Thứ Tư, 25 tháng 3, 2026

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TOÀN VĂN PHÁT BIỂU BẾ MẠC HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 2, KHÓA XIV CỦA TỔNG BÍ THƯ TÔ LÂM!

     Chiều 25/3/2026, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ 2 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ trân trọng giới thiệu phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm.

Thưa các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Trung ương Đảng,

Thưa các đồng chí Đại biểu tham dự Hội nghị,

Sau 03 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, trách nhiệm, dân chủ, thẳng thắn, sâu sắc, Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV đã hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra. Trung ương đã thống nhất rất cao đối với những vấn đề lớn, hệ trọng của Đảng và đất nước, đặc biệt là nhóm nội dung về công tác tổ chức, cán bộ và các quy định nền tảng của Đảng. Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tôi trân trọng cảm ơn và đánh giá cao tinh thần làm việc quyết liệt của các đồng chí Trung ương, các cơ quan giúp việc và toàn thể các đồng chí tham dự Hội nghị.

Để kết thúc Hội nghị, Tôi xin khái quát và nhấn mạnh 5 nội dung công việc:

Thứ nhất: Về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng.
Công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng trong giai đoạn mới cần tiếp tục được chú trọng, tăng cường, tạo nền tảng vững chắc để nâng cao bản lĩnh, tính tiền phong, tính chiến đấu và năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Tôi đề nghị cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng tiếp tục quán triệt sâu sắc, thực hiện thật nghiêm túc, nhất quán "Bốn kiên định" về chính trị, tư tưởng.

Đó là kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là cơ sở để Đảng ta giữ vững bản chất cách mạng, trung thành với những nguyên lý cốt lõi, đồng thời vận dụng linh hoạt, phát triển sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và yêu cầu của thời đại.

Đó là kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và Chủ nghĩa xã hội. Đây là sự lựa chọn mang tính lịch sử, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam, là mục tiêu, lý tưởng của Đảng ta. Trong bất cứ hoàn cảnh, điều kiện nào, càng trước khó khăn, thách thức, càng phải giữ vững niềm tin, bản lĩnh và ý chí đối với con đường Đảng ta, Nhà nước ta, Nhân dân ta đã chọn.

Đó là kiên định đường lối đổi mới của Đảng. Đây là yêu cầu khách quan, là quá trình cách mạng có tính quy luật, để không ngừng thúc đẩy tiến bộ xã hội, giải phóng sức sản xuất, khơi thông mọi nguồn lực, mở rộng không gian phát triển và nâng cao vị thế đất nước. Kiên định tinh thần đổi mới đúng định hướng, đổi mới có nguyên tắc, đổi mới vì sự phát triển của đất nước và hạnh phúc của Nhân dân.

Đó là kiên định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa. Nhằm bảo đảm giữ vững sự thống nhất về ý chí, hành động, giữ vững kỷ luật, kỷ cương và vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng. Giữ cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh về mọi mặt, củng cố niềm tin sâu sắc trong nhân dân về một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên Chủ nghĩa xã hội.

Quy định về Công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng được ban hành trong Hội nghị lần này chính là sự cụ thể hóa "Bốn kiên định" nêu trên.

Thứ hai: Về mục tiêu tăng trưởng kinh tế "hai con số".
Đây là đòi hỏi khách quan từ yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới và khát vọng vươn lên của cả dân tộc. Chúng ta không chấp nhận tăng trưởng thấp. Phải kiên trì thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, bền vững, thực chất.

Vì vậy, các ban, bộ, ngành, địa phương, người dân, doanh nghiệp cần quán triệt sâu sắc " B ốn nguyên tắc" cốt lõi sau:

Một là: tăng trưởng thực chất. Tức là không đánh đổi chất lượng, tính bền vững lấy tốc độ tăng trưởng đơn thuần. Tốc độ tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với chất lượng tăng trưởng dựa trên tăng năng suất các nhân tố tổng hợp, nâng cao chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh quốc gia và giá trị gia tăng thực chất. Mỗi phần trăm tăng trưởng GDP phải chứa đựng hàm lượng tri thức và giá trị gia tăng cao hơn. Đảm bảo tăng trưởng hôm nay không làm tổn hại đến nền tảng phát triển của ngày mai, không làm suy giảm nguồn lực đối với thế hệ tương lai của đất nước. Kiên quyết loại bỏ tư duy chạy theo thành tích. Nếu chỉ chạy theo tốc độ mà xem nhẹ chất lượng thì tăng trưởng sẽ không bền vững và cái giá phải trả sẽ rất đắt.

Hai là: kiên định nguyên tắc ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo các cân đối lớn. Đây là điều kiện tiên quyết, trụ cột quyết định khả năng vận hành linh hoạt, an toàn và hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế. Việc điều hành chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác phải theo hướng chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ, vừa hỗ trợ tăng trưởng hợp lý, vừa củng cố niềm tin thị trường, ổn định kỳ vọng và nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc bên ngoài.

Ba là: tận dụng hiệu quả mọi nguồn lực sẵn có, tập trung ưu tiên cho các dự án trọng điểm và thúc đẩy hợp tác công - tư, để gia tăng hiệu quả đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Việc sử dụng nguồn lực phải gắn với nguyên tắc khoa học, hạch toán kinh tế xã hội rõ ràng, đảm bảo hiệu quả sử dụng vốn, khắc phục tình trạng dàn trải, kém hiệu quả, lãng phí. Các dự án được lựa chọn phải có tác động chiến lược đối với toàn bộ nền kinh tế, tạo ra giá trị gia tăng thực chất và góp phần củng cố các kết cấu hạ tầng then chốt của quốc gia.

Bốn là: tăng trưởng kinh tế cao phải đảm bảo phục vụ lợi ích, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và công bằng xã hội. Mọi chính sách, dự án và nguồn lực đầu tư đều phải hướng tới việc tạo ra giá trị thực chất cho người dân, nâng cao thu nhập, góp phần giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển, nâng cao phúc lợi xã hội và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của mọi tầng lớp nhân dân. Đảm bảo thành quả tăng trưởng kinh tế phải được chia sẻ công bằng, tạo nền tảng vững chắc cho sự đồng thuận xã hội và phát triển bền vững.

Trên cơ sở "Bốn nguyên tắc" cốt lõi này, việc triển khai mục tiêu tăng trưởng "hai con số" phải được tiến hành một cách nhất quán, đồng bộ và kiên định, với sự chỉ đạo tập trung cao của Trung ương, sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban, bộ, ngành, địa phương và toàn bộ hệ thống chính trị.

Để tạo "động lực của động lực" cho phát triển , Trung ương cần sớm xây dựng Nghị quyết về mô hình phát triển đất nước trong giai đoạn mới dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để Hội nghị Trung ương 3- Khóa XIV xem xét, quyết định.

Thứ ba: Về phát huy thế mạnh mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Mô hình chính quyền địa phương 2 cấp hiện nay không chỉ là mô hình tổ chức hành chính mới, mà còn là "Phương thức quản trị địa phương mới", nhằm bỏ tầng nấc trung gian để tổ chức vận hành bộ máy chính quyền cơ sở thông suốt, với nguồn lực được phân bổ hợp lý, công nghệ và dữ liệu được sử dụng hiệu quả, phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn.

Trước hết, phải xác định đây là một cuộc cải cách về quản trị, chứ không đơn thuần là một sự điều chỉnh về tổ chức bộ máy. Nếu chỉ dừng lại ở việc giảm tầng nấc trung gian, sáp nhập đầu mối, tinh giản hình thức, mà không đồng thời đổi mới cơ chế phân quyền, phân cấp, ủy quyền, không thiết kế lại quy trình xử lý công việc, không chuẩn hóa hệ thống dữ liệu, không làm rõ trách nhiệm người đứng đầu, không chuyển mạnh phương thức phục vụ từ hành chính quản lý sang hành chính phục vụ, kiến tạo phát triển thì hiệu quả cải cách sẽ rất hạn chế.

Tiếp theo, phải bảo đảm nguyên tắc cấp tỉnh mạnh về chiến lược, cấp xã mạnh về thực thi. Cấp tỉnh không sa vào xử lý sự vụ, làm thay cấp dưới, ôm đồm những việc cơ sở có thể làm được, mà phải tập trung vào những vấn đề mang tính quy hoạch, chiến lược, đầu tư lớn, điều phối nguồn lực, quản trị rủi ro, kiểm tra, giám sát và bảo đảm tính thống nhất, liên kết trong toàn địa bàn, trong vùng. Ngược lại, cấp xã phải được trao điều kiện về nguồn lực để tạo không gian phát triển bên cạnh nhiệm vụ thực sự trở thành nơi giải quyết các công việc trực tiếp gắn với người dân, doanh nghiệp, địa bàn, đời sống hằng ngày, an sinh xã hội, trật tự cơ sở, thủ tục thiết yếu và các yêu cầu cấp bách từ thực tiễn.

Đồng thời phân quyền phải đi liền với phân bổ nguồn lực, nâng cao năng lực và hoàn thiện công cụ kiểm soát. Không thể giao thêm nhiệm vụ cho cấp xã mà không giao tương xứng về cơ chế, biên chế, ngân sách, dữ liệu, hạ tầng số và cơ chế giám sát, kiểm tra phù hợp. Vì vậy, phải đảm bảo phương châm: giao quyền đến đâu, bảo đảm nguồn lực đến đó; phân cấp đến đâu, kiểm soát chặt chẽ đến đó; trao nhiệm vụ đến đâu, nâng cao năng lực tương ứng đến đó.

Cùng với đó việc điều hành hoạt động mô hình chính quyền địa phương 2 cấp phải được thực hiện với tư duy linh hoạt, khoa học, sát thực tiễn, chống rập khuôn, máy móc. Không thể lấy một khuôn mẫu duy nhất áp cho mọi địa phương, mọi đơn vị cơ sở, bởi điều kiện về dân số, diện tích, tính chất đô thị, nông thôn, miền núi, đồng bằng, yêu cầu văn hóa, quốc phòng, an ninh, mức độ phát triển kinh tế - xã hội và khối lượng công việc ở mỗi nơi là rất khác nhau. Nếu triển khai một cách cứng nhắc, rất dễ nảy sinh một bộ máy cồng kềnh mới ngay ở cấp cơ sở, đi ngược lại mục tiêu tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả mà chúng ta đã đặt ra.

Cuối cùng, phải lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm thước đo thực chất, là tiêu chí cuối cùng để đánh giá thành công của mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Hiệu quả của cải cách không chỉ đo bằng số lượng đầu mối được sắp xếp lại, mà phải được kiểm nghiệm bằng những kết quả rất cụ thể trong đời sống xã hội: người dân không bị phiền hà; hồ sơ, thủ tục hành chính phải được giải quyết nhanh thông qua khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, tinh thần phục vụ Nhân dân của cán bộ, và quan trọng nhất là cấp xã phải thực sự giải quyết được công việc ngay tại chỗ, phù hợp thực tiễn địa phương.

Thứ tư: Về công tác kiểm tra giám sát, kiểm soát quyền lực và đấu tranh phòng, chống tham nhũng lãng phí tiêu cực.
Kiểm tra giám sát, kiểm soát quyền lực, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn tới cần được đặt trong tổng thể yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước, với cách tiếp cận vừa mang tính hệ thống, vừa có chiều sâu chiến lược. Đó không chỉ là nhiệm vụ cấp bách thường xuyên nhằm làm trong sạch bộ máy, mà còn là điều kiện nền tảng để củng cố niềm tin của Nhân dân, bảo đảm sự ổn định chính trị - xã hội và tạo lập môi trường lành mạnh cho phát triển.

Trong bối cảnh đất nước đang hướng tới mục tiêu tăng trưởng ở mức cao, với hàng loạt công trình, dự án quy mô lớn và các cơ chế, chính sách mới theo hướng thông thoáng hơn, cởi mở hơn để khơi thông nguồn lực phát triển, thì nguy cơ phát sinh tham nhũng, lãng phí, tiêu cực cũng gia tăng theo cả chiều rộng và mức độ tinh vi. Thực tiễn cho thấy, chính ở những lĩnh vực có nhiều ưu đãi, lại dễ trở thành điểm phát sinh rủi ro nếu thiếu cơ chế phòng ngừa, kiểm tra, kiểm soát hiệu quả. Do đó, yêu cầu đặt ra là phải thiết kế, cải tiến thể chế đủ chặt chẽ để "không thể" tham nhũng, lãng phí, đồng thời xây dựng cơ chế giám sát đủ mạnh để "không dám" và "không muốn" tham nhũng.

Công tác kiểm tra giám sát, kiểm soát quyền lực phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong thời gian tới phải được triển khai với quyết tâm chính trị cao, hành động kiên quyết, kiên trì, thường xuyên và liên tục. Xử lý nghiêm minh mọi vi phạm, bảo đảm nguyên tắc "không có vùng cấm, không có ngoại lệ", nhưng đồng thời phải quán triệt sâu sắc tính nhân văn, thượng tôn pháp luật và mục tiêu phát triển. Trong đó, phải thiết lập và vận hành hiệu quả các cơ chế bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Phân định rõ ranh giới giữa sai phạm do động cơ vụ lợi với sai sót trong quá trình thử nghiệm, đổi mới.

Thứ năm: Về Bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới.
Thực tiễn từ diễn biến chính trị, kinh tế, quân sự trên thế giới cho thấy: Một đất nước muốn tăng trưởng nhanh, thu hút đầu tư lớn, mở rộng thị trường, và hội nhập sâu rộng thì trước hết phải là một quốc gia có tự chủ chiến lược, có năng lực kiểm soát rủi ro, có thể chế vững, có trật tự xã hội ổn định, có sự hội nhập quốc tế sâu rộng, có sức đề kháng cao trước các cú sốc an ninh truyền thống và phi truyền thống.

Bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại trong giai đoạn mới không chỉ là giữ vững chủ quyền quốc gia, biên giới, biển đảo, vùng trời, mà còn là giữ vững môi trường hòa bình, bảo vệ thể chế, bảo vệ lòng tin xã hội, bảo vệ không gian mạng, bảo vệ dữ liệu, bảo vệ các mạch máu kinh tế và các lợi ích phát triển chiến lược của đất nước. Cần phải nhận thức đầy đủ đây là nhiệm vụ chiến lược thường xuyên, trọng yếu, cốt lõi, lâu dài, kiên trì của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị.

Bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hội nhập quốc tế cần phải được đặt xuyên suốt trong mọi chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và quyết sách phát triển. Bảo đảm cho phát triển đúng hướng, bền vững, có chủ quyền, có kiểm soát rủi ro và có khả năng tự vệ từ sớm, từ xa, chủ động "giữ nước từ khi nước chưa nguy". Từ đó xây dựng cho được sức mạnh tổng hợp của quốc gia trong thời bình, trong đó sức mạnh quân sự, sức mạnh an ninh, sức mạnh đối ngoại, sức mạnh kinh tế, sức mạnh khoa học công nghệ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc phải được đặt trong một chỉnh thể thống nhất, liên hoàn, hỗ trợ lẫn nhau.

Bên cạnh đó, phải đặc biệt coi trọng và phát huy mạnh mẽ "thế trận lòng dân", xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên từng địa bàn, nhất là địa bàn chiến lược, biên giới, biển đảo, đô thị lớn, trung tâm kinh tế, hạ tầng trọng yếu và không gian mạng. Đây chính là sự kết hợp giữa "thế" và "lực", giữa phòng thủ quốc gia với phòng thủ xã hội, giữa bảo vệ chủ quyền lãnh thổ với bảo vệ nền tảng tư tưởng, bảo vệ ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội.

Yêu cầu đặt ra trong giai đoạn mới là phải gắn kết ngày càng chặt chẽ hơn giữa quốc phòng, an ninh, đối ngoại với phát triển kinh tế - xã hội, kết hợp chặt chẽ giữa bảo vệ và phát triển, giữa ổn định và đổi mới. Để quốc phòng, an ninh, đối ngoại thực sự trở thành một "cấu phần của năng lực cạnh tranh quốc gia" và động lực trực tiếp của phát triển, đồng thời là chỗ dựa chiến lược để đất nước vững vàng đi lên trong kỷ nguyên mới.

Thưa các đồng chí,

Với nền tảng đã được xác lập, với bản lĩnh, quyết tâm chính trị cao và sự đồng lòng, thống nhất của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, chúng ta tin tưởng vững chắc rằng các mục tiêu, khát vọng phát triển đất nước mà Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV đã đề ra sẽ sớm trở thành hiện thực, đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới nhanh hơn, bền vững hơn và toàn diện hơn.

Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta hãy hành động theo phương châm: Tự chủ chiến lược- Kiên định hai mục tiêu chiến lược 100 năm- Chung sức, đồng lòng, quyết tâm, quyết liệt vì cuộc sống ấm no, hạnh phúc của Nhân dân.

Với tinh thần đó, tôi tuyên bố bế mạc Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV.

Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí!
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THANH NIÊN VỚI TƯƠNG LAI ĐẤT NƯỚC!

     Xin trân trọng giới thiệu bài viết của Tổng Bí thư Tô Lâm với tiêu đề: “THANH NIÊN VỚI TƯƠNG LAI ĐẤT NƯỚC”!

Ngày 26/3 năm nay, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tròn 95 năm xây dựng, trưởng thành và cống hiến. Nhìn lại chặng đường vẻ vang ấy, chúng ta càng thêm tự hào về truyền thống của các thế hệ thanh niên Việt Nam. Trải qua các thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, xây dựng và phát triển đất nước, thanh niên luôn là lực lượng xung kích, đi đầu, không quản ngại khó khăn, gian khổ, sẵn sàng dấn thân vì sự nghiệp cách mạng. Dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng, được Bác Hồ kính yêu và các thế hệ cách mạng dìu dắt, tuổi trẻ nước ta đã viết nên nhiều trang sử đẹp bằng lý tưởng cao cả, tinh thần yêu nước và khát vọng cống hiến.

Trong mọi giai đoạn cách mạng, thanh niên luôn là lực lượng tiên phong, đóng vai trò nòng cốt. Ngay từ những năm chuẩn bị thành lập Đảng, lực lượng thanh niên Việt Nam đã giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Thông qua Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội và các tổ chức tiền thân, nhiều thanh niên yêu nước đã sớm tiếp thu lý luận cách mạng, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, gây dựng cơ sở, rèn luyện tổ chức, chuẩn bị đội ngũ cán bộ và tạo nền tảng chính trị, tư tưởng cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các đồng chí, các nhà lãnh đạo tiền bối của Đảng đều đã giữ những cương vị trọng trách ngay từ khi còn đang tuổi thanh niên. Trong các cuộc kháng chiến, tuổi trẻ là lớp người "quyết tử để Tổ quốc quyết sinh", có mặt trên chiến hào, tuyến lửa, hậu phương lớn, công trường và trong những phong trào sôi nổi như "Ba sẵn sàng", "Ba đảm đang", "Năm xung phong". Đặc biệt, lực lượng thanh niên xung phong đã trở thành biểu tượng sáng đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, góp phần hết sức quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc. Khi đất nước bước vào công cuộc đổi mới, thanh niên tiếp tục là lực lượng nhanh nhạy tiếp cận cái mới, dám nghĩ, dám làm, đi đầu trong học tập, nghiên cứu khoa học, lao động sản xuất, kinh doanh và hội nhập quốc tế.

Hiện nay, chúng ta đang sống trong một thời đại mà sức mạnh quốc gia ngày càng được đo bằng năng lực sáng tạo, trình độ khoa học - công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và khả năng thích ứng trước những biến động lớn của thế giới. Năng lực cạnh tranh giữa các nền kinh tế không còn chủ yếu dựa vào tài nguyên hay vốn đầu tư, mà ngày càng phụ thuộc vào tri thức, công nghệ, mô hình quản trị và giá trị gia tăng mới. Trong bối cảnh thế giới diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, yêu cầu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược của đất nước trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Vì vậy, đổi mới sáng tạo không còn là việc riêng của một số ngành hay một số doanh nghiệp, mà phải trở thành tinh thần phát triển chung của cả đất nước, của từng cấp, từng ngành, từng địa phương, từng cơ quan, đơn vị và mỗi người dân, nhất là thế hệ trẻ. Nhận thức sâu sắc điều đó, Đảng ta đã ban hành Nghị quyết số 57 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, xác định đây là động lực quan trọng để phát triển đất nước nhanh và bền vững, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, đồng thời tăng cường tiềm lực và năng lực tự chủ chiến lược của quốc gia trong kỷ nguyên mới.

Chúng ta vui mừng chứng kiến ngày càng nhiều thanh niên Việt Nam khẳng định trí tuệ và bản lĩnh trên nhiều lĩnh vực: từ khoa học, công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, tự động hóa đến khởi nghiệp sáng tạo, nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế số, giáo dục, y tế, môi trường, văn hóa. Ở nhiều địa phương, dù điều kiện còn khó khăn, nhiều đoàn viên, thanh niên vẫn kiên trì tìm tòi sáng kiến trong lao động, trong chuyển đổi số, trong phục vụ cộng đồng, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc. Điều đó cho thấy đổi mới sáng tạo không phải điều gì xa vời. Nó có thể bắt đầu từ phòng thí nghiệm hiện đại, nhưng cũng có thể bắt đầu từ một ý tưởng nhỏ nhằm giải quyết vấn đề thiết thực của người dân, doanh nghiệp, địa phương và đất nước.

Đổi mới sáng tạo không chỉ là công nghệ cao hay những dự án thu hút vốn lớn. Trước hết, đó là năng lực nhìn ra điều chưa hợp lý để tìm cách làm tốt hơn; là dám đặt câu hỏi, dám thử nghiệm, dám thay đổi vì lợi ích chung; là biến ý tưởng thành giải pháp, biến tri thức thành năng suất, biến sáng kiến thành giá trị. Một bạn trẻ nghiên cứu thành công công nghệ mới là đổi mới sáng tạo; một kỹ sư cải tiến dây chuyền để tiết kiệm nguyên liệu, tăng năng suất là đổi mới sáng tạo; một bác sĩ, giáo viên hay cán bộ trẻ ứng dụng công nghệ để phục vụ nhân dân tốt hơn cũng là đổi mới sáng tạo. Ở đâu có khát vọng vươn lên và tinh thần làm tốt hơn cho cộng đồng, ở đó có đổi mới sáng tạo.

Vì vậy, sự nghiệp đổi mới sáng tạo của thanh niên không giới hạn trong vài lĩnh vực thời thượng mà bao trùm nhiều mặt của đời sống quốc gia. Trong học tập, thanh niên cần rèn tư duy phản biện, tư duy hệ thống, năng lực tự học suốt đời, làm chủ ngoại ngữ, kỹ năng số và phương pháp nghiên cứu khoa học. Trong lao động, phải quý trọng kỷ luật, tôn trọng quy trình nhưng không chấp nhận lối mòn, không bằng lòng với những gì đã có. Trong sản xuất, kinh doanh, cần mạnh dạn ứng dụng công nghệ, nâng cao chất lượng quản trị, cải thiện năng suất, xây dựng thương hiệu Việt Nam bằng chất lượng và sáng tạo. Trong khu vực công, thanh niên cần góp phần xây dựng nền hành chính hiện đại, minh bạch, hiệu lực, hiệu quả. Trong văn hóa, xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh, thanh niên cũng phải chủ động đưa giải pháp mới vào thực tiễn, giữ gìn bản sắc, bảo vệ Tổ quốc trên cả không gian thực và không gian số.

Tuy nhiên, sáng tạo chân chính không thể tách rời lý tưởng sống, đạo đức và trách nhiệm công dân. Thanh niên phải dám nghĩ, dám làm, dám thử nghiệm cái mới; nhưng điều đó không có nghĩa là tùy tiện, nóng vội, chạy theo trào lưu hay sự nổi tiếng nhất thời. Đổi mới sáng tạo phải gắn với phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, tuân thủ pháp luật, tôn trọng đạo đức, văn hóa, lợi ích cộng đồng và lợi ích quốc gia - dân tộc. Một sáng kiến chỉ thật sự có giá trị khi làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn, xã hội văn minh hơn, con người được phục vụ tốt hơn, đất nước mạnh hơn, độc lập, tự chủ hơn. Tuổi trẻ càng giỏi công nghệ, càng tiếp cận nhanh với cái mới, càng phải giữ vững lý tưởng, bản lĩnh chính trị, trách nhiệm xã hội và lòng yêu nước. Đó là điều bảo đảm để đổi mới sáng tạo đi đúng hướng, phát triển lành mạnh, bền vững.

Tôi mong thanh niên Việt Nam hôm nay luôn ghi nhớ: yêu nước trong thời đại mới không chỉ thể hiện bằng cảm xúc, mà phải được thể hiện bằng tri thức, năng lực hành động, tinh thần chinh phục những đỉnh cao mới của khoa học - công nghệ và ý chí làm chủ tương lai đất nước. Thành công bắt đầu từ tinh thần không ngừng học hỏi, không ngừng hoàn thiện, không ngừng đặt ra yêu cầu cao hơn cho bản thân. Không có thành công bền vững nếu thiếu lao động nghiêm túc; không có công trình lớn nếu thiếu tích lũy bền bỉ; không có thành tựu thật sự nếu chỉ dựa vào may mắn hay cảm hứng nhất thời. Con đường đi tới thành công đòi hỏi cả tài năng lẫn kỷ luật, cả nhiệt huyết lẫn chiều sâu, cả khát vọng lớn lẫn sự khiêm tốn, cầu thị.

Tổ quốc cần ở thanh niên một tinh thần học tập suốt đời. Trong thế giới biến động nhanh chóng, tri thức hôm nay có thể nhanh chóng lạc hậu nếu chúng ta dừng lại. Bởi vậy, học tập không chỉ giới hạn trong nhà trường hay những năm đầu đời, mà phải trở thành một phẩm chất thường trực. Thanh niên Việt Nam cần chủ động cập nhật tri thức mới, nâng cao kỹ năng số, năng lực sử dụng công nghệ, ngoại ngữ, hợp tác quốc tế và khả năng làm việc trong môi trường đa ngành, đa văn hóa. Nhưng học tập không chỉ để có việc làm hay để tiến thân; học tập còn để mở rộng tầm nhìn, nâng cao năng lực cống hiến, để khi đất nước cần, mỗi bạn trẻ đều có đủ trình độ và bản lĩnh nhận nhiệm vụ khó hơn, lớn hơn. Một quốc gia mạnh về đổi mới sáng tạo trước hết phải là quốc gia có người trẻ ham học hỏi và có môi trường thuận lợi để biến tri thức thành hành động.

Thanh niên cũng cần nuôi dưỡng mạnh mẽ tinh thần khởi nghiệp, lập nghiệp, nhưng đó phải là khởi nghiệp bằng trí tuệ, đạo đức kinh doanh và khát vọng tạo ra giá trị mới cho xã hội. Khởi nghiệp không chỉ để thành công cho riêng mình, mà còn để giải quyết vấn đề của cộng đồng, tạo việc làm cho người khác, góp phần nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế. Tôi mong những doanh nhân trẻ Việt Nam không chỉ mơ ước xây dựng doanh nghiệp lớn, mà còn xây dựng doanh nghiệp tử tế; không chỉ tìm kiếm lợi nhuận, mà còn hướng tới giá trị bền vững; không chỉ cạnh tranh bằng giá rẻ, mà bằng công nghệ, chất lượng, quản trị và uy tín. Đất nước rất cần những nhà khoa học trẻ dám đi vào lĩnh vực mới, những kỹ sư trẻ chinh phục công nghệ cốt lõi, những nông dân trẻ làm nông nghiệp thông minh, những công chức trẻ cải cách mạnh mẽ quy trình công vụ, những văn nghệ sĩ trẻ sáng tạo tác phẩm có giá trị và những chiến sĩ trẻ làm chủ công nghệ hiện đại, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc.

Tựu chung lại, lực lượng thanh niên hôm nay có thể đưa ra phương châm hành động: "Bản lĩnh tự cường - Tiên phong sáng tạo - Khát vọng cống hiến - Làm chủ tương lai".

Để đạt được điều đó, không thể chỉ đặt kỳ vọng lên vai thanh niên mà cả hệ thống chính trị và toàn xã hội phải cùng hành động. Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, tháo gỡ rào cản, tạo môi trường pháp lý minh bạch, thuận lợi cho sáng tạo, khuyến khích thử nghiệm và bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới vì lợi ích chung. Các cơ sở giáo dục phải đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học, chú trọng hình thành tư duy độc lập, năng lực giải quyết vấn đề, kỹ năng hợp tác và thực hành. Các viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp cần tăng cường gắn kết, hình thành chuỗi liên thông từ nghiên cứu đến ứng dụng, từ ý tưởng đến sản phẩm, từ phòng thí nghiệm đến thị trường. Khi thể chế thông thoáng, môi trường thuận lợi và niềm tin xã hội được củng cố, sức sáng tạo của tuổi trẻ sẽ được khơi dậy và phát huy mạnh mẽ hơn.

Tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phải tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, thực sự là người bạn đồng hành của thanh niên, là mái nhà chung để tập hợp, cổ vũ, phát hiện, bồi dưỡng và nâng đỡ tài năng trẻ. Phong trào thanh niên phải trở thành môi trường để thế hệ trẻ trưởng thành về lý tưởng, đạo đức, năng lực và trách nhiệm; đồng thời là nơi phát hiện những nhân tố mới, mô hình hay, cách làm hiệu quả và những tấm gương tiêu biểu. Khi được tổ chức tốt và khơi dậy đúng hướng, thanh niên hoàn toàn có thể tạo ra những đóng góp thiết thực cho đất nước và cộng đồng.

Tôi đề nghị các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, cộng đồng doanh nghiệp, đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, nhà giáo, nhà khoa học và toàn thể nhân dân tiếp tục quan tâm sâu sắc hơn đến sự trưởng thành của thế hệ trẻ. Cần lắng nghe tiếng nói của thanh niên, tôn trọng những ý tưởng đúng đắn và đồng hành cùng thanh niên trong học tập, nghiên cứu khoa học, khởi nghiệp, lập thân, lập nghiệp. Một đất nước muốn phát triển nhanh và bền vững không thể thiếu niềm tin vào lớp trẻ. Nhưng niềm tin ấy không chỉ dừng ở lời nói mà phải được thể hiện bằng cơ chế, chính sách, nguồn lực, môi trường thuận lợi, cùng với sự nêu gương, dìu dắt và trao truyền trách nhiệm của các thế hệ đi trước.

Nhân dịp kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, mong rằng tuổi trẻ Việt Nam hôm nay sẽ tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang, hun đúc khát vọng cống hiến, làm giàu trí tuệ, rèn luyện bản lĩnh, bồi dưỡng đạo đức, nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo, làm chủ khoa học - công nghệ và chuyển đổi số, dũng cảm bước vào những lĩnh vực mới, việc khó, việc chưa có tiền lệ. Với niềm tin đó, chúng ta có cơ sở để kỳ vọng rằng thế hệ trẻ Việt Nam sẽ tiếp tục viết tiếp những trang sử vẻ vang của dân tộc bằng ngôn ngữ của thời đại hôm nay: ngôn ngữ của tri thức, của sáng tạo, của trách nhiệm và của khát vọng vươn lên không ngừng./.

QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: 🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳HƠN CẢ MỘT TƯỢNG ĐÀI🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳

     Về quê hương địa đạo Củ Chi, ghé vào xã Phước Hiệp, thăm Nhà tưởng niệm Bà mẹ Việt Nam anh hùng - Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Thị Rành. Người dân quanh vùng thường gọi má bằng những cái tên thân thương: “Má Tám Rành”, “Bà mẹ Củ Chi”, “Bà mẹ Đất thép”, “Bà má Dũng sĩ”. Ngoài ra, do ghiền trầu từ thời trẻ, nên má còn được gọi là “Má Tám Trầu”.
Tuổi thơ nhọc nhằn!
Cô bé Rành chào đời năm 1900 trong một gia đình nông dân nghèo, sẵn có truyền thống yêu nước ở ấp Trại Đèn, xã Phước Hiệp, huyện Hóc Môn, tỉnh Gia Định (nay thuộc huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh). Bấy giờ, ở Nam kỳ, hội kín phát triển mạnh, đặc biệt là phong trào “Thiên Địa hội” của Phan Xích Long nổ ra tại Sài Gòn đã có tác động mạnh mẽ đến các tầng lớp nhân dân. Năm 1913, người cha của Rành bị thực dân Pháp bắt vì tội “làm quốc sự”, bị đày ra Côn Đảo và biệt tích. Nhà chỉ có hai anh em, quá nghèo và cực khổ, nên người anh của Rành đi ở trừ nợ từ trước. Ngày ngày, Rành đi mò tôm, xúc cá, mang ra chợ kiếm cái đắp đổi qua ngày. Nỗi đau mất cha còn chưa kịp nguôi ngoai, thì người mẹ đột ngột qua đời. Với món nợ truyền kiếp, nhưng “gia sản” chỉ có căn lều rách te tua như lều vịt, nên dù mới 14 tuổi, Rành bị tay xã trưởng cho người lôi về nhà hắn. Quãng đời đi ở đợ làm công, đói rách, cơ cực không sao kể xiết. Nhưng cô bé Rành cứ thế vụt lớn lên thành một thiếu nữ biết tự trọng, giàu tình cảm và cứng cỏi.
Mười tám tuổi, Rành gặp anh hương sư Nguyễn Văn Cầm (Tám Cầm), quê ở ấp Bàu Công, xã Tân Mỹ, huyện Đức Hòa, Long An, về dạy học trong vùng. Rồi họ nên vợ, nên chồng. Hai năm sau, tại ấp Trại Đèn, đứa con trai đầu lòng chào đời. Rồi anh Tám được cử về miền Tây trông coi một ngôi trường vừa mới mở. Tại đây, Tám Cầm gặp được những người cùng chung chí hướng, yêu nước, ghét Tây.
Dâng hiến cho cách mạng và kháng chiến
Trong vòng 22 năm (1920-1942), má Nguyễn Thị Rành sinh hạ 10 người con, 8 trai, 2 gái. Năm 1941, thầy giáo Cầm quyết định nghỉ dạy để có điều kiện hoạt động cách mạng, tham gia Việt Minh. Vợ chồng má luôn giáo dưỡng con cái biết sống tử tế, giàu tình thương và có nghĩa khí; anh chị làm gương cho em út. Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, thực dân Pháp trở lại gấy hấn, đánh chiếm Sài Gòn, rồi mở rộng ra toàn xứ Nam bộ. Nguyễn Văn Dúng, người con lớn đã giấu cha mẹ gia nhập bộ đội, anh được phân công làm Xã đội trưởng xã Phước Hiệp. Má nói với đàn con: Đứa nào lớ quớ theo giặc, tao chém! Năm 1947, má Tám Rành tham gia Hội Phụ nữ Cứu quốc xã. Trong lúc chỉ huy anh em đánh bọc hậu một đơn vị địch, anh Hai Dúng hy sinh, để lại người vợ trẻ và đứa con trai. Thương con đứt ruột, má xót xa cho con dâu còn quá trẻ và đứa cháu đích tôn thơ dại. Nhưng không gì cản được các con của má lần lượt nối tiếp nhau cầm súng đánh giặc. Năm 1954, má Nguyễn Thị Rành làm Hội trưởng Hội Mẹ chiến sĩ và là Chính trị viên Xã đội Phước Hiệp. Những ngày cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Pháp, vợ chồng má nhận thêm một tin xé ruột: người con thứ 2 là Nguyễn Văn Sóc, tiểu đội trưởng đặc công hy sinh tại Long An.
Trong thời kỳ đen tối của cách mạng miền Nam, Củ Chi là một trong những nơi bị địch đàn áp khốc liệt, nhất là sau khi có đạo luật phát xít 10/59, Ngô Đình Diệm lê máy chém đi khắp miền Nam. Ngoài việc tham gia “đội quân tóc dài”, đấu tranh trực diện với địch, má Tám còn đào hầm nuôi giấu cán bộ, tiếp tế cho du kích… Địch bắt nhốt má nửa tháng trời tại đồn quận lỵ Củ Chi, để hòng dụ Nguyễn Văn Vé người con thứ 4 ra hồi chánh. Và thêm một khúc ruột của má bị cắt lìa, chiến sĩ du kích Năm Vé anh dũng hy sinh. Nuốt nước mắt vào trong, vợ chồng má kêu cả đàn con đến trước thi hài của Năm Vé và nói như dao chém đá: “Mấy đứa bây coi gương của anh Hai, anh Ba, thằng Năm. Coi đó mà trả thù cho tụi nó!”. Cuối năm 1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, gần giáp Tết, má Tám Rành cùng một số người trong Hội Mẹ chiến sĩ được mời dự hội nghị do Huyện ủy Củ Chi tổ chức bên bờ sông Vàm Cỏ Đông. Ngắm lá cờ nửa đỏ nửa xanh, lòng má bừng lên một tinh thần mới!
Năm 1965, Mỹ đổ quân vào miền Nam Việt Nam. Cùng với việc xây dựng căn cứ Đồng Dù, địch tăng cường chà xát, biến Củ Chi thành vùng trắng, bình địa. Sau khi bẻ gãy 2 trận càn với quy mô cực lớn là Crimp (Cái bẫy) và Cedar Falls “bóc vỏ trái đất”, tại Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua toàn Miền lần thứ 2 (tháng 9/1967), Củ Chi được tặng danh hiệu “Đất thép Thành đồng”. Cùng trong năm này, má Rành ba lần nhận tin dữ. Chiến sĩ Nguyễn Văn Hè, người con thứ 5 bị địch khui hầm, trúng đạn chỉ cách nhà mẹ chừng vài trăm thước. Tiếp đến, đứa cháu nội Nguyễn Văn Rưng (con anh Hai Dúng), tiểu đội phó đặc công, hy sinh. Người con thứ 8, Nguyễn Văn Nâng, Xã đội trưởng Phước Hiệp bị pháo địch dập trúng. Là chính trị viên xã đội, má nuốt nước mắt, cắn chặt môi, nén lòng để giữ vững tinh thần cho các chiến sĩ du kích tiếp tục chiến đấu.
Tết Mậu Thân 1968, ông giáo Tám đau yếu phải về quê nội dưỡng bệnh. Một mình má Tám sửa soạn ban thờ cúng gia tiên. Trước 5 bát nhang, má lầm rầm khấn: Các con sống làm chiến sĩ, chết anh hùng vì dân vì nước, ráng phù hộ cho anh em đánh giặc. Rồi má lấy chéo khăn rằn chấm nước mắt… Ra giêng, má Tám Rành đứt đoạn thêm hai khúc ruột nữa. Chiến sĩ Nguyễn Văn Sướng, con thứ 7, vừa ngã xuống; tiếp đến Nguyễn Văn Huội, con thứ 6 hy sinh trong trận nhổ đồn địch ở An Nhơn Tây. Nhận tin dữ, má ôm con dâu và đứa cháu nội (con Bảy Huội) vào lòng, ngỡ mình không sống nổi. Bọn ác ôn đưa má Tám về đồn, giở trò dọa dẫm đủ đường, suốt tuần lễ, má không ăn, chỉ nhai trầu, uống nước cầm hơi. Cuối cùng chúng đành chào thua và thả bà Tám Trầu “cứng cổ”. Huyện ủy, Huyện đội Củ Chi lo cho sự an nguy của má Tám, nhưng má không chịu. Má nói với anh em, tụi bây báo với cấp trên, Tám Rành này còn giọt máu cuối cùng vẫn một lòng một dạ với cách mạng!
Đầu năm 1969, trong một trận đột nhập căn cứ địch, quân ta diệt nhiều tên. Khi đơn vị lui quân, chiến sĩ Nguyễn Văn Luông, người trai út của má Rành ở lại cản hậu và trúng đạn. Trước tột cùng nỗi đau, cả 8 người con trai cùng đứa cháu đích tôn hy sinh, năm sau, ông giáo Tám Cầm về với ông bà tổ tiên. Năm 1970, thêm đứa cháu ngoại là chiến sĩ Huỳnh Văn Cường, con chị Nguyễn Thị Săng (con thứ 3 của má), hy sinh tại Mộc Hóa, Long An.
Dường như má Rành đã khô kiệt nước mắt. Con người má quánh đặc nỗi đau. Nhưng không chỉ lao vào hoạt động, má như cây cột trụ làm chỗ dựa vững chắc cho con dâu, con gái kiên cường sống. Ngày 29/4/1975, từ sáng sớm má Tám đã xuống đường. Má treo cờ đỏ sao vàng lên ngọn cây điệp ở đầu ấp Phước Hòa, xã Phước Hiệp, mở màn cho cuộc nổi dậy giành chính quyền của nhân dân xã nhà.
Tượng đài bất tử
Ngày 6/11/1978, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký quyết định tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho đồng chí Nguyễn Thị Rành, vì đã “làm được nhiều thành tích đặc biệt xuất sắc về chiến đấu và phục vụ chiến đấu, góp phần cùng toàn dân đưa sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn”. Ngày 26/1/1979, má Tám Rành qua đời. Năm 1983, vợ chồng má được truy tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất. Đến năm 1994, má Rành được Nhà nước truy tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng, vì có 8 người con và 2 cháu nội, ngoại hy sinh cho Tổ quốc. Để ghi nhớ công ơn của “Bà mẹ Đất thép”, Ủy ban nhân dân Thành phố quyết định chọn con đường đẹp nhất Củ Chi mang tên Nguyễn Thị Rành. Đường dài gần 20km, từ ngã rẽ quốc lộ 22 thuộc ấp Bàu Đưng, xã Tân An Hội, kéo qua Trung Lập Hạ, Nhuận Đức, An Nhơn Tây và kết thúc tại điểm đầu tỉnh lộ 8, xã Phú Mỹ Hưng. Trên con đường này, có một trạm y tế mang tên má Tám.
Đại hội đại biểu Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ IX (2011-2016) ra nghị quyết chọn công trình Nhà tưởng niệm Bà mẹ Việt Nam anh hùng - Anh hùng LLVTND Nguyễn Thị Rành là 1 trong 6 công trình trọng điểm của nhiệm kỳ 2011-2016. Công trình được khởi công từ tháng 7/2012 và khánh thành cuối tháng 1/2013 trên nền nhà cũ của má. Giai đoạn 2 mở rộng được hoàn thành vào tháng 10/2016, với tổng diện tích 5.609 m2. Kinh phí xây dựng do cán bộ, hội viên Hội Liên hiệp Phụ nữ 24 quận, huyện, các đơn vị và Mạnh thường quân đóng góp. Bên trong nhà có phù điêu chân dung má Tám Rành. Phía trên bàn thờ là ảnh Bác Hồ với câu nói của Người: “Nhân dân ta rất biết ơn các bà mẹ hai miền Nam - Bắc đã sinh đẻ và nuôi dạy những thế hệ anh hùng của nước ta”. Tiếp đến là bài vị thờ chồng má, cùng 8 con trai, 2 cháu liệt sĩ. Phía trước trang thờ, trên hai cột được chạm khắc cặp câu đối: “Trước sau một dạ anh hùng, quê nghèo đất thép; Con cháu mười người Liệt sĩ, tay trắng lòng son”. Gia tài của “Bà mẹ Củ Chi” được lồng trong tủ kính là 5 cái chén đĩa, 1 cây đèn bão, 1 cái cối giã trầu bằng đồng bé tẹo và một xấp dày giấy báo tử… Chỉ vậy thôi, nhưng dân tộc này, đất nước này sẽ trường tồn mãi mãi bởi những người mẹ như má Nguyễn Thị Rành. Mất con nhưng còn nước! Đức hy sinh của má Tám Rành không gì sánh nổi, vâng, có lẽ nó còn hơn cả một tượng đài...!
QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: BÍ MẬT SAU NHỮNG VỤ “BẮT CÓC CUNG NỮ” CỦA VUA THÀNH THÁI

     Vua Thành Thái từng âm thầm xây dựng một đội nữ binh núp bóng cung nữ với mưu đồ chống thực dân Pháp. Tuy nhiên, lý do vì sao nhà vua lại chọn “nữ binh” thay vì “nam binh” thì không phải ai cũng biết.

Cuốn “Chuyện tình vua chúa hoàng tộc Việt Nam” có viết: “Lợi dụng cái yếu của xã hội trọng nam khinh nữ, khi người ta ít chú ý đến võ lực của nữ, mà trong tam cung lục viện, số nữ lại đông nhất vì triều đình có quyền tuyển nữ. Vậy nên Thành Thái nghĩ đến việc dùng lực lượng phái đẹp chống Pháp, giành độc lập”.

Để che mắt kẻ thù, ông đóng vai vị vua hám sắc, cho cận vệ dàn cảnh “bắt cóc” các thiếu nữ từ những vùng lân cận, đưa vào cung cấm.

Mỗi đội quân gồm 50 người, sau khi huấn luyện thuần thục sẽ được bí mật trả về địa phương chờ ngày khởi sự, nhường chỗ cho đợt tuyển quân mới.

Để đảm bảo kinh phí và giữ bí mật, nhà vua còn cho các nữ binh dệt vải và tổ chức phiên chợ ngay trong Đại Nội. Đồng thời, ông cũng phối hợp với họa sĩ Lê Văn Miến, nghiên cứu và đúc vũ khí cho lực lượng này.

Khi kế hoạch đang tiến triển thuận lợi với 4 đội quân (khoảng 200 người) thì sự việc bị bại lộ do sự phản bội của một số đại thần.

Trước sức ép của Khâm sứ Pháp Levécque, vua Thành Thái buộc phải giả điên, xé bản vẽ vũ khí để bảo vệ thuộc hạ.

Chính quyền thực dân nhân cơ hội này ép ông thoái vị, đồng thời ra điều kiện: nếu muốn giữ ngai vàng phải ký vào giấy xin lỗi và công khai thú nhận mưu đồ chống đối trước quốc dân.

Nhưng thay vì nghe lời chúng, Thành Thái đã ném thẳng tờ tuyên cáo thảo sẵn ấy xuống đất và chấp nhận kiếp lưu đày để giữ trọn lòng yêu nước.

Dẫu đội nữ binh chưa có cơ hội thực chiến, lịch sử vẫn ghi nhận hình tượng một vị vua khí tiết, luôn sục sôi tinh thần chống Pháp, quyết không cúi đầu làm bù nhìn mất nước./.
QV-ST!

TIỆC BUFFET LỊCH SỬ "YÊU NƯỚC CHỨ KHÔNG YÊU ĐẢNG" - MỜI CHỌN MÓN!

     Qua nay kẻ hèn này có lên 02 bài viết bóc tách cái bản chất thật sự của luận điệu "Yêu nước chứ không yêu Đảng", phần đông đều tán đồng ủng hộ, nhưng đâu đó vẫn nhiều ý kiến vẫn còn chấp niệm với quan điểm nhất quyết là thời nay có thể yêu nước chứ không cần thiết phải yêu Đảng. Với đủ mọi loại lý lẽ từ chửi cùn đến dùng AI phân tích máy móc logic hình thức về một vấn đề khoa học chính trị vốn phức tạp với hệ thống lý luận và bối cảnh lịch sử - cụ thể của nó. Tôi cũng không lấy làm phiền lòng vì chuyện đó vì hệ quy chiếu và xuất phát điểm nhận thức của mỗi người mỗi khác.

Cơ mà sáng nay tôi lại thấy phơi phới trong bụng vì hôm qua sau buổi giảng, tui nghe loáng thoáng các bạn sinh viên khen thầy giảng hay lại còn đẹp trai, hẹ hẹ, gì chứ được khen là tui khoái lắm. Nên hôm nay tôi rộng lượng chiêu đãi các bạn "yêu Tổ quốc 4000 năm chứ không nhất thiết phải yêu chế độ" một bữa buffet lịch sử, vừa để ôn bài vừa cho các bạn tha hồ lựa chọn.

Thế này đi, coi như là tôi đồng ý với các bạn quan điểm đó. Nhưng mà, yêu thì phải có đối tượng, không thể yêu một thứ vô hình hài. Để chiều lòng cái sự "tỉnh táo" ấy, chúng ta hãy cùng thực hiện một chuyến du hành ngược dòng thời gian, đi tìm xem trong suốt chiều dài lịch sử, có cái "Việt Nam" nào phù hợp với gu thẩm mỹ chính trị đứng ngoài hệ điều hành của các bạn hay không nhé. Món ngon ở cuối!

Let's go!!!

🍗 Trạm dừng chân thứ nhất: Thời kỳ hoang sơ "ăn lông ở lỗ".
Nếu bạn ghét sự quản lý của chính quyền, ghét mọi hệ thống tổ chức, thì có lẽ thời Cộng sản nguyên thủy là thiên đường. Ở đây không có Đảng, không có Nhà nước, không có pháp luật. Bạn được tự do tuyệt đối trong hang đá, sáng đi săn bắn hái lượm, chiều chạy trốn thú dữ. Tuy nhiên, có một vấn đề nhỏ: lúc này chưa hề có khái niệm “quốc gia” hay “biên giới”. Bạn chỉ là một sinh vật đang tìm cách sinh tồn đơn thuần. Yêu nước kiểu gì khi thực thể “Nước” còn chưa hình thành?

Nhưng nếu bạn bảo thời này thiếu tiện nghi và "mọi rợ" quá, mà vẫn khao khát cái tự do tuyệt đối ấy, thì mời bạn hướng đến chế độ Cộng sản chủ nghĩa – giai đoạn phát triển cao nhất của xã hội loài người, nơi "làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu". Ơ, nhưng tới đây thì có gì đó hơi "cấn". Chẳng phải các bạn đang phủ định Đảng Cộng sản sao? Nếu đã không thích Đảng, thì cái xã hội đích thực mà Đảng hướng tới chắc các bạn cũng chẳng mong chờ gì mấy. Vậy là loại ngay giả thuyết đầu tiên.

🍉 Trạm 2: Thời Văn Lang – Âu Lạc.
Nhà nước sơ khai đã xuất hiện, không có Đảng, chỉ có Vua Hùng và các Lạc hầu, Lạc tướng. Thế nhưng, thực tế là diện tích đất nước bấy giờ bé tẹo, rừng thiêng nước độc chiếm đến 90%. Bạn lỡ miệng phê bình triều đình một câu như Mai An Tiêm là lập tức bị tống ra đảo hoang tự trồng dưa hấu ngay, chẳng có cơ hội nào để đòi dân chủ hay nhân quyền. Chưa kể các bộ tộc lân bang cứ dăm bữa nửa tháng lại xách gậy gộc qua "hỏi thăm" nhau. Muốn yêu cái dải đất hình chữ S toàn vẹn như bây giờ ư? Mơ đi, vì lúc đó phương Nam vẫn còn là rừng rậm chưa khai phá và quốc gia thì quá đỗi mong manh.

⛓️ Trạm 3: Ngàn năm Bắc thuộc.
Đây là giai đoạn "không có Đảng" dài nhất lịch sử. Nhiều bạn bảo không cần thể chế độc lập, chỉ cần "yêu dân tộc" là được, vậy mời bạn về đây. Thực tế là buổi sáng bạn phải lặn xuống biển mò ngọc trai trong cảnh xiềng xích, chiều lên rừng săn voi lấy ngà cống nạp cho thiên triều. Phản kháng ư? Nó dìm cho trong bể máu ngay lập tức. Bạn có muốn yêu một cái Việt Nam thân phận nô lệ, đến cái tên nước còn bị xóa sổ để thay bằng "An Nam đô hộ phủ"? Chắc chắn là không "chill" chút nào rồi.

⚔️ Trạm 4: Thời kỳ phong kiến độc lập tự chủ.
Hẳn nhiều người sẽ reo lên: “Đây rồi, yêu nước thời này là chuẩn nhất!”. Cả nghìn năm xưng Vương xưng Đế, đánh thắng ngoại xâm thần thánh với những chiến công lẫy lừng: Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, Lý Thường Kiệt với bản tuyên ngôn "Nam quốc sơn hà", Trần Hưng Đạo ba lần đại thắng quân Mông Nguyên rung chuyển thế giới, hay Quang Trung đại phá quân Thanh thần tốc. Thời đại ấy để lại cho chúng ta di sản văn hóa đồ sộ, lòng tự tôn dân tộc và tinh thần bất khuất.
Nhưng phải nói thật: yêu nước thời này gắn chặt với ý niệm “Trung quân”. Vua là đại diện duy nhất của quốc gia. Thử bảo yêu nước mà không trung với vua, ghét triều đình xem? Nhẹ thì chém đầu thị chúng, còn phần đông là tru di cửu tộc, gia phả về zero ngay lập tức. Lúc này không có khái niệm “công dân” như bây giờ, chỉ có “con dân”, láo nháo đòi dân chủ quan phủ lại cho 100 trượng hoặc bêu đầu cổng thành ngay.

Và cũng phải nhìn thẳng sự thật: thời phong kiến không phải lúc nào cũng “thịnh trị”. Lúc yên ổn thì cũng có lúc loạn lạc kinh hoàng như Loạn 12 sứ quân, Nam – Bắc triều, Trịnh – Nguyễn phân tranh khiến dân lành lầm than. Chưa kể những ông vua bán nước, vì ngai vàng mà sẵn sàng khom lưng quỳ gối trước lân bang, "cõng rắn cắn gà nhà", "rước voi giày mả tổ" khiến dấy động can qua, dân đen bị lắm phen bị “nướng trên ngọn lửa hung tàn”.

Tuy nhiên, tinh thần dân tộc quật cường, ý chí chống ngoại xâm, văn hóa đoàn kết, nghĩa tình tích lũy nghìn năm ấy lại chính là những giá trị được kế thừa mạnh mẽ nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chẳng phải Đảng chính là người tiếp nối xuất sắc nhất cái hào khí đó để đưa dân tộc vượt qua những cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược hay sao? Nếu bạn nói bạn yêu cái “tinh thần dân tộc” được trao truyền qua nhiều đời ấy, mà lại phủ nhận tổ chức đang kế thừa và phát triển nó hiệu quả nhất trong thực tế thì thật có vấn đề về tư duy và tình cảm.

🗼 Trạm 5: Thời Pháp thuộc.
Mọi chuyện còn khó nói hơn nữa, bởi vì... không có nước để mà yêu. Việt Nam bị xóa tên trên bản đồ, bị chia làm ba kỳ hòng "chia để trị". Người dân làm phu phen, đồn điền, hóa thân vào đất nước trên những gốc cao su, hầm mỏ, sống và ch.ết đều khổ hơn súc vật. Phản kháng thì bị dìm trong máu. Yêu nước thời này là yêu trong đau khổ, bế tắc. Còn nếu sống “ổn” thời đó, thường chỉ có một kiểu: làm tay sai, mật thám, chỉ điểm cho Tây. Mà cái hạng đó bảo “tôi yêu nước”... nghe nó khập khiễng đến buồn cười.

Rồi lịch sử chuyển bước. Một lực lượng xuất hiện, tập hợp nhân dân giành lại độc lập, thống nhất đất nước. Lần đầu dân ta được đi bầu cử, được thực hiện quyền dân chủ, biết con chữ thay vì rượu cồn, thuốc phiện. Hỏi người dân thích đất nước thời nào hơn, lịch sử đã trả lời hộ bạn rồi.

🇻🇳 Trạm 6: Đến đây, bạn lại nói: “Ừ, tôi vẫn yêu nước. Nhưng tôi không yêu Đảng.”
Thế thì thử nhìn một phương án khác: miền Nam trước 1975. Ở đó có chế độ khác, có đảng khác. Nhưng đổi lại là gì? Là lệ thuộc viện trợ Mỹ, đảo chính liên miên, chiến tranh kéo dài, dồn dân vào ấp chiến lược, thảm sát và bất ổn. Nếu người dân thực sự “yêu” cái chế độ đó, thì đã không có địa đạo Củ Chi, không có Mặt trận Giải phóng, không có hàng triệu người đứng lên đánh đổi mạng sống để xóa bỏ nó. 

Nếu không có Đảng Cộng sản đánh đuổi Pháp, buộc các nước phải ký Hiệp định Geneva thì cũng chẳng bao giờ có cái chính quyền bù nhìn do Mỹ dựng nên để bạn ngồi đó mà hoài niệm. Vậy cái “nước” mà bạn muốn yêu ở đó - có thật sự được chính người dân thời đó yêu không? Hay chỉ là sự hoài niệm của một số ít người ăn trên ngồi chốc trên nỗi đau đồng bào?

🛑 Trạm 7: Đi một vòng quá khứ, có vẻ… không có đáp án nào trọn vẹn. Thế thì quay về hiện tại.
Bạn nói yêu nước Việt Nam hôm nay, nhưng không yêu Đảng. Vậy bạn đang kỳ vọng cái gì? Một tương lai khác? Chắc là thích đa nguyên đa đảng đúng không? Nghe có vẻ hấp dẫn đấy... nhưng đặt vào thực tế Việt Nam - một đất nước địa chính trị nhạy cảm, trải dài từ bắc xuống nam, hẹp về chiều rộng, từng có lịch sử bị chia cắt bới thực dân mà đa đảng thì chắc chắn sẽ phân hóa: miền Bắc một đảng, miền Trung một đảng, miền Nam một đảng. Nước lớn nhảy vào thao túng, ông lớn phía Bắc kiểm soát phía này, tư bản phương Tây thâu tóm phía nọ, thậm chí dựng lên những nhà nước tự trị để dễ bề chia cắt. Đất nước lại rơi vào cảnh chia năm xẻ bảy, phe phái bắn giết lẫn nhau, bạn làm gì còn "đất nước chữ S toàn vẹn" để mà yêu.

Còn nếu là một đảng khác nắm quyền mà vẫn giữ đúng chính sách độc lập, tự chủ và bảo vệ dân nghèo như hiện nay - thì đó chính là Đảng Cộng sản rồi, chỉ khác cái tên thôi. Còn nếu đảng đó chọn hướng khác, ví dụ một chế độ Cộng hòa nghiêng hẳn về một phe để "chọn bên", hãy nhìn gương Ukraine bài Nga để nghiêng về phương Tây rồi bây giờ tan hoang như thế nào.

Từ bỏ sự ổn định hiện có, từ bỏ một cơ đồ đã phải đổi bằng bao máu xương và nước mắt của cha ông để xây dựng hòng đổi lấy một cái "mơ hồ bất định", liệu đó có gọi là khôn ngoan? Hay nói thẳng ra đó là sự ngu dốt, là tội nhân thiên cổ! Lịch sử dân tộc không phải là một "phép thử" để sai thì xóa game làm lại. Cái giá phải trả là sự lầm than của hàng triệu con người và tương lai của cả dân tộc đấy, đừng đùa!!!

Cuối cùng, nếu tất cả các món trên bạn đều không yêu thì chắc bạn chỉ yêu nước Mỹ? Ơ nhưng mà ở Mỹ mà yêu nước thì lại càng phải yêu đảng đó thôi. Không yêu sao bầu cho Dân chủ hay Cộng hòa? Rồi vì ủng hộ đảng này ghét đảng kia mà chửi nhau, mạt sát, biểu tình phản đối nhau như dân chợ búa. Không yêu sao lại có cả bài hát “Hãy bầu cho Tổng thống Trump”? Ở đâu cũng thế, muốn yêu nước thì phải gắn liền với cái thể chế đang vận hành quốc gia đó.

Sau cùng loạt bài này nên kết lại ở đây, ai hiểu cũng đã hiểu, ai không hiểu cũng cố mà vừa tức vừa hiểu đi. 3 bài có lẽ đủ để chỉ mặt, gọi tên thực chất của những luận điệu “yêu nước nhưng không yêu Đảng”. Đừng tưởng mình "tư duy độc lập", đó thực chất là chiêu bài tâm lý chiến núp bóng hòng chia rẽ dân tộc. Những kẻ rêu rao câu này hoặc là mù quáng, ngu dốt hoặc có tâm địa xấu xa, xảo trá muốn biến đất nước thành một cơ thể không có bộ não lãnh đạo để dễ bề thao túng.

Yêu nước chân chính là phải tỉnh, phải trân trọng những gì đang có và vững tin vào con đường mình đang đi. Đừng để đến lúc mất nước rồi mới ngồi đó mà hối hận, lúc đó thì...cái nịt cũng không có mà yêu!

Như mọi khi, thấy hay thì đọc không like cũng được nhưng copy bê đi chỗ khác ghi nguồn giúp mình nhé. Không làm bị trĩ ráng chịu!
QV-ST!

Thứ Ba, 24 tháng 3, 2026

BẠN CÓ BIẾT: BAO NHIÊU SẢN PHẨM VIỆT NAM RA ĐỜI LÀ BẤY NHIÊU SỰ HẸP HÒI NÉM ĐÁ CỦA KHÔNG ÍT NGƯỜI VIỆT?

     Bkav sau khi ra mắt Bphone đã bị soi mói từng chân lông kẽ tóc theo kiểu “bới lông tìm vết” để tìm cho ra những “khuyết tật” của nó, bị cư dân mạng vùi dập không thương tiếc, chê bai chất lượng sản phẩm đủ điều; hay thời điểm VinFast ra mắt 2 mẫu xe đầu tiên, không ít người dè bỉu cho rằng “chẳng ai dại gì đi chọn xe Việt Nam. Làm sao chọi lại được với Toyota, BMW”…

Liệu có ở một đất nước nào khác mà một sản phẩm do người nước đó làm ra lại bị chính những người dân nước mình vùi dập lên bờ xuống ruộng như vậy hay không? 

Nhìn lại đất nước mình nghĩ mà buồn. Đặt chân tới Hàn Quốc, đâu đâu cũng thấy hình ảnh của Samsung, Huyndai; tất cả phim Hàn Quốc chúng ta xem từ nhân vật giàu có đến nghèo khó đều dùng sản phẩm của nước họ; Nhật Bản thì những chiếc ô tô Toyota, Honda chạy đầy đường, người dân dùng hàng điện tử Sony do chính họ sản xuất, làm ra. Hãy nhìn đất nước người ta mà xem, mỗi cá nhân chịu thiệt thòi một chút thì đã sao nào?

Muốn trở thành một dân tộc lớn thì mỗi cá nhân phải nghĩ lớn. Tài năng thì làm chủ, ít tài hơn thì ủng hộ người chủ đó bằng cách tiêu thụ sản phẩm của họ sản xuất ra. 

Nếu người tiêu dùng không ủng hộ sản phẩm “nhem nhuốc” của thời mới khởi nghiệp, thì doanh nghiệp còn tồn tại đâu mà làm ra những sản phẩm tinh xảo sau này? Chịu biết bao búa rìu, ném đá từ dư luận không thương tiếc như thế, ấy vậy mà dõi theo những hành động của vị tỷ phú Phạm Nhật Vượng mới biết ông dành tâm huyết, nhiệt huyết để thay đổi đất nước này như thế nào.

Khi người Việt chi bộn tiền mua bất động sản ở nước ngoài, làn sóng di cư báo động thì những khu đô thị quy mô, tầm cỡ của Vingroup mọc lên, đẹp chẳng kém gì Singapore hay Hong Kong; Toà nhà Landmark 81 đã sừng sững mọc lên giữa trời Sài Gòn và đã ghi dấu trở thành toà tháp cao thứ 8 trên thế giới; Nhà máy sản xuất ô tô VinFast chỉ mất 650 ngày để hoàn thành… Hãy nhìn xem, Đặng Lê Nguyên Vũ, cuộc đời, sự nghiệp và triết lý của ông với khát vọng quốc gia, khát vọng toàn cầu rất lớn khi ông bày binh bố trận diện rộng khởi nghiệp kiến quốc đường dài ra sao?.

Mới đây, phát biểu tại lễ khánh thành Nhà máy sản xuất ô tô VinFast Thủ tướng nhắn nhủ rằng: “Doanh nghiệp Việt Nam phải có khát vọng cùng dân tộc với niềm tự hào sâu sắc về tiềm năng con người Việt Nam. Phải dám nghĩ, dám làm, phải có tinh thần cách mạng dấn thân, nói phải đi đôi với làm, làm thì phải khẩn trương, làm đến nơi đến chốn”. Người Việt Nam đã từng làm nên nỏ thần thời An Dương Vương hàng ngàn năm về trước; đã từng làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ chấn động địa cầu; đã từng xây dựng đường Trường Sơn huyền thoại để mở đường cho chiến dịch Đại thắng mùa Xuân 1975… Và bây giờ những tỷ phú mang trọng trách gánh vác nền kinh tế như Phạm Nhật Vượng (VinGroup), Nguyễn Thị Phương Thảo (Vietjet), Lê Viết Lam (SunGroup), Trần Đình Long (Hòa Phát), Trần Quý Thanh (Tân Hiệp Phát)… hôm nay phần nào mang hình ảnh của những chiến binh năm xưa, nếu như không có khát vọng, lý tưởng phụng sự, tinh thần, bản lĩnh đóng góp vào sự phát triển của đất nước./.
QV-ST!

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: UKRAINA CÓ BỊ XÂM LƯỢC KHÔNG?

     Nhiều kẻ truyền thông phương Tây, thường rêu rao “Nga là kẻ xâm lược Ukraina“, vậy có đúng không?

Phải quay ngược thời gian xem, từ năm 1992, Ukraina có xứng đáng với sự ưu đãi của LX không ? Những gì được hưởng thì chúng đem bán (20% đất nông nghiệp bị bán cho EU), bí mật QS như đóng tầu sân bay, tầu ngầm, máy bay, xe tăng, pháo tên lửa tầm xa…, bán cho TQ, bị Mỹ và phương Tây hứa hẹn rủ rê lập cái tiểu đoàn tân phát xít, khủng bố, diệt chủng, bài Nga, đánh sang 30 làng biên giới Nga.., kinh tế phụ thuộc, chính trị rối loạn, đảo chính, cách mạng mầu… nổ ra, xé nát tan hoang mảnh đất Ukraina yên bình xinh đẹp. Chưa kể gần như toàn bộ TP Odessa bị bán ngầm cho đế quốc thực dân pháp, Anh, Balan…, chúng xây dựng TP ngầm dưới lòng đất Odessa, chưa nói để cho Balan đào địa đạo ngầm xuyên từ Balan sang Ukraina ở miền Tây…, NATO đang xây dựng những căn cứ QS và chưa loại trừ sẽ trang bị cả vũ khí hạt nhân KỀ CỔ khống chế Nga.

Nước Nga đã nhẫn nhịn, đã LÙI đến mức không còn chỗ để lùi. Vậy nên CDQSĐB của Nga buộc phải thực hiện để nhổ đi “cái gai, ung nhọt, quả bom hẹn giờ” Ukraina để tự bảo vệ mình từ sớm từ xa. Ukraina nếu là một nước trung lập, thì họ sẽ có rất nhiều lợi thế: làm ăn với cả phương Tây, Nga, lại được sự bảo trợ an ninh của cả Nga, Anh, Pháp, Mỹ (hiệp ước giải giáp vũ khí hạt nhân năm 1991), nhưng Ukraina đã đi ngược lại sự kì vọng của LX (cũ), Ukraina không xứng đáng được hưởng những ưu đãi mà LX đã ban cho ( bán đảo Crimea, 2 tỉnh ly khai, TP biển Odessa…) Nga cần lấy lại.

Thời xưa VN ta Lý thường Kiệt đánh sâu vào TQ để trượt tiêu ý chí xâm lược của TQ, năm 1978 khi quân Ponpot quấy nhiễu, thường xuyên đánh sang các tình tây nam của VN, VN ta cũng nhẫn nhịn, đàm phán nhiều lần, nhưng bản chất diệt chủng của Ponpot không sửa, chúng còn mạnh tay sát hại dã man đồng bào ta, VN buộc phải hành động tiêu diệt, đây cũng là chiến lược phòng thủ từ xa của VN, không thể gọi là xâm lược.

Nói vậy để dẫn chứng cho một số người nhẹ dạ cả tin ,tuyên truyền chống phá của thế lực phản động là rất dai dẳng và cố hữu. VN ta luôn đoàn kết một lòng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của chính Đảng duy nhất “ĐẢNG CS VN”, Đảng, quân đội của nhân dân, do dân và vì dân; không một thế lực phản động nào xuyên tạc và thay đổi được!

QV-ST!

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: IRAN VỪA TIẾT LỘ CƠ CHẾ CHẾT NGƯỜI - TẤN CÔNG ĐẢO KHARG VÀ LỰC LƯỢNG HOUTHI ĐÓNG CỬA EO BIỂN BAB AL-MANDAB. 🚨🚨🚨

     Các quan chức Iran vừa nói với hãng tin Tasnim: nếu Mỹ phát động cuộc tấn công quân sự vào đảo Kharg, Iran sẽ kích hoạt lực lượng Houthi để phong tỏa eo biển Bab al-Mandab.

Không phải lời đe dọa. Là lời hứa. Được công bố thông qua các phương tiện truyền thông nhà nước.

Hãy suy ngẫm kỹ điều đó.

💀 Đảo Kharg — nơi xử lý 90% lượng dầu xuất khẩu của Iran
💀 Eo biển Bab al-Mandab — chiếm 10% TẤT CẢ thương mại toàn cầu
💀 Lực lượng Houthi đã chứng minh họ có thể đóng cửa nó — họ đã làm được điều đó vào năm 2024
💀 Hải quân Mỹ KHÔNG THỂ ngăn chặn họ lúc đó. Với SỐ LƯỢNG tàu ÍT HƠN hiện nay, chắc chắn họ không thể ngăn chặn họ trong thời chiến.
💀 Iran đang báo trước cho Mỹ: đụng đến Kharg, và nền kinh tế thế giới sẽ phải trả giá.

⚠️ Năm 2024, Mỹ đã chi 1 tỷ đô la để cố gắng ngăn chặn các cuộc tấn công của lực lượng Houthi vào tàu thuyền trên Biển Đỏ. Nỗ lực này đã thất bại. Các tàu thuyền phải chuyển hướng đi vòng qua châu Phi. Chi phí tăng 400%. Đó là khi eo biển vẫn còn MỞ một phần.

⚠️ Nếu Bab al-Mandab đóng cửa HOÀN TOÀN — kênh đào Suez sẽ trở nên vô dụng. Mỗi con tàu từ châu Á đến châu Âu sẽ mất thêm 3 TUẦN thời gian di chuyển. Chuỗi cung ứng toàn cầu sẽ BỊ ĐỨT VỠ.

Các phương tiện truyền thông đang chiếu cho các bạn thấy "Mỹ đang lên kế hoạch cho chiến dịch tại đảo Kharg".

Họ KHÔNG cho bạn thấy rằng Iran đã nói rõ với thế giới chính xác điều gì sẽ xảy ra nếu họ thử làm vậy.

Đây là cái bẫy:

→ Mỹ chiếm đảo Kharg để cắt nguồn thu dầu mỏ của Iran
→ Iran kích hoạt lực lượng Houthi
→ Houthis đóng Bab al-Mandab
→ Eo biển Hormuz đã là khu vực cấm đi lại
→ Giờ thì CẢ HAI điểm nghẽn đều đã bị đóng lại
→ 30% lượng dầu mỏ của thế giới — ĐÃ BIẾN MẤT
→ 10% tổng lượng vận chuyển toàn cầu — ĐÃ BIẾN MẤT
→ Giá dầu lên tới hơn 200 đô la. Giá xăng đạt 12 đô la/gallon. Suy thoái toàn cầu xảy ra trong VÀI NGÀY.
→ Mỹ "thắng" đảo Kharg nhưng toàn bộ nền kinh tế thế giới sụp đổ.

Iran không cần phải đánh bại quân đội Mỹ. Họ cần làm cho cái giá phải trả để giành chiến thắng trở nên không thể chịu đựng được.

Và nó vừa cho bạn biết cái giá phải trả: toàn bộ mạng lưới vận chuyển toàn cầu.

Đây không phải là kế hoạch chiến tranh. Đây là một vụ bắt con tin. Và con tin chính là nền kinh tế thế giới./.
QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: NỮ BIỆT ĐỘNG DUY NHẤT ĐÁNH VÀO DINH ĐỘC LẬP BÔNG HỒNG THÉP BƯỚC VÀO CỬA TỬ Ở TUỔI 18!

     Có những người con gái tuổi 18 mơ về tình yêu…
Còn bà - chọn bước vào lằn ranh sinh tử.

Từ một cô gái Củ Chi nhỏ bé, bà trở thành nữ biệt động duy nhất trong tổ đánh thẳng vào Dinh Độc Lập Tết Mậu Thân 1968. Giữa những người lính gan góc, bà là người con gái duy nhất… nhưng chưa bao giờ cho phép mình yếu đuối.

Để hoạt động bí mật, bà từng phải giả làm một cô gái Sài Gòn yêu kiều, đi bên cạnh đồng đội như một cặp tình nhân. Không ai biết rằng, trong chiếc túi xách của người con gái ấy không phải son phấn… mà là tài liệu và vũ khí.

Trước ngày bước vào trận đánh có thể không trở về, bà lặng lẽ đi chụp một tấm ảnh. Không phải để làm kỷ niệm…
Mà để nếu hy sinh, gia đình còn có một tấm hình đặt lên bàn thờ.

Khi tiếng súng nổ vang giữa trung tâm Sài Gòn, cô gái tuổi đôi mươi ấy đã chiến đấu như một người lính thực thụ. Không còn là một thiếu nữ nữa… mà là một chiến sĩ sẵn sàng đổi tuổi xuân lấy độc lập.

Điều kỳ lạ nhất là…
Bà đã hai lần bước vào Dinh Độc Lập.

Một lần trong khói lửa chiến tranh năm 1968.
Một lần trong ngày đất nước hòa bình 30/4/1975.

Từ cửa tử… bà đã đi tới ngày toàn thắng.

Có những bức ảnh phục dựng không chỉ để thấy lại một gương mặt…
Mà để chúng ta hiểu rằng:
Đằng sau ánh mắt bình dị ấy là cả một thời tuổi trẻ đã gửi lại cho Tổ quốc.

❤️ Xin cúi đầu trước người nữ biệt động năm ấy…
Một bông hồng… nhưng được tôi luyện bằng thép./.
QV-ST!

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: AI DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN HƠN AI?

     Đại diện của Trung Quốc, Dominic Li, đã gây chấn động tại phiên họp của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc khi đưa ra những lời phát biểu đanh thép.

Tại phiên họp này, tôi muốn hỏi tất cả các vị: Tại sao nước Mỹ, một quốc gia do “những người của Epstein” điều hành lại tự cho mình quyền lên mặt dạy chúng ta phải làm gì? Ai cho phép nước Anh, một quốc gia đã bắt giữ 12.000 công dân của chính mình vì những bài đăng trên mạng xã hội, dạy chúng ta về quyền tự do dân sự? Tại sao các nước NATO lại lên giọng dạy bảo chúng ta về nhân quyền trong khi hoàn toàn làm ngơ trước tội ác diệt*chủng của chủ nghĩa phục quốc Do Thái ở Gaza? Họ là ai mà dám nói về công lý? Chúng ta sẽ không để bị bịt miệng bởi những quốc gia coi nhân quyền chỉ là con bài mặc cả và công cụ của chính sách đối ngoại. Chúng ta sẽ không nghe theo những kẻ lợi dụng nhân quyền như một thứ vũ khí, trong khi chính bàn tay của họ nhuốm m*áu người Palestine và Iran, điều mà dường như họ luôn cố tình quên đi.

Chúng ta sẽ đấu tranh cho đến khi tất cả các quốc gia được đối xử bình đẳng, cho đến khi thói đạo đức giả bị lên án, và cho đến khi nạn diệt*chủng chấm dứt. Hòa bình không chỉ bằng lời nói mà phải bằng hành động./.
QV-ST!

Thứ Hai, 23 tháng 3, 2026

NGÀY NAY CÓ CÁI GỌI LÀ "YÊU NƯỚC NHƯNG KHÔNG YÊU ĐẢNG" KHÔNG!?

     Tối cuối tuần, nằm lướt mạng xã hội cho nhẹ đầu, lại vô tình gặp mấy cái video quen quen:
“Yêu nước chứ không cần yêu Đảng”,
“Tổ quốc có trước, Đảng có sau”,
“Phải phân biệt chế độ với Tổ quốc”...

Nghe thì tưởng mới, nhưng thật ra là cũ đến mức… cũ rích.
Chợt nhớ lại, cách đây hơn một năm, mình từng làm một video trên TikTok phân tích khá kỹ về cái gọi là “yêu nước không yêu Đảng”. Video đó cũng viral một thời, tranh luận đủ kiểu. Tưởng đâu nói vậy là rõ rồi, ai cần hiểu thì đã hiểu.

Nhưng không. Những luận điệu này vẫn có “đất sống” của nó. Vẫn có những người ngày ngày ra rả lặp lại, vẫn có người vỗ đùi cái đét rồi gật gù nghe theo. Thôi thì, nhân tiện gặp lại, viết lại vài dòng để nói cho rõ – cho tới nơi tới chốn – cái bản chất thật sự của cái luận điệu này là gì.

Nào vào việc 👇👇👇

Trước hết phải hỏi cho rõ: Ai nói và nói nhằm mục đích gì? Chắc chắn không phải những ai nghiên cứu nghiêm túc, cũng không phải người dân lao động bình thường, hiếm lắm. Người dân thuần túy khi chưa có cảm tình hoặc chưa hiểu về Đảng họ lại không phát biểu kiểu này, mong có cơ chế tốt để làm ăn phát triển thôi. 
Phần lớn số hay ra rả luận điệu này là thế lực phản động, lưu vong, cơ hội chính trị, hoặc những “trí thức mạng” giả danh tư duy độc lập để nhai lại kịch bản “cách mạng màu” đã soạn sẵn.

Nguy hiểm hơn cả là một bộ phận giới trẻ – học sinh, sinh viên – do thiếu nền tảng thực tiễn, thấy lạ tai thì tưởng “phát kiến mới”, thấy trái chiều thì ngỡ “sâu sắc”. Họ không hay biết mình đang bị biến thành công cụ cho âm mưu chia rẽ niềm tin, dùng chính lòng yêu nước để chống lại dân tộc mình.

Những kẻ tung ra luận điệu này thực chất chẳng yêu Đảng, cũng chẳng yêu đất nước đang tồn tại hôm nay. Họ nhân danh lòng yêu nước để ngụy biện.

Hãy bóc tách thẳng thừng: Họ yêu cái Tổ quốc nào? Yêu cái thuộc địa bị xé ba kỳ dưới ách thực dân Pháp? Cái “mù mịt tăm tối” nơi chị Dậu phải bán con, anh Pha chết đói? Hay họ đang nuối tiếc một chế độ ngụy quyền tay sai đã bị lịch sử đào thải, vẫn ảo tưởng phục dựng cái thây ma VNCH?

Cái nghịch lý nằm ở đây: Thực thể đang chèo lái dân tộc đi lên thì họ phủ nhận sạch trơn; còn bóng ma quá khứ thì được tô vẽ đủ đường. Đó không phải phản biện – đó là giả danh, tráo trở, là sự phản bội trá hình, núp bóng "yêu nước"!

Nhìn lại lịch sử, sẽ thấy ngay cái sự “có vẻ hợp lý” ấy thực ra rất hời hợt. 

Đúng, dân tộc Việt Nam tồn tại hàng nghìn năm trước khi có Đảng. Nhưng cũng chính lịch sử đó cho thấy, trước khi có một đường lối đúng đắn, phong trào yêu nước tuy liên tục bùng lên nhưng đều rơi vào bế tắc. Từ các cuộc khởi nghĩa nông dân, đến phong trào Cần Vương, Đông Du, Duy Tân, Việt Nam Quốc dân đảng… tất cả đều mang trong mình tinh thần yêu nước, nhưng cuối cùng đều thất bại vì thiếu một con đường đúng và một lực lượng đủ tầm dẫn dắt. Đất nước mà chúng "yêu" bị xóa tên trên bản đồ thế giới, sống đời nô lệ thuộc địa cho thực dân.

Chỉ đến khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930, lịch sử mới chuyển sang một bước ngoặt khác. Từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đến hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giành độc lập, thống nhất đất nước, rồi lại đánh Tàu, đánh Pol pot xâm phạm ở biên giới, giữ yên bờ cõi, đó không phải là những biến cố ngẫu nhiên. Đó là kết quả của một đường lối chính trị đúng, của một tổ chức đủ bản lĩnh và khả năng tập hợp, dẫn dắt toàn dân tộc đi qua những thời khắc sinh tử. 

Nếu không có Đảng, đất nước này giờ là gì? Một thuộc địa kiểu mới, lệ thuộc mãi mãi? Một quốc gia bị chia cắt vĩnh viễn như bán đảo Triều Tiên? Hay một vùng đất bị “trao trả” như món quà thực dân – kiểu Israel-Palestine vẫn chìm trong xung đột triền miên, Ấn Độ-Pakistan chia cắt rồi chiến tranh liên miên, hay hàng loạt nước châu Phi đến tận hôm nay vẫn đói nghèo triền miên, nội chiến bắn nhau hàng ngày, trẻ em chết đói giữa bom đạn? Phủ nhận Đảng chính là phủ nhận máu xương cha ông, phủ nhận hàng triệu liệt sĩ đã nằm xuống để chúng ta hôm nay được sống.

Sau chiến tranh, đất nước bước vào giai đoạn xây dựng trong muôn vàn khó khăn. Từ một nền kinh tế kiệt quệ, bị tàn phá nặng nề, Việt Nam từng bước đổi mới, hội nhập, phát triển. Ngày hôm nay, khi nói đến một đất nước ổn định, đời sống người dân được cải thiện, vị thế quốc tế ngày càng nâng cao, thì đó không phải là thứ tự nhiên mà có. Đó là kết quả của cả một quá trình lãnh đạo, điều hành, tổ chức và lựa chọn con đường phát triển đúng đắn.

Đặt trong bối cảnh thế giới hiện nay, điều đó càng rõ hơn. Myanmar nội chiến; Bangladesh, Nepal hỗn loạn sau các cuộc lật đổ của Gen Z; Trung Đông thì kinh hoàng trong biển lửa Mỹ-Israel-Iran... Tất cả đều đang trả giá bằng máu cho sự bất ổn chính trị. So sánh không phải để tự mãn, mà để thấy rằng sự ổn định, hòa bình và phát triển không phải là điều hiển nhiên, mà là thành quả phải đánh đổi và gìn giữ.

Còn Việt Nam? Chúng ta vẫn có một cuộc sống bình thường nhưng đáng quý: sáng cà phê, chiều công việc, tối bạn bè, du lịch, sinh hoạt trong một môi trường ổn định, an toàn. Đó chính là minh chứng sống động cho thành quả lãnh đạo ấy – một sự ổn định vững vàng mà nhiều nơi trên thế giới đang thèm khát.

Thế nhưng, lắm kẻ kể cũng lạ, lúc sung sướng thì hô “không yêu Đảng”; lúc khó khăn bão lũ, dịch bệnh, xung đột quốc tế tác động lại gào lên “Đảng đâu rồi, Chính phủ làm gì đi!”. Đạo lý nằm đâu? Lòng biết ơn nằm đâu? Một con người tử tế không thể bạc bẽo với tổ chức đã mang lại độc lập, thống nhất, tự do cho chính mình!

Thực tiễn chính là thước đo chân lý sắc bén nhất và đập tan mọi ngụy biện. “Yêu nước không yêu Đảng” chẳng khác nào nói “yêu gia đình nhưng ghét bỏ cha mẹ”, “thích ăn cơm nhưng coi thường người trồng lúa”. Đó là logic quái đản, phi đạo lý, vô ơn đến mức không thể bào chữa!

Về mặt lý luận, lại càng không đứng vững. Không có một quốc gia nào tồn tại mà không gắn với một chế độ chính trị, một lực lượng lãnh đạo cụ thể. “Yêu nước” trong mọi hoàn cảnh lịch sử đều gắn với việc bảo vệ và xây dựng quốc gia trong khuôn khổ chính trị – xã hội cụ thể của nó, chứ không phải là một cảm xúc trừu tượng, đứng ngoài mọi thiết chế. Nói “yêu nước không cần yêu Đảng” thực chất là đang nói điều gì?

Nếu đã thừa nhận đất nước hôm nay – với độc lập, thống nhất, phát triển – thì không thể phủ nhận vai trò của lực lượng đã lãnh đạo tạo ra những điều đó. Không thể vừa đứng trên nền tảng của một quá trình lịch sử cụ thể, vừa phủ nhận chính quá trình ấy. Đó không phải là phản biện, mà là một sự mâu thuẫn trong nhận thức.

Không chỉ ở lý luận, mà thực tiễn cũng cho thấy sự gắn bó không thể tách rời ấy. Trong chiến tranh, những người ngã xuống là nhân dân và trong đó cũng có hàng vạn đảng viên. Ngày hôm nay, đầu sóng ngọn gió chống thiên tai, bảo vệ biên giới, cứu dân bão lũ chính là công an, quân đội, dân quân, biên phòng – tất cả đều là con em nhân dân, đều là đảng viên gắn bó máu thịt. Đảng không từ trên trời rơi xuống, Đảng chính là tổ chức của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đại hội XIV vừa qua đã khẳng định rõ ràng: Đảng lấy hạnh phúc của nhân dân làm thước đo chuẩn mực cao nhất cho mọi thành công lãnh đạo, coi “dân là gốc”, mọi đường lối phải hướng tới lợi ích quốc gia – dân tộc và hạnh phúc nhân dân làm mục tiêu tối thượng. Đảng và Nhân dân, Tổ quốc là một thực thể thống nhất không thể tách rời – thực tiễn đã chứng minh, cấm cãi.

Chính vì vậy, cái gọi là “tách Đảng ra khỏi Tổ quốc” thực chất là một thủ đoạn. Từ “không yêu” → “không tin” → “xa rời” → “chống đối”. Đó là quá trình dẫn dắt có chủ đích. Nói thẳng: đây không phải là một quan điểm độc lập, mà là một phần của chiến lược tuyên truyền nhằm chia rẽ và làm suy yếu từ bên trong.

Cũng cần nhìn nhận một cách thẳng thắn: ở bất kỳ quốc gia nào, trong bất kỳ chế độ nào, cũng luôn tồn tại những vấn đề, những hạn chế khiến người dân chưa hài lòng. Việt Nam không phải ngoại lệ. Nhưng điều quan trọng là cách mà Đảng, Nhà nước và Chính phủ lựa chọn – đó là nhìn thẳng vào sự thật, thừa nhận những tồn tại, kiên quyết chỉnh đốn, làm trong sạch bộ máy và tiếp tục hoàn thiện mình trong quá trình lãnh đạo đất nước. Ngay cả khi chịu tác động từ những biến động quốc tế, từ chiến sự, khủng hoảng kinh tế toàn cầu, đời sống có lúc còn khó khăn, thì rõ ràng chúng ta vẫn đang sống trong một môi trường hòa bình, ổn định và đáng sống hơn rất nhiều so với những nơi đang chìm trong bom đạn, bất ổn. Nhìn nhận điều đó không phải để tự mãn, mà để thấy giá trị của sự ổn định và trách nhiệm trong việc giữ gìn nó.

“Yêu nước không yêu Đảng” không phải là tư duy mới, càng không phải biểu hiện của trí tuệ hay cấp tiến. Đó là luận điệu xảo ngôn, yếu lịch sử, lỏng lẻo logic, và độc hại về mục đích đến mức phải vạch mặt chỉ tên. Điều đáng lo không phải là bản thân câu nói, mà là cách nó thẩm thấu vào nhận thức, đặc biệt là với giới trẻ. Khi những cách nhìn phiến diện được lặp lại đủ nhiều, nó dễ tạo ra một trạng thái mơ hồ về lịch sử, về vai trò của các lực lượng trong xã hội, từ đó dẫn đến những lệch lạc sâu hơn về nhận thức và thái độ.

Yêu nước là một giá trị lớn, nhưng không phải là một khái niệm tùy tiện muốn hiểu thế nào cũng được. Yêu nước, trước hết, là hiểu đúng lịch sử của chính đất nước mình, là nhìn nhận công bằng những gì đã tạo nên hiện tại, và là trân trọng những giá trị đang có trong một thế giới còn nhiều bất ổn. Còn nếu nhân danh “yêu nước” để phủ nhận nền tảng đã tạo ra đất nước ấy, thì đó không còn là yêu nước, mà chỉ là một cách nói nghe có vẻ hay, nhưng rỗng về nội dung và nguy hiểm về hệ quả.

Giữa rất nhiều thông tin trái chiều hôm nay, sự tỉnh táo không nằm ở việc lặp lại những câu nói “có vẻ đúng”, mà nằm ở khả năng nhìn xuyên qua lớp vỏ đó để thấy bản chất vấn đề. Và đó mới là điều mỗi người, đặc biệt là người trẻ, cần tự trang bị cho mình./.
QV-ST!

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: GIỮA LÒNG ĐẠI TÂY DƯƠNG, MỘT BÓNG ĐEN LẶNG LẼ TRÔI!

     Tên nó: Anatoly Kolodkin tàu chở dầu chính thức thuộc Chính phủ Nga, mang theo 730.000 thùng dầu thô Urals. Không phải tàu buôn vô danh, không đổi cờ, không lịch trình giả. Chỉ một đường thẳng: hướng Cuba.

Đó không còn là chuyện dầu. Đó là bài kiểm tra quyền lực.

Nếu con tàu cập cảng Matanzas vào đầu tháng 4, lệnh cấm vận hơn nửa thế kỷ của Mỹ sẽ bị xé toạc trước mắt thế giới. Một con tàu duy nhất, nhưng mang theo thông điệp rõ ràng: “Trừng phạt của các ông chỉ là giấy.”

Washington đang lưỡng lự. Có tiếng kêu gào: “Chặn nó. Ép quay đầu. Thậm chí đánh chìm.”

Nhưng đánh chìm một tàu chính phủ Nga giữa biển quốc tế sẽ không còn là vụ dầu mỏ nữa. Đó sẽ là bước chân đầu tiên vào đối đầu trực tiếp giữa hai cường quốc hạt nhân. Không tổng thống nào muốn mở màn một cuộc khủng hoảng toàn cầu chỉ vì 730.000 thùng nhiên liệu.

Ván cờ thật sự nằm ở đây:

Nga muốn chứng minh: “Sân sau của Mỹ vẫn có lối vào.”

Cuba chỉ cần thêm 30 ngày điện và hơi thở để sống sót.

Mỹ phải chọn giữa việc giữ uy tín trừng phạt và nguy cơ domino vượt khỏi kiểm soát.

Lịch sử từng nhắc chúng ta: năm 1962, cũng chỉ vài con tàu ngoài Đại Tây Dương đã khiến cả hành tinh nín thở.

Hôm nay chưa đến mức ấy.

Nhưng Anatoly Kolodkin là lời nhắc lạnh lùng nhất: trong địa chính trị, sức mạnh thật sự không nằm ở diễn văn. Nó nằm ở những tính toán im lặng, ở những con tàu nhỏ bé lướt qua đại dương.

Đôi khi, chỉ một bóng đen mang dầu cũng đủ phơi bày cách thế giới vận hành: không phải bằng khẩu hiệu, mà bằng quyền lực trần trụi.

Trong 1 diễn biến khác: Cuba từ chối cho phép Đại sứ quán Mỹ nhập dầu để chạy máy phát điện./.

QV-ST!

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: TỐI HẬU THƯ 48 GIỜ VÀ "CƠN ÁC MỘNG KHÁT" TẠI VÙNG VỊNH!

     TT Donald Trump vừa kích nổ "ngòi nổ hạt nhân" ngoại giao với tối hậu thư 48 giờ: Iran phải mở cửa Eo biển Hormuz hoặc đối mặt với các cuộc không kích hủy diệt. Tuy nhiên, Tehran đã đáp trả bằng một đòn hiểm hóc nhắm thẳng vào "tử huyệt" sinh tồn của toàn khu vực: Hệ thống khử mặn nước biển.

Đây không còn là cuộc chiến giành dầu mỏ, mà là cuộc chiến giành quyền được sống. Trong một khu vực khô cằn nhất hành tinh, các con số thống kê đã vẽ nên một kịch bản thảm khốc:

. Sự lệ thuộc tuyệt đối: Trong khi nước khử mặn chỉ chiếm 2-3% lượng tiêu thụ tại Iran, thì con số này là 90% ở Kuwait, 86% ở Oman và 70% ở Saudi Arabia. Mất các nhà máy này, những siêu đô thị như Dubai hay Doha sẽ "chết khát" chỉ trong vài ngày.

. Gót chân Achilles: 60% năng lực khử mặn toàn cầu tập trung tại đây. Các nhà máy này là mục tiêu cố định, dễ tổn thương trước UAV và tên lửa, nhưng lại mang tính sống còn hơn cả các mỏ dầu.

. Nghịch lý tiêu dùng: Dân vùng Vịnh tiêu thụ tới 400 lít nước/ngày, gấp gần 3 lần mức trung bình của Pháp. Sự hoang phí này khiến cơn hoảng loạn xã hội sẽ bùng phát tức thì nếu nguồn cung bị gián đoạn.

Khi TT Trump đe dọa làm Iran "tối thui", Tehran phản đòn bằng cách khiến cả vùng Vịnh "khô héo". Đây là giai đoạn một mất một còn đúng nghĩa: Mỹ dùng hỏa lực để mở cửa biển, nhưng Iran dùng "cơn khát" để bắt con tin là sự sinh tồn của toàn bộ đồng minh Mỹ.

Trung Đông đang đứng trước một vực thẳm nhân đạo mà ở đó, nước ngọt mới chính là vũ khí hủy diệt hàng loạt cuối cùng./.



QV-ST!

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: CẬP NHẬT BIẾN ĐỘNG: KỊCH BẢN ĐỐI ĐẦU TOÀN DIỆN ĐANG CẬN KỀ!

     Cuộc đối thoại giữa giáo sư Seyed M. Marandi và Glenn Diesen phơi bày một thực tế rằng thế giới đang đứng trước ngưỡng cửa của một cuộc xung đột không có đường lui, nơi mọi quy tắc thông thường đã bị gạt qua một bên.

1. RỦI RO ĐÁNH VÀO CÁC HẠ TẦNG CHIẾN LƯỢC SINH TỬ
Tình hình đã leo thang đến mức chưa từng có khi các cơ sở năng lượng đặc biệt trở thành mục tiêu:

- Tác động vào hệ thống hạt nhân: Việc phía Is-ra-eo nhắm đến các nhà máy điện tại Bushehr và Natanz đã mở ra một tiền lệ cực kỳ rủi ro. Giáo sư Marandi khẳng định hành động này vượt xa khuôn khổ quân sự thông thường, có thể dẫn đến hệ lụy môi trường và an toàn sinh thái trên quy mô toàn cầu.

- Phản ứng từ phía Bá Tư: Để đáp trả, Bá Tư đã đưa khu vực thành phố Dimona - nơi đặt các cơ sở nhạy cảm của đối phương - vào tầm ngắm. Đây là thông điệp rõ ràng: Nếu hạ tầng cốt lõi của Bá Tư bị đe dọa, không một tọa độ nào ở phía bên kia eo biển được coi là vùng an toàn.

2. TỐI HẬU THƯ 48 GIỜ VÀ KỊCH BẢN PHẢN ỨNG CHUYỂN TIẾP
Lão Don vừa đưa ra yêu cầu yêu cầu Bá Tư mở lại eo biển Hormuz trong vòng 48 giờ, kèm theo cảnh báo về các cơ sở năng lượng lớn nhất.

- Lời đáp từ phía Bá Tư: Giáo sư Marandi cho biết quân đội Bá Tư đã đưa ra xác nhận: Nếu đe dọa này được thực thi, toàn bộ các nhà máy năng lượng và hệ thống khử mặn nước biển dọc khắp các quốc gia vùng Vịnh sẽ đối mặt với tình trạng ngưng hoạt động hoàn toàn.

- Hệ quả: Điều này đồng nghĩa với việc vô hiệu hóa khả năng duy trì sự sống tại các quốc gia này, vì họ hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn nước ngọt từ các nhà máy lọc nước biển.

3. SỰ ĐỨNG TRẦN CỦA CHUỖI CUNG ỨNG KINH TẾ TOÀN CẦU
Nếu một cuộc đối đầu tổng lực nổ ra, hậu quả sẽ vượt xa mọi dự tính:

- Khủng hoảng năng lượng diện rộng: Việc đình trệ hạ tầng tại vùng Vịnh sẽ khiến nguồn cung dầu khí thế giới rơi vào trạng thái tê liệt. Chi phí năng lượng không chỉ tăng vọt mà sẽ trở nên khan hiếm tuyệt đối, dẫn đến sự đình trệ dây chuyền của các ngành công nghiệp.

- Thách thức an ninh lương thực: Cuộc xung đột này sẽ gây ra tình trạng đứt gãy nguồn cung phân bón và hóa chất nông nghiệp (do thiếu hụt nguyên liệu thô), dẫn đến nguy cơ mất an ninh lương thực cho hàng tỷ người trên thế giới.

4. VỊ THẾ CỦA LÃO DON VÀ SAI LẦM CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẾ CHẾ
Giáo sư Marandi chỉ ra rằng các quyết sách hiện tại đang thiếu đi sự nhất quán cần thiết:

- Sụt giảm lòng tin: Những thông điệp thay đổi liên tục khiến phía Bá Tư không còn đặt niềm tin vào bất kỳ thỏa thuận hay cam kết nào từ Oa-sinh-tơn.

- Đánh giá sai năng lực đối phương: Việc Mẽo tin rằng mình có khả năng kiểm soát mức độ leo thang là một sai lầm. Thực tế, Bá Tư mới là bên có khả năng tác động mạnh mẽ lên toàn bộ tài sản của đối phương trong khu vực nhờ hỏa lực drone và tên lửa vượt xa các báo cáo tình báo phương Tây.

5. SỨC MẠNH NỘI TẠI VÀ TRỤC LIÊN MINH KHÁNG CHIẾN
Sự đồng thuận quốc gia: Trái với mong đợi, người dân Bá Tư đang thể hiện sự đoàn kết cao độ cho một cuộc chiến bảo vệ chủ quyền.

Các quân bài dự phòng: Các lực lượng tại Yemen, Iraq và Lebanon vẫn chưa tung hết năng lực thực tế. Nếu tình hình đi quá giới hạn, toàn bộ các căn cứ tại Iraq và các cơ sở tài nguyên tại Azerbaijan cũng sẽ nằm trong danh sách xử lý ưu tiên.

💡 NHẬN ĐỊNH TỔNG LỰC:
Giáo sư Marandi kết luận rằng chúng ta đang chứng kiến sự rạn nứt sâu sắc của một hệ thống cũ. Sự cứng rắn thiếu tính toán đang đẩy thế giới vào một "Đại suy thoái phiên bản 2026" với mức độ nghiêm trọng hơn quá khứ. Đây không phải là cuộc chiến để tìm ra người thắng, mà là một hành trình tự bào mòn sức mạnh của phương Tây do chính những sai lầm trong chiến lược của nhóm điều hành tại Đầm Lầy./.
Ảnh minh họa/ConceptArt
QV-ST!