Thứ Sáu, 10 tháng 4, 2026

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: THỰC TẾ CUỘC CHIẾN ĐẶC BIỆT CỦA NGA TẠI UKRAINE!

     Trên mạng đang xuất hiện một số trang, nhóm viết, đăng bài bài trừ về Nga. Nào thì Nga thua, Nga hết tiền phải bán kho dự trữ vàng...

Không lẽ so sánh một người giàu có quyền lực số 1 thế giới với một kẻ ngửa tay vay mượn ăn xin suốt ngày? Mấy hôm nay, anh hề Zelelsky không lên mạng xin hỗ trợ, nhóm tây lông âm thầm sang hỗ trợ đánh Nga là vì chúng vừa lấy được 90 tỷ USD tài sản đóng băng của Nga, nếu không tây lông đã bỏ rơi Ukraine không một chút quay lại.

Hãy so sánh vài chi tiết: 
1. Nga là nước có trên 6000 đầu đạn hạt nhân, đứng số 1 thế giới ( trong đó 1500 đầu đạn đã được kích hoạt). Đứng thứ 2 là Mỹ gần 1600 đầu đạn.

2. Nga không có nợ công, không bao giờ đi vay mượn nước nào, Nga không phải phụ thuộc nhiên liệu nước nào. Trong khi đó, nước Mỹ nợ công sấp sỉ 40 ngàn tỷ USD cao nhất thế giới và không có hoàn trả.

3. Giữa lúc kinh tế cả thế giới khó khăn , Mỹ xua lính đi bắt cóc, giết người để cướp dầu mỏ, ép ăn chia kinh tế. Còn Nga cả thế giới xin mua dầu, mỗi hợp đồng đủ dân Nga sống cả năm, giữa lúc giá vàng cao, Putin cho mở kho 5300 tấn bán ra thu lợi nhuận. Nga còn bán được nhiều HĐ vũ khí với số tiền hàng triệu đô. Các nước khác đều nợ công cao ngất, bắt tay nhau đi xâm chiến cướp tàu dầu, thu nhập thì vàng 2 con mắt. Trong khi Nga vẫn đi giúp các nước khác về mọi mặt.

4. Nga đã kiểm soát được những vùng chiếm đóng của Ukraine và có tên trên bản đồ Nga, lính Nga hăng say ra trận vừa hát hò nhảy múa, ở nhà di động như khách sạn, ăn răm bông, thịt hộp, uống cà phê. Còn Ukraine đi cướp lính như bắt trộm , Zelelsky lên mạng bốc phét về thành tích nhưng hàng ngày vẫn kêu cứu Mỹ xin đàm phán với Nga hoặc xin dừng bắn... quân Nga hy sinh rất ít trong mỗi lần trao đổi thi thể binh sĩ. Bằng chứng gần nhất là hôm qua 9/4 Nga và Ukraine trao đổi tử thi binh sĩ, trong đó Nga 41- Ukraine 1110 thi thể.
5. Chiến tranh Nga - Ukraine. Thanh niên Nga tự nguyện đăng kí nhập ngũ bảo vệ đất nước, mỗi binh sĩ hy sinh đều được Nga hỗ trợ riêng một khoản tiền, ngoài ra còn tiền chính sách hàng tháng. Tổng thống Putin được cả nước Nga tôn kính đặt cho cái tên: Đại đế

Còn Ukraine, giữa lúc đất nước chiến tranh nhưng thanh niên chạy đi tị nạn các nước, người ở lại bị cướp giữa đường đưa ra trận, hàng ngàn người dân xuống đường biểu tình đòi con em họ vì đi lính nhưng được báo về là bị mất tích

6. Đối với cuộc chiến Mỹ, ISRAEL - IRAN: Mỹ tấn công nhưng phải nhiều lần đề xuất với IRAN về đàm phán. Tuy giết được hàng loạt lãnh đạo của IRAN nhưng Mỹ vẫn thua thảm hại, bằng chứng người dân cả nước Mỹ 50/50 bang xuống đường biểu tình đòi phế truất tổng thống Trump, các nghị sĩ Mỹ thông qua Nghị quyết phế truất Trump và đòi luận tội. Cả thế giới căm phẫn nước Mỹ ngang nhiên đi bắt cóc, giết lãnh đạo những nước có chủ quyền và được Luật pháp quốc tế bảo vệ. Nước Mỹ bị mất uy tín khi kêu gọi đồng minh NaTo hỗ trợ nhưng đều bị các nước từ chối.

Đó tất cả là thực tế. Vậy, bọn 3/, bưng bô hãy mở mắt đọc cho kỹ để ém bớt mồm lại, chúng mày bài trừ Nga là một sự ngu xuẩn, chúng mày vẫn bưng bô cho Mỹ và Trump lại càng ngu xuẩn./.

QV-ST!

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: TỔNG BÍ THƯ TẬP CẬN BÌNH TIẾP CHỦ TỊCH QUỐC DÂN ĐẢNG TRỊNH LỆ VĂN!

     Ngày 10/4, tại Bắc Kinh, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc Tập Cận Bình đã tiếp bà Trịnh Lệ Văn (Cheng Li-wun), Chủ tịch Quốc Dân Đảng Trung Quốc (KMT).

Nhận lời mời của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Tổng Bí thư Tập Cận Bình, bà Trịnh Lệ Văn là Chủ tịch Quốc Dân Đảng đầu tiên dẫn đầu phái đoàn đến thăm Trung Quốc đại lục sau một thập niên.

Đoàn đã đến thăm tỉnh Giang Tô, Thượng Hải trước khi đến Bắc Kinh.

Tại buổi tiếp, Tổng Bí thư Tập Cận Bình cho biết, cuộc gặp giữa lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc Dân Đảng sau 10 năm này có ý nghĩa quan trọng đối với việc phát triển quan hệ hai Đảng và hai bờ eo biển.

Tổng Bí thư Tập Cận Bình nhấn mạnh, cho dù tình hình quốc tế hay tình hình hai bờ eo biển có thay đổi thế nào đi nữa, xu thế lớn về sự phục hưng vĩ đại của dân tộc Trung Hoa sẽ không thay đổi, và trào lưu lớn xích lại gần nhau hơn, xích lại cùng nhau của đồng bào hai bờ eo biển cũng không thay đổi.

Tổng Bí thư Tập Cận Bình nói, đồng bào hai bờ eo biển đều mong muốn hòa bình và ổn định, mong muốn quan hệ hai bờ eo biển được cải thiện và phát triển, mong muốn cuộc sống tốt đẹp hơn, đồng thời thêm rằng đây là trách nhiệm mà Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc Dân Đảng không thể trốn tránh, cũng là động lực để chung tay hợp tác./.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TỔNG BÍ THƯ, CHỦ TỊCH NƯỚC TÔ LÂM DỰ LỄ ĐÓN NHẬN DANH HIỆU ANH HÙNG LLVT NHÂN DÂN CỦA QUÂN KHU 3!

     Sáng 10-4, tại thành phố Hải Phòng, Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 3 long trọng tổ chức Lễ đón nhận danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương dự và phát biểu chỉ đạo.

Các đồng chí: Nguyên Chủ tịch nước Lương Cường; Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng; nguyên Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính; Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn gửi lẵng hoa chúc mừng.

Tham dự buổi lễ có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Đại tướng Phan Văn Giang, Phó thủ tướng Chính phủ, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Nguyễn Duy Ngọc, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương; Trần Sỹ Thanh, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Trung ương; Lê Minh Trí, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương; Trịnh Văn Quyết, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương; Đại tướng Lương Tam Quang, Bí thư Đảng ủy Công an Trung ương, Bộ trưởng Bộ Công an; Đại tướng Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị. 

Cùng dự có các đồng chí nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng: Đại tướng, Anh hùng LLVT nhân dân Phạm Văn Trà, nguyên Phó bí thư Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) nguyên Tư lệnh Quân khu 3; Đại tướng Ngô Xuân Lịch, nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Phó bí thư Quân ủy Trung ương, nguyên Chính ủy Quân khu 3.

Dự buổi lễ có các đồng chí Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Trung ương Đảng; đại biểu lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các ban, bộ, ngành Trung ương. Cùng dự có Đại tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; đại biểu lãnh đạo, nguyên lãnh đạo: Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, Bộ Tổng Tham mưu và các cơ quan, đơn vị trực thuộc Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng.

Báo cáo tóm tắt thành tích được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân của LLVT Quân khu 3 tại buổi lễ, Trung tướng Lương Văn Kiểm, Phó bí thư Đảng ủy, Tư lệnh Quân khu 3 nhấn mạnh: Quân khu 3 được thành lập ngày 31-10-1945, là địa bàn có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng cả về kinh tế và quốc phòng - an ninh của miền Bắc và cả nước; là vùng đất giàu truyền thống lịch sử, văn hóa, cái nôi của nền văn minh sông Hồng. Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, địa bàn Quân khu diễn ra nhiều trận đánh nổi tiếng với những chiến công hiển hách.

Trải qua hơn 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, dưới sự lãnh đạo của Đảng mà thường xuyên, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; các thế hệ cán bộ, chiến sĩ lực LLVT Quân khu 3 luôn anh dũng chiến đấu, lập nhiều chiến công xuất sắc, cùng với toàn Đảng, toàn dân và toàn quân giành những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và làm tròn nghĩa vụ quốc tế vẻ vang.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, Quân khu 3 là vùng “địch hậu”. LLVT Liên khu 3 đã tích cực “chia lửa” với các chiến dịch lớn ở các hướng, đồng thời trực tiếp tham gia nhiều chiến dịch quan trọng. Phong trào toàn dân “Đắp lũy, đào hào, xây dựng làng chiến đấu, biến mỗi thôn xóm thành một pháo đài, mỗi người dân là một chiến sĩ anh dũng, chiến đấu ngay trong lòng địch” đã trở thành điển hình trong cả nước.

Bằng sự mưu trí, dũng cảm, cách đánh sáng tạo, LLVT Quân khu 3 đã cùng với các tầng lớp nhân dân, các đơn vị chủ lực chiến đấu ngoan cường giành thắng lợi trong nhiều chiến dịch như: Trần Hưng Đạo, Quang Trung, Hòa Bình; lập nên những chiến công vang dội như "Sấm đường 5"; “Đường 10 quật khởi”; "Cát Bi rực lửa"... tạo cục diện thuận lợi cho ta trên chiến trường Bắc Bộ; góp phần cùng với quân dân cả nước làm nên Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, đưa cách mạng Việt Nam bước sang giai đoạn mới.  

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, với tinh thần “Toàn Quân khu hướng ra tiền tuyến”, “Toàn Quân khu ra trận”, Quân khu 3 vừa là hậu phương lớn chi viện sức người, sức của cho các chiến trường. Đồng thời phối hợp với các lực lượng kiên cường bám trụ, anh dũng chiến đấu, bắn rơi hàng nghìn máy bay, bắn cháy, bắn chìm hàng trăm tàu chiến Mỹ, đập tan các chiến dịch phá hoại của đế quốc Mỹ, đặc biệt là chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”, bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa, góp phần cùng cả nước làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.   

Bước vào thời kỳ đổi mới, cán bộ, chiến sĩ LLVT Quân khu 3 tiếp tục giữ vững và phát huy những chiến công, thành tích; là một trong những lực lượng nòng cốt giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc ở biên giới phía Bắc; phối hợp với các lực lượng giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo môi trường thuận lợi để các địa phương phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Duy trì nghiêm nền nếp, chế độ sẵn sàng chiến đấu, luôn là lực lượng xung kích đi đầu và lập nhiều thành tích xuất sắc trong phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn. Không ngừng đổi mới, sáng tạo, nâng cao chất lượng huấn luyện, giáo dục, đào tạo, diễn tập, hội thi, hội thao. Công tác xây dựng chính quy, quản lý, rèn luyện kỷ luật có nhiều chuyển biến tiến bộ. Thực hiện có hiệu quả chương trình phát triển kinh tế - xã hội, dự án kinh tế - quốc phòng, các công trình có ý nghĩa chiến lược trên địa bàn. Đồng thời, tiến hành công tác dân vận, công tác chính sách và thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội; góp phần xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc.

Trải qua hơn 80 năm chiến đấu, xây dựng và trưởng thành, các thế hệ cán bộ, chiến sĩ đã nối tiếp, cùng nhân dân vùng châu thổ sông Hồng lập nên những chiến công hiển hách, xây đắp nên truyền thống “Đoàn kết, chủ động, sáng tạo, hy sinh, chiến thắng”, không ngừng tô thắm truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, giữ vững phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới.

Với những thành tích xuất sắc đạt được trong hơn 80 năm qua, LLVT Quân khu và hàng vạn lượt tập thể, cá nhân được Đảng, Nhà nước ghi nhận, trao tặng nhiều phần thưởng cao quý, được Bác Hồ nhiều lần đến thăm.

Đặc biệt, ghi nhận thành tích đặc biệt xuất sắc của Quân khu trong công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng lực lượng Quân đội nhân dân, củng cố quốc phòng, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc; ngày 13-2-2026, Chủ tịch nước đã ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân cho Quân khu 3. Đây là phần thưởng cao quý, là niềm vinh dự, tự hào của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ trong LLVT Quân khu, khẳng định tầm vóc và sự đóng góp to lớn của LLVT Quân khu trong sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, của dân tộc./.



Theo QĐND
QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: NỮ ANH HÙNG TRẦN THỊ LÝ!

     Hồ sơ bệnh án tại Bệnh viện Việt - Xô (Hà Nội) ghi: “Cân nặng: 26 kg. Tình trạng bệnh nhân: Suy kiệt, luôn lên cơn co giật, có 42 vết thương trên người liên tục rỉ máu, đầu vú bị cắt còn loét nham nhở, bộ phận sinh dục chảy máu liên tục". Đó là bệnh nhân đặc biệt - Trần Thị Nhâm (tức Lý), tuổi 25, quê Miền Nam.

Nữ anh hùng Trần Thị Lý sinh năm 1933 tại Quảng Nam, tham gia Cách Mạng từ năm 12 tuổi. Trong giai đoạn từ 1951 - 1956, Trần Thị Lý tham gia đường dây cán bộ nằm vùng, 2 lần bị bắt. Năm 1956, bà bị chính quyền VNCH bắt lần thứ 3, bị tra tấn với những hình thức dã man nhất như: điện giật, dùi đâm, đổ nước xà phòng, dùng dao cắt vú, dùng lửa nung bộ phận sinh dục đến nỗi bị mất khả năng sinh sản... nhưng người phụ nữ trung kiên ấy vẫn không hé răng dù chỉ một lời.

Tháng 10 năm 1958, Trần Thị Lý bị tra tấn tới kiệt sức, cai ngục của ngụy quyền nghĩ rằng bà không thể sống được nữa nên đem vứt bà ra bãi rác nhà lao Vĩnh Diện, bà thoát chết một cách hi hữu, được đồng đội bí mật đón về, chăm sóc tại Điện Bàn rồi bí mật chuyển vào Sài Gòn. Thấy "mất xác" bà, bọn mật vụ Quảng Nam và cả Sài Gòn truy lùng gắt gao. Các cơ sở của ta phải liên tục đổi chỗ ở cho chị, sức khỏe chị ngày một suy sụp, các vết thương bị nhiễm trùng nặng. Bằng nhiều phương tiện và nhiều chặng, các cơ sở cách mạng của ta đã đưa chị sang được Campuchia. Tại đây một gia đình Việt kiều yêu nước quê gốc Nghệ An đã làm hộ chiếu giả, đưa chị lên máy bay ra Hà Nội để chữa trị và tố cáo tội ác tày trời của Mỹ - Diệm.

Sự kiện Trần Thị Lý bị bắt, bị kẻ thù tra tấn dã man ngoài sức tưởng tượng đã làm rúng động dư luận thế giới và lương tri loài người lúc bấy giờ.
17 giờ ngày 25-10-1958, Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam từ Hà Nội phát bản tin về Trần Thị Lý với nội dung: “Chị Lý bị bọn tay chân của Diệm bắt đánh đập, bắt “sám hối” với những nhục hình dã man như: lấy kìm sắt kẹp vào người rứt ra từng mảng thịt, dùng điện tra vào đầu vú và bộ phận sinh dục!”.

Tiếp đó, lúc 7 giờ 15 ngày 19-11-1958, Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam lại phát đi lời kêu gọi của Trần Thị Lý gửi Ủy ban Quốc tế, chị kể: “Lần thứ 3, tháng 3-1956, chúng bắt tôi về nhà lao Hội An và tra tấn vô cùng dã man, tên Phan Văn Lợi, người do Diệm cử từ Sài Gòn ra, cùng nhiều tên khác trực tiếp tra tấn. Chúng đổ nước xà phòng và nước bẩn vào họng tôi rồi mang giày đinh thi nhau đạp lên bụng, lên ngực làm nước trào ra miệng và mũi. Chúng lấy móc sắt xuyên bàn chân tôi rồi treo ngược lên xà nhà, dùng điện tra vào cửa mình và vú; lấy dao xẻo từng miếng thịt trên đùi, cánh tay và ngực. Chúng dùng kìm sắt nung đỏ rồi kẹp vào bắp thịt tôi rứt ra từng mảng, dùng thước sắt thọc vào âm đạo... Chúng bắt tôi phải nhận tội “Thân cộng” và “Chống chính phủ quốc gia” của chúng!”.

Ngày 21-11-1958, 5 bộ đội Liên khu 5 viết kiến nghị và được 2.000 đại biểu ký gửi đến Ủy ban Quốc tế phản đối sự dã man của chính quyền Sài Gòn đối với Trần Thị Lý. Từ ngày 11 đến 21-11-1958, 39 đoàn khách quốc tế đến thăm chị Lý và 62 đoàn khác tiếp tục đăng ký vào thăm. Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam cũng phát đi lời của ông Chủ tịch Hội Hữu nghị Anh -Việt rằng:
“Với chính sách đàn áp dã man, chính quyền Ngô Đình Diệm đã tỏ ra rất thối nát. Ủy ban Quốc tế tại Việt Nam cần lưu ý ngay đến vấn đề này, đó là nhiệm vụ của họ!”.

Khi nhà thơ Tố Hữu đến thăm Trần Thị Lý, ông đã khóc rất nhiều vì quá xúc động. Tháng 12-1958, bài thơ “Người con gái Việt Nam” của ông ra đời (sau đó được dịch ra nhiều thứ tiếng), gây xúc động lòng người và là tâm điểm chú ý của dư luận quốc tế.

NGƯỜI CON GÁI VIỆT NAM
“Em là ai? Cô gái hay nàng tiên
Em có tuổi hay không có tuổi
Mái tóc em đây, là mây hay là suối
Đôi mắt em nhìn hay chớp lửa đêm giông
Thịt da em hay là sắt là đồng?”

... “Tỉnh lại em ơi, qua rồi cơn ác mộng
Em đã sống lại rồi em đã sống!
Điện giật, dùi đâm, dao cắt, lửa nung
Không giết được em, người con gái anh hùng!”

... “Từ cõi chết, em trở về, chói lọi
Như buổi em đi, ngọn cờ đỏ gọi
Em trở về, người con gái quang vinh
Cả nước ôm em, khúc ruột của mình”./.
Thơ Tố Hữu.
QV-ST!

Thứ Năm, 9 tháng 4, 2026

BẠN CÓ BIẾT: NGƯỜI LÍNH HÓA HỌC - DẤU LẶNG GIỮA NHỮNG BÌNH YÊN!

     Ai đó nói rằng, lịch sử được viết nên bằng tiếng súng. Rằng vinh quang của người lính là bước chân xông pha nơi tuyến đầu, là ánh chớp của kim loại, là âm vang của những trận đánh làm rung chuyển đất trời.

Nhưng khi bạn khoác lên mình màu áo của người lính Hoá học, bạn sẽ hiểu: có những chiến công không cần âm thanh, vẫn đủ sức làm nên lịch sử.

Bộ đội Hoá học bước vào trận địa khi mọi thứ dường như đã lắng xuống. Không còn tiếng nổ, không còn khói lửa, chỉ còn lại những âm thầm mà nguy hiểm. Kẻ thù đối diện không mang hình hài cụ thể, không lộ diện rõ ràng chỉ là những yếu tố vô hình: một làn khí độc, một vùng nhiễm xạ, một nguồn nước tưởng như yên bình nhưng ẩn chứa hiểm họa.

Trận chiến của người lính Hoá học vì thế cũng khác. Không có ranh giới rõ rệt giữa chiến tuyến. Không có tiếng hò xung phong. Chỉ có sự tĩnh lặng đến căng thẳng, nơi mỗi bước chân đều phải đo đếm, mỗi thao tác đều phải chính xác đến tuyệt đối.

Chúng tôi không chiến đấu để khiến kẻ thù khiếp sợ, mà để giữ cho bộ đội, cho Nhân dân không còn phải sợ hãi, được sống bình an. Chúng tôi không tạo ra sức ép, mà xoá bỏ những mối đe doạ. Sức mạnh không nằm ở sự huỷ diệt, mà ở khả năng bảo vệ bảo vệ sự sống trong hình hài mong manh nhất.

Nếu cần gọi tên “hoả lực” của người lính Hoá học, thì đó không phải là tiếng nổ, mà là năng lực kiểm soát nguy cơ VLHDHL. Là những thiết bị trinh sát PXHH tinh vi lần theo dấu vết của hiểm họa, là quy trình tiêu độc, tẩy xạ, diệt trùng khép kín, là sự phối hợp nhịp nhàng giữa người lính và công nghệ để biến cái vô hình thành hữu hình, thành những chỉ số an toàn; biến nguy cơ thành điều có thể chế ngự. “Hoả lực” ấy không phát ra âm thanh, nhưng lan toả bằng độ tin cậy Bộ đội Hoá học có mặt, hiểm nguy buộc phải lùi bước.

Chúng ta nói về phần thưởng, thì trong những thời khắc khốc liệt nhất. Phần thưởng của chúng tôi là khi những vùng nhiễm độc được khống chế, khi từng mét đất, từng khoảng không được trả lại sự an toàn; là khi đồng đội có thể tiếp tục chiến đấu mà không còn nỗi lo phía sau lưng, là khi nhân dân được bảo vệ trước những hiểm hoạ tưởng chừng không thể chống đỡ. Và hơn hết, đó là khi chiến trường trở lại trạng thái có thể sống được khi cái chết hoá học bị đẩy lùi trong im lặng. Có những chiến công không được gọi tên, bởi vùng nhiễm đã bị xoá đi trước khi kịp được nhắc đến. Và chính sự lặng im ấy, lại là minh chứng sâu sắc nhất cho giá trị của chúng tôi.

Ẩn sau lớp mặt nạ và bộ khí tài kín mít là những con người rất đỗi bình thường- chúng tôi cũng biết mệt, biết lo, biết nhớ. Mồ hôi thấm lặng, những hi sinh không gọi thành tên, những khó khăn không nói thành lời. Tất cả đều được giữ lại phía sau mặt nạ. Bởi phía trước chúng tôi, điều cần hiện hữu là sự chắc chắn và niềm tin.
         
Ngày 19 tháng 4 năm 1958 một mốc son mở đầu cho hành trình của Bộ đội Hoá học. Năm 2026 tròn 68 năm một chặng đường đủ dài, đủ sâu để tự hào. 68 năm ấy không chỉ là con số của thời gian, mà là chiều dài của những cống hiến thầm lặng của biết bao lớp lớp những người Chiến sĩ Phòng hóa, của những bước chân đi qua những nơi không ai muốn đến, để đổi lại những nơi ai cũng muốn ở lại.
            
Hôm nay, khi thế giới vẫn tiềm ẩn những xung đột khó lường, khi nguy cơ sự cố hoá chất độc, sinh học, phóng xạ và hạt nhân (CBRN) ngày càng phức tạp, vai trò của người lính Hoá học càng trở nên quan trọng hơn. Họ không chỉ đối diện với hiểm họa truyền thống, mà còn phải thích ứng với những thách thức mới tinh vi hơn, khó nhận diện hơn và nhanh hơn.
            
Chiến trường hôm nay có thể không hiện hữu bằng hình ảnh quen thuộc, nhưng lại mở rộng trong không gian số, trong môi trường công nghiệp, trong đời sống dân sinh. Và ở đó, người lính Phòng hóa vẫn lặng lẽ giữ vai trò “người gác cửa” cho sự an toàn bằng tri thức, bằng công nghệ và bằng trách nhiệm.
          
Giữa dòng chảy ấy, mỗi chúng tôi chỉ là một phần rất nhỏ. Nhưng chính những phần nhỏ bé ấy đã góp lại thành một sức mạnh bền bỉ âm thầm mà kiên định, lặng lẽ mà vững vàng. Mỗi chúng tôi, cũng như bao người lính Phòng hoá khác, không cần đứng giữa ánh hào quang để thấy tự hào. Bởi đôi khi, được là một “dấu lặng” trong bản nhạc lớn của bình yên-lại chính là vinh quang sâu sắc nhất./.




QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: TRUY KÍCH NHÓM BIỆT KÍCH THÁI LAN TẤN CÔNG TRẠI GIAM LÀO!

     Tôi vẫn luôn nghĩ mình là người may mắn khi được sống và chiến đấu qua những năm tháng đầy thử thách. Từ tuyến 559 vào B3, rồi lặng lẽ băng qua Nam Tây Nguyên đến những cánh rừng hạ Lào mênh mông trên cao nguyên Boloven, men theo đường 16, 23, 24. Hành trình ấy đưa tôi về Binh Trạm 37, rồi Binh Trạm 44, qua Quảng Nam, trước khi lại tiếp tục sang tận vùng Tây Bắc Campuchia... Là lính Quân báo, tôi quen với việc cứ mỗi khi cấp trên giao nhiệm vụ là lập tức lên đường. Nhìn lại, đó là quãng đời thanh xuân được thử thách, được rèn luyện và cũng là những ký ức mà tôi luôn trân trọng, như một phần sâu đậm nhất trong hành trình đời mình. Trong muôn vàn chuyện đã trải qua, ấn tượng nhất vẫn là lần truy kích toán biệt kích Thái Lan tấn công trại giam của bạn Lào!

Những năm đầu 1972, quân báo chúng tôi ngày ấy chẳng khác gì “ma xó”, len lỏi khắp rừng sâu núi thẳm. Khi đóng quân ở Paksong (Champasak, Lào) gần đó có một bản nhỏ của đồng bào người Việt sinh sống. Tuy vậy, để giữ bí mật, chúng tôi vẫn chọn ngủ cách bản chừng một cây số.

Tinh mơ hôm sau, chừng 5 giờ sáng, dân bản tìm đến báo tin rằng đêm qua có khoảng ba chục người mặc quần áo giống bộ đội Việt Nam tới xin gạo. Nhưng điều làm họ cảnh giác chính là giọng nói của họ nghe lơ lớ tiếng Thái. Chúng tôi lập tức báo về đoàn bộ: “Có toán lạ đi ngay qua khu vực chúng tôi đóng đêm qua. Dấu chân còn mới, rất nhiều. Xin chỉ thị!”. 

Chừng ít phút sau, có điện trả lời biệt kích Thái vừa tấn công trại giam của quân đội Lào, cướp tù và đang tìm đường rút. Mệnh lệnh được đưa ra, phải truy kích ngay.

Chúng tôi tăng cường thêm một tiểu đội công binh, tỏa đi lùng sục khắp các cánh rừng quanh bản. Suốt buổi sáng không thấy gì, đến gần 9 giờ anh em tôi nghỉ giải lao. Tôi và một vài anh em vác súng đi kiếm vài trái dừa uống nước cho mát. Ai dè chỉ vì bước chân rẽ qua bụi cây cứt lợn mà phát hiện ra một lối mòn như của heo đi. Linh cảm trỗi dậy, tôi men theo lối nhỏ ấy, hướng xuống bờ sông.
Bất ngờ một tiếng la phía trước. Phản xạ của lính trận khiến chúng tôi xoay súng, lia nhanh một loạt xuống khu vực phát tiếng động rồi hô lớn: “Đứng im! Đầu hàng ngay không chết!”.

Lúc ấy tôi mới nhận ra, chúng tôi chỉ cách họ chừng mười mét, đủ gần để chúng nhìn thấy từ đầu gối tôi trở xuống. Vì toán biệt kích bị lạc nhau, chúng tưởng tôi là người của chúng nên vừa ló mặt ra thì gặp ngay loạt đạn phản ứng của tôi. Một loạt thôi, nhưng cũng đủ làm mấy tên bị thương, còn lại hơn chục tên sợ tái mét, giơ tay xin hàng.

Nghe tiếng súng, anh em còn lại ùa đến. Chúng tôi ném dây dù bắt bọn chúng tự trói nhau, rồi dẫn giải về. Dân bản kéo ra xem, lập tức nhận ra chính là những kẻ đêm qua đến xin gạo. Có một tên từng hai lần trốn trại, nghe đâu rất giỏi võ karate vậy mà lúc bị bắt lại run như lá, sợ chết hơn ai hết.

Khi đem cho chúng thau cơm độ 4 - 5 lon gạo, cả bọn xúm lại bốc ăn ngấu nghiến.Tôi dọa bắt thằng toán trưởng đứng ra khai báo, hắn sợ đến phát khóc như trẻ con.

Sau vụ đó không lâu, tôi được điều ra Bắc, về Bắc Ninh học tập. Mãi đến sau mới trở lại mặt trận, mang theo ký ức khó quên về buổi sáng bất ngờ nơi rừng Paksong năm ấy./.
Theo lời kể của Cựu chiến binh Bùi Văn Dũng; Ảnh minh hoạ: Bộ đội Việt Nam tại chiến trường Lào năm 1972.
QV-ST!

ÔNG CHA TA ĐÁNH GIẶC: NGÀY 9-4-1975, MỞ MÀN CHIẾN DỊCH XUÂN LỘC!

     Thị xã Xuân Lộc là tỉnh lỵ tỉnh Long Khánh (nay thuộc tỉnh Đồng Nai), nằm cách thành phố Sài Gòn 80 km về phía Đông, án ngữ trên trục đường số 1; từ đây nối với Đà Lạt qua đường 20, nối với Bà Rịa - Vũng Tàu qua đường 2 và đường 15. Nằm trong hệ thống phòng vệ Sài Gòn từ xa với các tuyến mắt xích trọng yếu Phan Rang - Xuân Lộc, Tây Ninh - Bắc Củ Chi, Long An - Bến Lức, Xuân Lộc được mệnh danh là “cánh cửa thép” trên cửa ngõ phía Đông Sài Gòn. Tại đây, địch bố trí lực lượng cực mạnh với hệ thống công sự phòng thủ kiên cố, nhiều tầng, gồm: Sư đoàn bộ binh 18, Trung đoàn 8/Sư đoàn bộ binh 5, Lữ đoàn kỵ binh 3 (các thiết đoàn M41, M113, M48), 2 tiểu đoàn Biệt động quân, 2 tiểu đoàn Pháo binh (các pháo đội 105mm và 155mm), cùng lực lượng cảnh sát, địa phương quân. Lực lượng sẵn sàng tăng viện gồm Lữ đoàn dù số 1, Liên đoàn 81 biệt cách dù, toàn bộ hỏa lực của không quân từ hai sân bay Biên Hòa, Tân Sơn Nhất.

Xe tăng và bộ binh Quân đoàn 4 tiến công thị xã Xuân Lộc

Để mở thông đường tiến công vào Sài Gòn từ hướng Đông, Bộ Tư lệnh Miền quyết định mở chiến dịch đập tan tuyến phòng ngự Xuân Lộc. Ngày 3-4-1975, Đảng ủy - Bộ Tư lệnh Quân đoàn 4 thông qua phương án tác chiến: dùng lực lượng lớn bộ binh, xe tăng, pháo binh đánh thẳng vào Sở chỉ huy Tiểu khu và Sư đoàn 18, nhanh chóng chiếm Xuân Lộc, tạo thế và lực cho Quân giải phóng tiến công áp sát Biên Hòa, Bà Rịa - Vũng Tàu.

5 giờ 40 phút ngày 9-4-1975, chiến dịch tiến công giải phóng Xuân Lộc bắt đầu. Sự an nguy của Sài Gòn và Dinh Độc Lập lệ thuộc trực tiếp vào diễn biến tại “cánh cửa thép” này, vì vậy quân địch tại đây kháng cự rất quyết liệt./.



QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: KHI KẺ CẦM ĐẦU NGU XUẨN!

     Thảm họa kinh hoàng khi mà kẻ cầm đầu ngu xuẩn & độc đoán, chuyên quyền.

Nhân tháng 4, xin kể về những quyết định sai lầm của những kẻ nắm sinh mạng hàng triệu con người, đã ra những quyết định sai lầm nghiêm trọng, làm tình hình đổ bể theo hiệu ứng domino, không thể cứu vãn nổi.

Đó là tổng thống Nguyễn Văn Thiệu & Thiếu tướng Phạm văn Phú.

Trước hết nói về tướng Phú.
Hắn sinh tại Hà Đông, trong một gia đình khá giả, có học vấn, đi lính cho pháp vào đơn vị nhảy dù, tham chiến tại Điện Biên phủ 1953, 1954 thì bị bắt làm tù binh, được trao trả theo hiệp định Giơnevơ, lại vào Nam theo Mỹ...sau đó Phú được Nguyễn Văn Thiệu phong Thiếu tướng đưa lên làm Tư lệnh QĐ2 chấn ải cao nguyên - vùng đất có vị trí chiến lược cực kì quan trọng.

Cái sai lầm của tướng Phú là coi thường trí thông minh & trình độ nghi binh chiến dịch của tướng Hoàng Minh Thảo (Quân giải phóng), trong 6 tháng cho mở đường, điều quân, cắm đài canh 15w hướng PleiKu. Bỏ lơi Buôn Ma Thuột. Phú mắc bẫy, điều lực lượng chính về Pleiku, chỉ để sư 23 + quân địa phương chốt giữ Buôn Ma Thuột. 

Kho tàng, Xe tăng Quân giải phóng ém hướng Buôn Ma Thuột, công binh cưa 1/2 cây lớn mở sẵn đường.

Rạng sáng 10. 3.1975, quân giải phóng đồng loạt tiến công, xe tăng ủi đổ cây thành đường , đánh thẳng vào sân bay Hòa Bình, kho Mai Hắc Đế, sở chỉ huy địch. Xe tăng và bộ binh thọc sâu vào trung tâm thị xã. Hệ thống phòng thủ của đối phương bị tê liệt nhanh chóng. Ngày 11/3/1975 Các vị trí còn lại bị tiêu diệt hoặc đầu hàng.

Buôn Ma Thuột hoàn toàn thất thủ, trở thành chiến thắng lớn mang tính quyết định giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lệnh Tướng Phú giữ Buôn Ma Thuột bằng mọi giá.

Tướng Phú bốc quân từ Pleiku lệnh trực thăng đổ xuống tái chiếm Buôn Ma Thuột, nhưng lại rơi vào trúng trận địa mai phục của quân giải phóng, toàn bộ quân chi viện bị tiêu diệt & bắt tại trận.

- Ngày 14.3, Thiệu gọi Phú và 5 tướng về Cam Ranh họp khẩn. Sau 117 phút nắm, phân tích tình hình, Thiệu đã ra một quyết định trái ngược với lệnh trước là tử thủ; đây là quyết định ngu xuẩn & dốt nát nhất:
- Bỏ Tây Nguyên, rút quân chủ lực về đồng bằng ven biển. Không cho các tỉnh trưởng, và hơn 20 tiểu đoàn địa phương quân biết !, bất chấp sự phản đối của tướng Phú. 
- Các đường 14, 25,19 rút lui về đồng bằng đều bị quân giải phóng cắt đứt và khống chế. Phú cho rút theo đường 7B đã bỏ hoang từ lâu.
- Thông tin quân chủ lực Ngụy rút chạy, rò rỉ từ gia đình sĩ quan binh lính QĐ2 rút theo chồng, tiết lộ... dân, quân địa phương ồ ạt rút chạy theo... đã làm chẹn cứng đường 7B. Sau 2 ngày lại bị sư đoàn 320A truy kích kịp, tấn công mãnh liệt, pháo 130 li bắn cấp tập, con đường 7B trở thành con đường máu!

Trận đánh Buôn Ma Thuột là trận mở màn nhưng mang tính quyết định của Chiến dịch Tây Nguyên 1975 trong giai đoạn cuối của Chiến tranh Việt Nam.

Trận Buôn Ma Thuột đã điểm trúng huyệt, tạo hiệu ứng Domino, đặc biệt tinh thần hoang mang cực độ trong hàng ngũ quân đội VNCH, sau đó gần như mất sức chiến đấu, tháo chạy ngay khi bị quân giải phóng tấn công: như Huế, Đà Nẵng... sau đến Phú Yên, Phan Rang...

Tại sao Nguyễn Văn Thiệu trong 10 ngày ra 2 quyết định trái ngược nhau như vậy. Và quyết định của một kẻ cầm đầu bỏ địa bàn chiến lược Tây Nguyên là một sai lầm rất nghiêm trọng là do đâu?!

Sau này tìm hiểu sâu thì biết có sự mê tín mù quáng của Thiệu, đồng thời có sự chọc ngoáy của Ông Nhạ: 
Thiệu sinh giờ TÝ, ngày TÝ (chuột), năm 1923, Quý Hợi. 
Năm 1975 là năm Ất Mão, là năm MÈO bắt chuột, ông Nhạ khuyên khi mèo đuổi, chuột nên chui vào lỗ là an toàn. Cho nên Thiệu cho bỏ Tây Nguyên lui về đồng bằng ven biển. Có ngờ đâu đó là sai lầm chiến lược vô cùng quan trọng.

Trước khi từ chức, Thiệu lên đài phát thanh, Truyền hình đổ lỗi hết cho Phạm văn Phú, Ngô Quang Trưởng... (không hề nói tới cái lệnh rút bỏ Tây Nguyên của hắn).

Chiều 29.4, Phú nói vợ dẫn 8 con đến điểm di tản, ông ta ở lại nhà một mình nói là đi sau. Rồi ổng uống 1 liều thuốc độc cực mạnh tự sát. Linh tính mách bảo, và đúng lúc nghe tin kịp nên vợ Phú dẫn con trở về đưa Phú vào bệnh viện cấp cứu, tuy nhiên thuốc độc làm Phú hôn mê sâu, trưa 30.4 chỉ mở mắt hỏi:
 - Tình hình sao rồi?
 - Hết rồi!
Thế là Phú nhắm mắt lại & vĩnh viễn ra đi.
Khi đó Thiệu đã qua Đài Loan, rồi sang Pháp lưu vong, giận Mỹ bỏ rơi kiếp chó săn hết thời nên hổng thèm sang Washington bắt đền lịch sử như lũ đu càng.

Qua đó thấm cái câu: Kẻ cầm đầu mà ngu xuẩn, độc đoán, chuyên quyền... sẽ làm khổ rất rất nhiều người!
Kính cám ơn!




QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: CHẠM TRÁN THÁM BÁO ĐỊCH Ở ĐÈO BÙ LẠCH!

     Năm 1969, Trung đoàn 4 công binh được lệnh tiếp quản cụm trọng điểm liên hoàn từ Cô Tiên, dốc Con Mèo, sân bay A Sầu, A Lưới, ngầm A Vương đến đèo Bù Lạch. Đại đội 3, Tiểu đoàn 47 do tôi phụ trách đảm bảo giao thông tại đèo Bù Lạch, một con đèo hiểm trở dài 2km với 6 khúc cua gấp, dưới chân là suối A Vương nước chảy cuồn cuộn. Nhiệm vụ của tôi là phá bom, dò mìn, mở đường cho xe vận tải vượt tuyến.

Trong đội phá bom có khoảng 20 người, ăn lương khô, uống nước suối, ngủ hầm công sự dựng tạm. Những đêm thao thức bên lằn bom chưa nổ, những phút nằm sát vách núi lắng nghe từng tiếng động khả nghi, đó là “bài học nằm lòng” của lính công binh Trường Sơn.

Một buổi chiều có sương mù bảng lảng, lúc 15 giờ, tôi cùng Thỏa, một trinh sát người Tày ở Hạ Lang, Cao Bằng, nhanh nhẹn, gan lỳ, nổi tiếng trong đội vì có nhiều cách phá bom sáng tạo tranh thủ nhập tuyến sớm. Chúng tôi lần theo vệt đường từ đỉnh đèo qua khúc cua số 6 thì phát hiện hai bóng người đang ngược lên từ phía cua số 5. Không cần ra hiệu, chúng tôi lập tức mở chốt an toàn khẩu AK.

Khi hai bên chỉ còn cách nhau chừng 10 mét, trong làn sương xám đục, chúng tôi nhận ra đối phương cũng mang ba lô nhẹ, khoác áo Tô Châu, súng AK nòng chúc xuống đất giống như bao chiến sĩ Trường Sơn khác. Tuy nhiên, bản năng của người lính đã từng trải khiến tôi cảnh giác. Tôi lên tiếng hỏi trước:
- Các đồng chí ở đơn vị nào? Phía dưới có tình huống gì không?

Người đi trước trả lời ngập ngừng, còn người đi sau thì lặng lẽ nâng khẩu súng lên. Một luồng điện lạnh chạy dọc sống lưng tôi. Trong đầu tôi chợt hiện lại vụ việc vài hôm trước: một toán thám báo địch giả dạng bộ đội bất ngờ xả súng khiến đơn vị tổn thất nặng.

Không chần chừ, tôi lập tức nghiêng người, thu hẹp khoảng cách, đồng thời đưa nòng súng AK về phía đối phương và siết cò. Gần chục viên đạn găm thẳng vào tên phía trước, hắn đổ gục tại chỗ. Tên thứ hai lãnh trọn hai viên đạn vào cánh tay, khẩu súng chưa kịp đưa lên đã văng xuống vệ đường. Ngay tức thì, Thỏa lao đến khống chế, khóa tay hắn lại, kéo vào hầm phòng không gần đó. Tôi cũng lập tức xóa dấu vết, chạy về hầm công sự.

Vừa chui vào hầm thì tiếng máy bay phản lực gầm rú vang vọng. Địch thả bom dồn dập, đất đá trút như mưa, bầu trời Bù Lạch tối sầm vì khói lửa. Một cơn bão bom vừa được hóa giải phần nào nhờ hành động kịp thời của hai người lính công binh./.
Theo lời kể của cựu chiến binh, thương binh Bùi Hòa Bình - nguyên chiến sĩ Đại đội 3, Tiểu đoàn 47, Trung đoàn 4 công binh, Sư đoàn 470 Trường Sơn.
QV-ST!

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: ISRAEL - BÀI HỌC CHO SỰ ẢO TƯỞNG VỀ "HỢP TÁC" QUÂN SỰ VỚI NƯỚC NGOÀI

Giải pháp tình thế và cái bẫy "ăn xổi"

Nhìn lại quá khứ, khi Mỹ đã gỡ bỏ cấm vận nhưng chưa trực tiếp bán phụ tùng máy bay quân sự cũ cho Việt Nam, họ đã chỉ lối cho chúng ta sang Israel. Israel đồng ý bán, nhưng đi kèm với những điều kiện chính trị ngặt nghèo: chúng ta phải bỏ phiếu trắng về vấn đề Palestine và các quốc gia không thân thiện với họ.

Thời điểm đó, các phái đoàn kỹ thuật Israel đã rất nhiệt tình sang Việt Nam. Tuy nhiên, đằng sau sự "nhiệt tình" đó là một thực tế phũ phàng: Chúng ta đang mua sắm theo kiểu "ăn xổi". Thay vì dồn lực vào nghiên cứu, sao chép hay thực hiện thiết kế ngược (reverse engineering) các công nghệ hàng không từ Liên Xô để tự chủ, chúng ta lại chọn con đường mua sẵn thiết bị để có kết quả tức thì.

Sự sai lầm từ những "tầm nhìn" ngắn hạn

Chính những lãnh đạo dẫn đầu các dự án hợp tác với Israel thời đó đã thể hiện một tầm nhìn hạn hẹp. Điển hình như trường hợp của ông NCV - người từng được coi là kiến trúc sư cho quan hệ này. Khi Nga mở chiến dịch quân sự đặc biệt tại Ukraine năm 2022, ông đã tiên đoán Nga sẽ thất bại. Thực tế chiến trường sau đó đã chứng minh đó là một nhận định thiếu tầm nhìn, bị chi phối bởi tư tưởng thân phương Tây.

Tại sao những người quan sát độc lập có thể thấy rõ Nga sẽ duy trì sức mạnh và chiến thắng, hay Iran sẽ đứng vững trước các cuộc tấn công của Israel, mà những người nắm quyền quyết định lại không nhận ra? 

Câu trả lời nằm ở chỗ những tướng lĩnh có xu hướng "hợp tác với Phương Tây" đã quá tin vào các chuẩn mực và công nghệ hào nhoáng của họ mà quên đi logic của nội lực và chiều sâu chiến lược.

Sai lầm của họ đó là họ coi chiến tranh và địa chính trị là một phép tính tĩnh (ai nhiều tiền hơn thì thắng), trong khi thực tế đó là một hệ động lực (dynamic system).

Hậu quả của sự đứt gãy tự cường

Việc quá phụ thuộc vào Israel đã tạo ra một khoảng trống nguy hiểm. Hiện nay, khi Israel bị cuốn vào các xung đột tàn khốc và nền công nghiệp quân sự của họ bị quá tải, Việt Nam rơi vào thế bị động: không còn chỗ để mua và cũng không có linh kiện thay thế.

Sự sai lầm của thế hệ trước đã làm lỡ đi một khoảng thời gian cực kỳ dài trong việc tự thân phát triển và bám bắt công nghệ thế giới. Việc mua thiết bị mà không nỗ lực làm chủ công nghệ lõi chính là bước đi sai lầm nhất trong chiến lược quốc phòng.

Bước ngoặt sửa sai: Trở lại với công nghệ lõi

Rất may mắn, hiện nay các tập đoàn quân sự như Viettel đã nhận ra bài học xương máu này. Họ đang phải "cắm đầu" vào nghiên cứu các công nghệ lõi thay vì đi mua như trước. Đây là nỗ lực muộn màng nhưng bắt buộc phải làm để khôi phục lại những gì đã mất.

Bài học rút ra (còn thời gian mà rút là may mắn)

Mọi sự hợp tác quân sự với nước ngoài mà không dựa trên nền tảng tự lực cánh sinh đều là xây nhà trên cát. Chỉ khi nào chúng ta tự làm chủ được "tầng hệ thống", tự sản xuất được linh kiện từ tư duy thiết kế của chính mình, lúc đó độc lập dân tộc và an ninh quốc gia mới thực sự bền vững. Đừng để sự ảo tưởng về công nghệ mua sẵn làm mờ đi con đường tự cường của dân tộc./.
QV-ST!

THẾ GIỚI - VẤN ĐỀ - SỰ KIỆN: CÁC NHÀ KHOA HỌC NGA ĐÃ KÍCH THÍCH HỆ THỐNG MIỄN DỊCH TẤN CÔNG TẾ BÀO UNG THƯ BẰNG ÁNH SÁNG!

🇷🇺🇷🇺🇷🇺
     Nhờ phương pháp mới này, các tế bào "chuyển đổi" và bắt đầu chống lại khối u.

Các nhà khoa học đã đề xuất một phương pháp có thể "vô hiệu hóa" hệ thống miễn dịch bên trong khối u. Để làm được điều này, một loại thuốc được tiêm trực tiếp vào mô bị ảnh hưởng và sau đó được kích hoạt bằng ánh sáng. Kết quả là, các tế bào miễn dịch bắt đầu chống lại ung thư thay vì hỗ trợ nó. Phương pháp này được phát triển bởi các nhà khoa học từ Đại học Nghiên cứu Quốc gia Saratov, cùng với các đồng nghiệp từ Skoltech, Viện Vật lý và Công nghệ Moscow và Đại học ITMO.

Phương pháp này liên quan đến việc thay đổi hoạt động của các tế bào miễn dịch trực tiếp bên trong khối u. Đó là các đại thực bào - những tế bào thường bảo vệ cơ thể nhưng trong bệnh ung thư, chúng có thể giúp khối u phát triển bằng cách ức chế phản ứng miễn dịch.

Các vi nang chứa hoạt chất được tiêm vào khối u. Điều này kích hoạt một con đường truyền tín hiệu một trong những cơ chế chính để tăng cường phản ứng miễn dịch chống khối u. Tuy nhiên, phân tử hoạt chất vẫn nằm bên trong các nang và không hoạt động ngay lập tức.

Quá trình kích hoạt diễn ra bằng tia laser. Ánh sáng cận hồng ngoại, loại ánh sáng có thể xuyên qua mô nhưng cơ thể hấp thụ kém, được sử dụng. Ánh sáng này phá hủy lớp vỏ nang, giải phóng thuốc trực tiếp vào khối u.

Sau đó, các đại thực bào chuyển sang trạng thái chống khối u và bắt đầu tấn công các tế bào ung thư.

Chúng cũng thu hút các tế bào hệ miễn dịch khác tế bào T. Theo Olga Guslyakova, nhà nghiên cứu cấp cao tại Phòng thí nghiệm Quang âm Sinh y học thuộc Đại học Quốc gia Saratov, sau một lần điều trị, tỷ lệ các đại thực bào này đã tăng từ 1% lên 28%.

Bộ Giáo dục và Khoa học nhấn mạnh rằng sự phát triển này giải quyết một trong những thách thức then chốt của liệu pháp miễn dịch hiện đại: đưa thuốc chính xác đến khối u mà không gây ra tác dụng phụ toàn thân./.
QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐIỆN CỦA THỦ TƯỚNG PHẠM VĂN ĐỒNG GỬI NHÂN DÂN PALEXTIN!

     Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói gì về tình đoàn kết với Pa-le-xtin? “Nhân dân Việt Nam Là người bạn chiến đấu thân thiết của nhân dân Pa-le-xtin”!

"ĐIỆN MỪNG

Ngày 15-1-1979, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã gửi tới Hội nghị Hội đồng dân tộc Pa-le-xtin, bức điện mừng sau đây :

NHÂN dịp Hội đồng dân tộc Pa-le-xtin họp hội nghị, thay mặt nhân dân Việt Nam, Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nhân danh cá nhân, tôi xin gửi đến các bạn và qua các bạn gửi đến nhân dân và các chiến sĩ Pa-le-xtin kiên cường lời chúc mừng nhiệt liệt.

Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Tổ chức Giải phóng Pa-le-xtin, đứng đầu là Chủ tịch Y-ét-xo A-ra-phát, nhân dân Pa-le-xtin đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, kiên quyết đấu tranh chống bọn xâm lược xi-ô-nít I-xra-en, tay sai của đế quốc và đã giành được những thắng lợi to lớn. Tổ chức Giải phóng Pa-le-xtin ngày càng có uy tín trên trường quốc tế và đã được các nước A-rập, các nước xã hội chủ nghĩa, các nước không liên kết và dư luận tiến bộ trên thế giới công nhận là người đại diện chân chính duy nhất của nhân dân Pa-le-xtin.

Trong lúc chủ nghĩa đế quốc, bọn xi-ô-nít và các thế lực phản động tìm mọi cách chia rẽ và làm suy yếu Tổ chức Giải phóng Pa-le-xtin, chia rẽ các nước A-rập, âm mưu phủ nhận vai tròcủa Tổ chức Giải phóng Pa-le-xtin, Hội nghị Hội đồng dân tộc Pa-le-xtin họp lần này là biểu thị ý chí đoàn kết và quyết tâm của nhân dân Pa-le-xtin trong cuộc đấu tranh để thực hiện mục tiêu cao cả của mình.

Là người bạn chiến đấu thân thiết của nhân dân Pa-le-xtin, nhân dân Việt Nam hoàn toàn ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Pa-le-xtin vì các quyền dân tộc thiêng liêng của mình. Chúng tôi cho rằng một giải pháp nhằm đem lại hòa bình lâu dài và bền vững ở Trung Đông phải bao gồm việc I-xra-en rút khỏi toàn bộ đất đai A-rập mà chúng đang chiếm đóng, phải tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản của nhân dân Pa-le-xtin, trong đó có quyền lập một Nhà nước Pa-le-xtin độc lập trên Tổ quốc mình. Tổ chức Giải phóng Pa-le-xtin nhất thiết phải được tham gia vào việc giải quyết vấn đề Trung Đông.

Chúng tôi tin rằng với tinh thần đoàn kết và quyết chiến quyết thắng của mình, được sự ủng hộ của nhân dân các nước A-rập và lực lượng yêu chuộng hòa bình trên thế giới, nhân dân Pa-le-xtin sẽ đưa sự nghiệp cách mạng Pa-le-xtin đến thắng lợi vẻ vang.

Xin chúc hội nghị thành công tốt đẹp và gửi đến các bạn lời chào trân trọng."
Ảnh: Báo Nhân Dân, Số 8988, 16 Tháng Một 1979./.
QV-ST!

THẾ GIỚI 24 GIỜ QUA: IRAN ĐÃ TUYÊN BỐ TẠM NGỪNG VIỆC VẬN CHUYỂN TÀU THUYỀN QUA EO BIỂN HORMUZ!

     Theo hãng tin Fars trên kênh Telegram, Tehran đã tạm dừng việc vận chuyển tàu thuyền qua eo biển Hormuz sau các cuộc tấn công quy mô lớn của Israel vào Lebanon.

Theo hãng tin này, sáng thứ Tư, ngày 8 tháng 4, sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump chấp nhận các điều khoản của Iran và đạt được thỏa thuận ngừng bắn, hai tàu chở dầu đã có thể an toàn đi qua eo biển Hormuz với sự cho phép của Iran.

Đồng thời, Lực lượng Phòng vệ Israel (IDF) phát động Chiến dịch Bóng tối Vĩnh cửu, bao gồm các cuộc không kích vào hàng chục khu vực ở Lebanon.
Bộ Y tế Lebanon cho biết hàng trăm người đã thiệt mạng và bị thương trên khắp cả nước do các cuộc tấn công của Israel.

Hội Chữ thập đỏ Lebanon làm rõ rằng, theo dữ liệu sơ bộ, 80 người đã thiệt mạng và 200 người bị thương do các cuộc không kích của Israel vào Beirut.

Trong bối cảnh các cuộc tấn công, một quan chức Iran tuyên bố rằng Tehran sẽ đáp trả mạnh tay các tội ác ở Lebanon và các hành vi vi phạm lệnh ngừng bắn. Ông nói thêm rằng lệnh ngừng bắn áp dụng cho toàn bộ khu vực.

Do đó, các nhà báo cho biết, Tehran đã không trì hoãn và đình chỉ việc các tàu chở dầu đi qua eo biển Hormuz./.
QV-ST!

THẾ GIỚI 24 GIỜ QUA: LỰC LƯỢNG VỆ BINH CÁCH MẠNG HỒI GIÁO (IRGC) CÔNG BỐ DANH SÁCH CÁC MỤC TIÊU BỊ TẤN CÔNG TRONG ĐỢT TRẢ ĐŨA THỨ 100!

     Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) đã công bố chi tiết các mục tiêu của Mỹ và Israel bị tấn công bằng tên lửa đạn đạo, tên lửa hành trình và máy bay không người lái tấn công vào đêm thứ Ba để đáp trả hành động gây hấn của Mỹ và Israel, trước khi thỏa thuận ngừng bắn tạm thời do Pakistan làm trung gian có hiệu lực vào sáng sớm thứ Tư.

Trong một tuyên bố, Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo cho biết binh lính của họ đã tiến hành các hoạt động vào ngày 7 tháng 4 để đáp trả các hành động khiêu khích của kẻ thù, nhắm mục tiêu vào hơn 25 địa điểm chiến lược thuộc về những kẻ xâm lược độc ác trong đợt tấn công thứ 100 của Chiến dịch Lời Hứa Chân Thực 4.

Thông báo cho biết các mục tiêu bao gồm 13 khu phức hợp năng lượng và đường ống dẫn dầu có liên quan đến Mỹ và chế độ Zionist, cũng như 10 địa điểm quân sự, an ninh và hậu cần, cùng với một số mục tiêu công nghệ và cơ sở hạ tầng của kẻ thù.
Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) báo cáo rằng trong đợt tấn công trả đũa thứ 100, lực lượng Iran đã nổ súng vào các mục tiêu của Mỹ và Do Thái trải dài từ bờ biển Địa Trung Hải đến phía đông bán đảo Ả Rập, nhấn mạnh rằng kẻ thù ngu ngốc nên hiểu rằng bất kỳ cuộc tấn công nào vào cơ sở hạ tầng của Iran sẽ mang lại hậu quả nghiêm trọng.

Các mục tiêu bị tấn công vào đêm thứ Ba bằng tên lửa đạn đạo, tên lửa hành trình và máy bay không người lái tấn công bao gồm:
1. Nhà máy lọc dầu và các cơ sở dầu khí của công ty Chevron của Mỹ tại Ra's al Ju'aymah, Ả Rập Xê Út, được coi là cơ sở phân hủy NLG lớn nhất và là nhà cung cấp năng lượng quan trọng cho Hoa Kỳ.

2. Các cơ sở khai thác dầu khí và hóa dầu của ExxonMobil và Dow Chemical tại Jubail, Ả Rập Xê Út.

3. Các cơ sở khai thác dầu khí của các công ty Mỹ tại Yanbu trên bờ Biển Đỏ với công suất sản xuất 250.000 thùng mỗi ngày.

4. Các cơ sở dầu khí của Mỹ tại Habshan - đường ống dẫn dầu từ Dubai đến Fujairah, được thiết kế để tránh eo biển Hormuz.

5. Các cơ sở khai thác dầu khí chính của ExxonMobil tại Rass Laffan, Qatar, với công suất sản xuất 146.000 thùng mỗi ngày.

6. Các cơ sở khai thác dầu quan trọng của công ty Bapco của Mỹ tại Bahrain, sản xuất 267.000 thùng dầu mỗi ngày.

7. Nhà máy lọc dầu Das của Mỹ tại UAE, với công suất chế biến dầu thô là 60.000 thùng mỗi ngày.

8. Các cơ sở của các công ty dầu khí Mỹ tại Fujairah với sức chứa kho lưu trữ một triệu mét khối.

9. Nhà máy lọc dầu Al-Ahmadi ở Kuwait, sản xuất 346.000 thùng dầu mỗi ngày.

10. Công ty American Dolphin Gas có trụ sở tại Qatar, với công suất xuất khẩu 2 tỷ feet khối mỗi ngày.

11. Mỏ dầu đảo Zirku, với công suất sản xuất 750.000 thùng dầu thô mỗi ngày.

12. Công ty SATORP của Mỹ; với công suất lọc dầu 460.000 thùng mỗi ngày, là một trong những nguồn nhiên liệu cho các nhà máy điện.

13. Nhà máy lọc khí Manifa, với công suất tách 900.000 thùng dầu và khí mỗi ngày.

14. Các trung tâm công nghệ thông tin và công nghiệp tiên tiến của chế độ Zionist tại Be'er Sheva, miền nam Palestine bị chiếm đóng.

15. Các trung tâm tình báo và giám sát của quân đội và lực lượng an ninh thuộc chế độ Israel tại Israel và Tháp Kim Cương ở thủ đô của Palestine bị chiếm đóng.

16. Bộ Chỉ huy Trung ương của Hoa Kỳ trong khu vực, đặt tại Al-Azraq, Jordan, và việc phá hủy các mục tiêu quan trọng tại trung tâm đó.

17. Sân bay Ben Gurion ở thành phố Jaffa, Palestine bị chiếm đóng.

18. Nhà máy lọc dầu Haifa ở Palestine bị chiếm đóng, với công suất sản xuất 300.000 thùng mỗi ngày.

19. Khu phức hợp chính phủ của lực lượng chiếm đóng Israel tại thủ đô bị chiếm đóng, nơi đặt các trung tâm chỉ huy và kiểm soát của chế độ Zionist.

Theo tuyên bố, đồng thời, Hải quân IRGC, trong khi tiếp tục duy trì kiểm soát thông minh các tuyến đường hàng hải của eo biển Hormuz, đã nhắm mục tiêu vào các địa điểm sau:

1. Tàu tấn công đổ bộ LHA7 bị trúng tên lửa hành trình và sau khi bị hư hại và bốc cháy trên boong, đã rút lui xuống vùng biển sâu của Ấn Độ Dương.

2. Tàu sân bay CVN 74 cũng bị một số máy bay không người lái tấn công và phải rút lui xuống vùng biển sâu của Ấn Độ Dương sau khi bị hư hại phần thân tàu.

3. Cơ sở sản xuất máy bay không người lái của chế độ Zionist đặt tại UAE.

4. Các cơ sở đầu tư dầu khí của các công ty Mỹ tại LSB, Kuwait.

5. Căn cứ của những kẻ xâm lược Mỹ tại Ali Al Salem, Kuwait.
Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC) đã khẳng định rõ ràng rằng họ vẫn luôn tuân thủ mệnh lệnh của Lãnh tụ Cách mạng Hồi giáo Ayatollah Seyed Mojtaba Khamenei và sẵn sàng hành động, được trang bị kinh nghiệm dày dặn từ hai cuộc chiến tranh do liên minh Mỹ-Zionist tiến hành.
Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC) cảnh báo rằng họ sẵn sàng tạo ra một cuộc đối đầu khốc liệt hơn nữa nếu kẻ thù có bất kỳ tính toán sai lầm nào nữa, đồng thời cho biết thêm rằng các đối tác của Mỹ trong khu vực đã chứng kiến sự bất lực của Mỹ và chế độ Zionist./.
QV-ST!

Thứ Ba, 7 tháng 4, 2026

THỰC THI NGHỊ QUYẾT - THƯỚC ĐO QUYẾT ĐỊNH NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO!

BÀI 5: NĂNG LỰC THỰC THI - YÊU CẦU CHIẾN LƯỢC CỦA NĂNG LỰC CẦM QUYỀN!
(Tiếp theo và hết)

     Cơ hội không chờ đợi bất kỳ ai, cũng không chờ đợi bất cứ quốc gia nào. Nhiều thời cơ chỉ xuất hiện trong khoảnh khắc; nếu thiếu bản lĩnh và năng lực hành động để nắm bắt kịp thời, cơ hội sẽ trôi qua, thậm chí để lại những hệ lụy lâu dài. Bởi vậy, năng lực thực thi không thể xem là một kỹ năng quản trị thông thường, mà phải được xác định là yêu cầu mang tính chiến lược, là thước đo trực tiếp, sinh động và thuyết phục nhất của năng lực cầm quyền.

Thành công không chỉ ở khâu ban hành nghị quyết

Khắc phục những hạn chế trong việc thực thi nghị quyết, tại Phiên bế mạc Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu: “Cần tập trung thực hiện nghị quyết theo hướng hành động, bảo đảm hiệu quả thực chất, khắc phục bằng được tình trạng “tổ chức thực hiện là khâu yếu”.

Tinh thần hành động cần được cụ thể hóa thành giải pháp cụ thể, thực hiện nghiêm túc trong toàn hệ thống: Mỗi cấp ủy, mỗi tổ chức đảng, mỗi đảng viên, mỗi cơ quan, đơn vị, trước hết là người đứng đầu phải chủ động chuyển từ “nhận thức đúng” thành “tổ chức triển khai có hiệu quả”; từ “quyết tâm cao” thành “kết quả rõ”; kết hợp “chỉ đạo, điều hành” với “kiểm tra, giám sát và chịu trách nhiệm”.

Năng lực cầm quyền của Đảng không chỉ thể hiện ở tầm nhìn chiến lược, khả năng hoạch định đường lối mà còn được đo bằng hiệu quả tổ chức thực hiện. Chủ trương đúng mà không đi vào cuộc sống thì cũng chỉ dừng lại trên giấy. Nghị quyết hay mà không được cụ thể hóa bằng hành động thì không thể tạo ra chuyển biến thực chất.

Lâu nay, có một thực tế là chỉ cần xây dựng, ban hành được nghị quyết hay đã được coi là thành tựu lớn, khiến cho đảng viên khi học tập nghị quyết có cảm giác như việc đã xong, tất cả những mục tiêu trong nghị quyết dường như đã trong tầm tay. Ở không ít nơi, việc triển khai nghị quyết còn mang nặng tính hình thức. Hội nghị quán triệt tổ chức rầm rộ, tài liệu in ấn đầy đủ, nhưng sau đó thiếu chương trình hành động cụ thể, khả thi; phân công trách nhiệm không rõ ràng; thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát, phối hợp hiệu quả. Có nơi, người đứng đầu phát biểu rất quyết liệt, nhưng khi đi vào thực thi lại lúng túng, chậm trễ, thậm chí né tránh va chạm.

Điểm yếu trong khâu tổ chức thực hiện nghị quyết còn biểu hiện ở tâm lý an toàn, sợ trách nhiệm, ngại đổi mới, thiếu tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Ở đó có cả sự buông lỏng kiểm tra, thiếu quyết liệt trong xử lý sai phạm. Hệ quả là “trên nóng dưới lạnh”, quyết tâm chính trị ở cấp cao không được chuyển hóa thành hành động cụ thể ở cơ sở, các mục tiêu chiến lược không được cụ thể hóa thành kết quả đo đếm được.

Ban hành nghị quyết chỉ là bước khởi đầu. Thành công hay không nằm ở bước tổ chức thực hiện. Nếu khâu tổ chức thực hiện yếu kém, mọi nỗ lực xây dựng đường lối, chủ trương, chính sách đều trở nên vô nghĩa. Uy tín của Đảng, niềm tin của nhân dân không đến từ những lời hứa, mà đến từ những thay đổi tích cực, cụ thể. Khi người dân thấy thủ tục hành chính được rút ngắn, hạ tầng cải thiện, môi trường kinh doanh minh bạch hơn, cán bộ gần dân, sát cơ sở, điều kiện sống của nhân dân tốt hơn, vị thế đất nước ngày càng nâng lên... thì niềm tin sẽ được củng cố. Vì vậy, việc Đại hội XIV và người đứng đầu Đảng ta đặt trọng tâm vào yêu cầu hành động thực thi nghị quyết không chỉ là sự điều chỉnh có tính chiến lược trong phương thức lãnh đạo mà còn xác lập chính xác vai trò, vị trí của khâu tổ chức thực hiện cho toàn bộ hệ thống chính trị.

Vai trò Đảng cầm quyền: Từ nhấn mạnh hoạch định đường lối sang đề cao năng lực tổ chức thực thi

Tổ chức thực hiện nghị quyết không phải là công việc hành chính thuần túy, mà là khả năng chuyển hóa các chủ trương, đường lối thành hành động thực tế và kết quả cụ thể trong đời sống thông qua chương trình, kế hoạch hành động; phân công, phân cấp, phân quyền; lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành; kiểm tra, giám sát; nắm và dự báo tình hình, phản ứng chính sách... nhằm huy động, khơi thông và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực. Vậy nên, nếu coi tổ chức thực hiện là khâu trung tâm thì năng lực thực thi của đội ngũ cán bộ, nhất là người đứng đầu giữ vai trò then chốt, có ý nghĩa quyết định.

Năng lực chỉ đạo tổ chức thực thi của người đứng đầu thể hiện trước hết ở việc chuyển hóa nghị quyết thành kế hoạch hành động với mục tiêu rõ ràng, có các bước đi cụ thể gắn với thời hạn hoàn thành và quyền hạn, trách nhiệm của từng người, từng bộ phận, cùng cơ chế phối hợp nhịp nhàng, hiệu quả nhằm tránh xảy ra tình trạng chồng chéo, đùn đẩy trách nhiệm.

Năng lực thực thi còn được phản ánh qua khả năng kiểm tra, giám sát và điều chỉnh. Thực tiễn luôn vận động, vì vậy, quá trình thực thi không thể cứng nhắc. Vì thế, cần có cơ chế kiểm tra, giám sát thường xuyên, phát hiện kịp thời những vướng mắc để điều chỉnh phù hợp. Kiểm tra, giám sát không chỉ khi xảy ra sai phạm, khi có phản ánh tiêu cực hay nhằm bắt lỗi mà còn để phát hiện rõ ai làm tốt, ai làm chưa tốt, ai phải chịu trách nhiệm, khâu nào thông suốt, chỗ nào trục trặc, cấp trên cần hỗ trợ những gì để bảo đảm công việc được hoàn thành tốt, đạt mục tiêu đề ra.

Năng lực thực thi còn thể hiện ở kết quả vận hành của cả bộ máy. Một bộ máy cồng kềnh, nhiều tầng nấc trung gian, quy trình phức tạp sẽ làm chậm mọi quyết sách. Ngược lại, một bộ máy tinh gọn, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, gần dân, sát cơ sở sẽ tạo điều kiện thuận lợi để nghị quyết nhanh chóng đi vào cuộc sống thông suốt, thống nhất.

Song, kể cả khi hội đủ những yếu tố trên mà thiếu vai trò nêu gương của người đứng đầu, nhất là nếu người đứng đầu thiếu trách nhiệm, ngại va chạm, sợ sai, không quyết tâm làm đến cùng, làm cho bằng được thì mọi quy trình cũng trở nên hình thức. Chỉ khi nào người đứng đầu thực sự vào cuộc, quyết tâm, gương mẫu, dám chịu trách nhiệm, dám xử lý những tồn tại thì cả hệ thống sẽ chuyển động theo, không có tình trạng co cụm, sợ sai, né việc khó hay làm chiếu lệ. Thực tế cho thấy, ở đâu người đứng đầu quyết liệt, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm thì ở đó chất lượng, tiến độ công việc thường nhanh hơn, tốt hơn. Điều đó khẳng định một chân lý: Năng lực thực thi trước hết là năng lực con người.

Sau khi thực hiện tinh gọn bộ máy, phân cấp, phân quyền thì vai trò của người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương ngày càng quan trọng hơn. Họ đã được trao đủ các quyền hành cần thiết để tự quyết các việc lớn trong phạm vi được giao quản lý. Điều họ cần, bên cạnh năng lực, trình độ là phải có hoài bão lớn, quyết tâm lớn, muốn làm được việc lớn cho nước, cho dân. Bởi, nếu cái gì cán bộ cũng chờ và xin ý kiến cấp trên thì dù có hàng nghìn, hàng vạn cán bộ, cuối cùng mọi công việc cũng sẽ được dồn lên cho người ở cấp cao nhất. Và như vậy, cơ hội sẽ trôi qua, khiến địa phương lỡ nhịp phát triển, đất nước mất lợi thế cạnh tranh, nguy cơ tụt hậu so với thế giới.

Đại hội XIV của Đảng diễn ra trong một bối cảnh lịch sử đặc biệt, đòi hỏi tầm nhìn phát triển dài hạn, không chỉ cho nhiệm kỳ 2025-2030 mà còn hướng tới các mốc lớn như năm 2045 và xa hơn nữa. Bối cảnh đó cùng những yêu cầu của Đại hội XIV, của công cuộc đổi mới toàn diện đòi hỏi đội ngũ cán bộ, nhất là người đứng đầu phải hội đủ phẩm chất chính trị, trình độ chuyên môn, đạo đức, lối sống, đặc biệt là tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, thực sự là những người yêu nước, thương dân thì mới dám hành động và biết hành động.

Theo Thiếu tướng, PGS, TS Nguyễn Văn Sáu, Phó viện trưởng Viện Chiến lược và Lịch sử quốc phòng Việt Nam thì thành công của Đại hội XIV góp phần làm rõ một bước phát triển quan trọng trong lý luận về Đảng cầm quyền ở Việt Nam: Từ nhấn mạnh vai trò hoạch định đường lối sang đề cao năng lực tổ chức thực thi. Đây là sự bổ sung có giá trị vào lý luận xây dựng Đảng và phương thức lãnh đạo trong điều kiện mới. Đổi mới phương thức lãnh đạo theo hướng này tạo động lực nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành của hệ thống chính trị; củng cố niềm tin của nhân dân; góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Tóm lại, tổ chức thực hiện thành công nghị quyết không phải là khâu cuối mà chính là khâu trung tâm, khâu quan trọng nhất, bảo đảm thành công của nghị quyết. Năng lực tổ chức thực hiện thành công nghị quyết chính là thể hiện năng lực cầm quyền của Đảng, là cơ sở để nhân dân tin vào những mục tiêu phát triển lớn của đất nước ta là hoàn toàn khả thi và sẽ trở thành hiện thực./.
Ảnh: Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.
QV-ST!

THỰC THI NGHỊ QUYẾT - THƯỚC ĐO QUYẾT ĐỊNH NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO!

BÀI 4: KỶ LUẬT NGHIÊM NHƯNG KHÔNG TRIỆT TIÊU ĐỘNG LỰC HÀNH ĐỘNG!

     Giữ nghiêm kỷ luật của Đảng, kỷ cương, pháp luật của Nhà nước trong quá trình thực thi nghị quyết là yêu cầu tiên quyết, sống còn đối với mọi cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên. Tuy nhiên, làm thế nào để giữ nghiêm kỷ luật nhưng không khiến cả bộ máy sợ hãi mà triệt tiêu động lực sáng tạo của cán bộ, không làm lỡ thời cơ, vận hội cũng là bài toán đặt ra.

Kỷ luật nghiêm minh là yêu cầu sống còn

Đối với Đảng ta, chấp hành kỷ luật, kỷ cương là yêu cầu sống còn, nguyên tắc cốt lõi bảo đảm sự tồn tại, phát triển và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, kỷ luật của Đảng là kỷ luật sắt, nghĩa là tự giác và nghiêm minh. Người cũng chỉ rõ, Đảng có những điều kiện kỷ luật bắt buộc mỗi đảng viên phải theo. Đảng đã chỉ thị nghị quyết là phải làm. Không làm thì đuổi ra khỏi Đảng...

Nhìn lại các đại án lớn xảy ra trong những năm qua, không ít cán bộ cấp cao vướng vòng lao lý là vì làm trái các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Khi đứng trước hội đồng xét xử, có người biện minh rằng, vì nóng vội, mong muốn nhân dân sớm được thụ hưởng thành quả; có người viện cớ vì sự phát triển của địa phương... Những lời tự bào chữa này là sự ngụy biện, thật khó chấp nhận, không đúng bản chất vụ án, vì những cán bộ ấy không hành động vì lợi ích chung mà chỉ vì lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm. Vì thế, dư luận xã hội từng có câu nói hàm ý đầy mỉa mai “cán bộ nói thì hay nhưng làm thì dở, nói đúng nghị quyết nhưng làm trái pháp luật”...

Như ở bài trước chúng tôi đã chỉ ra, hiện nay, có một bộ phận cán bộ, đảng viên ngại việc khó, không dám làm, vì sợ làm sai, rồi né tránh, đùn đẩy trách nhiệm, làm việc cầm chừng, với lập luận “làm nhiều thì sai nhiều, làm ít thì sai ít, không làm thì không sai”; hoặc “thà đứng trước hội đồng kỷ luật còn hơn đứng trước hội đồng xét xử”...

Cán bộ, đảng viên thận trọng trong công tác để không vi phạm kỷ luật của Đảng, không vi phạm pháp luật là rất cần thiết. Nhưng, không thể viện lý do sợ sai để bào chữa cho việc cố tình chây ì, thờ ơ, thiếu trách nhiệm với công việc theo chức trách, nhiệm vụ của mình, theo kiểu “sống chết mặc bay”. Đây chính là dấu hiệu của một loại “tự diễn biến”, là biểu hiện của suy thoái về tư tưởng chính trị, làm cản trở nghiêm trọng sự phát triển.
 
Cần thấu cảm và đồng hành với đội ngũ cán bộ

Nhưng cũng sẽ là thiếu thực tế, nếu tổ chức cứ buộc cán bộ phải liều mình với công việc, trong khi không tính đến những rủi ro do những thiếu sót, những điểm chưa phù hợp với thực tiễn của các quy định pháp luật. Thực tế là, ai là người ký văn bản, ai trực tiếp thực hiện sẽ là người chịu trách nhiệm chính trước pháp luật. Vì thế, nếu quy định của pháp luật đang có những cách hiểu khác nhau, hoặc chưa có các quy định pháp luật hướng dẫn xử lý một tình huống cụ thể phát sinh thì người thực hiện sẽ chịu một sức ép và rủi ro không nhỏ. Tổ chức và người lãnh đạo cấp trên cần thấu cảm điều này để có những hướng dẫn phù hợp, tạo ra sự vững tin cho cán bộ thực thi.

Câu chuyện ở xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, nay là xã Quỳnh Anh, tỉnh Nghệ An cho thấy rõ độ “vênh” giữa tinh thần dám làm vì dân với khuôn khổ pháp lý còn nhiều ràng buộc. Trước năm 2020, đất nông nghiệp bị bỏ hoang, nguồn lực lãng phí, đời sống người dân khó khăn. Trên cơ sở chủ trương tích tụ ruộng đất, phát triển kinh tế trang trại, lãnh đạo xã đã linh hoạt tổ chức thực hiện, tạo điều kiện cho người dân xây dựng các công trình phục vụ sản xuất. Từ cách làm này, nhiều mô hình trang trại hiệu quả đã hình thành, khơi thông nguồn lực đất đai, cải thiện sinh kế và được thực tiễn ghi nhận. Tuy nhiên, khi đối chiếu quy định, một số công trình được xác định vượt giới hạn cho phép, người đứng đầu chính quyền xã bị xử lý kỷ luật.

Vấn đề đặt ra không chỉ là đúng-sai về quy định mà là khoảng cách giữa yêu cầu phát triển với độ mở của thể chế. Thực tiễn đó đòi hỏi cách tiếp cận biện chứng hơn: Vừa bảo đảm kỷ cương pháp luật, vừa có cơ chế bảo vệ, khuyến khích cán bộ dám nghĩ, dám làm. Bởi nếu chỉ “đúng quy định” mà thiếu tinh thần dấn thân, phát triển sẽ chững lại; nhưng nếu vượt khung mà không được dẫn dắt bởi thể chế phù hợp, những nỗ lực vì dân cũng có thể phải trả giá.

Ngày 5-3-2026, làm việc với Ban Tổ chức Trung ương về các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ cơ sở, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh việc siết chặt kiểm soát quyền lực, đồng thời tạo động lực để cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Tổng Bí thư cho rằng, cần quán triệt đầy đủ chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung; tuy nhiên cần phân biệt rõ giữa sáng tạo đúng quy định với làm ẩu, làm tắt hoặc lợi dụng sáng tạo để vi phạm, trục lợi. Cũng theo Tổng Bí thư, ở cấp cơ sở, có thể thiết kế danh mục việc khó cần người chịu trách nhiệm; cơ chế xin ý kiến nhanh đối với tình huống mới; đánh giá riêng các sáng kiến có hiệu quả; biểu dương kịp thời cán bộ xử lý tốt việc phức tạp, tồn đọng kéo dài.

Ý kiến của Tổng Bí thư Tô Lâm là sự gợi mở quý giá cho các cấp ủy đảng, các ban, bộ, ngành, địa phương trong việc đề ra phương hướng, cách thức để tháo gỡ khó khăn cho cán bộ khi giải quyết công việc.

Nghị định số 172/2025/NĐ-CP của Chính phủ cũng đã quy định một số tình tiết cán bộ, công chức vi phạm sẽ được miễn kỷ luật như: Vi phạm trong tình thế cấp thiết, do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của Bộ luật Dân sự và pháp luật về tình trạng khẩn cấp khi thi hành công vụ; đã thực hiện theo đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, không vụ lợi trong quá trình thực hiện nhiệm vụ nhưng có gây ra thiệt hại vì lý do khách quan; thực hiện đề xuất về đổi mới, sáng tạo được cơ quan có thẩm quyền cho phép và được cấp có thẩm quyền xác định đã thực hiện đúng chủ trương, có động cơ trong sáng, vì lợi ích chung nhưng có thiệt hại xảy ra...

Trước mắt, có một số việc cần làm để cán bộ đỡ "bệnh" sợ trách nhiệm: Thứ nhất, tiếp tục phân cấp, phân quyền cụ thể, rõ ràng xem cấp nào được phép làm gì. Thứ hai, cần minh bạch trách nhiệm. Thứ ba, phải có cơ chế bảo vệ cán bộ làm đúng vì lợi ích chung.

Cấp ủy đảng các cấp cần đồng hành với đội ngũ cán bộ, cần xây dựng cơ chế để xin ý kiến nhanh đối với tập thể cấp ủy, xin ý kiến nhanh cấp trên đối với những vấn đề mới phát sinh mà chưa có thông lệ, chưa có hướng dẫn pháp luật để giải quyết. Nếu vấn đề gì có thể vận dụng ngay thì giải quyết ngay. Vấn đề gì quá lớn, vượt thẩm quyền cho phép, cần phải sửa luật, sửa quy định thì cần có cơ chế đề xuất để sớm điều chỉnh, tránh vì chậm trễ, trì trệ mà gây nguy hại cho việc chung. 

Thời gian qua, công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát được đề cao trong việc phát hiện những sai phạm của quá trình thực thi công vụ. Điều này là rất cần thiết để bảo đảm pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Đảng được thực hiện nghiêm minh. Tuy nhiên, có lẽ nên xác định rằng, kiểm tra, giám sát không phải để cứ chăm chăm vào việc phát hiện sai phạm, xử lý cán bộ, gây những căng thẳng và áp lực không cần thiết cho đội ngũ cán bộ; mà qua công tác kiểm tra, giám sát cần phát hiện những vướng mắc, khó khăn khách quan, từ đó đồng hành, giúp đỡ đội ngũ cán bộ, đề xuất lên cấp trên những giải pháp để giúp cán bộ thực hiện tốt hơn nhiệm vụ, tránh được những rủi ro pháp luật.

Suy cho cùng thì các biện pháp quản lý cũng nhằm để hệ thống chính trị, hệ thống hành chính thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình. Do đó, tăng cường năng lực thực thi thì phải tạo ra một môi trường quản lý mà trong đó kỷ luật nghiêm minh và đổi mới, sáng tạo không đối lập nhau, hay nói cách khác, kỷ luật nghiêm minh không làm triệt tiêu sự sáng tạo. Để từ đó, cán bộ thực sự vững tin rằng khi dám nghĩ, dám làm, đổi mới, sáng tạo vì lợi ích chung sẽ được tổ chức và pháp luật bảo vệ.

Kỷ luật nghiêm minh là nền tảng của bộ máy, tuy nhiên nếu thiếu cơ chế bảo vệ người dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung thì kỷ luật có thể vô tình làm triệt tiêu động lực hành động./.
(Còn nữa)
QV-ST!