Bài viết trên blog “Thế kỷ mới Media” với tiêu đề “Đảng Cộng sản Việt Nam so với 40 năm trước: Đại hội XIV và Đại hội VI - Tương đồng, dị biệt và mạch ngầm lịch sử bất biến” là một sản phẩm mang nặng dụng ý chính trị thù địch, xuyên tạc bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và phủ nhận những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của công cuộc đổi mới gần 40 năm qua. Nội dung bài viết cố tình gieo rắc tâm lý hoài nghi, bi quan, kích động luận điệu “khủng hoảng hệ thống”, phủ bóng đen lên bối cảnh chuẩn bị và tổ chức Đại hội XIV của Đảng, từ đó cổ vũ đòi hỏi “từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa”, “đa nguyên, đa đảng”, “phi chính trị hóa lực lượng vũ trang”, đi ngược lợi ích dân tộc, trái với Hiến pháp và pháp luật hiện hành.
Trước hết, cần vạch rõ thủ đoạn cơ bản của tác giả bài viết là trộn lẫn một số hiện tượng, khó khan còn tồn tại trong đời sống với những suy diễn chủ quan, ác ý để tạo bức tranh u ám, bế tắc. Từ việc viện dẫn tình trạng suy giảm niềm tin xã hội, những vụ việc tiêu cực, tham nhũng, cũng như các tranh luận trong chuẩn bị nhân sự, văn kiện Đại hội XIV, tác giả đã thổi phồng thành “sự sụp đổ uy tín hệ thống”, “đấu đá phe phái” trong Đảng, từ đó quy kết Đảng “mất khả năng tự đổi mới”, “lặp lại vòng xoáy khủng hoảng như trước Đại hội VI”. Lối lập luận này cố tình bỏ qua toàn bộ tiến trình hơn ba thập niên Đảng kiên trì xây dựng, chỉnh đốn, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực; cố tình không nhìn nhận sự công khai, minh bạch và tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật” mà Đảng đã thể hiện trong nhiều nhiệm kỳ gần đây. Việc Đảng chỉ ra những hạn chế, yếu kém của chính mình, đề ra các nhiệm vụ, giải pháp chỉnh đốn trong các văn kiện không thể bị suy diễn thành “tự thú bế tắc”, trái lại là minh chứng sinh động cho năng lực tự hoàn thiện, tự đổi mới của một đảng cách mạng chân chính.
Trên bình diện lý luận, chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định giai cấp công nhân, nhân dân lao động muốn giải phóng mình khỏi áp bức, bóc lột tư bản chủ nghĩa phải có chính đảng cách mạng, được trang bị lý luận khoa học, có tổ chức chặt chẽ, gắn bó mật thiết với quần chúng. Ở Việt Nam, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam và những thắng lợi to lớn của cách mạng đã chứng minh tính đúng đắn của luận điểm đó: Từ cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh, Cách mạng Tháng Tám 1945, kháng chiến chống thực dân, đế quốc, đến đại thắng mùa Xuân 1975, thống nhất đất nước, là cả một chặng đường dài lịch sử đều gắn liền với vai trò lãnh đạo của Đảng. Tính chính danh của Đảng bắt nguồn từ lợi ích mà Đảng đại biểu đó là: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân, chứ không dựa trên bất cứ sự ban phát, thừa nhận nào từ bên ngoài hoặc các lực lượng đối lập. Những luận điệu phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, đòi “đa nguyên, đa đảng” thực chất là nhằm tước bỏ sự lãnh đạo chính trị thống nhất, mở đường cho sự thao túng của các thế lực phản động, cơ hội, đi ngược lợi ích căn bản của nhân dân lao động và chủ quyền quốc gia.
Đặt trong bối cảnh chuẩn bị Đại hội XIV, cần nhấn mạnh rằng Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời luôn vận dụng, phát triển sáng tạo phù hợp với điều kiện thực tiễn đất nước và xu thế thời đại. Các dự thảo văn kiện Đại hội XIV xác định rõ mục tiêu “phát triển nhanh và bền vững đất nước trên nền tảng ổn định chính trị - xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ”, tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy dân chủ, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là sự kế thừa và phát triển đường lối đổi mới được khởi xướng từ Đại hội VI, trên cơ sở tổng kết sâu sắc 40 năm đổi mới và cục diện quốc tế mới, hoàn toàn trái ngược với luận điệu cho rằng Đảng “mất phương hướng”, “không đưa ra được tầm nhìn mới”.
Thực tiễn gần 40 năm đổi mới là câu trả lời hùng hồn nhất đối với mọi sự xuyên tạc. Năm 1986, Việt Nam lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội nặng nề, lạm phát có năm lên tới hơn 700%, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn, đất nước vừa bước ra khỏi chiến tranh lại phải đối mặt bao vây, cấm vận. Trên nền tảng tư duy đổi mới toàn diện, đồng bộ, Đảng đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, từng bước chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vừa phát triển kinh tế nhiều thành phần, chủ động hội nhập quốc tế, vừa giữ vững vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhờ đó, nền kinh tế đã thoát khỏi khủng hoảng, tăng trưởng liên tục trong thời gian dài, Việt Nam từ nước thiếu đói trở thành quốc gia xuất khẩu gạo hàng đầu, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập sâu rộng vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
Các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội đã có bước tiến vượt bậc: Từ một trong những nước nghèo nhất thế giới, mức thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đã vươn lên gấp nhiều lần so với thời kỳ trước đổi mới; tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh theo chuẩn nghèo đa chiều; Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá là điểm sáng về thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ và phát triển bền vững. Cùng với đó, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được cải thiện rõ rệt; diện mạo nông thôn, đô thị đổi thay; các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, khoa học - công nghệ có nhiều thành tựu mới; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng cao. Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam liên tục tăng lên, tuổi thọ trung bình cao hơn nhiều so với giai đoạn trước đổi mới; vị thế, uy tín quốc tế của đất nước được khẳng định thông qua việc đảm nhiệm nhiều trọng trách tại các tổ chức, diễn đàn khu vực và toàn cầu.
Tất nhiên, trong quá trình phát triển, Việt Nam không tránh khỏi những hạn chế, yếu kém, thậm chí sai lầm, khuyết điểm, đặc biệt là tình trạng tham nhũng, tiêu cực, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ, đảng viên; cơ cấu kinh tế còn nhiều bất cập; chênh lệch giàu, nghèo, chất lượng tăng trưởng, ô nhiễm môi trường, các vấn đề an ninh phi truyền thống đặt ra không ít thách thức. Tuy nhiên, chính Đảng là lực lượng đi đầu nhận diện, chỉ ra và kiên quyết đấu tranh khắc phục những hạn chế đó, với quyết tâm xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng và đảng viên. Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực những năm qua với phương châm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” là minh chứng rõ ràng cho bản lĩnh chính trị, cho ý chí tự đổi mới, tự chỉnh đốn của Đảng; điều mà các thế lực thù địch cố tình bóp méo thành “thanh trừng phe phái” trong những luận điệu xuyên tạc.
Bài viết trên blog “Thế kỷ mới Media” còn cố gắng khoét sâu tâm lý so sánh Đại hội XIV với Đại hội VI để phủ nhận thành tựu đổi mới, cho rằng “mạch ngầm lịch sử bất biến” là “khủng hoảng lặp lại”. Đây là phép so sánh khiên cưỡng, phi lịch sử. Đại hội VI diễn ra trong bối cảnh đất nước vừa thống nhất, lại bị bao vây cấm vận, nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bộc lộ nhiều yếu kém; còn Đại hội XIV được chuẩn bị trong bối cảnh Việt Nam đã có gần 40 năm đổi mới, đạt được những thành tựu to lớn, vị thế quốc tế được nâng cao, đồng thời đứng trước những thời cơ và thách thức của cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số, cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc. Tính “tương đồng” nếu có chỉ là ở chỗ Đảng vẫn giữ vững bản lĩnh nhìn thẳng vào sự thật, đổi mới tư duy, đề ra đường lối phát triển phù hợp với tình hình mới trên nền tảng kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Từ những phân tích trên, có thể khẳng định: mọi luận điệu phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, dù được nguỵ trang dưới hình thức “trao đổi học thuật”, “nhận định khách quan”, thực chất vẫn là sự công kích chính trị, nhằm làm suy yếu lòng tin của nhân dân, tạo điều kiện cho các thế lực cơ hội, phản động lợi dụng. Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch không chỉ là nhiệm vụ của cơ quan bảo vệ pháp luật, của lực lượng chuyên trách bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, mà còn là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân yêu nước. Mỗi người cần nêu cao cảnh giác, tỉnh táo trước những thông tin lệch lạc trên không gian mạng; chủ động trang bị tri thức lý luận chính trị, nắm vững những thành tựu đổi mới của đất nước, tin tưởng vào đường lối đúng đắn của Đảng, đồng thời tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, góp phần đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới./.
Môi trường ST.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét