Chủ Nhật, 11 tháng 1, 2026

Ý KIẾN PHẢN BIỆN HAY LỜI LẼ PHẢN ĐỘNG CỦA ĐỖ NGỌC THỐNG?

     Những ai theo dõi mạng xã hội trong những năm qua đều nhận thấy, ông Thống có nhiều phát biểu không những không chuẩn mực với tư cách là một giáo viên công lập mà còn chạm đến ranh giới của tư tưởng phản động. Một trong những dẫn chứng cho thấy tư tưởng lệch lạc của ông ta là bài viết của ông về vụ anh chém chết em vì tranh giành đất đai ở Đan Phượng (xem ảnh chụp status).

Rõ ràng, ông Thống đã lấy một vụ việc riêng lẽ có thể xảy ra ở bất kỳ quốc gia nào, dù là ở Mỹ, Pháp, Đức, Vương quốc Anh… để nói xấu VN. Không chỉ phi khoa học mà quá láo toét khi ĐNT cho rằng nguyên nhân dẫn vụ án là do “XHCN chủ trương vô thần và khuyến khích vô thần„. Hơn thế nữa, ông quy chụp những tệ nạn đó chỉ xảy ra từ “sau cách mạng Tháng Tám đến nay„ và “do vô thần nên dẫn đến không trung thực, chuyên nói dối„.

Vô thần nói nôm na là không tôn giáo, không tín ngưỡng. Theo pháp luât VN và thực tế đời sống ở VN cho thấy tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng được tôn trọng, tự do tôn giáo và tự do tín ngưỡng có nghĩa là mỗi công dân có quyền theo theo một đạo nào đó hoặc không theo, không ai bị ép buộc hoặc bị cản trở trong quyết định của mình.

ĐNT khoe khoang trên mạng đi thăm Mỹ nhiều lần. Từ quan sát và kiến thức của mình, đáng lẽ ra, ông ta phải nhận biết, bản chất của chế độ xã hội Mỹ, một xã hội tư bản đã dẫn đến vô số vụ giết người hàng loạt. Các tập đoàn sản xuất vũ khí ở Mỹ tha hồ sản xuất vũ khí và bán tự do trên thị trường, mọi người dân ở tuổi trưởng thành đều có thể mua vũ khí và đó là nguyên nhân dẫn đến tội phạm giết người.

Việc nói dối cũng thế. Mọi người đều biết, chính phủ Mỹ đã nói dối một cách kinh khủng, thí dụ, nói dối trong việc khơi mào cuộc chiến chống VN (sự kiện Vịnh Bắc Bộ), cuộc chiến chống Iraq và mới đây là hành động xâm lược chống Venezuela.
Một câu hỏi của nhiều người rất chính đáng, Hồng Thái Hoàng bị bắt, tại sao Đỗ Ngọc Thống lại không?
Môi trường ST.

NƯỚC NGHÈO “ĐỘK TÀI” LÀM ĐIỀU MÀ NƯỚC GIÀU VÀ SIÊU GIÀU KHÔNG BAO GIỜ LÀM!

     Cuối năm 2025, miền Trung - Tây Nguyên hứng một đợt mưa lũ lịch sử. Nhà sập, nhà trôi, hàng nghìn gia đình đứng trước Tết trong cảnh màn trời chiếu đất.

Và điều xảy ra tiếp theo rất… “không giống tư bản”.
Chính phủ phát động “Chiến dịch Quang Trung - thần tốc”- không phải khẩu hiệu, mà là deadline cụ thể:
 • Sửa nhà hư hỏng: xong trước 31/12/2025
 • Xây mới, tái định cư: xong trước 31/1/2026, rồi đẩy sớm lên 15/1/2026
Mục tiêu duy nhất: không để dân đón Tết trong cảnh không nhà.
Số liệu không biết nói dối:
 • Hơn 4.000 nhà sập, gần 350.000 nhà hư hỏng trong năm 2025
 • Riêng đợt lũ cuối năm: gần 1.000 nhà sập, hơn 3.000 nhà hư hỏng nặng
 • Đã khởi công 1.520/1.634 nhà xây mới
 • Đã sửa xong 31.922/35.746 nhà
 • Căn nhà đầu tiên hoàn thành sau 15 ngày thi công
Ai làm?
 • Quân đội xuống tận nơi, hàng nghìn ngày công
 • Nhà nước hỗ trợ tiền (60 triệu/nhà, rồi bù thêm 5-10 triệu cho hộ khó khăn)
 • Chính quyền chịu trách nhiệm đến từng căn nhà
Nghe quen không?
À không. Tư bản không làm kiểu này.
Ở “xứ dân chủ”:
 • Nhà sập vì bão? → bảo hiểm lo, không có bảo hiểm thì… tự chịu
 • Vô gia cư? → ngủ lều, ngủ gầm cầu, “quyền lựa chọn cá nhân”
 • Nhà nước không ép ai ở, cũng không hứa deadline cho ai.

Còn ở đây?
 • Nhà nước không hỏi dân có thích không, mà hỏi: “Tết này thích mẫu nhà nào?" 
 • Không “đối tác công–tư”, không “thị trường tự điều chỉnh”
 • Chỉ có một câu: phải có nhà cho dân trước Tết. Đây là Lệnh.
Người ta hay nói:
“Cộng sản độc quyền, áp đặt, ép dân.”
Ừ. Ép thật.
Ép làm nhanh.
Ép hoàn thành sớm.
Ép cán bộ chịu trách nhiệm.
Ép cả hệ thống phải lo cho dân đến khi có nhà ở đàng hoàng.
Nếu đó là “độc quyền”, thì đây là độc quyền trách nhiệm. 
Còn cái gọi là “tự do” mà để dân ngủ ngoài trời, xin lỗi - dân đói rét thì không cần diễn thuyết hay hiến pháp.
Cuối cùng, một câu cho gọn:
Không phải chế độ nào nói hay về dân chủ cũng lo được cho dân.
Nhưng chế độ nào dám đặt deadline để dân có nhà trước Tết, thì dân sẽ tự biết ai đứng về phía mình. 
****************
So sánh chế độ độk tàl với chế độ "đa tài":
Ở Mỹ, mỗi năm có 500.000 triệu phú mới, nhưng vẫn có 200.000 người Mỹ chết vì đói nghèo. gần 50% dân số Mỹ thuộc diện nghèo... Họ siêu giàu, siêu mạnh, họ có nguồn lực để vực cả xã hội cùng giàu lên, nhưng không, họ chỉ bảo vệ quyền và lợi của giới tinh hoa tư sản - nguồn lực chính duy trì chính quyền./.





Môi trường ST.

Thứ Sáu, 9 tháng 1, 2026

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THỦ TƯỚNG ĐỐC THÚC CHỌN HÌNH THỨC ĐẦU TƯ ĐƯỜNG SẮT TỐC ĐỘ CAO BẮC NAM!

     Thủ tướng Phạm Minh Chính giao Bộ Xây dựng nghiên cứu, đề xuất lựa chọn hình thức đầu tư phù hợp cho dự án đường sắt tốc độ cao Bắc Nam, gồm đầu tư công, đối tác công tư hoặc đầu tư kinh doanh!

Chủ trì cuộc họp Ban Chỉ đạo các công trình trọng điểm, dự án quan trọng quốc gia lĩnh vực đường sắt chiều 6/1, Thủ tướng yêu cầu Bộ Xây dựng căn cứ chỉ đạo của Bộ Chính trị, chủ trì lựa chọn công nghệ phù hợp nhất cho dự án đường sắt tốc độ cao Bắc Nam; trình Thường trực Chính phủ báo cáo cấp có thẩm quyền trước ngày 15/1.

Bộ Xây dựng đồng thời chỉ định tư vấn lập báo cáo nghiên cứu khả thi, bảo đảm đúng năng lực, quy trình, thủ tục và thẩm quyền theo quy định.

Cùng với việc sớm đề xuất hình thức đầu tư, Thủ tướng giao các địa phương và Tập đoàn Điện lực Việt Nam đẩy nhanh giải phóng mặt bằng, di dời hạ tầng kỹ thuật. Các tập đoàn Viettel và VNPT tiếp tục triển khai các nhiệm vụ liên quan đến hệ thống và công nghệ điều khiển.

Trước đó hai ngày, Văn phòng Chính phủ thông báo kết luận của Thường trực Chính phủ, đánh giá Bộ Xây dựng và các cơ quan liên quan còn "lúng túng" trong triển khai dự án, nhất là ở khâu nghiên cứu, đánh giá và lựa chọn phương thức đầu tư.

Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc Nam có tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 1,7 triệu tỷ đồng, tương đương 67 tỷ USD. Tuyến dài 1.541 km, điểm đầu tại ga Ngọc Hồi (Hà Nội), điểm cuối tại ga Thủ Thiêm (TP HCM), đi qua 20 tỉnh, thành phố. Dự án được Quốc hội cho phép khu vực tư nhân tham gia đầu tư, dự kiến khởi công tháng 12/2026 và hoàn thành năm 2035./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: MƯỜI THÀNH TỰU NỔI BẬT NHẤT CỦA ĐẤT NƯỚC TRONG NĂM 2025!

     Năm 2025 là năm có vị trí đặc biệt trong tiến trình phát triển của đất nước, là năm tăng tốc, bứt phá để hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đề ra. Trong bối cảnh tình hình thế giới tiếp tục biến động nhanh, phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gay gắt; kinh tế toàn cầu phục hồi không đồng đều, Việt Nam vẫn đạt được nhiều thành tựu quan trọng, toàn diện, thể hiện rõ bản lĩnh, trí tuệ và năng lực lãnh đạo của Đảng, sự điều hành quyết liệt của Nhà nước và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

1. Giữ vững ổn định chính trị – xã hội, củng cố vững chắc vai trò lãnh đạo của Đảng

Trong năm 2025, đất nước tiếp tục giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được đẩy mạnh đồng bộ, toàn diện theo các nghị quyết, kết luận của Trung ương và Bộ Chính trị. Năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng tiếp tục được nâng cao; niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước được củng cố vững chắc.

2. Kinh tế vĩ mô ổn định, tăng trưởng được duy trì

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định; lạm phát được kiểm soát; các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Tăng trưởng kinh tế được duy trì trong bối cảnh khó khăn chung của thế giới; chất lượng tăng trưởng từng bước được cải thiện; nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế ngày càng được củng cố.

3. Hoàn thiện thể chế phát triển là khâu đột phá quan trọng

Năm 2025 ghi nhận những kết quả rõ nét trong hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhiều cơ chế, chính sách quan trọng được sửa đổi, bổ sung, ban hành theo hướng tháo gỡ điểm nghẽn, khơi thông nguồn lực, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển.

4. Khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tiếp tục có bước tiến

Triển khai các chủ trương lớn của Trung ương và Bộ Chính trị, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tiếp tục được thúc đẩy mạnh mẽ. Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số từng bước hình thành rõ nét hơn; ứng dụng công nghệ số trong quản lý nhà nước, sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội ngày càng lan tỏa, trở thành động lực quan trọng cho phát triển.

5. Phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam được chú trọng

Văn hóa tiếp tục được xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh quan trọng cho phát triển bền vững đất nước. Công tác bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa dân tộc gắn với tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại được đẩy mạnh. Việc xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, tinh thần ngày càng được quan tâm đúng mức.

6. An sinh xã hội được bảo đảm, đời sống nhân dân không ngừng cải thiện

Các chính sách an sinh xã hội, phúc lợi xã hội tiếp tục được triển khai đồng bộ, kịp thời, hiệu quả. Công tác giảm nghèo bền vững, chăm lo người có công, đối tượng chính sách và các nhóm yếu thế đạt nhiều kết quả tích cực. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tiếp tục được cải thiện, thể hiện rõ bản chất nhân văn, ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa.

7. Quốc phòng, an ninh được tăng cường, chủ quyền quốc gia được giữ vững

Tiềm lực quốc phòng, an ninh được củng cố toàn diện; thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân ngày càng vững chắc. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc được bảo vệ kiên quyết, kiên trì; môi trường hòa bình, ổn định được giữ vững, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển đất nước.

8. Công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế đạt nhiều kết quả quan trọng

Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa tiếp tục được triển khai nhất quán, linh hoạt và hiệu quả. Quan hệ đối ngoại với các nước, các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện không ngừng được mở rộng và đi vào chiều sâu. Uy tín, vị thế quốc tế của Việt Nam tiếp tục được nâng cao, khẳng định vai trò là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

9. Phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh

Công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục được triển khai quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả, thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của Đảng và Nhà nước. Nhiều vụ việc, vụ án được xử lý nghiêm minh; kỷ luật, kỷ cương được tăng cường; góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

10. Nâng cao chất lượng công tác cán bộ và hiệu lực quản lý nhà nước

Công tác cán bộ tiếp tục được thực hiện chặt chẽ, dân chủ, khách quan, đúng quy định. Bộ máy nhà nước các cấp được sắp xếp theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền các cấp được nâng lên, đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Mười thành tựu nổi bật của đất nước trong năm 2025 là kết quả tổng hợp của sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự điều hành quyết liệt của Nhà nước và sự đồng lòng, chung sức của toàn dân tộc. Những thành tựu đó không chỉ có ý nghĩa trong năm 2025 mà còn tạo nền tảng vững chắc để đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, thực hiện thắng lợi các mục tiêu đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045, đưa Việt Nam phát triển nhanh, bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CHỦ ĐỀ ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIV CỦA ĐẢNG “SỰ KẾT TINH TRÍ TUỆ, BẢN LĨNH VÀ KHÁT VỌNG PHÁT TRIỂN”!

     Chủ đề Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự kết tinh cao độ tư duy lý luận, tầm nhìn chiến lược và khát vọng phát triển của Đảng và dân tộc Việt Nam trong giai đoạn lịch sử mới.

Với kết cấu chặt chẽ, nội dung toàn diện và hàm lượng tư tưởng sâu sắc, chủ đề Đại hội không chỉ khẳng định nền tảng chính trị - tư tưởng của sự nghiệp cách mạng, mà còn định hướng rõ mục tiêu, động lực, phương thức và hệ giá trị phát triển đất nước đến năm 2030 và những năm tiếp theo.

Trong tiến trình chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, việc xác định Chủ đề Đại hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, thể hiện sự cô đọng cao nhất về tư tưởng chỉ đạo, mục tiêu tổng quát và khát vọng phát triển của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Chủ đề Đại hội không chỉ mang tính định hướng chính trị, mà còn có giá trị phương pháp luận sâu sắc, chi phối toàn bộ việc xây dựng các văn kiện, hoạch định đường lối và tổ chức thực tiễn sau Đại hội.

Chủ đề Đại hội XIV, với 64 chữ: "Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030; tự cường, tự tin tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội". Đây là sự kế thừa, phát triển sáng tạo các chủ đề đại hội trước, đồng thời phản ánh bước phát triển mới trong tư duy chiến lược của Đảng trước những biến đổi sâu sắc của tình hình trong nước và thế giới hiện nay.

“Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng” - Khẳng định nền tảng chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng

Cụm từ mở đầu của chủ đề Đại hội XIV mang ý nghĩa tư tưởng - chính trị đặc biệt sâu sắc. “Lá cờ vẻ vang của Đảng” là biểu tượng tập trung của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, của truyền thống cách mạng hơn 95 năm vẻ vang của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Việc đặt nội dung này ở vị trí mở đầu chủ đề cho thấy sự kiên định, nhất quán và không dao động của Đảng về vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp và toàn diện đối với Nhà nước và xã hội. Đây là sự tiếp nối tư tưởng xuyên suốt được khẳng định trong các văn kiện Đại hội XIII: “Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”.

Ở chiều sâu lý luận, cụm từ này còn hàm ý yêu cầu không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng thực sự xứng đáng là đạo đức, là văn minh; mọi tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, xứng đáng với vai trò lãnh đạo và niềm tin của nhân dân.

“Chung sức, đồng lòng” - Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

“Chung sức, đồng lòng” là sự khái quát súc tích tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc - một đường lối chiến lược xuyên suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cách diễn đạt này nhấn mạnh không chỉ sự huy động nguồn lực, mà trước hết là sự thống nhất ý chí, đồng thuận xã hội và gắn kết lợi ích giữa các giai tầng, cộng đồng và chủ thể phát triển.

Trong điều kiện đất nước xây dựng, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng, các mối quan hệ lợi ích ngày càng đa dạng, phức tạp. Do đó, yêu cầu “chung sức, đồng lòng” thể hiện tư duy phát triển mới của Đảng, coi trọng vai trò chủ thể của nhân dân, bảo đảm hài hòa lợi ích, củng cố niềm tin xã hội, tạo nền tảng chính trị - xã hội vững chắc cho phát triển bền vững.

Mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 - Tầm nhìn chiến lược và tính hành động

Việc xác định mốc năm 2030 trong chủ đề Đại hội XIV thể hiện rõ tầm nhìn chiến lược dài hạn của Đảng, gắn với dấu mốc 100 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây không chỉ là mốc thời gian mang ý nghĩa lịch sử, mà còn là thước đo năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và hiệu quả quản trị quốc gia.

Khái niệm “thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030” cho thấy tinh thần quyết tâm chính trị cao, tính kế thừa và nhất quán trong hệ mục tiêu chiến lược của Đảng; tinh thần quyết tâm chính trị cao trong tổ chức thực hiện; sự gắn kết chặt chẽ giữa tầm nhìn dài hạn và kế hoạch trung hạn, ngắn hạn; đồng thời khẳng định sự gắn kết giữa tầm nhìn chiến lược và tính hành động thực tiễn.

Các mục tiêu này bao trùm toàn diện các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và xây dựng hệ thống chính trị. Điều đó phản ánh tư duy phát triển toàn diện, cân bằng và bền vững, không chạy theo tăng trưởng đơn thuần, mà coi trọng chất lượng phát triển và nâng cao đời sống nhân dân.

“Tự cường, tự tin” - Biểu hiện bản lĩnh và vị thế mới của dân tộc

Hai khái niệm “Tự cường” và “tự tin” được đặt song hành trong chủ đề Đại hội XIV mang ý nghĩa đặc biệt sâu sắc, phản ánh bản lĩnh dân tộc trong bối cảnh mới. “Tự cường” nhấn mạnh yêu cầu phát huy nội lực, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; nâng cao năng lực tự quyết, tự bảo vệ; nâng cao khả năng thích ứng, tự phát triển trong mọi tình huống và chống chịu trước các cú sốc bên ngoài. Đây là sự phát triển mới trong tư duy chiến lược của Đảng trước những thách thức an ninh phi truyền thống, phụ thuộc chuỗi cung ứng và cạnh tranh công nghệ toàn cầu.

“Tự tin” là sự tự tin chiến lược, thể hiện bản lĩnh, niềm tin và khí thế của một dân tộc đã có đủ thế và lực mới, được xây dựng trên nền tảng những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử sau gần 40 năm đổi mới. Đó là sự tự tin dựa trên thành tựu thực tiễn, nền tảng lý luận và kinh nghiệm quản trị quốc gia ngày càng hoàn thiện. Đây là sự tự tin trong hội nhập, trong lựa chọn con đường phát triển và trong bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc.

“Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” - Khái niệm mới, tư duy mới và tầm nhìn phát triển mới

Lần đầu tiên khái niệm “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” được đưa vào chủ đề Đại hội, thể hiện bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng. Khái niệm này không chỉ mang tính mô tả, mà còn hàm chứa định hướng chiến lược về một giai đoạn phát triển ở trình độ cao hơn, toàn diện hơn.

Khái niệm “Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam” không chỉ là một cách diễn đạt giàu hình ảnh, mà còn là một khái niệm tư duy chiến lược, hàm chứa nhận thức mới về vị thế, mục tiêu và con đường phát triển của đất nước trong giai đoạn lịch sử hiện nay. Đây không chỉ là một cách diễn đạt mang tính cổ vũ, mà là một khái niệm tư duy chiến lược - chính trị - phát triển, phản ánh sự chuyển biến về chất trong nhận thức và hành động của Đảng, Nhà nước và dân tộc ta trong bối cảnh mới.

Kỷ nguyên vươn mình có tư duy của huyền thoại Thánh Gióng, của con Lạc cháu Hồng; kết tinh trong dòng chảy lịch sử - hiện tại và tương lai của dân tộc Việt Nam văn hiến anh hùng và khát vọng vươn lên vượt mọi khó khăn.

“Kỷ nguyên vươn mình” không chỉ là sự tiếp nối của công cuộc đổi mới, mà là giai đoạn phát triển ở trình độ cao hơn, với yêu cầu: Đổi mới mô hình tăng trưởng theo chiều sâu; đẩy mạnh khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát triển con người Việt Nam toàn diện; nâng cao vị thế, uy tín và ảnh hưởng quốc tế của Việt Nam. Khái niệm này có giá trị khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, tạo nền tảng tinh thần quan trọng cho toàn xã hội.

“Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam” là sự kết tinh của nhận thức mới về thời đại, mục tiêu, vị thế, con người và con đường phát triển của đất nước, thể hiện khát vọng bứt phá, phát triển nhanh và bền vững, đưa Việt Nam vươn lên mạnh mẽ, tự tin, có trách nhiệm và có đóng góp xứng đáng trong cộng đồng quốc tế.

Hệ giá trị mục tiêu phát triển vì con người

Phần kết của chủ đề Đại hội XIV xác lập một hệ giá trị phát triển toàn diện, kết tinh giữa giá trị dân tộc, giá trị thời đại và giá trị xã hội chủ nghĩa: Hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Đây là sự kết hợp hài hòa giữa mục tiêu quốc gia - dân tộc và mục tiêu xã hội chủ nghĩa, giữa phát triển kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội.

Các giá trị này không tồn tại rời rạc mà có mối quan hệ hữu cơ, biện chứng, bổ sung và thúc đẩy lẫn nhau. Đặc biệt, việc nhấn mạnh “hạnh phúc” cho thấy sự phát triển sâu sắc trong tư duy của Đảng, coi chất lượng cuộc sống và hạnh phúc con người; coi con người là trung tâm, là thước đo cao nhất; là mục tiêu và là động lực của phát triển.

“Vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội” - Sự kiên định, tầm nhìn chiến lược và sáng tạo trong thực tiễn

Chủ đề Đại hội XIV khẳng định: “Vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội” là sự tiếp nối nhất quán lập trường chiến lược; khẳng định rõ ràng và dứt khoát con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam. Đây là sự khẳng định có ý nghĩa đặc biệt trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động phức tạp về mô hình phát triển và hệ giá trị.

Sự “vững bước” thể hiện bản lĩnh kiên định, nhưng đồng thời hàm chứa tinh thần đổi mới, sáng tạo, linh hoạt trong phương thức, bước đi và giải pháp thực hiện, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam trong từng giai đoạn lịch sử.

Giá trị lý luận và thực tiễn của chủ đề Đại hội XIV

Chủ đề Đại hội XIV có giá trị lý luận sâu sắc trong việc phát triển tư duy về Đảng cầm quyền, về mô hình phát triển xã hội chủ nghĩa trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; toàn cầu hóa, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đó là cơ sở chính trị - tư tưởng quan trọng để xây dựng các văn kiện Đại hội, hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV, góp phần tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động trong toàn xã hội.

Chủ đề Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự kết tinh trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng phát triển của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trong giai đoạn lịch sử mới. Với nội dung toàn diện, tầm nhìn chiến lược và giá trị nhân văn sâu sắc, chủ đề không chỉ định hướng cho Đại hội XIV, mà còn có ý nghĩa lâu dài đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỔNG BÍ THƯ “QUỐC HỘI CẦN DŨNG CẢM QUYẾT ĐỊNH VIỆC KHÓ”!

     Tổng Bí thư Tô Lâm đề nghị Quốc hội đi trước một bước về thể chế, dũng cảm quyết định những vấn đề khó, lĩnh vực chưa có tiền lệ để mở đường cho phát triển nhanh, bền vững.

Sáng 6/1, phát biểu tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên, Tổng Bí thư Tô Lâm nhắc lại cách đây tròn 80 năm, lần đầu tiên trong lịch sử, người Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt giới tính, thành phần xã hội, dân tộc, tôn giáo hay chính kiến, đã trực tiếp cầm lá phiếu lựa chọn đại biểu vào cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.

Trong hoàn cảnh đất nước vừa giành độc lập, cuộc Tổng tuyển cử vẫn được tổ chức dân chủ, công khai, nghiêm túc, với tỷ lệ cử tri tham gia đạt 89%. Kết quả, 333 đại biểu Quốc hội đã được bầu, phản ánh tính đại diện rộng rãi và tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc.

“Sự kiện lịch sử đó trở thành mốc son, đánh dấu bước phát triển nhảy vọt đầu tiên về thể chế dân chủ của Nhà nước Việt Nam mới, khẳng định một chân lý lớn là quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”, Tổng Bí thư nói.

Theo Tổng Bí thư, trải qua 80 năm đồng hành cùng dân tộc và 15 nhiệm kỳ hoạt động, Quốc hội khẳng định vai trò là trung tâm của đời sống chính trị, pháp lý quốc gia, giữ vị trí then chốt trong xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Trên lĩnh vực lập hiến, lập pháp, Quốc hội đã ban hành 5 bản Hiến pháp, gắn với những bước ngoặt lớn của cách mạng Việt Nam. Mỗi bản Hiến pháp phản ánh trình độ phát triển của đất nước và tư duy đổi mới trong tổ chức, vận hành quyền lực nhà nước.

Đặc biệt, việc Quốc hội khóa 15 thông qua Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp đã hiến định mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, tạo cơ sở quan trọng cho chủ trương tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia.

Tổng Bí thư cho biết hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội không ngừng được đổi mới, đi vào chiều sâu, tập trung vào những vấn đề lớn, bức xúc của đời sống kinh tế - xã hội, gắn với tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

Hướng tới mục tiêu đến năm 2045 đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, hùng cường, thịnh vượng, Tổng Bí thư nhấn mạnh vai trò đặc biệt quan trọng của Quốc hội trong kiến tạo thể chế phát triển. Ông cho rằng nếu không có đột phá về thể chế, pháp luật và một Quốc hội bản lĩnh, trí tuệ, hành động quyết liệt thì những mục tiêu đó khó thành hiện thực.

Tổng Bí thư đề nghị Quốc hội tiếp tục đi trước một bước về thể chế, dũng cảm quyết định những việc mới, lĩnh vực chưa có tiền lệ; mở đường cho đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững. Quốc hội cần phát huy dân chủ, pháp quyền, hiện đại, chuyên nghiệp; công khai, minh bạch, hiệu lực, hiệu quả trong tổ chức và hoạt động; đổi mới tư duy lập pháp theo hướng kiến tạo và dẫn dắt phát triển.

Ông yêu cầu coi giám sát là công cụ kiến tạo, thúc đẩy phát triển, gắn “xây” với “chống”, lấy “xây” là căn bản; nâng cao chất lượng chất vấn, giải trình, giám sát văn bản pháp luật và thực hiện nghiêm việc lấy phiếu tín nhiệm của Quốc hội.

Theo Tổng Bí thư, đất nước đang đứng trước thời điểm có ý nghĩa bước ngoặt. Trách nhiệm đặt lên vai Quốc hội và từng đại biểu là rất nặng nề nhưng cũng hết sức vẻ vang. Trước thềm bầu cử Quốc hội khóa 16, các đại biểu cần tiếp tục là những người “tiêu biểu về trí tuệ, bản lĩnh, đạo đức, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết”./.
Môi trường ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: BẢN DỊCH HAY NHẤT SAO KHÔNG DÙNG?

     Nam Quốc Sơn Hà là bài thơ được cho là của Lý Thường Kiệt. Đây là bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên của nước Việt Nam.

Bài thơ có nhiều bản dịch, nhưng có lẽ Cụ Hoàng Xuân Hãn (1908 -1996) quê Yên Hồ, Đức Thọ, Hà Tĩnh dịch từ tiếng Hán là hay nhất, phổ biến trên nhiều sách báo và trong nhà trường, rất tiếc lại không thấy ghi tên dịch giả Hoàng Xuân Hãn!?

GS Nguyễn Khắc Phi Tổng chủ biên SGK lý giải: “Có lẽ họ thích nghe êm tai. Cái bài mọi người quen thuộc lâu nay có ưu điểm là êm tai nhưng êm tai không phải là tiêu chuẩn cao nhất. Nó có những vấn đề khác quan trọng hơn”. Vấn đề khác là gì mà ghê vậy!?

Nên giữ lại bản dịch bài NAM QUỐC SƠN HÀ của cụ Hoàng Xuân Hãn, có bản lại nói do Trần Trọng Kim dịch?!

Chẳng nhẽ cụ Hãn, cụ Kim không làm cách mạng mà loại họ ra sao?

Tôi xin đưa bài viết của tác giả HỒ VIẾT TƯ để mọi người tham khảo:

南國山河     

南國山河南帝居 
截然定分在天書 
如何逆虜來侵犯 
汝等行看取敗虛 

NAM QUỐC SƠN HÀ

Nam quốc sơn hà Nam Đế cư.
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm?
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Cụ Hãn dịch thơ:

SÔNG NÚI NƯỚC NAM

Sông núi nước Nam, vua Nam ở,
Rành rành định phận tại sách trời.
Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm?
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời.

Ý kiến của PGS.TS Đoàn Lê Giang “Có cần thay bản dịch bài Nam quốc sơn hà?” đăng trên Báo Tuổi trẻ số 307/2015 (8132) ra ngày thứ năm 12/11/2015 về bản dịch của bài thơ xin mời bạn đọc:

Nói về thơ, người xưa có câu: “Hữu thanh, vận, khả ca vịnh chi văn vị chi thi” (Một bài văn có thanh, có vần, có thể ngâm được, ca được gọi là bài thơ), như vậy, nhất thiết một bài thơ thì phải có thanh, có vần, đặc biệt thơ xưa loại thất ngôn bát cú hay thất ngôn tứ tuyệt thì niêm luật rất chặt chẽ, bài thơ đúng niêm luật thì khi đọc nghe rất xuôi tai, dễ thuộc, và tự thân nó mang tính đại chúng.

Dịch một bài thơ cổ đạt trình độ tín, đạt, nhã đã khó, lại còn sao cho “hữu thanh, vận” lại khó hơn. Bản dịch của cụ Hoàng Xuân Hãn tiệm cận với các yêu cầu đó, lại có thanh, có vần nên khi đọc rất dễ thuộc, và do đó bao thế hệ học trò rất nhiều người thuộc, nó còn là vũ khí đấu tranh sắc bén, ăn sâu trong tiềm thức người Việt, rất hào sản khi đọc các vần thơ này và cũng rất hiên ngang lúc vận nước có nguy cơ bị xâm lăng.

Nhưng bản dịch của Lê Thước, Nam Trân được đưa vào sách giáo khoa đã dịch:

Núi sông Nam Việt vua Nam ở,
Vằng vặc sách trời chia xứ sở.
Giặc dữ cớ sao phạm đến đây?
Chúng mày nhất định phải tan vỡ.

Câu một của bài thơ Chữ Hán không có Quốc hiệu Việt Nam, và vào thời điểm đó nước ta chưa phải là Việt Nam. Cho nên Nam quốc sơn hà Nam Đế cư, dịch là Núi sông Việt Nam vua Nam ở là không đúng với tín. Hoàng Xuân Hãn dịch Sông núi Nước Nam vua Nam ở, chính xác hơn.

Câu hai của bài thơ gốc: từ tiệt nhiên là động từ, xác định rạch ròi, định phận là phân chia (núi sông ở câu trên), tại thiên thư là tại sách trời mà dịch là vằng vặc, một tính từ chỉ cấp độ ánh sáng (ví dụ: ánh trăng vằng vặc), lại thêm chia xứ sở, trong câu tiệt nhiên định phận tại thiên thư không có xứ sở nào cả mà chỉ có chia sông núi như đã nói trên, dịch như vậy nó không tiệm cận được cả về tín và đạt.

Câu ba: Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, từ xâm phạm nó đã được Việt hóa, đọc lên ai cũng hiểu, lai xâm phạm mà dịch là phạm đến đây là một hành vi có thể hiểu mới chạm đến chứ chưa hẳn là hành động xâm lăng, dịch như vậy không sát nghĩa cũng đã phạm vào tín, và tất yếu không đạt.

Câu bốn: cụm từ "Thủ bại hư" có nghĩa chuốc lấy thất bại, đây là một đội quân xâm lược, (một đám người) thì chỉ có thể tan rã, chứ không phải là vật cứng, vô tri mà tan vỡ cho nên cũng không đạt nguyên tắc tín.

Ngoài ra, vần điệu trúc trắc, trục trặc cũng bất khả ca, vịnh. Bởi vậy giữ lại bản dịch của cụ Hoàng Xuân Hãn hay hơn nhiều./.



Yêu nước ST.

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: “GỬI NHỮNG ĐỐI TƯỢNG TRỞ CỜ, GỬI NGƯỜI CHỨC TRÁCH BÂY GIỜ Ở ĐÂU”?

Nhà văn, nhà báo, nhà thơ
Hỏi ba nhà ấy bây giờ ở đâu?
Sao toàn thấy lũ ruồi bâu
Me tây thờ giặc làm rầu lòng dân!

Ấu Phương - Thằng đấy đạo Văn 
Quang Thiều, Nguyên Ngọc vì căn cớ gì?
Trở cờ phản Đảng còn chi
Là do bất mãn hay vì đô la?
Đình Sử, Minh Thuyết, Đăng Khoa
Hồng Tung, Ngọc Thống như loa kẻ thù.
Báo kia chứa lắm thằng ngu
Hay là nội gián đánh từ bên trong?
Tổng biên đỏ vỏ đen lòng
Hay là thuộc dạng thòng đong mù màu?
Hậu sinh khả ố mà đau
Âm mưu làm cách mạng màu một phen?
Sử vàng chúng muốn nhuộm đen
Dân lành cũng rất nhiều phen sững sờ!
Thằng Lam, thằng Hiển trở cờ
Ăn lương Cộng sản nhưng thờ ngoại bang?
Lại thêm một đám làng nhàng
Thị Quỳnh, Thị Sánh rõ ràng thiểu năng.
Thị Hằng, thị Ánh hung hăng
Chúng xưng nhà báo, chúng đăng nhiều bài.
Chúng ca ngợi lũ quái thai
Đồng thời mồm chúng chê bai dân mình.
Nào là phản ứng linh tinh
Nào là không hiểu sự tình Văn chương.
Nào là sách của Ấu Phương
Đưa vào Giáo dục bình thường có sao.

Hỏi trời ở mãi trên cao
Có hay hạ giới lao đao vì tiền?
Có hay nhân thế đảo điên?
Có hay bọn chúng ăn tiền ngoại bang?
Có hay chúng đã hai hàng?
Phản bội Tổ quốc, đâm ngang đồng bào!
Môi trường ST.

SỰ THẬT VỀ “MẠCH NGẦM LỊCH SỬ” LỜI GIẢI ĐÁP CHO NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC “THẾ KỶ MỚI MEDIA”!

     Bài viết trên blog “Thế kỷ mới Media” với tiêu đề “Đảng Cộng sản Việt Nam so với 40 năm trước: Đại hội XIV và Đại hội VI - Tương đồng, dị biệt và mạch ngầm lịch sử bất biến” là một sản phẩm mang nặng dụng ý chính trị thù địch, xuyên tạc bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và phủ nhận những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới gần 40 năm qua. Nội dung bài viết cố tình gieo rắc tâm lý hoài nghi, bi quan, kích động luận điệu “khủng hoảng hệ thống”, phủ bóng đen lên bối cảnh chuẩn bị và tổ chức Đại hội XIV của Đảng, từ đó cổ vũ đòi hỏi “từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa”, “đa nguyên, đa đảng”, “phi chính trị hóa lực lượng vũ trang”, đi ngược lợi ích dân tộc, trái với Hiến pháp và pháp luật hiện hành.

Trước hết, cần vạch rõ thủ đoạn cơ bản của tác giả bài viết là trộn lẫn một số hiện tượng, khó khan còn tồn tại trong đời sống với những suy diễn chủ quan, ác ý để tạo bức tranh u ám, bế tắc. Từ việc viện dẫn tình trạng suy giảm niềm tin xã hội, những vụ việc tiêu cực, tham nhũng, cũng như các tranh luận trong chuẩn bị nhân sự, văn kiện Đại hội XIV, tác giả đã thổi phồng thành “sự sụp đổ uy tín hệ thống”, “đấu đá phe phái” trong Đảng, từ đó quy kết Đảng “mất khả năng tự đổi mới”, “lặp lại vòng xoáy khủng hoảng như trước Đại hội VI”. Lối lập luận này cố tình bỏ qua toàn bộ tiến trình hơn ba thập niên Đảng kiên trì xây dựng, chỉnh đốn, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực; cố tình không nhìn nhận sự công khai, minh bạch và tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật” mà Đảng đã thể hiện trong nhiều nhiệm kỳ gần đây. Việc Đảng chỉ ra những hạn chế, yếu kém của chính mình, đề ra các nhiệm vụ, giải pháp chỉnh đốn trong các văn kiện không thể bị suy diễn thành “tự thú bế tắc”, trái lại là minh chứng sinh động cho năng lực tự hoàn thiện, tự đổi mới của một đảng cách mạng chân chính.

Trên bình diện lý luận, chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định giai cấp công nhân, nhân dân lao động muốn giải phóng mình khỏi áp bức, bóc lột tư bản chủ nghĩa phải có chính đảng cách mạng, được trang bị lý luận khoa học, có tổ chức chặt chẽ, gắn bó mật thiết với quần chúng. Ở Việt Nam, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và những thắng lợi to lớn của cách mạng đã chứng minh tính đúng đắn của luận điểm đó: Từ cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh, Cách mạng Tháng Tám 1945, kháng chiến chống thực dân, đế quốc, đến đại thắng mùa Xuân 1975, thống nhất đất nước, là cả một chặng đường dài lịch sử đều gắn liền với vai trò lãnh đạo của Đảng. Tính chính danh của Đảng bắt nguồn từ lợi ích mà Đảng đại biểu đó là: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân, chứ không dựa trên bất cứ sự ban phát, thừa nhận nào từ bên ngoài hoặc các lực lượng đối lập. Những luận điệu phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi “đa nguyên, đa đảng” thực chất là nhằm tước bỏ sự lãnh đạo chính trị thống nhất, mở đường cho sự thao túng của các thế lực phản động, cơ hội, đi ngược lợi ích căn bản của nhân dân lao động và chủ quyền quốc gia.

Đặt trong bối cảnh chuẩn bị Đại hội XIV, cần nhấn mạnh rằng Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời luôn vận dụng, phát triển sáng tạo phù hợp với điều kiện thực tiễn đất nước và xu thế thời đại. Các dự thảo văn kiện Đại hội XIV xác định rõ mục tiêu “phát triển nhanh và bền vững đất nước trên nền tảng ổn định chính trị - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ”, tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy dân chủ, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là sự kế thừa và phát triển đường lối đổi mới được khởi xướng từ Đại hội VI, trên cơ sở tổng kết sâu sắc 40 năm đổi mới và cục diện quốc tế mới, hoàn toàn trái ngược với luận điệu cho rằng Đảng “mất phương hướng”, “không đưa ra được tầm nhìn mới”.

Thực tiễn gần 40 năm đổi mới là câu trả lời hùng hồn nhất đối với mọi sự xuyên tạc. Năm 1986, Việt Nam lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội nặng nề, lạm phát có năm lên tới hơn 700%, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn, đất nước vừa bước ra khỏi chiến tranh lại phải đối mặt bao vây, cấm vận. Trên nền tảng tư duy đổi mới toàn diện, đồng bộ, Đảng đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, từng bước chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vừa phát triển kinh tế nhiều thành phần, chủ động hội nhập quốc tế, vừa giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhờ đó, nền kinh tế đã thoát khỏi khủng hoảng, tăng trưởng liên tục trong thời gian dài, Việt Nam từ nước thiếu đói trở thành quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập sâu rộng vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

Các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã có bước tiến vượt bậc: Từ một trong những nước nghèo nhất thế giới, mức thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đã vươn lên gấp nhiều lần so với thời kỳ trước đổi mới; tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh theo chuẩn nghèo đa chiều; Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá là điểm sáng về thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ và phát triển bền vững. Cùng với đó, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được cải thiện rõ rệt; diện mạo nông thôn, đô thị đổi thay; các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, khoa học - công nghệ có nhiều thành tựu mới; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng cao. Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam liên tục tăng lên, tuổi thọ trung bình cao hơn nhiều so với giai đoạn trước đổi mới; vị thế, uy tín quốc tế của đất nước được khẳng định thông qua việc đảm nhiệm nhiều trọng trách tại các tổ chức, diễn đàn khu vực và toàn cầu.

Tất nhiên, trong quá trình phát triển, Việt Nam không tránh khỏi những hạn chế, yếu kém, thậm chí sai lầm, khuyết điểm, đặc biệt là tình trạng tham nhũng, tiêu cực, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ, đảng viên; cơ cấu kinh tế còn nhiều bất cập; chênh lệch giàu, nghèo, chất lượng tăng trưởng, ô nhiễm môi trường, các vấn đề an ninh phi truyền thống đặt ra không ít thách thức. Tuy nhiên, chính Đảng là lực lượng đi đầu nhận diện, chỉ ra và kiên quyết đấu tranh khắc phục những hạn chế đó, với quyết tâm xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên. Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực những năm qua với phương châm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” là minh chứng rõ ràng cho bản lĩnh chính trị, cho ý chí tự đổi mới, tự chỉnh đốn của Đảng; điều mà các thế lực thù địch cố tình bóp méo thành “thanh trừng phe phái” trong những luận điệu xuyên tạc.

Bài viết trên blog “Thế kỷ mới Media” còn cố gắng khoét sâu tâm lý so sánh Đại hội XIV với Đại hội VI để phủ nhận thành tựu đổi mới, cho rằng “mạch ngầm lịch sử bất biến” là “khủng hoảng lặp lại”. Đây là phép so sánh khiên cưỡng, phi lịch sử. Đại hội VI diễn ra trong bối cảnh đất nước vừa thống nhất, lại bị bao vây cấm vận, nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bộc lộ nhiều yếu kém; còn Đại hội XIV được chuẩn bị trong bối cảnh Việt Nam đã có gần 40 năm đổi mới, đạt được những thành tựu to lớn, vị thế quốc tế được nâng cao, đồng thời đứng trước những thời cơ và thách thức của cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số, cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc. Tính “tương đồng” nếu có chỉ là ở chỗ Đảng vẫn giữ vững bản lĩnh nhìn thẳng vào sự thật, đổi mới tư duy, đề ra đường lối phát triển phù hợp với tình hình mới trên nền tảng kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Từ những phân tích trên, có thể khẳng định: mọi luận điệu phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, dù được nguỵ trang dưới hình thức “trao đổi học thuật”, “nhận định khách quan”, thực chất vẫn là sự công kích chính trị, nhằm làm suy yếu lòng tin của nhân dân, tạo điều kiện cho các thế lực cơ hội, phản động lợi dụng. Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch không chỉ là nhiệm vụ của cơ quan bảo vệ pháp luật, của lực lượng chuyên trách bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, mà còn là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân yêu nước. Mỗi người cần nêu cao cảnh giác, tỉnh táo trước những thông tin lệch lạc trên không gian mạng; chủ động trang bị tri thức lý luận chính trị, nắm vững những thành tựu đổi mới của đất nước, tin tưởng vào đường lối đúng đắn của Đảng, đồng thời tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, góp phần đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới./.
Môi trường ST.

VẠCH TRẦN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CHỦ TRƯƠNG CHUYỂN ĐỔI SỐ QUỐC GIA, ĐỀ ÁN 06 VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÔNG DÂN SỐ Ở VIỆT NAM!

     Ngày 27/12/2025, trên trang blog Tiếng Dân, đối tượng Nguyễn Mậu Chính đã tán phát bài viết với tiêu đề “Chiến thuật biến luật rừng thành quy định hợp pháp, Bộ Công an và tham vọng chấm điểm công dân qua VNeID”. Nội dung bài viết thể hiện rõ bản chất xuyên tạc, bóp méo chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước ta về chuyển đổi số quốc gia, Đề án số 06 và Dự thảo Nghị quyết của Chính phủ về phát triển công dân số. Trong bài viết, Nguyễn Mậu Chính đã đưa ra luận điệu cho rằng việc đề xuất các nội dung liên quan đến công dân số, dữ liệu số, định danh điện tử là nhằm “chấm điểm công dân”, biến quyền công dân thành “đặc ân có điều kiện”, làm “mất nền tảng tự do”, thậm chí quy kết đây là công cụ để “cai trị”, “tiêu tốn ngân sách” và “mở toang cánh cửa cho ngoại bang nắm thóp cả dân tộc, từ dữ liệu hành vi đến mã gen”. Từ đó, đối tượng kêu gọi người dân phản đối chuyển đổi số nếu không muốn “tiện ích trở thành xiềng xích vô hình”.

Có thể thấy, đây là sự gán ghép, xuyên tạc có chủ ý, mang tính hệ thống, sử dụng lối lập luận suy diễn, đánh tráo khái niệm, cố tình đồng nhất chuyển đổi số với “kiểm soát xã hội”, “xâm phạm tự do cá nhân” để gieo rắc tâm lý lo sợ, nghi ngờ trong nhân dân. Từ đó kích động tâm lý hoài nghi, đối lập giữa Nhà nước và nhân dân, kêu gọi người dân “chống lại” chuyển đổi số, gây ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức xã hội và tiến trình phát triển đất nước.

Thực chất, luận điệu của Nguyễn Mậu Chính không nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của người dân, mà là một thủ đoạn trong chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - chính trị. Việc cố tình gán ghép Đề án 06 và phát triển công dân số với “luật rừng”, “cai trị”, “đặc ân có điều kiện” là sự phủ nhận trắng trợn bản chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Đáng chú ý, đối tượng còn lợi dụng tâm lý lo ngại về an toàn thông tin, dữ liệu cá nhân để thổi phồng nguy cơ “ngoại bang nắm thóp dân tộc”, từ đó phủ nhận hoàn toàn nỗ lực của Đảng, Nhà nước trong xây dựng thể chế bảo vệ dữ liệu, bảo đảm an ninh mạng. Đây là chiêu bài quen thuộc của các thế lực thù địch: Lấy một số vấn đề kỹ thuật, thách thức trong quá trình phát triển để xuyên tạc bản chất, mục tiêu của chính sách, làm lu mờ những thành tựu và lợi ích thiết thực mà chuyển đổi số mang lại cho người dân và xã hội.

Trái ngược với những luận điệu xuyên tạc nêu trên, chủ trương chuyển đổi số quốc gia, Đề án 06 và định hướng phát triển công dân số của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, khoa học và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Mục tiêu xuyên suốt mà Đảng và Nhà nước ta xác định là lấy người dân làm trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu và động lực của chuyển đổi số.

Đảng ta luôn nhất quán quan điểm: Quyền con người, quyền công dân được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận, bảo vệ và bảo đảm; mọi hoạt động quản lý đều đặt trong khuôn khổ pháp luật, vì lợi ích chung của xã hội. Việc chuyển đổi số, quản lý dữ liệu số, an ninh thông tin, xây dựng hệ thống định danh điện tử không phải để hạn chế tự do, mà để góp phần mở rộng dân chủ, bảo đảm tốt hơn quyền được tiếp cận thông tin, quyền giám sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy nhà nước; đơn giản hóa thủ tục hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tạo điều kiện để người dân tiếp cận dịch vụ công nhanh hơn, thuận lợi hơn, minh bạch hơn và đồng thời bảo vệ chính người dân trước các nguy cơ tội phạm công nghệ cao, xâm phạm đời sống riêng tư và chủ quyền quốc gia trên không gian mạng.

Nếu không có bản lĩnh, sự hiểu biết và niềm tin vào chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước để kịp thời vạch trần và đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc như bài viết của Nguyễn Mậu Chính sẽ dễ bị nhiễu loạn thông tin, làm suy giảm niềm tin xã hội, cản trở tiến trình chuyển đổi số - một nhiệm vụ chiến lược có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay.

Do đó, các cấp, các ngành cần tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, làm rõ bản chất, mục tiêu, lợi ích của chuyển đổi số quốc gia, Đề án 06 và định hướng phát triển công dân số ở Việt Nam; chủ động cung cấp thông tin chính xác, minh bạch để người dân hiểu đúng, tin tưởng và đồng hành. Đồng thời, nâng cao vai trò của báo chí chính thống, đội ngũ cán bộ, đảng viên trong việc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng, góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững niềm tin của nhân dân vào con đường chuyển đổi số gắn với định hướng xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã lựa chọn./.
Yêu nước ST!

KIÊN QUYẾT BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, GIỮ VỮNG NIỀM TIN VÀO SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRƯỚC THỀM ĐẠI HỘI XIV.

     Trong thời gian gần đây, lợi dụng bối cảnh chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam, một số đối tượng và trang mạng phản động đã tung ra những bài viết mang danh “phân tích lịch sử”, “so sánh học thuật” giữa Đại hội VI và Đại hội XIV nhằm bóp méo sự thật, gieo rắc hoài nghi, từng bước làm xói mòn niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với vai trò lãnh đạo của Đảng. Những luận điệu này không mới, nhưng được ngụy trang tinh vi hơn, đòi hỏi phải được nhận diện, phản bác một cách kiên quyết, trực diện và không khoan nhượng.

Trước hết, cần khẳng định rõ rằng việc so sánh Đại hội VI - thời điểm đất nước đứng trước yêu cầu đổi mới mô hình phát triển do khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng - với Đại hội XIV trong bối cảnh Việt Nam đang ổn định chính trị, phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế sâu rộng, là sự so sánh khiên cưỡng, phi lịch sử và phản khoa học. Đại hội VI diễn ra khi đất nước vừa ra khỏi chiến tranh, nền kinh tế bao cấp bộc lộ những hạn chế mang tính hệ thống, đời sống nhân dân hết sức khó khăn, đất nước bị bao vây, cấm vận kéo dài. Trong khi đó, sau gần 40 năm Đổi mới, Việt Nam đã vươn lên trở thành quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình, là đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và độc lập, chủ quyền quốc gia.

Việc cố tình gán ghép rằng Đại hội XIV sẽ là một “Đại hội VI mới”, hàm ý đất nước đang rơi vào khủng hoảng toàn diện, thực chất là thủ đoạn chính trị nhằm phủ nhận những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc Đổi mới và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là cách tiếp cận không mới nhưng hết sức thâm độc nhằm phục vụ ý đồ chống phá lâu dài.

Nguy hiểm hơn, các thế lực thù địch còn bóp méo bản chất của đổi mới, xuyên tạc rằng Đảng chỉ “tự thay đổi khi bị dồn vào chân tường”. Luận điệu này cố tình phủ nhận một thực tế hiển nhiên: Đảng Cộng sản Việt Nam là một Đảng cách mạng, luôn biết tự đổi mới, tự chỉnh đốn, lấy lợi ích của dân tộc và nhân dân làm mục tiêu tối thượng. Đổi mới không phải là sự từ bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa, mà là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Chính sự kiên định về mục tiêu, linh hoạt về phương pháp đã tạo nên sức sống bền bỉ của Đảng và của chế độ.

Một thủ đoạn khác cũng cần được vạch trần là việc lợi dụng công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để xuyên tạc thành “đấu đá nội bộ”, “thanh trừng phe phái”. Đây là sự vu cáo trắng trợn, cố tình đảo lộn bản chất của vấn đề. Thực tế cho thấy, công cuộc phòng, chống tham nhũng thời gian qua được triển khai với quyết tâm chính trị rất cao, đồng bộ, bài bản, không có “vùng cấm”, không có ngoại lệ, được đông đảo nhân dân đồng tình, ủng hộ. Việc xử lý nghiêm minh cán bộ sai phạm, kể cả cán bộ cấp cao, không làm suy yếu Đảng, mà ngược lại, khẳng định bản lĩnh cầm quyền, củng cố kỷ luật, kỷ cương, làm trong sạch đội ngũ và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

Đáng chú ý, chúng cho rằng “xã hội Việt Nam đói pháp quyền, doanh nghiệp đói tự do kinh doanh”. Đây là sự đánh tráo khái niệm có chủ ý. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo đảm thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, gắn pháp quyền với ổn định chính trị và công bằng xã hội. Quyền tự do kinh doanh được Hiến pháp bảo đảm, nhưng không đồng nghĩa với tự do vô giới hạn, đứng ngoài pháp luật. Việc tăng cường kỷ cương, xử lý các hành vi vi phạm trong kinh doanh là để bảo vệ môi trường đầu tư lành mạnh, bảo vệ doanh nghiệp làm ăn chân chính và lợi ích chung của xã hội.

Đặc biệt, cần hết sức cảnh giác với những khái niệm mơ hồ, ngụy biện như “mạch ngầm lịch sử bất biến” mà bài viết phản động đưa ra. Đây không phải là khái niệm khoa học, mà là một cách diễn đạt có chủ ý nhằm hợp thức hóa vai trò của các thế lực chống đối, coi chúng như một lực lượng “tất yếu” trong tiến trình lịch sử. Mục đích sâu xa của cách lập luận này là từng bước phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cổ súy cho mô hình đa nguyên, đa đảng - con đường đã được thực tiễn nhiều quốc gia chứng minh là dẫn đến bất ổn chính trị, chia rẽ xã hội và lệ thuộc từ bên ngoài.

Lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, mọi thắng lợi của dân tộc – từ giành độc lập, thống nhất đất nước đến công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay – đều gắn liền với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngược lại, mọi âm mưu phủ nhận, hạ thấp hoặc xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đều đi ngược lại lợi ích căn bản của dân tộc và nhất định sẽ thất bại.

Trước những luận điệu xuyên tạc ngày càng tinh vi, nhiệm vụ đặt ra đối với cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân là hết sức rõ ràng. Trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên cần không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, kiên định lập trường tư tưởng, chủ động nghiên cứu, nắm vững các quan điểm, đường lối của Đảng, đặc biệt là những nội dung cốt lõi liên quan đến Đại hội XIV. Không dao động, không mơ hồ trước những thông tin sai trái; đồng thời, phải dám lên tiếng đấu tranh, phản bác kịp thời, có lý, có tình đối với các quan điểm thù địch, sai trái.

Đối với quần chúng nhân dân, cần tăng cường tuyên truyền, giúp người dân hiểu đúng bản chất của các vấn đề, không chia sẻ, lan truyền thông tin chưa được kiểm chứng, nhất là trên không gian mạng. Mỗi người dân cần trở thành một “lá chắn” trước thông tin xấu độc, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng bằng chính nhận thức và hành động đúng đắn của mình.

Các cấp ủy, tổ chức đảng cần chủ động hơn nữa trong công tác định hướng dư luận, kịp thời cung cấp thông tin chính xác, khách quan, đồng thời kiên quyết vạch trần bản chất phản động, chống phá của các luận điệu sai trái. Đấu tranh tư tưởng trong giai đoạn hiện nay không phải là việc làm hình thức, mà là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đại hội XIV của Đảng là sự kiện chính trị trọng đại, mở ra chặng đường phát triển mới của đất nước. Giữ vững niềm tin, tăng cường đoàn kết, kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với mọi âm mưu xuyên tạc, chống phá, chính là trách nhiệm chính trị của mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân yêu nước. Đó cũng là cách thiết thực nhất để góp phần bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và bảo vệ tương lai của dân tộc Việt Nam./.
Yêu nước ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: NỮ TÌNH BÁO ĐỂ TANG BÁC HỒ GIỮA LÒNG ĐỊCH!

     Đầu tháng 9/1969, khi đang ngồi trong nhiệm sở của địch, tiểu thư Mỹ Nhung được một viên thiếu tá Mỹ báo: “Ông Hồ mất rồi ”!

Dù đã quá quen với các kiểu tin sốc bất ngờ, nhưng chính trong khoảnh khắc đó, Tám Thảo vẫn cảm thấy tim mình đứng sững lại.
 
Nhưng chỉ trong tích tắc sau, bản năng mách bảo cô phải giữ ngay lại bình tĩnh, bởi lúc xúc động dễ sơ hở lộ. Quay mặt ngó lơ, cô đáp lại rất hờ hững: “Vậy hả?” rồi tiếp tục làm việc. Viên thiếu tá nhìn cô dò xét một lúc rồi cũng quay đi.

“Khi trở về nhà tôi chỉ biết ôm ba tôi khóc nức nở như một đứa trẻ. Ba dỗ dành tôi “con khóc sưng mắt thế này ngày mai sao đi làm được” nhưng rồi ông ấy cũng òa lên khóc vì quá đau lòng trước sự ra đi của Bác”, bà Thảo xúc động nhớ lại.

Bà Tám Thảo kể, thời điểm biết tin Bác mất, thành phố Sài Gòn chìm trong tang tóc. Cả tháng trời, dù địch theo dõi ngăn cản gắt gao nhưng trên khắp đường phố, đồng bào vẫn tổ chức lễ truy điệu cho Bác dưới hình thức công khai lẫn bí mật.

Anh em công nhân, các tầng lớp sinh viên, học sinh ngày ngày kính cẩn mặc niệm Bác trong tiếng hát trang nghiêm của bài “Hồn tử sĩ”. Ở nhà lao Chí Hoà, 600 anh chị em tù chính trị sáng nào cũng hát Quốc ca và làm lễ tưởng niệm Người.

Chứng kiến tình cảm thiêng liêng đồng bào dành cho Bác, cảnh sát Cộng hòa cũng chỉ biết làm lơ.

“Hôm đó, báo chí đưa tin Bác mất nhiều, đồng bào ai cũng mua để đọc. Tôi đến nhờ bác xích lô chở đến chỗ làm nhưng bác ấy từ chối vì đang tưởng niệm Bác.Tôi ra chợ mua hoa quả cũng không ai bán vì họ quá buồn trước sự ra đi của Bác”, bà Thảo tâm sự.

Dù đau lòng, nhưng với vị trí của Tám Thảo,dù có thương Bác đến mấy, bà cũng không được phép biểu lộ ra bên ngoài.Tuy nhiên, bằng trí thông minh của mình, Tám Thảo cũng qua mặt được viên sĩ quan tình báo Mỹ đầy kinh nghiệm để hiên ngang chịu tang Người ngay trong lòng địch.

Nhiều tháng liền cô Tám Thảo chỉ mặc chiếc áo trắng để tưởng niệm Bác. Sinh nghi, viên thiếu tá Mỹ hỏi: “Sao cô dạo này toàn mặc áo trắng vậy?”.

“Từ bé tôi đã là tiểu thư, gia đình may cho tôi hàng trăm bộ quần áo. Mấy hôm nay trời nóng quá, tôi muốn thay đổi thời trang một chút nên mặc đồ trắng cho dễ chịu thôi”, nữ tình báo khôn khéo đáp lại. Tên thiếu tá nghe vậy tin ngay.

Bồi hồi nhớ lại chuyện này, bà Tám Thảo nói: “Thực ra làm tình báo đâu có được liều lĩnh làm như vậy, nhưng lúc đó mình đau lòng quá. Kẻ thù nó phải sợ người Việt mình vì mình có những người như Bác chứ? Lúc đó, tụi lính chỗ cô cũng không dám chống lại đồng bào để tang. Tụi nó cũng buồn,nhưng không dám lộ ra vì sợ Tây nghi là Việt Cộng. Cứ nghĩ xem, người như ông Cụ mất, ai mà không khóc thương?”.

Nhìn bề ngoài ai cũng nghĩ Tám Thảo dửng dưng, vô cảm trước sự ra đi của Bác, thế nhưng sau mỗi buổi làm việc về nhà là cô lại chạy vào phòng khóc một mình.

Nữ chiến sĩ tình báo đã hơn 10 năm cận kề giữa sự sống và cái chết vẫn không thể tin rằng, trong đời mình bà lại từng khóc nhiều như những ngày tháng trắng màu tang năm 1969 đó./.
Yêu nước ST.

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: LỰC LƯỢNG VỆ SỸ CẬN VỆ CUBA TRONG BẢO VỆ TỔNG THỐNG VENEZUELA!

     Sự kiện tại Caracas rạng sáng 3/1/2026 có tổng số người thiệt mạng trong vụ việc này là 80 người, thì 32 người là số lượng vệ sĩ cận vệ Cuba thiệt mạng trực tiếp tại dinh tổng thống Miraflores khi cố gắng ngăn chặn toán đặc nhiệm bắt giữ ông Maduro.

Xem con số này, nhiều người phải giật mình đặt câu hỏi tại sao số lượng nhân sự an ninh của Cuba đông vậy. Đó là bởi vì Venezuela sử dụng vệ sĩ và nhân viên an ninh Cuba để bảo vệ các nguyên thủ quốc gia, đặc biệt là dưới thời Hugo Chávez và ông Maduro. Đây một chiến lược kết hợp giữa lòng tin chính trị, nhu cầu chống đảo chính và các thỏa thuận chiến lược giữa hai nước này. Cuba vốn nổi tiếng với G2, cơ quan tình báo có mạng lưới tình báo tinh nhuệ, và khả năng tình báo phản gián dày dạn kinh nghiệm bậc nhất khu vực Mỹ Latin. Các nhân viên an ninh Cuba không chỉ đóng vai trò là "lá chắn sống", mà còn là các chuyên gia phản gián lão làng. Bằng chứng đã chứng minh rằng họ đã làm thất bại hàng trăm cuộc ám sát chủ tịch Fidel Castro do CIA chủ mưu. Còn ở Venezuela, họ chịu trách nhiệm giám sát chính các sĩ quan quân đội Venezuela để phát hiện sớm các mầm mống bất mãn. Theo các báo cáo tình báo quốc tế, đội ngũ này thiết lập một hệ thống an ninh đa lớp, nơi các vệ sĩ Cuba kiểm soát vòng trong cùng sát nhất với nguyên thủ, đảm bảo rằng ngay cả các tướng lĩnh cấp cao của Venezuela cũng khó có thể dễ dàng tiếp cận tổng thống nếu không được phép.

Xuất phát từ lý do thiếu tin tưởng tuyệt đối của các nhà lãnh đạo Venezuela đối với lực lượng quân đội và cảnh sát trong nước. Sau cuộc đảo chính hụt năm 2002 nhằm lật đổ ông Hugo Chavez, chính quyền Venezuela trở nên cực kỳ nhạy cảm với khả năng bị phản bội từ nội bộ. Các nhân viên an ninh Cuba được xem là "người ngoại tộc", không có mối liên hệ với các phe phái chính trị hay gia đình tại Venezuela, do đó họ ít có khả năng bị mua chuộc hoặc tham gia vào các âm mưu lật đổ tại địa phương. Đối với Maduro, sự trung thành của lực lượng này không dựa trên quốc tịch, mà dựa trên sự sống còn của ý thức hệ chung. Mối quan hệ hai nước này còn dựa trên một sự trao đổi chiến lược về kinh tế và chính trị. Venezuela là quốc gia có trữ lượng dầu mỏ cực kỳ khổng lồ, họ cung cấp dầu giá rẻ và viện trợ tài chính cho Cuba trong nhiều thập kỷ. Đổi lại, Cuba xuất khẩu "nguồn lực con người", bao gồm các bác sĩ, giáo viên, và đặc biệt là các cố vấn quân sự, an ninh. Đây là một liên minh sinh tồn: Nếu chính quyền xã hội chủ nghĩa ở Venezuela sụp đổ, thì nền kinh tế Cuba sẽ phải chịu tổn thất rất nặng nề. Do đó, bảo vệ nguyên thủ Venezuela cũng chính là bảo vệ lợi ích quốc gia và sự ổn định của chính chính quyền Cuba. Vậy nên đối với các nhân sự an ninh Cuba, việc bảo vệ nguyên thủ Venezuela không chỉ là nhiệm vụ chuyên môn mà còn là nhiệm vụ sống còn của chính thể Cuba. Họ hiểu rằng nếu chính quyền ông Maduro sụp đổ, nguồn viện trợ năng lượng, và liên minh chiến lược giữa hai nước sẽ chấm dứt, gây ra thảm họa kinh tế cho quê hương. Sự ràng buộc này tạo ra sự quyết tâm và tinh thần sẵn sàng hy sinh cao hơn nhiều so với các đơn vị bản địa, những người có thể lựa chọn đầu hàng hoặc đào ngũ để bảo toàn mạng sống khi tình thế thay đổi.

Và đó là những lý do rõ ràng nhất để hiểu tỷ lệ thương vong rất cao của các nhân viên an ninh Cuba trong các tình huống xung đột trực tiếp, với vai trò "lá chắn cuối cùng" của nguyên thủ Venezuela. Điều này không phải là ngẫu nhiên mà là kết quả của một cấu trúc an ninh đã được tính toán kỹ lưỡng./.
Ảnh: Người dân Cuba tham gia cuộc biểu tình ở Havana để thể hiện sự đoàn kết với Venezuela sau khi Tổng thống Maduro bị Mỹ bắt giữ.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: CÔNG AN CẢNH BÁO NÓNG “NGƯỜI DÂN GỠ NGAY ỨNG DỤNG SAU TRƯỚC KHI BỊ MẤT SẠCH TIỀN”!

     Đừng vì tò mò mà tải app “theo dõi người yêu” trên TikTok, Facebook: Coi chừng bị chiếm quyền điện thoại, mất sạch tiền trong phút mốt.

Gần đây, Công an tỉnh Hưng Yên đã liên tiếp phát đi cảnh báo nóng về sự xuất hiện của hàng loạt ứng dụng nấp bóng dưới tên gọi “quản lý gia đình” hay “định vị người thân”. Được quảng cáo rầm rộ trên các nền tảng mạng xã hội, thực chất đây là những cái bẫy chứa mã độc nguy hiểm, có khả năng âm thầm chiếm đoạt dữ liệu và tài sản của người dùng chỉ sau một cú chạm.

Cụ thể, trên các nền tảng phổ biến như Facebook hay TikTok, người dùng dễ dàng bắt gặp những lời mời chào hấp dẫn về các ứng dụng có tên gọi kích thích sự tò mò như “Phần mềm quản lý gia đình”, “App định vị người thân” hay táo bạo hơn là “Đọc trộm tin nhắn vợ chồng”. Kèm theo đó là những hình ảnh và video minh họa tính năng giám sát tường tận, đánh trúng vào tâm lý muốn kiểm soát các mối quan hệ của nhiều người dùng nhẹ dạ.

Tuy nhiên, đằng sau lớp vỏ bọc tiện ích đó là các phần mềm gián điệp tinh vi. Ngay khi người dùng tải về cài đặt, thiết bị sẽ lập tức bị mã độc xâm nhập. Chúng âm thầm thu thập toàn bộ dữ liệu cá nhân từ danh bạ, tin nhắn, lịch sử cuộc gọi cho đến thông tin đăng nhập mạng xã hội và nguy hiểm nhất là tài khoản ngân hàng. Từ những dữ liệu này, kẻ gian có thể dễ dàng định vị, nghe lén, quay lén nạn nhân hoặc chiếm quyền điều khiển điện thoại để thực hiện các hành vi tống tiền, lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc phát tán thông tin nhạy cảm.

Cơ quan chức năng cũng nhấn mạnh, việc người dân tự ý tìm kiếm, sử dụng hay phát tán các phần mềm nghe lén, xâm nhập trái phép thiết bị của người khác không chỉ mang lại rủi ro cho bản thân mà còn là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Những hành động này có thể bị xử lý hình sự theo quy định tại Điều 289 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017).

Để tránh rơi vào cảnh “tiền mất tật mang”, Công an tỉnh Hưng Yên khuyến cáo người dân cần tuyệt đối cảnh giác, tránh xa việc tải hoặc cài đặt các ứng dụng không rõ nguồn gốc, đặc biệt là những phần mềm được quảng cáo có tính năng “theo dõi” hay “đọc trộm”. Người dùng cần tuân thủ nguyên tắc không cung cấp thông tin cá nhân, tài khoản ngân hàng hay mã OTP vào các đường link lạ; thường xuyên cập nhật bảo mật và chỉ tải ứng dụng từ các kho chính thống như Google Play hoặc App Store. Nếu phát hiện các tài khoản mạng xã hội quảng cáo ứng dụng có dấu hiệu lừa đảo, người dân cần báo ngay cho cơ quan công an để được hướng dẫn và xử lý kịp thời./.

Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: 100% CỬ TRI NHẤT TRÍ GIỚI THIỆU ĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG THAM GIA ỨNG CỬ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI KHÓA XVI

     Chiều 8-1, Văn phòng Bộ Quốc phòng tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi công tác đối với Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại biểu Quốc hội Khóa XV, người được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội Khóa XVI, nhiệm kỳ 2026-2031.

Tại hội nghị, các đại biểu nghe Trung tướng Nguyễn Viết Tuyên, Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng, quán triệt mục đích, yêu cầu; giới thiệu danh sách người ứng cử đại biểu Quốc hội gồm 1 đồng chí là Đại tướng Phan Văn Giang; thông báo tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội. Tiếp đó, thư ký hội nghị đọc tiểu sử tóm tắt của Đại tướng Phan Văn Giang để các cử tri tham gia đóng góp ý kiến.

Các ý kiến phát biểu tại hội nghị đều biểu thị sự đồng thuận và nhất trí khẳng định, Đại tướng Phan Văn Giang có lý lịch trong sạch, rõ ràng; lập trường tư tưởng chính trị kiên định, vững vàng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân; phẩm chất đạo đức trong sáng, lối sống trung thực, khiêm tốn, giản dị; tác phong công tác dân chủ, công bằng, thẳng thắn, chính trực, liêm chính, nói đi đôi với làm, không cơ hội, vụ lợi. Đồng chí luôn tôn trọng, lắng nghe ý kiến tập thể; gần gũi, quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, chiến sĩ và hậu phương Quân đội; luôn xây dựng và tăng cường mối đoàn kết nội bộ, giải quyết tốt mối quan hệ công tác với các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương, có uy tín cao đối với Đảng, Nhà nước, nhân dân và toàn quân.

Đại tướng Phan Văn Giang có sức khỏe tốt, tư duy nhạy bén, tầm nhìn chiến lược, kiến thức toàn diện về quân sự, quốc phòng, văn hóa, xã hội; có lý luận và kinh nghiệm thực tiễn phong phú trong công tác quản lý, chỉ huy, điều hành Quân đội. 

Là cán bộ được đào tạo cơ bản, trưởng thành trong thực tiễn chiến đấu, học tập và công tác; được Đảng, Nhà nước, Quân đội giao đảm nhiệm nhiều cương vị quan trọng, trên các cương vị công tác luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, có nhiều đóng góp quan trọng trong sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng-an ninh và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trên cương vị là đại biểu Quốc hội khóa XV, Đại tướng Phan Văn Giang luôn chấp hành nghiêm chương trình, kế hoạch công tác, chế độ sinh hoạt; nêu cao trách nhiệm, tích cực tham mưu xây dựng chủ trương, đường lối phát triển đất nước; chỉ đạo xây dựng, hoàn thiện thể chế về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân và xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân trong tình hình mới.

Trên cương vị là Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Đại tướng Phan Văn Giang chủ động đề xuất với Ban Thường vụ Quân ủy Trung ương, Quân ủy Trung ương triển khai thực hiện các nghị quyết, kết luận, đề án, luật về quân sự, quốc phòng bảo đảm chất lượng với nhiều chính sách vượt trội, phù hợp với đặc thù quân sự và yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Chỉ đạo các cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước về quốc phòng đúng chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tiến hành đồng bộ các giải pháp xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của toàn quân. Chỉ đạo triển khai đồng bộ, hiệu quả các giải pháp nâng cao sức mạnh, trình độ và khả năng SSCĐ của Quân đội; các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Quân ủy Trung ương về tiếp tục điều chỉnh tổ chức Quân đội tinh, gọn, mạnh; tổ chức quân sự địa phương phù hợp với điều chỉnh tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp…

Phát biểu tại hội nghị, Đại tướng Phan Văn Giang trân trọng cảm ơn tình cảm và những ý kiến đóng góp chân thành của các cử tri.

Đại tướng Phan Văn Giang nhấn mạnh sẽ luôn phát huy hết tinh thần trách nhiệm, thực hiện tốt vai trò của người đại biểu dân cử; dành nhiều thời gian để gặp gỡ, tiếp xúc với cử tri; luôn lắng nghe và tổng hợp các ý kiến phản ánh, kiến nghị, những tâm tư, nguyện vọng của cử tri để đề xuất với cơ quan có thẩm quyền về những yêu cầu mà cử tri mong đợi. Kịp thời đôn đốc, theo dõi, giám sát việc giải quyết các kiến nghị của cử tri theo trách nhiệm giám sát của người đại biểu Quốc hội.

Đồng thời, tiếp tục nỗ lực làm việc với tinh thần trách nhiệm cao nhất; thường xuyên đổi mới, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm; nói đi đôi với làm; thực hiện tốt việc nêu gương; không ngừng nghiên cứu học tập để nâng cao trình độ, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Tại hội nghị, 100% cử tri đã biểu quyết nhất trí giới thiệu Đại tướng Phan Văn Giang tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI./.


Yêu nước ST.