Đó là năm 1942. Khi đó thế chiến 2 bùng nổ, Ba Lan là nơi đang xảy ra cuộc chiến vô cùng khốc liệt giữa 2 cường quốc Đức và Liên Xô. Stalin lãnh tụ của Liên Xô lúc đó trong vai trò lãnh đạo tối cao của Liên Xô và Hồng Quân chống lại Đức Quốc xã trong thế chiến thứ hai.
Đức Quốc xã (Nazi Germany) là chế độ độc tài toàn trị ở Đức từ năm 1933-1945, do Adolf Hitler và Đảng Quốc xã (NSDAP) lãnh đạo, nổi bật với hệ tư tưởng phân biệt chủng tộc cực đoan, chủ nghĩa bài Do Thái và bành trướng lãnh thổ, gây ra Thế chiến II và Holocaust. Họ coi người German là chủng tộc thượng đẳng và thực hiện diệt chủng đối với người Do Thái và các nhóm khác.
Lúc đó người dân Ba Lan bị ép phải rời đi nơi khác. Họ rời bỏ quê hương vào các trại lao động ở những vùng băng tuyết héo lánh.
Giữa Ấn Độ Dương, một con tàu lênh đênh như một chiếc quan tài nổi.
Trên tàu là 740 đứa trẻ Ba Lan ,những đứa trẻ mồ côi sống sót từ các trại lao động nơi cha mẹ chúng đã chết vì đói, bệnh tật và kiệt sức. Chúng trốn thoát được sang Iran, nhưng cơn ác mộng chưa kết thúc: không một quốc gia nào muốn nhận chúng.
Hết cảng này đến cảng khác dọc bờ biển Ấn Độ, Đế quốc Anh ,cường quốc lớn nhất thời đó ,đóng sập cửa trước mặt chúng.
“Không phải trách nhiệm của chúng tôi. Hãy đi nơi khác.”
Thức ăn cạn dần.
Thuốc men không còn.
Và hy vọng, thứ duy nhất giúp những đứa trẻ sống sót đến lúc này, cũng đang tắt dần.
Maria, 12 tuổi, nắm chặt tay cậu em 6 tuổi. Em đã hứa với người mẹ hấp hối rằng sẽ bảo vệ em trai. Nhưng làm sao để bảo vệ một người khi cả thế giới đã quyết định rằng họ không đáng được sống?
Khi đó, tin tức đến được một cung điện nhỏ ở Nawanagar, Gujarat.
Người cai trị nơi ấy là Jam Sahib Digvijay Singhji.
Một tiểu vương dưới sự thống trị của Đế quốc Anh. Không quân đội, không quyền lực thật sự với các cảng biển, không nghĩa vụ phải can thiệp.
Các cố vấn nói với ông:
“Có 740 đứa trẻ đang mắc kẹt trên biển sau khi người Anh từ chối cho họ cập bến.”
Digvijay Singhji bình tĩnh hỏi:
“Bao nhiêu đứa trẻ?”
“Bảy trăm bốn mươi, thưa Bệ hạ.”
Một khoảng lặng.
Rồi ông nói:
“Người Anh có thể kiểm soát các cảng của ta. Nhưng họ không kiểm soát được lương tâm của ta.
Những đứa trẻ đó sẽ cập bến tại Nawanagar.”
Họ cảnh báo:
“Nếu ngài chống lại người Anh thì…”
“Ta sẽ chịu.”
Và ông gửi thông điệp đã cứu 740 sinh mạng:
“Các con được chào đón ở đây.”
Tháng 8 năm 1942, con tàu tiến vào cảng dưới cái nắng mùa hè khắc nghiệt.
Những đứa trẻ bước xuống như những cái bóng ,quá yếu để khóc, đã quen với đau khổ đến mức không còn dám hy vọng.
Vị Maharaja đứng chờ chúng trên bến cảng.
Mặc áo trắng, ông quỳ xuống để ngang tầm mắt bọn trẻ và nói qua phiên dịch những lời mà chúng chưa từng được nghe kể từ ngày cha mẹ qua đời:
“Các con không còn là trẻ mồ côi nữa.
Các con là con của ta.
Ta là Bapu của các con, là cha của các con.”
Ông không dựng một trại tị nạn tạm bợ.
Ông xây dựng một mái nhà.
Tại Balachadi, ông tạo nên một Ba Lan thu nhỏ trên đất Ấn Độ:
giáo viên người Ba Lan, món ăn gợi ký ức quê hương, bài hát tuổi thơ, lớp học, khu vườn, thậm chí một cây thông Noel dưới bầu trời nhiệt đới.
“Nỗi đau luôn cố xóa bỏ con người ta,” ông nói.
“Ngôn ngữ, văn hóa, truyền thống của các con là thiêng liêng. Chúng sẽ sống ở đây.”
Trong bốn năm, khi cả thế giới chìm trong chiến tranh, những đứa trẻ ấy sống không phải như người tị nạn ,mà như một gia đình.
Vị Maharaja đến thăm, nhớ tên từng đứa, tổ chức sinh nhật, và an ủi những bậc cha mẹ ở phương xa đã tuyệt vọng nghĩ rằng sẽ không bao giờ gặp lại con mình.
Ông chi trả bác sĩ, thức ăn, quần áo và mọi thứ cần thiết bằng chính tài sản của mình.
Khi chiến tranh kết thúc và đến lúc chia tay, rất nhiều người đã khóc.
Balachadi là ngôi nhà duy nhất mà họ từng biết.
Ngày nay, những đứa trẻ ấy đã trở thành bác sĩ, giáo viên, cha mẹ, ông bà.
Tại Ba Lan, các quảng trường và trường học mang tên Jam Sahib Digvijay Singhji. Ông được trao huân chương cao quý nhất của đất nước.
Nhưng tượng đài thật sự của ông không làm bằng đá.
Nó được tạo nên từ 740 cuộc đời.
Và những cuộc đời ấy vẫn kể cho con cháu mình câu chuyện về một vị vua Ấn Độ, người mà khi cả thế giới đóng sập cửa, đã nhìn vào nỗi đau và nói:
“Từ nay, các con là con của ta.”
Cuối cùng nhờ có lãnh tụ Stalin của Liên Xô lúc đó đã dẫn dắt cuộc Chiến tranh Vệ quốc Vĩ đại (1941-1945) đánh bại phe Phát xít, cùng với các nước Đồng Minh khác, Liên Xô đóng vai trò quan trọng trong kết thúc Thế chiến II. Stalin kêu gọi toàn dân Liên Xô đứng lên kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc trước cuộc xâm lược của Hitler. Chiến Thắng này góp phần quan trọng vào việc giải phóng các nước Trung và Đông Âu cũng như kết thúc chiến tranh Thế chiến thứ hai./.
Môi trường ST.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét