giành được độc lập đã đứng trước tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, thù trong giặc ngoài, ngoại giao đã có những quyết sách đúng đắn, táo bạo, khéo léo để giữ vững nền độc lập dân tộc và bảo vệ chính quyền cách mạng non trẻ. Hiệp định Sơ bộ ngày 6-3-1946 và Tạm ước ngày 14-9-1946 ta ký với Pháp là những “nước cờ ngoại giao mẫu mực”, thực hiện sách lược “hòa để tiến” nhằm đưa đất nước qua khỏi tình thế hiểm nghèo, tránh phải đối đầu với nhiều kẻ thù cùng một lúc, bảo vệ được nền độc lập và chính quyền cách mạng non trẻ; ta có thêm thời gian để củng cố lực lượng chuẩn bị đối phó với thực dân Pháp sau này. Hơn nữa, Hiệp định Sơ bộ và Tạm ước ta ký với Pháp nêu trên có ý nghĩa là văn bản pháp lý quốc tế đầu tiên giữa Việt Nam và Pháp, một thắng lợi chính trị quan trọng của ta, buộc Pháp phải công nhận Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Dưới sự chèo lái tài tình của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngoại giao non trẻ củaViệt Nam đã lập chiến công đầu hiển hách.

Ảnh: Nhân dân Thủ đô Warsawa nhiệt liệt chào đón Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm nước Cộng hòa nhân dân Ba Lan (năm 1957).

Bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, nhiệm vụ trung tâm của ngoại giao lúc này là đưa đất nước thoát khỏi thế “đơn thương độc mã”, giành sự công nhận, chi viện của quốc tế và hỗ trợ đắc lực cho mặt trận quân sự. Với những nỗ lực không ngừng nghỉ, ngoại giao đã góp phần hình thành liên minh chiến đấu với Lào, Campuchia; tạo lập quan hệ với Thái Lan, Myanmar, Indonesia, Ấn Độ và nhất là thúc đẩy Trung Quốc, Liên Xô và nhiều nước xã hội chủ nghĩa công nhận, đặt quan hệ ngoại giao chính thức với Việt Nam. Những bước đi quan trọng này đã mở ra hậu phương lớn cho tiền tuyến, gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, tranh thủ được sự chi viện to lớn cho cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Đồng thời, ngoại giao đã phối hợp chặt chẽ với quân sự, phát huy thắng lợi to lớn trên chiến trường để đẩy mạnh đấu tranh trên bàn hội nghị. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, Pháp phải ký Hiệp định Geneve1954 về đình chỉ chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương. Thắng lợi này đã bãi bỏ quyền cai trị của Pháp, công nhận nền độc lập của ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia, chính thức chấm dứt chế độ thực dân tại Đông Dương; miền Bắc hoàn toàn giải phóng, cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới là: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Hiệp định Geneve là mốc son lịch sử đánh dấu bước trưởng thành vượt bậc của nền ngoại giao Việt Nam trên trường quốc tế. Đúng như Bác Hồ đã khẳng định: “Hội nghị Geneve đã kết thúc. Ngoại giao ta đã thắng lợi to”(1).

Vừa trải qua 9 năm trường kỳ kháng chiến chống Pháp vô cùng ác liệt, cả dân tộc lại phải bước vào cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Một lần nữa, lịch sử lại trao cho ngoại giao sứ mệnh cùng các binh chủng khác của cách mạng Việt Nam chiến đấu và chiến thắng đối thủ mạnh hơn ta gấp nhiều lần. Trong Đề cương báo cáo về tình hình và nhiệm vụ trên mặt trận đấu tranh ngoại giao, tháng 5-1969, Đảng ta đã xác định cùng với các mặt trận quân sự và chính trị,“ngoại giao là một mặt trận quan trọng, có ý nghĩa chiến lược”. Ngoại giao đã huy động được sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn về tinh thần, vật chất từ các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân tiến bộ trên thế giới, nhất là Liên Xô, Trung Quốc, Lào, Campuchia, Cuba.... Đồng thời, ngoại giao đã góp phần tạo nên phong trào quốc tế rộng lớn chưa từng có đoàn kết, ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, thúc đẩy phong trào phản chiến ngay trong lòng nước Mỹ. Cùng với đồng bào trong nước, kiều bào ta ở nước ngoài đã nêu cao tinh thần yêu nước, tham gia kháng chiến với nhiều hình thức. Nhiều bà con đã tình nguyện hồi hương, đem kiến thức và tài sản của mình góp phần cứu nước. Trong lịch sử thế kỷ XX, hiếm có cuộc đấu tranh của dân tộc nào lại quy tụ được sự ủng hộ rộng khắp và mạnh mẽ cả ở trong và ngoài nước như dân tộc Việt Nam chúng ta.

Trong cuộc đối đầu lịch sử giữa một dân tộc vốn bị xem là “nhược tiểu” với siêu cường số 1 thế giới, ngoại giao đã phối hợp nhuần nhuyễn, chặt chẽ với mặt trận quân sự và chính trị, mở ra cục diện “vừa đánh, vừa đàm”. Nghệ thuật “đánh - đàm” đã đạt đến đỉnh cao, trong đó đấu tranh quân sự và chính trị là cơ sở cho đàm phán ngoại giao, còn đấu tranh ngoại giao góp phần phát huy thắng lợi của quân sự và chính trị. Với những chiến thắng to lớn của ta trên các chiến trường, đặc biệt là chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” (tháng 12-1972), Mỹ buộc phải ký Hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, tạo tiền đề quan trọng để nhân dân ta hoàn thành sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước vào mùa Xuân năm 1975.

Trong thời kỳ khôi phục và phát triển đất nước sau chiến tranh, ngoại giao vừa tham gia xây dựng, tái thiết đất nước, vừa đấu tranh bảo vệ biên cương, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Trong hoàn cảnh bị bao vây, cấm vận về kinh tế và cô lập về chính trị, các nỗ lực ngoại giao đã củng cố quan hệ với các nước thuộc hệ thống xã hội chủ nghĩa, đấu tranh bảo vệ biên giới phía Bắc và giữ vững biên giới Tây Nam, giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi thảm họa diệt chủng. Trong giai đoạn này, chúng ta cũng mở rộng quan hệ đối ngoại, trở thành thành viên của nhiều tổ chức, diễn đàn đa phương như Phong trào Không liên kết, Liên hợp quốc... Với phương châm “thêm bạn, bớt thù”, ngoại giao đã đi đầu trong việc từng bước tháo gỡ những khó khăn, khơi thông cục diện đối ngoại, đặt những nền móng đầu tiên cho việc mở rộng quan hệ giai đoạn đổi mới và hội nhập sau này.

Ngoại giao phục vụ sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế

Bước vào giai đoạn đổi mới, nhiệm vụ trên hết và trước hết của ngoại giao lúc này là phải phá thế bao vây, cấm vận, phục hồi, bình thường hóa quan hệ với các nước. Trên tinh thần đổi mới tư duy, ngoại giao đã kịp thời điều chỉnh, chuyển hướng chiến lược, mở rộng quan hệ với tất cả các nước trên thế giới, thi hành chính sách hữu nghị, hợp tác, tồn tại hòa bình để phát triển, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội. Bằng những bước đi chủ động, ta đã cải thiện quan hệ với các nước Đông Nam Á, khôi phục quan hệ hữu nghị và láng giềng với Trung Quốc, bình thường hóa quan hệ với Mỹ và các nước phát triển phương Tây, gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Trong vòng chưa đầy 10 năm sau đổi mới, cục diện đối ngoại đã chuyển từ đối đầu sang hợp tác, từ tình thế bị bao vây, cô lập sang có quan hệ hữu nghị, ổn định với các nước láng giềng và nước lớn.

Trên nền tảng những thành quả trong giai đoạn đầu đổi mới, hội nhập, ngoại giao bước vào giai đoạn mới mở rộng quan hệ đối ngoại với chủ trương “là bạn là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”, “đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ”. Nếu trước đổi mới ta chỉ có quan hệ với hơn 100 quốc gia thì đến năm 2025 đã thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với 194 quốc gia. Các mối quan hệ ngày càng đi vào chiều sâu, bền vững hơn, đặc biệt là việc hình thành khuôn khổ quan hệ với 38 quốc gia, trong đó có 13 đối tác chiến lược toàn diện, 10 đối tác chiến lược và 15 đối tác toàn diện. Sau gần 40 năm đổi mới, ta đã tạo dựng cục diện đối ngoại rộng mở và thuận lợi hơn bao giờ hết cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.

Trong quá trình đổi mới, hội nhập, ngoại giao đã phối hợp chặt chẽ với quốc phòng, an ninh xây dựng vành đai biên giới hòa bình, hữu nghị với các nước láng giềng. Chúng ta đã hoàn thành việc phân giới, cắm mốc trên biên giới đất liền với Lào và Trung Quốc; đạt kết quả tích cực về phân giới cắm mốc với Campuchia; ký kết các hiệp định, hiệp ước về phân định biển với Trung Quốc (trên Vịnh Bắc Bộ) và với các nước Thái Lan, Indonesia…. Đối với những vấn đề phức tạp về biên giới lãnh thổ, chúng ta vừa kiên quyết đấu tranh với các hoạt động xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ, đồng thời giương cao ngọn cờ hoà bình, hợp tác, tích cực trao đổi, đàm phán với các nước liên quan để kiểm soát bất đồng, tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài cho các tranh chấp bằng biện pháp hoà bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Chúng ta đã tạo dựng được vành đai biên giới hòa bình, hữu nghị và cơ chế hợp tác để giải quyết các vấn đề về biên giới, lãnh thổ.

Cùng với đó, Việt Nam từng bước chủ động hội nhập với thế giới, từ hội nhập kinh tế đến hội nhập toàn diện, sâu rộng trên các lĩnh vực. Hội nhập quốc tế và ngoại giao kinh tế đã tranh thủ được môi trường quốc tế thuận lợi, huy động nguồn lực bên ngoài, đưa Việt Nam từ một nền kinh tế bị bao vây, cấm vận, kém phát triển, trở thành một nền kinh tế đang vươn lên mạnh mẽ, là mắt xích quan trọng trong kinh tế thế giới. Từ chỗ chỉ có quan hệ kinh tế - thương mại với gần 30 nước và vùng lãnh thổ, đến nay ta đã có quan hệ kinh tế - thương mại với hơn 230 nước và vùng lãnh thổ; tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu đạt gần 800 tỷ USD, gia nhập nhóm 20 nước có quy mô thương mại lớn nhất thế giới; thu hút được hơn 500 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), trở thành nước đang phát triển thu hút đầu tư nước ngoài hàng đầu thế giới. Việt Nam trở thành mắt xích quan trọng trong kinh tế thế giới và ngày càng gia tăng vị thế trong chuỗi sản xuất toàn cầu với 17 hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có nhiều FTA thế hệ mới, hơn 500 hiệp định song phương và đa phương.

Các nỗ lực ngoại giao đã góp phần đưa Việt Nam từ một nước bị bao vây, cô lập, vươn lên trở thành thành viên tích cực, có trách nhiệm trong hơn 70 tổ chức quốc tế và khu vực, bao gồm tất cả các cơ chế có vai trò quan trọng then chốt trong quản trị toàn cầu như Liên hợp quốc, ASEAN, WTO, APEC, ASEM… Đối ngoại đa phương của Việt Nam đã ngày càng trưởng thành, có sự chuyển biến quan trọng về chất, từ gia nhập, tham gia trong thời kỳ đầu, đến chủ động, tích cực đóng góp vào các vấn đề chung và hiện nay từng bước dẫn dắt, định hình tại nhiều cơ chế. Việt Nam đã tham gia khởi xướng, là thành viên sáng lập của nhiều cơ chế hợp tác mới như ASEM, ADMM+, CPTPP...; đảm nhiệm thành công nhiều trọng trách quốc tế như Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an, Ủy viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, tham gia cùng lúc 6/7 cơ chế điều hành quan trọng của UNESCO; đăng cai tổ chức thành công nhiều hội nghị quốc tế lớn như các Hội nghị Cấp cao ASEAN, APEC, Thượng đỉnh Mỹ - Triều; đề xuất các sáng kiến, văn kiện mới, nổi bật là Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm mạng (Công ước Hà Nội), tham gia ngày càng sâu rộng trong các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, nhân đạo, cứu hộ, cứu nạn. Tiếng nói, sáng kiến và cách thức giải quyết có lý, có tình của Việt Nam đã nhận được sự đồng tình và ủng hộ của cộng đồng quốc tế.

Các lĩnh vực công tác đối ngoại cũng ngày càng mở rộng, đóng góp vào củng cố sức mạnh của dân tộc, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao vị thế của đất nước. Đảng và Nhà nước luôn quan tâm, xác định người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của dân tộc Việt Nam. Cộng đồng 6 triệu người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng lớn mạnh, gắn kết với đất nước, đóng góp quan trọng vào sự phát triển của đất nước. Công tác bảo hộ công dân đã tích cực bảo vệ an toàn, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của công dân, doanh nghiệp Việt Nam, nhất là tại các khu vực thiên tai, chiến sự.... Ngoại giao văn hóa đã quảng bá các giá trị văn hóa dân tộc và huy động các nguồn lực mới cho phát triển; UNESCO công nhận 73 di sản, danh hiệu của Việt Nam. Thông tin đối ngoại quảng bá mạnh mẽ hình ảnh đất nước, con người, văn hóa, thành tựu đổi mới của Việt Nam với nhiều nội dung, phương thức sáng tạo.

Trong suốt chặng đường 80 năm xây dựng và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngoại giao Việt Nam đã cùng toàn dân tộc anh dũng đấu tranh để giành độc lập, tự do cho đất nước, hạnh phúc cho nhân dân. Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá, nay Việt Nam đã là quốc gia phát triển năng động, hội nhập quốc tế thành công. Từ một nước không có tên trên bản đồ thế giới, Việt Nam đã khẳng định vai trò thành viên chủ động, tích cực và có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Đúng như Đại hội Đảng XIII và cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhận định: “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, vị thế, tiềm lực và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Trong hành trình đầy thử thách nhưng cũng rất vẻ vang đó, ngoại giao Việt Nam tự hào luôn cùng các binh chủng của cách mạng Việt Nam có mặt trên tuyến đầu, thực hiện đúng phương châm “tác chiến hiệp đồng, lập công tập thể”. Nền ngoại giao toàn diện, hiện đại với ba trụ cột đối ngoại Đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân đã tạo nên sức mạnh tổng hợp đưa ngoại giao Việt Nam từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Sự trưởng thành và những thành tựu của nền ngoại giao cách mạng trong 80 năm qua là kết tinh truyền thống ngoại giao hòa hiếu từ lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của ông cha ta và tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh; khẳng định tầm vóc lịch sử, văn hóa dân tộc, phản ánh thế và lực mới của đất nước.

Ngoại giao Việt Nam không chỉ được Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận mà còn được bạn bè, đối tác quốc tế đánh giá rất tích cực. Tổng Thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres nhận định, ngoại giao Việt Nam đã cho thấy một quốc gia có thể vượt qua chiến tranh, thúc đẩy hòa bình và trở thành một trụ cột của chủ nghĩa đa phương, là điểm sáng trong quan hệ quốc tế mà các nước cần học tập. Trường phái ngoại giao Việt Nam vừa nguyên tắc, vừa linh hoạt, yêu hòa bình, chuộng chính nghĩa đã góp phần nâng cao vị thế, hình ảnh đất nước trên trường quốc tế.


Ảnh: Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Lương Cường với các đại biểu làm việc với Bộ Ngoại giao, ngày 12-12-2024

Những bài học lịch sử còn nguyên giá trị

Lịch sử 80 năm vẻ vang của nền ngoại giao cách mạng đã để lại nhiều bài học lớn đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Trước hết và bao trùm tất cả là bài học về sự lãnh đạo tuyệt đối, thống nhất của Đảng và thấm nhuần tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh. Đảng Cộng sản Việt Nam là người tổ chức, lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Với bản lĩnh, trí tuệ, uy tín và năng lực lãnh đạo đất nước, Đảng ta đã nhạy bén với tình hình, kịp thời thay đổi tư duy, sáng suốt trong việc đưa ra quyết sách điều chỉnh đường lối, chủ trương và biện pháp đối ngoại phù hợp với từng giai đoạn lịch sử. Ngay từ những ngày đầu trứng nước, ngoại giao Việt Nam vô cùng tự hào được Chủ tịch Hồ Chí Minh dìu dắt, lãnh đạo. Người là kiến trúc sư của nền ngoại giao Việt Nam hiện đại, là người thầy lớn của các thế hệ cán bộ ngoại giao. Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh mãi là kim chỉ nam, ngọn đuốc soi đường cho đối ngoại Việt Nam.

Đó là bài học về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, giữa nội lực với ngoại lực, trong đó nội lực là cơ bản, lâu dài, ngoại lực là quan trọng, đột phá. Chúng ta đã phát huy mạnh mẽ sức mạnh nội tại của đất nước, đồng thời gắn kết với sự nghiệp chung của nhân loại, tranh thủ cao độ sức mạnh bên ngoài để kết hợp và bổ sung cho nội lực. 80 năm qua, dù tình hình thế giới luôn biến chuyển nhanh chóng, phức tạp, song, đường lối và chính sách đối ngoại của Việt Nam luôn điều chỉnh phù hợp để thích ứng với tình hình và các xu thế lớn của thời đại.

Đó là bài học về độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường gắn liền với hợp tác, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại. Độc lập, tự chủ, tự lực cánh sinh là tư duy nổi bật, nhất quán trong đường lối cách mạng nói chung và đường lối đối ngoại nói riêng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Độc lập nghĩa là chúng tôi điều khiển lấy mọi công việc của chúng tôi, không có sự can thiệp ở ngoài vào”(2). Trên tinh thần đó, Việt Nam hoàn toàn tự chủ trong việc định ra chủ trương, chính sách, lấy độc lập, tự chủ là nền tảng để đoàn kết, tập hợp lực lượng ủng hộ, giúp đỡ Việt Nam nhưng có tham khảo, chọn lọc kinh nghiệm, bài học của quốc tế.

Đó là bài học về “dĩ bất biến ứng vạn biến”, “nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt”(3). Cái “bất biến” là độc lập, tự do của dân tộc, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, kiên định mục tiêu xây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa. Cái “vạn biến” là phương cách thực hiện mục tiêu, linh hoạt, uyển chuyển về sách lược tùy theo vấn đề, tùy từng thời điểm, từng đối tượng, đối tác.

Đó là bài học về coi trọng và xử lý đúng đắn quan hệ với các nước lớn và xây dựng, giữ gìn quan hệ hữu nghị, ổn định với các nước láng giềng. Đảng ta nhận thức rõ tầm quan trọng của các nước lớn trong quyết định trật tự và xu hướng vận động của thế giới, từ đó xây dựng quan hệ cân bằng, hài hòa, vừa hợp tác vừa đấu tranh với các nước lớn. Đồng thời, chúng ta luôn gìn giữ quan hệ hữu nghị, ổn định và lâu dài bền vững với các nước láng giềng, phát huy truyền thống “bán anh em xa mua láng giềng gần” của ông cha ta để có quan hệ hữu nghị, ổn định với các nước láng giềng, nhất là láng giềng có chung biên giới.

Cuối cùng là bài học về công tác cán bộ,“cái gốc của mọi công việc”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng các nhà ngoại giao tiền bối là tấm gương sáng về lòng yêu nước, bản lĩnh chính trị, trình độ và phong cách ngoại giao được nhân dân kính phục và bạn bè quốc tế nể trọng. Những thế hệ cán bộ ngoại giao vững vàng về chính trị, luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, với lợi ích của dân tộc, toàn tâm, toàn ý phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của ngoại giao trên trường quốc tế. Nền ngoại giao Việt Nam tự hào đã có nhiều nhà ngoại giao lớn, là học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, như Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Nguyễn Duy Trinh, Xuân Thủy, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Cơ Thạch…. Đó là những nhà ngoại giao đã trưởng thành từ thực tiễn cách mạng, khẳng định bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam, khiến cả bạn bè, đối tác cũng như đối phương đều nể phục.

Ảnh: Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự phiên đối thoại chính sách “Kỷ nguyên mới của Việt Nam: Từ tầm nhìn đến hành động" tại Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) ở Thiên Tân (Trung Quốc), ngày 25-6-2025.

Ngoại giao trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc

Thế giới đang đứng trước những bước ngoặt mang tính thời đại. Mỗi khúc quanh của lịch sử có thể trở thành cơ hội hay thách thức cho các nước tùy thuộc vào sự chuẩn bị, sẵn sàng của mỗi quốc gia. Thành quả của 80 năm đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là nền tảng vững chắc để dân tộc ta bước vào kỷ nguyên mới, hiện thực hóa hai mục tiêu chiến lược 2030 và 2045 mà Đại hội Đảng XIII đã đề ra. Lịch sử đã cho thấy, những yếu tố địa - chiến lược, sự an nguy và thịnh vượng của đất nước gắn chặt với môi trường bên ngoài. Việc định vị và phát huy vị thế của đất nước như thế nào, sao cho có lợi nhất cho quốc gia - dân tộc trong bàn cờ chiến lược khu vực và thế giới luôn là trăn trở thường trực của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và của những người làm công tác ngoại giao.

Trong những năm tháng cam go nhất của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bằng bản lĩnh, ý chí, trí tuệ, ngoại giao Việt Nam đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, giành được những thắng lợi vang dội. Nếu như trong chiến tranh, thắng lợi quân sự đã tạo đà quan trọng cho thắng lợi ngoại giao; ngoại giao là một “mặt trận” song hành với chính trị và quân sự thì ngày nay, hành trang của ngoại giao Việt Nam là thế và lực của đất nước sau gần 40 năm đổi mới, sự đoàn kết, đồng hành của cả dân tộc. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày nay, đối ngoại phải đóng vai trò tiên phong, thực hiện tốt nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên” cùng quốc phòng và an ninh để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, xây dựng và phát triển đất nước nhanh, bền vững. Với trọng trách nặng nề nhưng cũng rất vẻ vang này, ngoại giao trong kỷ nguyên mới cần tập trung vào các định hướng lớn sau:

Một là, luôn kiên định lợi ích quốc gia - dân tộc, đặt đất nước vào đúng xu thế của thời đại. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngoại giao phải luôn luôn vì lợi ích của dân tộc mà phục vụ. Lợi ích quốc gia - dân tộc là “kim chỉ nam” của chính sách đối ngoại, là mục tiêu bất biến của đối ngoại để ứng phó với tình hình diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường trên thế giới. Lợi ích cao nhất là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, thuận lợi cho phát triển đất nước; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và nền văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc cần trên cơ sở bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi, cùng phấn đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội, dựa trên các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Lợi ích dân tộc hài hoà với lợi ích chung của cộng đồng quốc tế, góp phần giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và thời đại, vừa thể hiện trách nhiệm của Việt Nam vừa tranh thủ được sự ủng hộ của quốc tế.

Hai là, tiếp tục thực hiện đúng đắn đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế của thời kỳ đổi mới. “Độc lập, tự chủ” và “đa phương hóa, đa dạng hóa” có mối quan hệ biện chứng, nhất quán trong đường lối đối ngoại của Việt Nam. Độc lập, tự chủ là dựa vào sức mình, tự chủ trong việc định ra những chủ trương, chính sách của mình. Những biến động vừa qua ở nhiều khu vực trên thế giới càng khẳng định tính đúng đắn của đường lối “độc lập, tự chủ” của Việt Nam. Bên cạnh đó những vấn đề lớn thế giới đang đối mặt như thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, an ninh mạng… cũng cho thấy lợi ích của “đa phương hóa, đa dạng hóa” quan hệ đối ngoại, bởi không một quốc gia nào, dù có sức mạnh đến thế nào cũng không thể tự mình ứng phó với những thách thức đa chiều hiện nay. Nội lực là nguồn lực chính, là gốc rễ cho sức mạnh của dân tộc, nhưng cần tranh thủ mọi nguồn lực từ bên ngoài để tăng thêm sức mạnh bên trong, bảo đảm tốt nhất cho an ninh và phát triển đất nước.

Ba là, đưa hội nhập quốc tế trở thành động lực, kiến tạo đà và tranh thủ cơ hội phát triển mới cho đất nước. Ngoại giao phục vụ phát triển là trọng tâm, đi đầu trong việc kết nối nội lực với ngoại lực; nhận diện và tranh thủ cơ hội từ những xu hướng mới trên thế giới về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, phát triển năng lượng tái tạo, hạ tầng chiến lược, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh… Đồng thời, ngoại giao phải khai mở hợp tác với các đối tác hàng đầu, nhất là các nguồn lực chất lượng cao về tài chính, công nghệ, quản lý để tạo động lực mới, đột phá mới và thành tựu mới cho phát triển đất nước. Với lợi thế của cục diện đối ngoại rộng mở, ngoại giao cần tranh thủ quan hệ đối ngoại tốt đẹp để thúc đẩy các thỏa thuận kinh tế; khai thông vướng mắc, khai thác tối đa lợi ích của các hiệp định thương mại, đầu tư cho người dân, địa phương, doanh nghiệp.

Bốn là, phát huy sức mạnh tổng hợp trên tất cả các lĩnh vực công tác đối ngoại. Kỷ nguyên mới cũng đòi hỏi có cách tiếp cận mới về đối ngoại từ tiếp nhận sang đóng góp, từ học tập sang dẫn dắt, từ hội nhập kinh tế sang hội nhập toàn diện và sâu rộng, từ một quốc gia đi sau sang một quốc gia tiên phong, sẵn sàng đảm nhận những trách nhiệm mới. Thế và lực mới vừa tạo điều kiện cho chúng ta tham gia nhiều hơn, đóng góp tích cực hơn vào việc giải quyết các vấn đề chung, vừa cho phép chúng ta phát huy vai trò nòng cốt, dẫn dắt trong những vấn đề và cơ chế quan trọng có tầm chiến lược, phù hợp với lợi ích của đất nước. Thế và lực mới cũng đòi hỏi chúng ta phát huy “sức mạnh mềm” của dân tộc, tương xứng với tầm vóc lịch sử và văn hóa, vị thế chính trị và kinh tế của đất nước.

Năm là, xây dựng ngành ngoại giao vững mạnh, xứng đáng với các thế hệ đi trước và xứng tầm trong kỷ nguyên mới. Trong những năm tháng khó khăn của cách mạng, chúng ta luôn luôn có những nhà ngoại giao xuất sắc, những con người đã trở thành tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước, về tinh thần tự học hỏi, về bản lĩnh chính trị, về phong cách và nghệ thuật ngoại giao, được bạn bè quốc tế ghi nhận, nể trọng. Kỷ nguyên mới đòi hỏi cần xây dựng nền ngoại giao toàn diện, hiện đại, chuyên nghiệp đáp ứng yêu cầu mới, thấm nhuần và vận dụng sáng tạo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh. Trong kỷ nguyên mới, cán bộ đối ngoại phải là những người tiên phong dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, hành động vì lợi ích quốc gia - dân tộc.

***
Nhìn lại lịch sử 80 năm qua, các thế hệ cán bộ ngoại giao có quyền tự hào về truyền thống, lịch sử và những chiến công hiển hách của ngoại giao Việt Nam, góp phần làm rạng danh non sông đất nước. Bản lĩnh, trí tuệ của ngoại giao Việt Nam hiện đại đã được hun đúc qua lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc, được tôi luyện, trưởng thành dưới thời đại Hồ Chí Minh. Trong kỷ nguyên mới, tiếp bước truyền thống hào hùng của cha anh, thế hệ cán bộ ngoại giao ngày nay sẽ tiếp tục viết nên những trang sử vàng của nền ngoại giao Việt Nam hiện đại, góp phần xứng đáng vào hành trình đưa đất nước vươn lên “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” như Bác Hồ hằng mong muốn./.
------------------------------
(1) Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, báo Nhân Dân, số 208, 25-27/7/1954.
(2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, t. 5, t. 162.
(3) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 8, t. 555.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: DI TÍCH LỊCH SỬ HẦM CƠ YẾU TRONG HOÀNG THÀNH THĂNG LONG!

     Lần đầu tiên, Hầm Cơ yếu tại Hoàng thành Thăng Long - nơi từng giữ mạch thông tin bí mật của Bộ Tổng tham mưu trong kháng chiến chống Mỹ đã được mở cửa, giới thiệu đến công chúng trong dịp Quốc khánh 2/9.

Hầm Cơ yếu là một bộ phận trong hệ thống hầm Khu A thành cổ Hà Nội, được xây dựng trong những năm kháng chiến chống Mỹ, có vai trò quan trọng giúp Tổng hành dinh Quân đội nhân dân Việt Nam giữ vững sự chỉ đạo, điều hành, chỉ huy đối với các quân, binh chủng, các mặt trận trong điều kiện không quân Mỹ đánh phá ác liệt Thủ đô Hà Nội. Hầm Cơ yếu được khởi công ngày 10-2-1966 và hoàn thành ngày 30-6-1966, tổng diện tích 37,2m², thời điểm được sử dụng nhiều nhất là tháng 12-1972.

Bên trong căn hầm được trưng bày nội thất sinh động, bố cục căn hầm đúng như đã có; Cung cấp nhiều thông tin qua trưng bày diễn giải bằng phim tài liệu, hệ thống pano trong hầm và bên ngoài hầm; Dùng âm thanh kể chuyện tạo cho khách tham quan cảm nhận như đang tham gia làm việc tại hầm vào thời điểm lịch sử đó. Từ đó làm nổi bật những thông tin lịch sử về vai trò và hoạt động của Cục Cơ yếu - Bộ Tổng tham mưu; Hoạt động công tác bảo đảm chỉ huy của Cục Cơ yếu - Bộ Tổng Tham mưu tại cơ quan Tổng hành dinh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhất là giai đoạn 1972 - 1975.

Di tích Hầm cơ yếu được phục hồi trên nguyên tắc tôn trọng yếu tố gốc, không can thiệp vào di tích gốc, phát huy tối đa giá trị di tích; tiếp cận phương pháp diễn giải mới và ứng dụng công nghệ trong diễn giải trưng bày để tạo dấu ấn thu hút khách tham quan, đặc biệt là giới trẻ.

Di tích Cách mạng Hầm Cơ yếu - Bộ Tổng Tham mưu là một thành tố quan trọng của Tổng hành dinh trong Khu di sản Hoàng thành Thăng Long, việc tu bổ phục hồi, mở cửa đón khách mang ý nghĩa quan trọng trong việc giáo dục truyền thống, đáp ứng mong muốn hiểu biết sâu sắc hơn, cụ thể hơn của du khách về các di tích cách mạng - kháng chiến; góp phần phát huy giá trị các di tích cách mạng kháng chiến trong Khu di sản Hoàng thành Thăng Long.

Cùng với việc mở cửa Hầm Cơ yếu, dịp này, Hoàng thành Thăng Long tổ chức các trưng bày “Nhà và Hầm D67 - Hành trình đến ngày toàn thắng” giới thiệu hơn 300 tài liệu, hình ảnh, gồm 4 chủ đề: “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ và Chiến tranh phá hoại lần thứ nhất”; “Câu chuyện Nhà và Hầm D67”; “Đánh bại ‘Việt Nam hóa chiến tranh’ và Chiến tranh phá hoại lần thứ 2”; “Đại thắng mùa Xuân năm 1975”. Các tài liệu, hiện vật khắc họa rõ thời kỳ kháng chiến chống Mỹ oanh liệt của dân tộc, đặc biệt là giai đoạn Mỹ bắt đầu thực hiện chiến tranh phá hoại miền Bắc, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Bộ Tổng Tư lệnh hoạch định chiến lược, chỉ đạo và chỉ huy các chiến dịch quan trọng, góp phần quyết định thắng lợi, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước./.



Yêu nước ST.

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: NGHỊ SĨ NGA "VIỆC TÁI THIẾT UKRAINA PHẢI DO PHÁP, ANH VÀ ĐỨC GÁNH VÁC"!

     Việc tái thiết Ukraina sau chiến tranh cần phải do Anh, Đức và Pháp chi trả, vì đây là những quốc gia hưởng lợi và tài trợ lớn nhất cho cuộc xung đột Ukraina, đại biểu Duma Quốc gia khu vực Crưm Mikhail Sheremet phát biểu với Sputnik.

"Vấn đề quan trọng hàng đầu là tái thiết Ukraina sau chiến tranh phải do Anh, Đức và Pháp gánh vác, vì họ là những bên hưởng lợi và tài trợ cho cuộc xung đột Ukraina một cách tráo trở nhất", ông Sheremet nói với hãng thông tấn.

"Chính sách của Anh, Đức và Pháp đã gây ra thiệt hại to lớn cho Ukraina, do sự can thiệp thiếu tầm nhìn vào các công việc nội bộ của nước này, điều tất yếu dẫn đến phản ứng ngược mang tính hủy diệt", đại biểu nhấn mạnh./.
Nguồn hãng thông tấn Nga RIA NOVOSTI
Khuyết danh ST.

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: NGOẠI TRƯỞNG ẤN ĐỘ PHẢN PHÁO CÁO BUỘC TỪ MỸ VÀ CHÂU ÂU!

     Trước những chỉ trích cho rằng việc New Delhi nhập khẩu dầu từ Nga đồng nghĩa với “tài trợ cho Moscow”, Bộ trưởng Ngoại giao Ấn Độ Subrahmanyam Jaishankar đã thẳng thắn đáp trả. Ông cho rằng các luận điệu này trở nên “nực cười” khi chính Mỹ và châu Âu mới là những khách hàng lớn nhất mua lại năng lượng từ Ấn Độ.

“Nếu thấy có vấn đề với dầu từ Ấn Độ, dù là dầu thô hay sản phẩm chế biến, thì xin mời đừng mua. Không ai ép buộc cả. Nhưng châu Âu vẫn mua, Mỹ cũng mua. Vậy nếu không thích, thì thôi đừng mua,” ông Jaishankar nhấn mạnh.

Câu trả lời ngắn gọn nhưng sắc lạnh này chẳng khác nào tấm gương phản chiếu sự mâu thuẫn trong chính sách của phương Tây: vừa muốn đóng vai “người phán xử” về đạo đức, vừa âm thầm tận dụng nguồn lợi mà họ chỉ trích. Nói cách khác, Washington và đồng minh có lẽ nên nhìn lại “cái ly xăng dầu” của chính mình trước khi rót lời buộc tội sang nước khác./.
Khuyết danh ST.

“GỘP ĐẤT MẤT QUÊ” - LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHÁ HOẠI CUỘC CÁCH MẠNG TINH GỌN BỘ MÁY!

     Trong khi toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị đang quyết tâm thực hiện thành công cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, nhằm đưa đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, thì các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lại ra sức tung ra nhiều thủ đoạn chống phá. Trong đó, “gộp đất mất quê” là luận điệu hết sức tinh vi, nguy hiểm, cần kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

“Gộp đất mất quê” - luận điệu tinh vi, âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch, phản động

Tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước ta nhằm tạo động lực mới để đưa đất nước vươn mình phát triển. Tất nhiên, đó là điều các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị không hề mong muốn. Chính vì vậy, không khó để bắt gặp những luận điệu xuyên tạc, gieo rắc tâm lý hoài nghi, thiếu tin tưởng vào quyết sách của Đảng, Nhà nước xuất hiện trên các nền tảng mạng xã hội, kênh thông tin thiếu thiện chí với Việt Nam; trong đó có luận điệu “Gộp đất mất quê” với những lý sự cực kỳ vô căn cứ như: “sáp nhập là xóa bỏ quê hương, làm mất gốc, mất bản sắc văn hóa địa phương”, “sáp nhập xã là xóa luôn tên làng”, “bỏ huyện là bỏ đi lịch sử của quê hương”, v.v.

Đây là những luận điệu, thủ đoạn rất tinh vi, nguy hiểm của các thế lực thù địch, phản động, khi chúng lợi dụng tình yêu quê hương, tâm lý luôn hướng về nguồn cội của mỗi người dân Việt Nam để xuyên tạc, kích động, chống phá. Nguy hiểm hơn, chúng lợi dụng tình cảm gắn bó sâu sắc với quê hương, dòng họ, làng xóm, khai thác tính cố kết của văn hóa làng xã, vùng miền - giá trị văn hóa độc đáo đã góp phần giữ vững bản sắc dân tộc qua những thăng trầm hàng nghìn năm lịch sử,… để dễ bề thuyết phục người nghe, thông qua đó chống phá những quyết sách của Đảng ta trong tinh gọn tổ chức bộ máy. Bằng cách này, chúng đã lấy văn hóa làng xã, vùng miền làm “điểm hỏa”, hòng hướng đến kích động những người nhẹ dạ, cả tin, gây nghi ngờ, mâu thuẫn nội bộ, không đồng thuận với chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy của Đảng, làm “nguội lạnh” khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Sâu xa hơn nữa là kích động tâm lý phản kháng, “bất tuân dân sự” trong xã hội, v.v.

Sự thật đằng sau những mỹ từ, hô hào: “Gộp đất mất quê”, “bảo vệ văn hóa truyền thống”, “bảo vệ quê hương”,… của các thế lực thù địch chính là những toan tính chính trị đầy dã tâm, thâm độc. Thứ nhất, thông qua đó, chúng kích động tâm lý cục bộ địa phương, tạo ra mâu thuẫn giữa người dân với chính quyền, giữa người dân các địa phương với nhau, từ đó chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Thứ hai, khiến người dân hoài nghi về tính đúng đắn, minh bạch của các quyết sách chiến lược, hạ thấp uy tín lãnh đạo của Đảng, khiến người dân xa rời Đảng, quay lưng với các chính sách đổi mới, phá hoại niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Thứ ba, trên “mảnh đất” của sự hoang mang, nghi ngờ và tâm lý bất mãn, phản đối chính quyền, các thế lực thù địch sẽ dễ bề cài cắm lực lượng, kích động biểu tình, gây bất ổn chính trị. Đây chính là kịch bản mà các thế lực thù địch mong muốn nhất. Bởi, sự chia rẽ và “hỗn loạn” sẽ cản trở công cuộc cải cách, phát triển đất nước, làm suy yếu bộ máy chính quyền từ bên trong, tạo thời cơ cho các thế lực thù địch, phản động “đục nước, béo cò”, đẩy mạnh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, gây bất ổn chính trị - xã hội, tiến tới lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Rõ ràng, luận điệu “gộp đất mất quê”,… chỉ là vỏ bọc giả tạo, che đậy tinh vi dã tâm thâm độc của các thế lực thù địch. Họ không hề vì lợi ích đất nước và người dân như đã rêu rao; càng không vì bảo vệ, giữ gìn văn hóa truyền thống, mà mục tiêu chính là kích động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, hòng làm mất lòng tin của Nhân dân vào Đảng và Nhà nước, phá hoại chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy, cản trở sự phát triển của đất nước. Do đó, chúng ta cần tỉnh táo nhận diện và kiên quyết đấu tranh, vạch trần bản chất xuyên tạc của những luận điệu phản động này, góp phần bảo vệ sự ổn định, phát triển bền vững của quê hương, đất nước.

Tinh gọn tổ chức bộ máy - chủ trương lớn, mang tính cách mạng và khoa học của Đảng ta

Trải qua gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, với sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị và toàn dân, “cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của đất nước được nâng lên, là nền tảng quan trọng để đất nước vươn mình trong kỷ nguyên phát triển mới”1. Tuy nhiên, những nguy cơ mà Đảng ta đã thẳng thắn chỉ ra vẫn còn hiện hữu; trong đó, đáng quan tâm hơn cả là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế. Với khát vọng xây dựng đất nước hòa bình, phồn vinh, thịnh vượng, mọi người dân được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc,… toàn Đảng, toàn dân ta quyết tâm tiến hành “cuộc cách mạng” tinh gọn tổ chức bộ máy nhằm tạo động lực mạnh mẽ đưa đất nước vươn mình phát triển trong kỷ nguyên mới.

Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, mỗi quốc gia chỉ có cơ hội để tăng tốc phát triển khi hội tụ đủ các yếu tố, đặc biệt là trong thời kỳ dân số vàng. Nhận thức rõ điều đó, khi thời cơ đến, Đảng, Nhà nước ta đã và đang nỗ lực thực hiện quyết liệt, đồng bộ nhiều giải pháp chiến lược, sớm đưa nước ta thành nước phát triển vào năm 2045. Trong đó, chủ trương xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả hơn là một nội dung rất quan trọng, phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Đây là chiến lược lâu dài, được Đảng ta xác định rõ, với những bước đi thận trọng, khoa học và lộ trình rõ ràng. Trong đó, Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XII) về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả là dấu mốc quan trọng, làm cơ sở để Đảng, Nhà nước ta đề ra các nhiệm vụ cụ thể, những biện pháp quyết liệt, rõ ràng về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Trọng tâm là giảm đầu mối, tinh giản biên chế, sắp xếp lại các đơn vị hành chính và rà soát, kiện toàn các tổ chức trong hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu quả hơn, phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, tạo cơ sở tiền đề quan trọng cho việc thực hiện Kết luận số 126-KL/TW, ngày 14/02/2025 của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về một số nội dung, nhiệm vụ tiếp tục sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị năm 2025.

Thực tế cũng cho thấy, việc sáp nhập, tinh gọn tổ chức bộ máy không chỉ giảm bớt gánh nặng ngân sách nhà nước, khắc phục tình trạng cồng kềnh, chồng chéo trong bộ máy hành chính mà còn điều chỉnh hợp lý quy mô dân số và diện tích, phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương, tạo ra sự đồng bộ trong quy hoạch, phát triển hạ tầng, mở rộng liên kết vùng, thu hút đầu tư, góp phần thúc đẩy kinh tế địa phương và cả nước phát triển bền vững. Đồng thời, tạo điều kiện để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức tinh - mạnh, nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân. Hơn nữa, tinh gọn tổ chức bộ máy còn mang ý nghĩa sâu sắc trong việc đổi mới tư duy quản lý nhà nước, cách thức làm việc, thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin, cải cách thủ tục hành chính, xây dựng nền hành chính phục vụ, lấy người dân làm trung tâm, tạo ra động lực mạnh mẽ thúc đẩy xã hội phát triển theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, phục vụ Nhân dân tốt hơn; góp phần làm giàu thêm bản sắc của quê hương, đất nước.

Mặc dù trong thời gian ngắn, công tác chuẩn bị gấp rút, nhưng khi chính thức đi vào vận hành từ ngày 01/7/2025, chính quyền các cấp nhanh chóng ổn định, bước đầu hoạt động hiệu quả, thông suốt, hạn chế tình trạng chồng chéo, gây khó khăn cho người dân. Đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp xã luôn gần dân, tận tâm, thấu hiểu, giải quyết nhanh chóng, thỏa đáng những nhu cầu của Nhân dân. Nhiều địa phương đã vận dụng cách làm linh hoạt, sáng tạo, chủ động, tích cực tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn phát sinh trong quá trình tiếp nhận, xử lý, đảm bảo mọi hoạt động giải quyết thủ tục hành chính của người dân diễn ra bình thường, không bị gián đoạn, tạo dư luận xã hội tích cực, đại đa số người dân rất đồng tình và hài lòng với những thay đổi tích cực trong việc giải quyết thủ tục hành chính tại các địa phương.

Thời gian tới, cùng với đẩy mạnh cải cách hành chính và chuyển đổi số, thủ tục hành chính được thực hiện chủ yếu trên môi trường điện tử, chất lượng, hiệu quả vận hành của bộ máy chính quyền các cấp chắc chắn sẽ được nâng cao hơn nữa, đảm bảo tính công khai, minh bạch, giảm thời gian và chi phí cho người dân, doanh nghiệp. Đó là minh chứng cho tính đúng đắn của chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy, củng cố niềm tin của Nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Và khi Nhân dân tin, các luận điệu xuyên tạc chắc chắn sẽ bị vô hiệu hóa.

Với những lợi ích to lớn như vậy, mỗi người cần tỉnh táo, không để kẻ thù lợi dụng vấn đề văn hóa và tình cảm gắn bó quê hương để phá hoại cuộc “cách mạng” tinh gọn tổ chức bộ máy. Bởi, suy đến cùng, văn hóa, truyền thống, tình yêu quê hương đất nước là giá trị trường tồn của dân tộc, được nuôi dưỡng và gìn giữ qua nhiều thế hệ bằng phong tục, tập quán, con người, không thể bị xóa nhòa bởi sáp nhập địa giới hành chính, không phụ thuộc vào tên gọi của một đơn vị hành chính. Tên gọi của địa giới hành chính có thể thay đổi, nhưng cội nguồn và bản sắc văn hóa không bao giờ mất đi. Sáp nhập đơn vị hành chính chỉ là thay đổi để tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu quả hơn chứ không phải là xóa bỏ bản sắc văn hóa hay phủ nhận lịch sử của địa phương. Hơn thế nữa, những lợi ích của việc sáp nhập đơn vị hành chính đã quá rõ ràng khi không chỉ mở ra không gian phát triển mới cho từng địa phương, mà còn tăng thêm nguồn lực, tạo điều kiện phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của cả nước. Theo đó, đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân sẽ ngày càng được nâng lên, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Mặt khác, khi đời sống người dân ngày càng được nâng cao cả về vật chất và tinh thần, quê hương, đất nước ngày càng phát triển, chính là cách tốt nhất để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống, nuôi dưỡng và nhân lên tình yêu quê hương đất nước trong mỗi người. Do vậy, mỗi chúng ta cần hết sức tỉnh táo, tuyệt đối không để cảm xúc bị dẫn dắt sai hướng, không rơi vào những cạm bẫy tâm lý mà kẻ thù giăng ra; không chia sẻ, lan truyền tin giả, tin xấu độc,… góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, cùng chung sức, đồng lòng xây dựng quê hương, đất nước ngày càng văn minh, giàu đẹp, vững bước trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.
---------
1. ĐCSVN - Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, Nxb CTQGST, H. 2025, tr. 24.
Yêu nước ST.