Thứ Tư, 17 tháng 6, 2026

CHÍNH SÁCH TÂY TIẾN CỦA PHƯƠNG TÂY Ở VIỆT NAM: UKRAINA THỨ 2 PHIÊN BẢN PHƯƠNG ĐÔNG!

     Sự tương đồng trong chính sách xâm lấn giáo dục của Phương Tây ở Ukraina và Việt Nam.

Khi phân tích các biến động địa chính trị trên thế giới, người ta thường chú ý đến các cuộc khủng hoảng tài chính, các lệnh trừng phạt kinh tế hoặc các xung đột quân sự trực diện. Tuy nhiên, một vũ khí sắc bén, mang tính chiến lược lâu dài và có sức công phá triệt để nhất lại diễn ra một cách thầm lặng trong các lớp học: Chính sách xâm lấn giáo dục.

Bản chất của chiến lược này không phải là dùng súng đạn để chiếm lĩnh lãnh thổ, mà là dùng tri thức, văn hóa và hệ giá trị để định hình lại "hệ điều hành tư duy" của thế hệ tương lai. Nhìn lại lịch sử của Ukraina từ khi Liên Xô tan rã cho đến trước năm 2014, và đối chiếu với thực tế tại Việt Nam sau hai thập kỷ gia nhập WTO, chúng ta có thể nhìn thấy một kịch bản tương đồng đến kinh ngạc trong cách thức phương Tây thẩm thấu vào nền tảng giáo dục của một quốc gia.

Tại Ukraina, sau khi bước ra khỏi không gian hậu Xô Viết vào năm 1991, quốc gia này đối mặt với một cuộc khủng hoảng kinh tế và hệ tư tưởng sâu sắc. Hệ thống giáo dục công lập rơi vào tình trạng thiếu hụt ngân sách trầm trọng, tạo ra một khoảng trống mênh mông cho các thế lực bên ngoài bước vào.

Phương Tây đã nhanh chóng triển khai các quỹ đầu tư, tổ chức phi chính phủ (NGO) như Quỹ Soros, các chương trình liên kết của Liên minh Châu Âu (EU) để tài trợ trực tiếp cho ngành giáo dục Ukraina. Họ không chỉ tài trợ cơ sở vật chất, mà mục tiêu cốt lõi là viết lại sách giáo khoa lịch sử, thay đổi góc nhìn về quá khứ và thiết lập các tiêu chuẩn đào tạo kiểu mới. Một thế hệ trẻ Ukraina lớn lên trong môi trường mà các giá trị phương Tây được tôn sùng làm chuẩn mực duy nhất, còn nền tảng văn hóa, lịch sử bản địa bị hạ thấp hoặc bóp méo. Hai mươi năm thẩm thấu thầm lặng đó đã nhào nặn ra một tầng lớp trí thức, chính trị gia và nhà báo trẻ mang tư duy thuần phương Tây. Khi thế hệ này bước vào độ tuổi chín muồi về sự nghiệp, họ đã trở thành lực lượng nòng cốt thúc đẩy sự đứt gãy thể chế và thay đổi hoàn toàn định hướng chiến lược của quốc gia.

Nhìn sang Việt Nam, một kịch bản tương tự đang diễn ra, nhưng với một tốc độ nhanh hơn, mạnh hơn và mang tính chất tinh vi hơn rất nhiều. 

Sự khác biệt lớn nhất nằm ở chỗ, nếu như ở Ukraina phương Tây phải chủ động bơm tiền qua các quỹ tài trợ lén lút hoặc công khai, thì tại Việt Nam, quá trình này vận hành theo cơ chế thương mại hóa giáo dục dựa trên cam kết mở cửa thị trường khi gia nhập WTO năm 2006. 

Phương Tây bước vào hệ thống giáo dục Việt Nam một cách danh chính ngôn thuận thông qua hai "tử huyệt" của xã hội: áp lực của nền giáo dục công lập và khát vọng thoát ly của tầng lớp trung lưu mới nổi.

Đòn bẩy đầu tiên là sự bùng nổ của hệ thống trường quốc tế, trường song ngữ tư thục từ cấp mầm non cho đến đại học. Việc tắm mình trong các giáo trình của Cambridge, Oxford hay các chứng chỉ của Mỹ từ nhỏ đã vô tình khiến trẻ em Việt Nam tư duy bằng ngôn ngữ ngoại quốc, lấy các tiêu chuẩn văn hóa, lối sống phương Tây làm thước đo cho mọi giá trị xung quanh. Đòn bẩy thứ hai, mang tính sát thương cao nhất đối với hệ thống giáo dục chính thống, chính là "quyền lực tuyệt đối" của các chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế như IELTS hay SAT. 

Khi các trường đại học top đầu tự nguyện biến các chứng chỉ do các tổ chức phương Tây cấp thành "kim bài miễn tử" để xét tuyển thẳng, hệ thống đã vô tình tạo ra một cơ chế tự sàng lọc nhân tài dựa trên tiêu chuẩn ngoại bang. Người dân Việt Nam hiện nay không cần ai ép buộc, họ tự nguyện dốc toàn bộ tài sản, nhịn ăn nhịn mặc để mua "hệ điều hành tư duy" phương Tây cho con em mình với mục đích cuối cùng là đi du học hoặc làm việc cho các tập đoàn đa quốc gia.

Sự nguy hiểm của chính sách xâm lấn giáo dục này nằm ở tính chất "đỏng đảnh" của dòng thác thông tin thời đại số. Khác với thời kỳ Ukraina những năm 1990 khi thông tin còn chậm chạp qua từng trang sách, thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay chịu tác động kép: ban ngày học giáo trình phương Tây, tối về đắm mình trong không gian mạng xã hội được định hình bởi thuật toán Big Data từ các nền tảng xuyên biên giới. Điều này tạo ra một sự dịch chuyển hệ giá trị ở quy mô công nghiệp. Khi một đứa trẻ lớn lên bằng tiếng Anh, tư duy bằng lăng kính phương Tây và giải trí bằng văn hóa phương Tây, sự kết nối của chúng với lịch sử dân tộc và hệ tư tưởng quốc gia sẽ dần bị cắt đứt.

Hệ quả tất yếu của quá trình này là sự đứt gãy thế hệ trong vòng 10 năm tới. Khi thế hệ lãnh đạo kỳ cựu đi qua, lực lượng kế cận bước lên vận hành bộ máy kinh tế, công nghệ và quản lý xã hội sẽ là những người được nhào nặn hoàn toàn bởi giáo dục phương Tây. 

Một khi thượng tầng kiến trúc của quốc gia không còn chung một "hệ điều hành" tư duy với nền tảng chính trị cốt lõi, sự xung đột và mất ổn định hệ thống là điều khó tránh khỏi. 

Bài học xương máu từ Ukraina cho thấy, một quốc gia có thể mất đi chủ quyền không phải vì bị đánh bại trên chiến trường, mà vì đã để mất thế hệ tương lai ngay từ trên ghế nhà trường.

Thế hệ con mình thôi, Ukraina 2 sẽ xuất hiện: Lời nguyền hơn 100 năm hòa bình từ cổ chí kim có thể lại hiện thực./.




QV-ST!

SỰ CÔ ĐƠN TRÊN CON ĐƯỜNG TRANH ĐẤU!

"Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng"!

Không có gì hơn là mượn mấy câu KIỀU của TỐ NHƯ để nói lên nỗi cô đơn của một số Cựu Chiến Binh đang tích cực phản biện lại bọn "LẬT SỬ" ... "LẬT VĂN"... bọn "suy thoái chính trị, manh nha cách mạng màu tại Việt Nam...".
Chúng Tôi không có tổ chức nào, không có ai giao nhiệm vụ làm việc này... có chăng còn ngọn lửa của anh "BỘ ĐỘI CỤ HỒ" và ngọn lửa tranh đấu của người Đảng Viên... đã thúc dục lương tâm của chúng tôi ngăn những vấn đề sai trái, xấu xa... mong rằng nó không làm "Ô NHIỄM" sự trong sáng của tiếng việt, " Ô NHIỂM" lý tưởng của giới trẻ hôm nay, nó lây lan như một bệnh dịch sang thế hệ trẻ hôm nay là những công dân của Tổ Quốc mai sau...
Thực cũng không dám to tát như câu thơ của SÓNG HỒNG:
"Dùng ngòi bút làm đòn xoay chế độ"

Nhưng các Anh Phan Trung Can, Nguyễn Thanh Tuấn và một số CCBVN nữa đã làm được những việc nho nhỏ, nhưng cũng không để cho những "CON TRÂU" rác phẩm Nỗi Buồn Chiến Tranh, Chuyện Với Thanh, Khi Én Đưa Thoi, không để nó chui qua "LỖ KIM" đến đầu độc thế hệ trẻ hôm nay.

Biết đâu đấy không có ý kiến của các Anh, của các CCBVN thì những "CON TRÂU RÁC PHẨM" vì những lý do nào đấy nó chui lọt qua LỖ KIM để đầu độc thế hệ trẻ... mọi người cũng đã từng nghe các báo, đài tung hô, lăng xê, ca ngợi hết lời các "RÁC PHẨM" đó sao!

Những thành công ấy nhưng cũng làm cho các Anh mệt rồi! Các Anh chắc cô đơn lắm, Anh Phan Trung Can cũng đã nói lên câu: "MỘT CUỘC CHIẾN KHÓ KHĂN và ĐƠN ĐỘC".

Tôi đồng cảm với các Anh... các Anh đã như ĐỖ PHỦ bên Trung Quốc viết" CỔ LAI HI" rồi...

Các Anh chả ngán gì đâu cái loại xưng danh trí thức, nhà văn, nhà báo nửa vời ấy...! Cái thứ rác rưởi ô nhiễm thế hệ trẻ ấy nó dần dần, từng ít một, từng lĩnh vực một xâm nhập vào xã hội... nó tích tiểu thành đại... đi từ rác phẩm văn học, đến lật sử, đến bôi nhọ các anh hùng dân tộc, anh hùng liệt sĩ qua các cuộc kháng chiến... và Đỉnh Điểm chúng dám đem:

"Thân Thế Và Sự Nhiệp của chủ tịch HỒ CHÍ MINH" để chúng bôi nhọ, phủ nhận, gây hoang mang cho giới trẻ ngày hôm nay không biết thế nào là "ĐÚNG"... là "" SAI" và họ cũng không xác định được lý tưởng tốt đẹp để xây dựng tổ quốc sau này!

Các Anh cô đơn vì trên con đường tranh đấu đã thiếu đi một nền móng vững chắc cho các Anh Đứng ! Đó là tính " PHÁP LÝ" những sai trái vi phạm LUẬT xuất bản 29/2012/QH13... vi phạm công văn 2274/CVBTGTW ra ngày
05-01-2022... nhưng những tên này nhởn nhơ ngoài đời và tiép tục bôi nhọ lãnh tụ, tướng lĩnh, lãnh đạo đảng, nhà nước..,

Các Anh cố gắng giữ sức khoẻ trên con đường tranh đấu của người cộng sản như bản" Quốc Tế Ca" nếu các Anh chùng xuống thì tôi chắc chắn một điều sẽ còn những rác phẩm Ô Nhiễm đầu độc thế hệ trẻ, rồi sau đây một thế hệ nữa thì chế độ của ta sẽ ra sao?
Biết bao máu xương của các Anh Hùng Liệt Sỹ qua các cuộc kháng chiến thì sao đây?

Tôi xin chúc các Anh khoẻ, bình an, nhiệt huyết đấu tranh và hạnh phúc!




QV-ST!

NGUYỄN THÀNH NAM ĐÃ TRƯỢT DÀI TRÊN CON ĐƯỜNG PHẢN ĐỘNG...

     Trưa nay mới ngủ dậy (thói quen ngủ trưa 1 giờ của Bộ Đội vẫn còn duy trì) cầm điện thoại chợt thấy một video Nguyễn Thành Nam đang thao thao bất tuyệt... trên bên trái phông nền là chữ đỏ chót ( PẮC PÓ LÀM GÌ CÓ) hắn ta đang giao giảng cho rất nhiều sinh viên trẻ, lớp trẻ đang há mồm ra nghe! ... Anh ta nói là ta chỉ nghe sử viết sao thì biết vậy thôi... Anh ta nói:
- Không thể tin Bác Hồ ở hang Pắc Pó (cốc Pó) 5 năm để lãnh đạo cách mạng, sao mà lãnh đạo được, làm thơ cho vui thôi, không ai hỏi 1941..1945...1946 Bác làm gì ở đâu? Tên Nam dám láo toét nói bài thơ:
"" sáng ra bờ suối , tối vào hang,
Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng,
Bàn đá chông chênh, dịch sử đảng,...
Cuộc đời cách mạng thật là sang!""...

Tên Nam ngộ nhận là TỐ HỮU viết!
Nhưng thực ra đó là bài thơ nổi tiếng của BÁC HỒ đó là bài "" TỨC CẢNH PẮC PÓ""
Tên Nam quá láo, cần nghiêm trị thằng này không thể tin nổi... một lần con trai giôn ken nơ đi sang thăm hang pắc pó và ông ta không thể tin nổi là các ông có thể ở trong cái hang này mà làm được cách mạng...
Vv...vv

Thành Nam nghi ngờ, Thành Nam phủ nhận tất cả..., Tay này đã phản động cực điềm rồi... Anh ta vi phạm như vậy mà ta không truy cứu trách nhiệm thì anh ta tiếp tục trượt dài trên con đường phản động.

Tôi tiếp tục phải nói là đầu óc của Nguyễn Thành Nam là đầu óc của kẻ tiểu nhân mà dám đi so với đầu óc vỹ nhân của các lãnh đạo... anh ta phát biều vung vít mà không đọc tài liệu ""Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam"" Tôi phân tích như thế này cho mọi người nhìn thấy cái bộ mặt phản động của NAM:
- Ngày 28/1/1941 Bác Hồ rời Trung Quốc về Việt Nam qua cột mốc 108...ngày 8/2-3/1941 Bác ở hang Pắc Pó, sau do Bác Hồ rời hang Pắc Pó vào ở hang Lũng Lạng cách hang Pắc Pó khoảng 1 km... hang Lũng Lạng có diện tích khoảng 50 m2...(như vậy Bác Hồ chỉ ở Pắc Pó hơn một tháng thôi, không phải như tên NAM nói là Bác ở 5 năm)... sau đó Bác Hồ về sống tại ""LÁN KHUỔI NẶM"" và Bác của chúng ta ở lán Khuổi Nặm là lâu nhất. Lán làm kiểu nhà sàn chắc chắn và bí mật nhờ nguỵ trang cây cối um tùm...
Ngày 10-19/5/1941 tại Lán Khuổi Nặm Bác Hồ tổ chức Hội Nghị Trung Ương 8 (KHOÁ 1)... thời gian Bác sang Trung Quốc từ ngày 13/8/1942 Bác Hồ đã bị quân Tưởng Giới THẠCH bắt một cách vô lý, chúng giam Bác Hồ từ ngày 29/8/1942( có tài liệu ghi là ngày 28/8/1942) đến tháng 9/1943 Bác được ra tù....!
Như vậy quân Tưởng Giới Thạch đã giam Bác Hồ của chúng ta 13 tháng...!

thời gian trong tù Bác Hồ viết tập thơ Nhật Ký Trong Tù... khi về Lại Việt Nam Bác Hồ có thời gian dưỡng bệnh và rèn luyện sức khoẻ như được các võ sư Trung Quốc dậy võ" thái cực quyền" Bác Hồ luyện tập leo núi... để đảm bảo an toàn cho Bác Hồ ta di chuyển những nơi ở quanh lán Khuổi Nặm, Bác tiếp tục lãnh đạo cách mạng... 22/12/1944 Bác Hồ ra chỉ đạo thành lập Đội Viêt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân (tiền thân của QĐNDVN)..., ngày 21/5/1945 Bác Hồ cùng Trung Ương về Tân Trào để chuẩn bị cho cách mạng tháng 8 (19/8/1945)...

Tôi đã chia sẻ để thấy bộ mặt của Thành Nam phản động cỡ nào mà dám phủ nhận sự lãnh đạo của Bác Hồ trong giai đoạn 1941-1945... mong mọi người chia sẻ mạnh để đến được Ban Tuyên Giáo Trung Ương, An Ninh Mạng bắt Thành Nam... nếu không Nam sẽ trượt dài trên con đường phản động!

QV-ST!

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: NHỮNG ĐIỀU KHÔNG CHO PHÉP XẢY RA!

     Nếu các thế lực thù địch lật đổ chế độ cộng sản ở Việt Nam, chúng ta thử hình dung những điều gì có thể xảy ra?

Chúng sẽ giải thể Đảng Cộng sản Việt Nam và 52.300 tổ chức cơ sở của Đảng. Hơn 5,6 triệu đảng viên của Đảng CSVN sẽ là đối tượng quản thúc.

Chúng sẽ giải tán Quân đội, Công an Nhân dân Việt Nam; thành lập lực lượng vũ trang riêng. Hệ thống chính trị cũng sẽ bị xoá bỏ.

Bộ máy truyền thông, báo chí Nhà nước cũng sẽ bị khoá chặt, “tự do ngôn luận”.

Chúng sẽ xoá “Lịch sử Đảng”, xét lại lịch sử dân tộc, Cách mạng Tháng Tám, Chiến Thắng Điện Biên phủ; Hiệp định Gionever; Hiệp định Paris; Chiến thắng Mậu Thân 1968; Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975. 

Các công trình văn hoá, các đường phố sẽ mang tên các kẻ tay sai bán nước thay các anh hùng dân tộc, những người có công lao với đất nước.

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng di tích chiến tranh chống Mỹ sẽ được đập bỏ, thay thế nội dung.

Tượng đài Hồ Chí Minh và các anh hùng dân tộc sẽ thay thế bằng tượng Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Ánh, Lê Văn Duyệt, Trương Vĩnh Ký, Phan Thanh Giản, Hoàng Văn Hoan, Bùi Tín…

Hơn 3.200 nghĩa trang liệt sĩ và khoảng 3.000 công trình ghi công liệt sĩ (bia tưởng niệm, đài tưởng niệm) trải dài trên khắp đất nước, hàng triệu ngôi mộ liệt sĩ chưa biết số phận thế nào?

Chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam cho 9,2 triệu người có công với cách mạng và thân nhân gia đình người có công với cách mạng cũng sẽ bị huỷ bỏ.

Đáng lo ngại nhất là Việt Nam biến thành một Ukraine thứ 2 ở Châu Á, lại đầu rơi máu chảy, lại nồi da xáo thịt. 

Nhân dân tin tưởng Đảng và Nhà nước không để những điều tồi tệ ấy xảy ra. Lường trước những hậu quả khôn lường như vậy để mỗi người dân chúng ta phải kiên quyết đấu tranh với các thế lực thù địch, bảo vệ chế độ, bảo vệ thành quả cách mạng của dân tộc./.
Theo face PTC.
QV-ST!

VẤN ĐỀ DƯ LUẬN QUAN TÂM: NGUYỄN THÀNH NAM PHẢN ĐỘNG, XÚC PHẠM LÃNH TỤ - NGƯỜI DÂN CẮT MỌI SẢN PHẨM CỦA FPT!

     Chiều nay cậu nhân viên FPT đến thu tiền Internet. Tui liền bảo: em cắt mạng cho chị đi, chị không dùng mạng FPT nữa.

Cậu ta rối rít, cuống quýt hỏi han đủ thứ lý do tại sao? 
Tui bảo: Không có lý do gì cả. Chỉ là chị ghét FPT, ghét tên cựu CEO phản động nguyễn thành nam thôi. Em có biết tên ấy không? 

Tui hỏi xong, thấy cu cậu gãi đầu cười ngờ nghệch thì liền quay vô lấy điện thoại mở mấy đoạn video tên "nam trọc" xúc phạm Lãnh Tụ cho cậu ta xem. Cậu ta ú ớ, ngớ người, xong lại quay sang rối rít: - Em hiểu rồi nhưng chị có thể tìm giúp em một lý do gì đó khác ngoài cái lý do tế nhị này được không? 
- Không! Chị chẳng tìm được lý do gì khác cả. Và em cũng về báo thẳng là do khách hàng ghét tên "nam trọc" phản động và ghét cả lò bọn FPT nên cắt. 

Cậu nhân viên kia thấy mình tỏ thái độ thế thì cũng lủi thủi đi ra. Một lúc sau, có nhân viên FPT gọi đến hỏi lý do, tui cũng nói rõ lý do, cô nhân viên CSKH kêu: Chị ơi! Em biết thế nhưng mạng Internet cũng quan trọng đối với chúng ta mà chị! Chị suy nghĩ lại đi, vì chuyện đó mà cắt mạng làm ảnh hưởng cuộc sống của mình thì không nên. 

Tui: - Úi! Em ơi! Chị đâu cắt mạng, chị gọi Viettel đến cấp vào ngày mai luôn rùi, còn cả VNPT nữa, đâu chỉ có FPT của nhà em đâu! 
 
Thấy việc thuyết phục vô nghĩa, cô nhân viên CSKH liền trở giọng đòi đóng 1 tháng rưỡi tiền mạng còn thiếu. Tui cũng giở giọng Chí Phèo lại luôn và ngay: Chị không đóng. Em muốn làm gì làm. Em thích thì gọi công an đến mà đòi. Xong tui cúp máy cái rụp. (Chưa bao giờ tui thấy tui đanh đá như thế đâu á!)

Tội gì cũng có thể nhắm mắt làm ngơ chớ cái tội xúc phạm Lãnh Tụ và phản bội Tổ quốc thì phải phong sát triệt để.

P/s: Có ai mún join team tẩy chay FPT không, bơi vô đây với tui đi!
QV-ST!

Thứ Ba, 16 tháng 6, 2026

GIỮ VỮNG TRẬN ĐỊA TƯ TƯỞNG - BÀI HỌC TỪ LIÊN XÔ VÀ CẢNH BÁO CHO VIỆT NAM HÔM NAY!

     Ngày 7/2/1990, Đảng Cộng sản Liên Xô chấp nhận đề xuất của Gorbachev về việc từ bỏ vai trò lãnh đạo chính trị, bước ngoặt dẫn đến sự tan rã của Liên Xô. Gorbachev, kiến trúc sư cùng Alexander Yakovlev, “trùm tuyên giáo” của cải tổ (Perestroika), là minh chứng cho hiện tượng tự diễn biến từ bên trong, với tác động từ bên ngoài. Sự kiện này cảnh báo sâu sắc rằng: khi nền tảng tư tưởng bị buông lỏng, hệ thống chính trị khó giữ được ổn định. Bài học ấy vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh hiện nay, khi tác động tư tưởng ngày càng tinh vi, đòi hỏi phải nâng cao cảnh giác, củng cố nhận thức chính trị và bảo vệ sự ổn định, phát triển đất nước.

Bối cảnh lịch sử và bước ngoặt chính trị: Hồi chuông cảnh tỉnh từ Liên Xô năm 1990

Năm 1990, Liên Xô bước vào giai đoạn then chốt của công cuộc cải tổ (Perestroika) dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Mikhail Gorbachev. Một trong những quyết định gây chấn động nhất là việc Đảng Cộng sản chính thức từ bỏ vai trò lãnh đạo chính trị độc tôn. Ẩn sau một thay đổi tưởng như “kỹ thuật” về tổ chức ấy là sự rạn nứt nghiêm trọng trong nền tảng tư tưởng, trụ cột duy trì sự thống nhất và ổn định của toàn bộ hệ thống chính trị.

Đây không chỉ là một điều chỉnh cục bộ, mà là bước ngoặt lịch sử mang tính sống còn. Khi nguyên tắc lãnh đạo không còn giữ vai trò trung tâm, hệ sinh thái chính trị của một quốc gia rộng lớn và đa sắc tộc bắt đầu mất phương hướng. Những vết rạn nhỏ trong niềm tin xã hội nhanh chóng lan rộng như các khe nứt trên mặt băng mỏng, dẫn đến phản ứng dây chuyền làm sụp đổ toàn bộ kiến trúc chính trị Xô viết.

Những biến động này diễn ra trong một bức tranh đầy mâu thuẫn: nền kinh tế trì trệ kéo dài, đời sống người dân suy giảm, trong khi áp lực toàn cầu hóa và cạnh tranh từ phương Tây ngày càng gia tăng. Những giá trị từng được coi là bất biến bắt đầu bị chất vấn công khai. Các cuộc tranh luận về lịch sử, mô hình phát triển và định hướng tương lai trở nên gay gắt, điều vốn là “nhạy cảm” trong nhiều thập kỷ trước đó.

Tuy nhiên, nghiêm trọng hơn cả là khủng hoảng trên mặt trận tư tưởng. Khi lực lượng lãnh đạo đánh mất vai trò định hướng thống nhất, không gian tư tưởng trở nên phân tán. Hàng loạt quan điểm đối lập trỗi dậy, từ dân tộc chủ nghĩa cực đoan đến xu hướng cải cách cực đoan, thậm chí là kêu gọi ly khai. Hệ quả là hiệu lực quản lý xã hội giảm sút nghiêm trọng, các thiết chế quyền lực truyền thống mất dần sức kiểm soát và điều phối.

Chỉ sau chưa đầy hai năm kể từ quyết định mang tính bước ngoặt đó, Liên bang Xô viết, từng được coi là một cực quyền lực toàn cầu đã tan rã trong sự ngỡ ngàng của cả thế giới. Mười lăm nước cộng hòa tách ra thành các quốc gia độc lập, để lại khoảng trống quyền lực, các xung đột sắc tộc kéo dài và hệ quả chính trị sâu rộng suốt nhiều thập kỷ sau.

Sự kiện này không đơn thuần là một chương đã khép lại trong sách giáo khoa lịch sử, mà là hồi chuông cảnh tỉnh về vai trò sống còn của nền tảng tư tưởng đối với sự ổn định chính trị và phát triển quốc gia. Khi tư tưởng rời rạc, niềm tin lung lay, thì ngay cả những thể chế tưởng chừng kiên cố nhất cũng có thể sụp đổ.

Bài học từ cải tổ Liên Xô: Khi nền tảng tư tưởng bị lung lay

Cuối thập niên 1980, Liên Xô bước vào thời kỳ cải cách sâu rộng dưới khẩu hiệu cải tổ (Perestroika), không chỉ trong kinh tế mà còn tác động mạnh mẽ đến tư tưởng chính trị và cơ chế lãnh đạo. Đứng sau làn sóng này là Mikhail Gorbachev, người khởi xướng cải cách cùng với Alexander Yakovlev, được xem là “kiến trúc sư tư tưởng” của cải tổ. Họ đã thúc đẩy một loạt thay đổi lật ngược những quan niệm chính trị truyền thống, mở đường cho các lực lượng đối lập trỗi dậy từ bên trong.

Một trong những bước đi có tính bước ngoặt là việc sửa đổi Hiến pháp năm 1990, chính thức chấm dứt vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đây không chỉ là sự thay đổi về thể chế, mà là cú hích mạnh làm sụp đổ hệ trục tư tưởng đã gắn kết hệ thống chính trị Xô viết suốt nhiều thập kỷ. Hệ quả là toàn bộ hệ thống nhanh chóng mất điểm tựa. Khi trụ cột tư tưởng lung lay, nhiều lực lượng chính trị, từ cải cách cấp tiến đến ly khai dân tộc nổi lên với mục tiêu khác biệt, phá vỡ sự thống nhất trong chiến lược phát triển và đẩy đất nước vào vòng xoáy bất ổn.

Nhiều học giả lịch sử và chính trị học sau này nhìn nhận rằng: sự buông lỏng nền tảng tư tưởng và lạc hướng lý luận chính là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự sụp đổ không thể cứu vãn của một trong những siêu cường hàng đầu thế giới. Khi tư tưởng không còn là chất keo gắn kết xã hội, thì sự tan rã là điều tất yếu.

Bài học rút ra là: cải cách, dù cần thiết đến đâu, cũng không thể tách rời khỏi nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo định hướng. Nếu lý luận chính trị rơi vào tình trạng dao động, thiếu tính dẫn dắt, xã hội sẽ mất phương hướng và dễ bị dẫn dắt bởi những quan điểm lệch lạc, thậm chí thù địch.

Trong bối cảnh hiện nay, khi thế giới đầy biến động với sự cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt, các cuộc chiến tranh thông tin và tác động tư tưởng trở nên tinh vi hơn bao giờ hết, bài học từ Liên Xô vẫn mang giá trị thực tiễn sâu sắc. Tư tưởng không chỉ là lý luận mà là tuyến phòng thủ đầu tiên bảo vệ lợi ích quốc gia.

Giữ vững nền tảng tư tưởng chính là giữ gìn ổn định chính trị, điều kiện tiên quyết để phát triển kinh tế, văn hóa và đối ngoại một cách bền vững. Nếu nền tảng ấy bị xói mòn, mọi thành quả phát triển có nguy cơ bị gián đoạn, thậm chí sụp đổ, để lại những hệ lụy nghiêm trọng trong nhiều thập niên sau.

Giữ vững nền tảng tư tưởng - Bài học từ lịch sử và thực tiễn Việt Nam

Bài học từ sự sụp đổ của Liên Xô cho thấy một điều cốt lõi: sự ổn định chính trị không thể tách rời nền tảng tư tưởng vững chắc và vai trò lãnh đạo kiên định của Đảng. Đối với Việt Nam, nguyên tắc này không chỉ mang tính lý luận, mà còn được kiểm chứng qua thực tiễn cách mạng, xây dựng và phát triển đất nước gần một thế kỷ qua.

Hiến pháp Việt Nam khẳng định rõ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Đây không phải là sự lựa chọn mang tính nhất thời, mà là kết quả của một quá trình lịch sử lâu dài, gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ chủ quyền quốc gia và phát triển đất nước. Trong những giai đoạn nhạy cảm, Nhóm kiến nghị 72 đã từng đề xuất sửa đổi Điều 4 của Hiến pháp theo hướng thay đổi nguyên tắc khẳng định vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng, hợp thức hóa mô hình đa đảng đối lập và tách lực lượng vũ trang khỏi sự lãnh đạo của Đảng, nhằm điều chỉnh mô hình chính trị hiện hành. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy rằng mọi cải cách thể chế chỉ thực sự có ý nghĩa khi được triển khai trong khuôn khổ pháp luật, bảo đảm lợi ích quốc gia và giữ vững ổn định chính trị, yếu tố có ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển bền vững và lâu dài của đất nước.

Trong bối cảnh đổi mới và hội nhập sâu rộng, Việt Nam đang tiếp cận nhiều nguồn tư tưởng, mô hình phát triển và giá trị văn hóa đa dạng. Giao lưu học thuật, hợp tác kinh tế, mở rộng truyền thông và không gian mạng tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển, nhưng đồng thời cũng đặt ra những thách thức lớn về tư tưởng, đặc biệt là nguy cơ nhiễu loạn thông tin, xâm nhập các giá trị lệch chuẩn và âm mưu “diễn biến hòa bình” từ bên ngoài.

Trước thực tế đó, yêu cầu đặt ra là phải nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố nhận thức lịch sử đúng đắn và tăng cường năng lực phản biện xã hội. Việc tiếp thu kinh nghiệm quốc tế là cần thiết, nhưng cần có chọn lọc, dựa trên nguyên tắc giữ vững độc lập dân tộc, bảo vệ chủ quyền, tôn trọng bản sắc văn hóa và ưu tiên lợi ích quốc gia.

Thực tiễn nhiều thập niên qua đã chứng minh: ổn định chính trị là nền tảng vững chắc cho phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân và mở rộng quan hệ đối ngoại. Môi trường chính trị ổn định tạo niềm tin cho nhà đầu tư, đối tác quốc tế, đồng thời là bệ phóng cho các nỗ lực đổi mới, sáng tạo trong xã hội.

Đặc biệt trong bối cảnh toàn cầu nhiều biến động, việc chủ động nhận diện sớm các nguy cơ tư tưởng có ý nghĩa sống còn. Cảnh giác không có nghĩa là đóng kín, mà là thể hiện năng lực phòng ngừa, phản ứng linh hoạt để bảo vệ định hướng phát triển độc lập, tự chủ và bền vững. Đó là sự tỉnh táo cần thiết để củng cố lòng tin xã hội vào con đường phát triển mà đất nước đã lựa chọn, một con đường phù hợp với điều kiện lịch sử, bản sắc dân tộc và khát vọng vươn lên của toàn dân.

Cảnh giác tư tưởng – Bài học sống còn từ Liên Xô và thông điệp cảnh báo cho hiện tại

Sự tan rã của Liên Xô, trung tâm của hệ thống xã hội chủ nghĩa một thời không chỉ là hệ quả của những sai lầm trong quản lý kinh tế hay căng thẳng địa chính trị, mà bắt nguồn từ một cuộc khủng hoảng sâu sắc trên mặt trận tư tưởng. Trong đó, vai trò của Alexander Yakovlev, người được mệnh danh là “trùm tuyên giáo” của công cuộc cải tổ là minh chứng điển hình cho hiện tượng tự diễn biến từ bên trong, với sự tác động có chủ đích từ bên ngoài.

Yakovlev từng là người nhận học bổng Fulbright, có thời gian học tập tại Mỹ, trước khi trở thành kiến trúc sư tư tưởng cho quá trình cải cách tại Liên Xô. Dưới ảnh hưởng của các giá trị phương Tây, ông đã cổ súy tự do hóa tư tưởng cực đoan, phá vỡ nền tảng lý luận Mác-xít, và từng bước làm xói mòn vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Những thay đổi tưởng như tiến bộ ấy thực chất đã mở đường cho các luồng tư tưởng đối lập trỗi dậy, dẫn đến quá trình phân rã từ chính nội tại hệ thống.

Song song với đó là chiến lược “mềm hóa” qua giáo dục và học bổng quốc tế, trong đó nổi bật là chương trình Fulbright do Mỹ khởi xướng. Những năm cuối của Liên Xô, chương trình này đóng vai trò như một kênh “xuất khẩu tư tưởng”, tiếp cận đội ngũ trí thức và cán bộ trẻ, gieo rắc các giá trị dân chủ phương Tây. Không ít người, sau khi trở về, đã mang theo tư duy đối lập, vô hình trung góp phần thúc đẩy sự đổ vỡ từ bên trong bộ máy.

Hiện nay, tại Việt Nam, một số hoạt động của tổ chức Fulbright dưới hình thức hội thảo, xuất bản, tài trợ… đã có biểu hiện cổ súy cho tư tưởng trái chiều, xuyên tạc lịch sử, làm lu mờ bản chất cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc ta chống chiến tranh xâm lược. Việc đánh tráo giá trị, biến cuộc kháng chiến vệ quốc thành “nội chiến” hay “xung đột ý thức hệ” chính là một dạng diễn biến hòa bình tinh vi, nguy hiểm, âm thầm nhưng thâm sâu.

Trước thực tế đó, yêu cầu giữ vững nền tảng tư tưởng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Bảo vệ an ninh Tổ quốc không chỉ là trách nhiệm của lực lượng Công an, mà cần có sự phối hợp đồng bộ với Quân đội vững mạnh, không chỉ về tiềm lực quốc phòng mà còn về bản lĩnh chính trị, sự trung thành tuyệt đối với lý tưởng cách mạng. Quân đội phải là lực lượng tiên phong trong bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, cả trên phương diện lãnh thổ và đặc biệt trên trận địa tư tưởng. Chỉ khi cả Công an và Quân đội trung thành với Đảng, với Tổ quốc, cùng giữ vững “trận địa tư tưởng”, mới có thể đảm bảo ổn định chính trị, nền tảng cốt lõi cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Cùng với đó, trong bộ máy lãnh đạo, phải kiên quyết loại bỏ tư duy “hô một đằng, làm một nẻo”, biểu hiện rõ nhất của chủ nghĩa hình thức, nói suông, thiếu hành động, làm suy giảm lòng tin Nhân dân. Tấm gương của cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, người dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vẫn là lời nhắc nhở thấm thía cho đội ngũ cán bộ hôm nay.

Người cán bộ, nhất là cán bộ cấp cao, phải thực sự liêm chính, không chỉ trong tư cách cá nhân mà cả trong lối sống, ứng xử và đạo đức của gia đình. Bản thân phải gương mẫu, gia đình phải trong sạch, không để người thân lợi dụng chức quyền để trục lợi. Một khi gia đình cán bộ suy thoái, biến chất, sẽ trở thành điểm mờ, làm tổn hại đến niềm tin xã hội và tạo hiệu ứng tiêu cực lan rộng trong quần chúng.

Lãnh đạo không được phép phô trương cá nhân, chạy theo hình thức, mà phải thể hiện sự nhất quán giữa lời nói và hành động, giữa chủ trương và triển khai thực tiễn. Mỗi chỉ đạo phải gắn với hành động cụ thể, mỗi cam kết phải đi cùng kết quả rõ ràng. Chỉ khi đó, niềm tin xã hội mới được củng cố và phát triển, trở thành nền tảng sống còn của ổn định chính trị và sự phát triển quốc gia.

Trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng, việc chủ động nhận diện, sàng lọc và đấu tranh với các luồng tư tưởng sai trái không phải là đóng cửa, mà là hình thức mở có bản lĩnh, chọn lọc, tỉnh táo và vững vàng. Những bài học từ Liên Xô, từ các bất ổn cải cách tại Trung Quốc, hay sự len lỏi của những tư tưởng lệch chuẩn trong một số tổ chức học thuật hiện nay, đều là cảnh báo rằng: nếu trận địa tư tưởng bị buông lỏng, thì nguy cơ lật đổ hệ thống từ bên trong là hoàn toàn có thể xảy ra.

Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, nơi tư tưởng, văn hóa và công nghệ lan truyền không biên giới, giữ vững trận địa tư tưởng chính là giữ vững chủ quyền mềm của quốc gia. Và điều ấy, hơn bao giờ hết, đòi hỏi sự tỉnh táo, bản lĩnh và hành động quyết liệt từ cả hệ thống chính trị, từ đội ngũ lãnh đạo cho đến từng công dân để Việt Nam không đi vào vết xe đổ lịch sử của Liên Xô, mà vững bước trên con đường phát triển độc lập, tự cường và bền vững.

Giữ vững định hướng phát triển độc lập, tự chủ, kiên định vai trò lãnh đạo chính trị, củng cố “thành lũy tư tưởng” của dân tộc chính là trách nhiệm lịch sử của mỗi thế hệ. Đó không chỉ là gìn giữ những giá trị của quá khứ mà là đang bảo vệ tương lai của đất nước./.
Theo tác giả Thế Nguyễn – Minh Văn
QV-ST!

"DÙNG NGƯỜI VIỆT TRỊ NGƯỜI VIỆT"!

     Đây là chiến lược kinh điển của thực dân, đế quốc Tây Âu. Nó kéo dài xuyên suốt từ trăm năm đô hộ của thực dân Pháp đến cuộc xâm lược của đế quốc Mỹ.

Và bây giờ, bóng ma ngụy dân chủ đã hiện hữu trên gương mặt của đất nước người Cộng sản Nguyễn Ái Quốc. 

Mỹ sẽ tạo điều kiện và hỗ trợ những con bài của họ nổi tiếng và thành công, không chỉ trong nước mà cả quốc tế, đồng thời có thể thay đổi cả một hệ tư tưởng.

Chiến lược dài hạn của Mỹ là thay đổi hệ tư tưởng Hồ Chí Minh ở Việt Nam.
 
Dùng người Việt thay đổi hình ảnh Hồ Chí Minh cho chính người Việt và Nguyễn Thành Nam FPT hay Ngô Bảo Châu chỉ là kẻ mở đường.

Khi biểu tượng bị hạ thấp thì tư tưởng cũng bị xoá nhoà, khi tư tưởng bị xoá nhoà thì Đảng cũng bị mờ nhạt dẫn đến loại bỏ Điều 4 trong Hiến pháp.

Bạn nghĩ, họ tham nhũng vì có cơ hội. Không! Họ chuẩn bị cho kịch bản thành lập Đảng phái.

Chừng nào Lăng Bác không bị che lại hay phá dỡ đi, chừng đó bạn còn thấy sự ổn định.

Bạn hãy chuẩn bị! Vì muốn phát triển 2 con số cái giá phải trả không rẻ đâu./.
QV-ST!

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: ĐOÀN VĂN CHIA - NGƯỜI ĐÀN ÔNG BIẾN 100 TỔ ONG VÒ VẼ THÀNH NỖI ÁM ẢNH CỦA LÍNH MỸ!

     🇻🇳Trong kháng chiến chống Mỹ, có một người nông dân Nam Bộ khiến đối phương phải dè chừng không chỉ vì mìn, chông hay thuốc nổ, mà còn vì ong vò vẽ.

Đó là Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Đoàn Văn Chia, người được nhiều đồng đội gọi bằng cái tên đặc biệt: "Thủ lĩnh đội quân ong vò vẽ".

Sinh năm 1918 tại xã Hòa Mỹ, huyện Phụng Hiệp, vùng đất nay thuộc thành phố Cần Thơ, ông tham gia cách mạng từ năm 1946. Không được đào tạo bài bản về kỹ thuật quân sự, nhưng bằng kinh nghiệm thực tế và sự sáng tạo hiếm có, ông đã tự nghiên cứu chế tạo tới 33 loại hầm chông và 10 loại mìn khác nhau để phục vụ chiến đấu.

💣 Điều khiến nhiều người nể phục là sự gan dạ đến phi thường của ông. Trong khi nhiều người tránh xa b.o.m đ.ạ.n chưa n.ổ, Đoàn Văn Chia lại chủ động tìm cách thu gom chúng.

Ông từng trực tiếp gỡ 4 quả b.o.m phá, b.omm napan, 150 quả b.o.m bi, khoảng 400 quả b.o.m bươm bướm, 3 quả đ.ạ.n cối 60mm và 26 quả hỏa tiễn để lấy gần 350kg thuốc nmổ phục vụ chiến đấu.

Có lần ông thu được gần 40 quả b.o.m bi chưa n.ổ, sau đó cải tiến thành 4 loại m.ì.n gài khác nhau. Chính những loại m.ì.n này đã gây tổn thất nặng nề cho đối phương, biến vũ khí của họ thành vũ khí chống lại họ.

🔥 Nhưng điều làm nên tên tuổi Đoàn Văn Chia lại không phải thuốc n.ổ.

Mà là ong vò vẽ.

Từ việc quan sát tập tính tự nhiên của loài ong rừng, ông nghĩ ra cách nuôi dưỡng, bảo vệ và sử dụng chúng như một lực lượng hỗ trợ chiến đấu. Dần dần, ông xây dựng được một "đội quân" gồm khoảng 100 tổ ong vò vẽ.

Khi có lực lượng đối phương càn quét hoặc tiến vào khu vực phục kích, những tổ ong này được sử dụng đúng thời điểm, gây hỗn loạn và làm nhiều toán lính buộc phải rút lui.

🐝 Nghe có vẻ khó tin, nhưng đội quân ong vò vẽ ấy thực sự đã trở thành một trong những sáng kiến chiến tranh nhân dân độc đáo nhất ở miền Tây Nam Bộ.

Đối phương có thể đề phòng m.ì.n.

Có thể đề phòng hầm chông.

Nhưng rất khó đề phòng hàng ngàn con ong vò vẽ lao xuống giữa lúc bất ngờ.

📚 Không chỉ trực tiếp chiến đấu, Đoàn Văn Chia còn truyền lại kinh nghiệm cho đồng đội. Ông đã hướng dẫn khoảng 650 cán bộ, chiến sĩ và du kích cách chế tạo các loại v.ũ k.h.í thô sơ, bẫy chiến đấu và phương tiện đánh địch từ những vật liệu có sẵn tại địa phương. Nhờ đó, nhiều đơn vị có thêm phương tiện chiến đấu hiệu quả dù điều kiện vô cùng thiếu thốn.

🏅 Với những chiến công và sáng kiến đặc biệt xuất sắc, ngày 17/9/1967, ông Đoàn Văn Chia được Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân.

🇻🇳 Câu chuyện của Đoàn Văn Chia cho thấy trong chiến tranh, sức mạnh không chỉ đến từ v.ũ k.h.í hiện đại. Đôi khi nó đến từ sự sáng tạo của một người nông dân biết biến hầm chông, b.o.m đ.ạ.n thu được và cả những tổ ong rừng thành v.ũ k.h.í bảo vệ quê hương./.
QV-ST!

NHIỀU LÚC TÔI KHÔNG HIỂU NỔI NHỮNG CON NGƯỜI NHƯ THẾ NÀY!

     Nên biết, họ thuộc gia đình có truyền thống cách mạng, bản thân được Đảng và Nhà nước quan tâm nhiều ưu ái, trong thời kỳ kháng chiến được đưa đi đào tạo, học hành bài bản, tử tế, học hàm, học vị lên cao cả trong và ngoài nước...

Thế nhưng có phải:
- họ thuộc về loại người ngu xuẩn a tòng theo bọn ngụy sử nhân danh cấp tiến, vốn đưa ra những luận điệu triết cùn "cần có cái nhìn trung tính và khách quan hơn"

- hoặc họ là loại người đang lộ ra cái bản mặt "vong ân bội nghĩa", phản bội lại dân tộc và bao thế hệ AHLS đã hy sinh niềm riêng, thân mình, oanh liệt ngã xuống vì độc lập dân tộc, tự do cho quê hương - Tổ quốc Việt Nam thân yêu này.

Mụ này già đầu mà ngu thế sao, từng biết gì về những đội quân xâm lược của Đại Hàn như các Sư đoàn lang sói, khát máu Bạch Mã hay Mãnh Hổ đóng quân và tàn sát, diệt chủng trên những miền quê hương Bình Định, Phú yên v.v.

Khi gõ phím những dòng chữ bất bình này, kể bạn nghe, cách chỗ tôi đây chừng 100 m là những cái đồn của quân Bạch Mã khét tiếng phi nhân, tàn ác...chúng muốn giết người giải khuây trong chiều buồn, bức hiếp cưỡng ép phụ nữ đến sang chấn tinh thần hoảng loạn và chết...là chuyện bình thường. 

Bao vụ tàn sát dân thường, phụ nữ trẻ em bằng những hình thức man rợ nhất...vẫn còn để lại nỗi đau uất hận cho người ở lại (tôi bảo đảm lịch sử ở các địa phương thống kê không hết).

Câu chuyện Đại Hàn tàn sát người dân Việt Nam trong cuộc chiến chống xâm lược Mỹ, nhất là ở những miền quê hương Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên... thì cả thế giới đều biết rõ.

Nói ra không phải để khơi gợi hận thù hay làm ảnh hưởng tới quan hệ hợp tác tốt đẹp, tinh thần hữu nghị giữa hai dân tộc trong giai đoạn hiện nay.

Nhưng lịch sử cần phải được khắc ghi, lưu giữ rõ nét, để các thế hệ mai sau lấy đó làm bài học giữ nước và hiểu rõ hơn về giá trị của hòa bình, độc lập dân tộc mà lịch sử cha ông đã kiên cường, oanh liệt trải qua, đã phải đánh đổi bằng biết bao xương máu và những sự hy sinh to lớn như thế nào để có được sự bình yên trên quê hương của ngày hôm nay.

Hàn quốc chưa bao giờ đưa ra lời xin lỗi chính thức cấp nhà nước mang tính pháp lý với nhân dân Việt Nam.

Vừa qua Tổng thống đương nhiệm Lee Jae-myung có đề cập trực tiếp dến vấn đề này bằng những phát ngôn mạnh mẽ và có tính thừa nhận lịch sử, thúc giục việc xin lỗi Việt Nam.

Lưu ý các đời tổng thống Hàn quốc vẫn là những phát biểu có tích cách "xin lỗi ngoại giao", nghĩa là bày tỏ sự hối tiếc về một vết sẹo trong lịch sử giữa hai nước.

Về phía Việt Nam ta thì luôn nhất quán với chủ trương "khép lại quá khứ, hướng tới tương lai".

Không nên nhầm lẫn cuộc gặp gỡ, sang thăm Việt Nam vừa qua của Tổng thống Hàn quốc Lee Yae Myung là có một xin lỗi chính thức với Việt Nam.

Tương tự cũng như trường hợp của bà Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae chỉ là những hình thức phát biểu ngoại giao...

TB: Nhìn thấy cái Status của mụ Kim Ngân này tôi vô cùng bất bình. Mụ ta quanh năm chỉ tuyên truyền, hòng vực dậy cái thây ma ngụy VNCH và đội kẻ thù xâm lược trên đầu mà thôi.

Ngược lại, Mụ thỉnh thoảng khoe mình là người có công lao to lớn đối với cách mạng. Thật đáng khinh bỉ./.

QV-ST!

TẠI SAO PHẢI GỌI CHẾ ĐỘ TAY SAI SÀI GÒN LÀ "NGỤY QUÂN, NGỤY QUYỀN"?

     Trong lịch sử kháng chiến chống xâm lược của dân tộc Việt Nam, các khái niệm "ngụy quân", "ngụy quyền" được nhân dân và các tài liệu lịch sử sử dụng như một sự định danh chính thức đối với bộ máy chính trị và quân đội tay sai ở miền Nam. Trải qua thời gian, nhiều thế lực thù địch và các học giả xét lại lịch sử đã cố tình tìm cách "lập lờ đánh lận con đen", cố vẽ lại tính chính danh cho các chế độ này dưới những cái tên hoa mỹ như "thực thể quốc gia" hay "nền dân chủ sơ khai". Tuy nhiên, lật mở lại toàn bộ tiến trình lịch sử dưới góc độ luật pháp quốc tế, đạo lý dân tộc và đặc biệt là từ chính các tài liệu giải mật của đối phương, việc gọi chế độ Sài Gòn là "ngụy quân, ngụy quyền" không phải là một sự áp đặt chính trị khiên cưỡng. Đó là sự định danh khoa học sòng phẳng, phản ánh chính xác bản chất bù nhìn, phản quốc của hai thực thể do ngoại bang nặn ra nhằm phục vụ cho mưu đồ nô dịch nước ta.

1. Bản chất ngôn ngữ và lịch sử của từ "Ngụy"

Để hiểu rõ tính đúng đắn của tên gọi này, trước hết cần nhìn nhận dưới góc độ ngữ nghĩa học lịch sử. Trong ngôn ngữ và văn hóa chính trị Việt Nam, từ "Ngụy" mang ý nghĩa là giả hiệu, không chính thống, bất hợp pháp, đối lập hoàn toàn với "Chính" (chính danh, chính nghĩa). Từ "Ngụy" dùng để chỉ một tập đoàn hoặc một chính thể chiếm quyền lực bằng con đường phi pháp, làm tay sai cho ngoại bang, đi ngược lại lợi ích tối cao của quốc gia và dân tộc.

Trong lịch sử Việt Nam, nhân dân ta từng gọi chính quyền Trần Diễn làm tay sai cho nhà Minh là ngụy, hay chính quyền Lê Chiêu Thống "rước voi về giày mả tổ" là ngụy. Do đó, khi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ dựng lên bộ máy tay sai ở miền Nam Việt Nam để phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược, việc nhân dân gọi bộ máy đó là "ngụy quyền" và lực lượng vũ trang bảo vệ nó là "ngụy quân" chính là sự tiếp nối mạch tư duy lịch sử ngàn đời của dân tộc. Bất cứ kẻ nào đem giang sơn giao cho ngoại bang, làm công cụ cho nước ngoài bắn vào đồng bào mình, phản bội lại lợi ích dân tộc thì đều là "Ngụy".

2. Hai thực thể tay sai, bù nhìn do thực dân Pháp và đế quốc Mỹ nặn ra

Sự bất hợp pháp và tính chất "giả hiệu" của chế độ Sài Gòn lộ rõ ngay từ nguồn gốc hình thành khi cả hai thực thể xuất hiện ở miền Nam đều là sản phẩm độc hại do ngoại bang dựng lên, hoàn toàn không có tính chính danh lịch sử.

Ngay từ năm 1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra đời từ cuộc Cách mạng Tháng Tám vĩ đại, đập tan ách thống trị của thực dân Pháp và phát xít Nhật. Tính chính danh độc tôn của Nhà nước này đã được đóng con dấu pháp lý tối cao thông qua cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên ngày 6/1/1946 với sự tham gia của gần 90% cử tri từ Bắc chí Nam, bầu ra Quốc hội khóa I và thông qua Hiến pháp 1946.

Đối lập hoàn toàn với chính quyền cách mạng hợp hiến của nhân dân, thực dân Pháp nhằm đối phó với phong trào kháng chiến đã nặn ra cái gọi là "Quốc gia Việt Nam" năm 1948. Thông qua Hiệp định Élysée (1949) ký với Bảo Đại, Pháp lập nên một thực thể tay sai, bù nhìn để biến cuộc chiến tranh xâm lược thực dân thành "cuộc chiến chống Cộng" nhằm xin viện trợ từ Mỹ. Thực thể bù nhìn này bị Pháp tước bỏ toàn bộ quyền chủ quyền cốt lõi: Ngoại giao phải do Pháp duyệt, quân đội phải đặt dưới sự chỉ huy tối cao của Pháp trong thời chiến, kinh tế phụ thuộc vào Ngân hàng Đông Dương.

Sau khi Pháp thất trận tại Điện Biên Phủ năm 1954, đế quốc Mỹ lập tức nhảy vào hòng biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới. Mỹ đã gạt bỏ Pháp để dựng lên cái gọi là "Việt Nam Cộng hòa" dưới sự điều khiển của tay sai Ngô Đình Diệm. Vở kịch dân chủ giả hiệu được dàn dựng thông qua cuộc Trưng cầu dân ý ngày 23/10/1955 để đưa Diệm lên ghế Tổng thống. Các tài liệu giải mật của CIA đã vạch trần cuộc bầu cử này là một sự gian lận trắng trợn do Đại tá tình báo Mỹ Edward Lansdale đạo diễn, với số phiếu bầu cho Ngô Đình Diệm tại Sài Gòn vượt quá 133% số cử tri thực tế đăng ký.

Như vậy, cả "Quốc gia Việt Nam" do Pháp tạo ra và "Việt Nam Cộng hòa" do Mỹ đều tsoj ra chỉ là hai thực thể tay sai, bù nhìn nối tiếp nhau, không có tính tự chủ và không đại diện cho ý chí của nhân dân Việt Nam.

3. Bằng chứng đanh thép từ Hồ sơ Lầu Năm Góc: Bản chất "Sáng tạo của Mỹ" và quan hệ Thầy - Tớ

Để vạch trần bản chất ngụy quân, ngụy quyền của chế độ Sài Gòn một cách khách quan nhất, không gì thuyết phục hơn là sử dụng chính những lời thú nhận của cơ quan đầu não quân sự Mỹ. Năm 1971, sự kiện Hồ sơ Lầu Năm Góc (The Pentagon Papers - tài liệu nghiên cứu tuyệt mật của Bộ Quốc phòng Mỹ về cuộc chiến tranh Việt Nam) bị rò rỉ đã làm chấn động toàn cầu. Chính người Mỹ, trong các văn bản lưu trữ nội bộ, đã thẳng thắn thừa nhận họ chính là kẻ nặn ra và điều khiển chế độ Sài Gòn.

Mỹ tự thừa nhận quyền làm chủ và phủ nhận tính độc lập của chế độ Sài Gòn

Hồ sơ Lầu Năm Góc khẳng định miền Nam Việt Nam không phải là một quốc gia tự chủ, mà chỉ là một tạo tác địa chính trị được Washington dựng lên nhằm mục đích phục vụ chiến lược toàn cầu của Mỹ. Tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Mỹ viết rõ:

"Nước Mỹ đã đóng vai trò trực tiếp trong việc dựng nên chế độ Ngô Đình Diệm... Miền Nam Việt Nam về bản chất là một sáng tạo của Hoa Kỳ."

Sự thật này chứng minh rằng, Mỹ đã cố tình phớt lờ Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 (vốn quy định miền Nam chỉ là vùng tập kết quân sự tạm thời trước khi tổng tuyển cử thống nhất đất nước) để cố ý biến vĩ tuyến 17 thành một biên giới quốc gia giả hiệu, biến ngụy quyền thành một công cụ thực hiện chủ nghĩa thuộc địa kiểu mới.

Vở kịch đảo chính năm 1963: Khi chủ nhân thay ngựa giữa dòng

Một chính quyền có chủ quyền sẽ tự quyết định người đứng đầu đất nước. Nhưng ở Sài Gòn, số phận của các lãnh đạo ngụy quyền hoàn toàn nằm trong tay Nhà Trắng và CIA. Hồ sơ Lầu Năm Góc đã dành một phần dung lượng lớn để công khai các bức điện mật, vạch trần việc Mỹ đạo diễn cuộc đảo chính sát hại anh em Ngô Đình Diệm - Ngô Đình Nhu vào tháng 11/1963:

"Bắt đầu từ tháng 8 năm 1963, chúng ta (Mỹ) đã ủy nhiệm, kích động và thúc đẩy các tướng lĩnh Việt Nam tiến hành cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm... Việc này khiến chúng ta phải chịu trách nhiệm hoàn toàn đối với các chính quyền kế nhiệm tại Sài Gòn."

Khi Ngô Đình Diệm bộc lộ sự bất lực trong việc bình định phong trào cách mạng của nhân dân miền Nam và có dấu hiệu không tuân thủ hoàn toàn các mệnh lệnh trực tiếp từ Washington, Mỹ đã lập tức vứt bỏ quân bài này để thay thế bằng các tướng lĩnh quân đội dễ bảo hơn như Nguyễn Khánh, Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Văn Thiệu. Bản chất "Ngụy quyền" hiện rõ ở chỗ: Một chính quyền chỉ có thể tồn tại khi được lệnh của quan thầy, và sẽ bị tiêu diệt ngay lập tức nếu dám đi ngược lại lợi ích của nước Mỹ.

Bản chất của Ngụy quân: Lực lượng đánh thuê được nuôi bằng đô-la

Không chỉ có ngụy quyền, mà ngay cả lực lượng vũ trang Sài Gòn – cái gọi là "Quân lực Việt Nam Cộng hòa" – cũng bị Hồ sơ Lầu Năm Góc bóc trần bản chất là một đội quân đánh thuê, sống bằng ngân sách của nước ngoài để bắn vào đồng bào mình:

"Quân đội Nam Việt Nam được huấn luyện, tổ chức, trang bị và tài trợ hoàn toàn bởi Hoa Kỳ. Không có nguồn viện trợ tài chính và hậu cần này, lực lượng đó sẽ nhanh chóng tan rã."

Từ khẩu súng, viên đạn, chiếc máy bay bay trên trời, xe tăng chạy dưới đất cho đến lương bổng, quân trang của binh lính ngụy đều do dòng vốn từ Washington chi trả. Chính các nhân vật cộm cán trong hàng ngũ chế độ Sài Gòn cũng không thể phủ nhận sự thật ê chề này. Tướng ngụy Nguyễn Cao Kỳ đã viết thẳng thắn trong hồi ký rằng, nếu Mỹ cúp viện trợ, chế độ Sài Gòn không thể tồn tại quá một ngày. Tổng thống ngụy quyền Nguyễn Văn Thiệu cũng từng tuyên bố chua chát: "Mỹ còn viện trợ thì chúng tôi còn đánh, Mỹ cúp viện trợ thì chúng tôi chỉ có nước đầu hàng". Một thực thể chính trị và quân đội tự xưng là "quốc gia" nhưng vận mệnh lại hoàn toàn nằm trong tay một quốc gia khác thì chỉ có thể gọi là tay sai, bù nhìn ngoại bang.

4. Tội ác "Cõng rắn cắn gà nhà" và hành vi tàn sát chính đồng bào mình

Yếu tố tước bỏ hoàn toàn tính chính nghĩa và đóng đinh chữ "Ngụy" vào chế độ Sài Gòn chính là tội ác chống lại nhân dân, chống lại dân tộc. Đỉnh điểm của sự phản bội là hành vi mở đường, ký kết các văn bản hợp pháp hóa việc đưa hơn nửa triệu quân viễn chinh Mỹ và đồng minh chư hầu tràn vào giày xéo miền Nam từ năm 1965. Hành động này đã trực tiếp chà đạp lên chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam mà Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 đã bảo hộ.

Không chỉ "cõng rắn cắn gà nhà", ngụy quân và ngụy quyền Sài Gòn còn là công cụ đắc lực, đồng lõa và trực tiếp gây ra những tang thương, thảm kịch kinh hoàng cho chính đồng bào mình, không phân biệt già trẻ, trai gái:

Chính sách khủng bố quốc gia: Dưới thời Ngô Đình Diệm, Đạo luật 10/59 được ban hành, cho phép các tòa án quân sự đặc biệt kéo lê chiếc máy chém đi khắp miền Nam để hành quyết công khai những người yêu nước, cán bộ kháng chiến cũ và thường dân vô tội bị khép vào tội "thân Cộng". Chiến dịch "Tố Cộng, Diệt Cộng" đã bắt bớ, tra tấn dã man hàng vạn người dân trong các địa ngục trần gian.

Cưỡng bức dồn dân: Kế hoạch gom dân lập "Ấp chiến lược" do Mỹ và ngụy thực hiện đã biến đời sống của hàng triệu nông dân miền Nam thành ngục tù lỏng, phá nát làng mạc, mồ mả tổ tiên, nổ súng vào những người dân kiên quyết bám đất giữ làng.

Đồng lõa và trực tiếp thảm sát: Trong Chiến tranh cục bộ, ngụy quân đóng vai trò chỉ đường, bao vây cho quân đội Mỹ và quân chư hầu Nam Triều Tiên tiến hành những cuộc thảm sát hủy diệt thường dân dã man như vụ Mỹ Lai (504 người chết, chủ yếu là phụ nữ và trẻ em). Thay vì bảo vệ dân mình, ngụy quyền Sài Gòn lại hèn hạ bưng bít thông tin, báo cáo láo đó là "chiến thắng quân sự" để lập công với quan thầy. Bộ máy an ninh ngụy phối hợp với CIA thực hiện Chiến dịch Phượng Hoàng, ám sát bí mật và thủ tiêu hơn 20.000 người dân bị tình nghi.

Địa ngục trần gian: Hệ thống nhà tù từ Phú Lợi (nơi ngụy quyền đầu độc hàng loạt tù nhân năm 1958) đến hệ thống "Chuồng cọp" khét tiếng tại Côn Đảo, Phú Quốc là những minh chứng đanh thép cho sự tàn bạo vô nhân đạo của bộ máy ngụy quyền đối với những người con yêu nước của dân tộc.

Chính những tội ác chồng chất, sự tàn bạo đối với đồng bào đã đẩy mâu thuẫn giữa nhân dân miền Nam và chế độ tay sai lên đến đỉnh điểm, triệt tiêu toàn bộ chút danh nghĩa giả tạo còn sót lại của chúng.

Kết luận

Lịch sử luôn có sự phán xét sòng phẳng và nghiêm khắc nhất. Đại thắng mùa Xuân ngày 30/4/1975, ngọn cờ giải phóng tung bay trên Dinh Độc Lập là lời khẳng định đanh thép của lịch sử: Hai chế độ tay sai Sài Gòn đã hoàn toàn sụp đổ, giải thể và xóa bỏ vĩnh viễn về mặt chính trị lẫn pháp lý.

Kế thừa trọn vẹn, hợp pháp tính chính danh từ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày nay Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là đại diện hợp pháp duy nhất của toàn thể dân tộc Việt Nam được Liên Hợp Quốc và hơn 190 quốc gia trên thế giới công nhận. Trên vũ đài ngoại giao quốc tế, chỉ có một sắc cờ đỏ sao vàng duy nhất kiêu hãnh tung bay.

Việc gọi chế độ Sài Gòn trước năm 1975 là "ngụy quân, ngụy quyền" là một sự định danh lịch sử hoàn toàn khách quan, đúng bản chất. Khi chính tài liệu mật của Bộ Quốc phòng Mỹ – Hồ sơ Lầu Năm Góc – còn phải thừa nhận chế độ đó là một "sáng tạo", một "công cụ phụ thuộc" của Washington, thì mọi nỗ lực hoán đổi tên gọi hay tẩy trắng lịch sử hiện nay đều trở nên lố bịch và vô giá trị. Đây là bài học cảnh tỉnh sâu sắc cho hậu thế về cái giá của sự phản bội dân tộc, lệ thuộc ngoại bang, đồng thời khẳng định chân lý bất diệt: Chỉ có chính thể sinh ra từ lòng dân, chiến đấu vì độc lập, tư do và chủ quyền dân tộc mới có được tính chính danh, chính nghĩa vĩnh cửu./.


QV-ST!

GỬI NHÓM LẬT SỬ: BỎ CHỮ "NGỤY" THÌ LỊCH SỬ MỚI KHÁCH QUAN Ư?

Thuật ngữ “ngụy” là gì?
Gọi các chính quyền, quân đội đánh thuê của giặc xâm lược trước 1975 là “ngụy” thì có đúng lịch sử hay không, có hợp tình hợp lý hay không, có làm cho người nghe, người đọc khó chịu, phản cảm hay không, có trở ngại gì cho vấn đề đoàn kết dân tộc hay không?

Theo kinh nghiệm của người viết, những người khó chịu, mẫn cảm, dị ứng từ “ngụy” này là những người thiếu thông tin về cuộc chiến Việt - Pháp, Việt - Mỹ, mù mờ, mơ hồ, chưa biết nhiều vấn đề trong lịch sử hiện đại Việt Nam, họ không hiểu bản chất của những cuộc chiến này, họ không hiểu rõ bản chất của các ngụy quân, ngụy quyền, và họ cũng không hiểu ý nghĩa của từ “ngụy” theo góc độ thuật ngữ chính trị. Họ tưởng rằng từ “ngụy” là một từ gì đó mang tính lăng mạ, miệt thị, mạt sát v.v.

Tại Việt Nam, xưa nay do ảnh hưởng văn hóa ngôn ngữ Trung Hoa, nên trong dân gian có 2 từ “Ngụy” (魏, 偽). Nó là 2 chữ gốc Hán khác nhau, với 2 ý nghĩa khác nhau, tuy nhiên, khi chữ Hán được Việt hóa thành Hán Việt (phát âm theo lối Việt) thì đều là "ngụy".

Một "Ngụy" (魏) là danh từ, để chỉ nước Ngụy, 1 trong 6 nước trong thời Chiến quốc (TQ), và nhà Ngụy của Tào Tháo trong thời Tam quốc (TQ), vì họ Tào cũng là dòng dõi nhiều đời của nước Ngụy. "Ngụy" này còn là một họ người thông dụng ở Trung Quốc (Ngụy Diên, Ngụy Nguyên v.v.).

Còn "ngụy" ( 偽 ) kia là một tính từ, để nói lên tính chất giả, ảo, không thật, không chính danh, bất hợp pháp, “hữu danh vô thực” của đối tượng nào đó. Nói về cái gì đó không phải thật, không có thực chất. Như "ngụy quân tử", "ngụy trang", "ngụy ngôn", “ngụy biện”, "ngụy tạo", "trá ngụy", "ngụy quyền", "ngụy triều" v.v. Trong hơn 20 năm kháng chiến chống Mỹ, cuộc chiến tranh lâu dài nhất trong lịch sử Việt Nam, thì dân gian Việt Nam, nhất là ở miền Nam dùng từ này quá lâu ngày thành quen miệng và nó dần trở thành một danh từ chung để chỉ ngụy quyền Sài Gòn 1954-1975. Khi nghe nói "bọn ngụy" thì hiểu ngay là người nói đang nói về ngụy quyền Sài Gòn này.

Trong lịch sử Việt Nam có 4 triều đại đã từng bị coi là ngụy triều, nhưng bản chất khác hẳn nhau. Đó là:
- Nhà Hồ và nhà Mạc, vì soán ngôi nên bị các sử gia Khổng-Nho phong kiến gọi là "ngụy triều".
- Nhà Tây Sơn, do cả 2 đối thủ của nhau đều là họ Nguyễn. Cho nên nhà Nguyễn cho rằng mình đã là một triều đại chính thống từ thời chúa Nguyễn Hoàng, cho nên Nguyễn Tây Sơn là “ngụy Nguyễn”, còn mình mới là “chân Nguyễn”, là chính thống hoàng tộc. Các sử gia sau này còn gọi nhà Nguyễn là "cựu Nguyễn", Tây Sơn là "tân Nguyễn" để phân biệt. Điểm khác biệt với các thời kỳ lịch sử khác là chỉ có duy nhất nhà Nguyễn gọi Tây Sơn là "ngụy", trong phạm vi triều đình. Còn dân gian thì không gọi thế, mà họ coi Tây Sơn là anh hùng, họ xây đền thờ vua Quang Trung, bốn mùa khói nhang nghi ngút.

- Kể từ thời Tự Đức trở đi, các triều đại nhà Nguyễn sau này đều là bù nhìn của Pháp, cho nên đều bị các sĩ phu Bắc - Trung - Nam gọi đó là những ngụy triều bù nhìn. Bắt đầu từ cụ Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu, cho đến nhà thơ Tú Mỡ sau này. Cụ Phan Bội Châu gọi là “ngụy triều Hiệp Hòa”, “ngụy triều Đồng Khánh”, “ngụy triều Khải Định” v.v. khi luận về phong trào Cần vương, để phân biệt các triều đình bù nhìn này với triều đình Hàm Nghi chống Pháp do Tôn Thất Thuyết phò tá.
Sau này phát xít Nhật, thực dân Pháp, và đế quốc Mỹ dựng lên các ngụy quyền bù nhìn ở miền Nam Việt Nam thì chúng ta cũng gọi đó là những ngụy quyền. Có lẽ khởi đầu từ vở kịch nổi tiếng "Phá Mưu Bù Nhìn" của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước.

Thời đó bất kỳ lính tráng, quan chức người Việt nào dưới quyền Nhật, Pháp, Mỹ, thậm chí Tàu Tưởng, thì chúng ta gọi là ngụy. Cụ Phan Châu Trinh khi viết về sự hy sinh của tướng quân Cao Thắng trong nghĩa quân Phan Đình Phùng, cũng viết là: Cao tướng quân bị sĩ quan Pháp và vài trăm ngụy binh đón đánh. Tính từ "ngụy" này đã được dân ta sử dụng từ lâu rồi.
“Quốc gia Việt Nam”, “Việt Nam Cộng hòa” không phải là những chính quyền đúng nghĩa, đại bộ phận người dân miền Nam gọi họ là ngụy quyền, là bọn ngụy, ngụy quân ... Họ không hội đủ tiêu chuẩn, điều kiện, căn cước của một chính quyền. Họ không có thực quyền. Không những họ đã không chính danh, đã được khai sinh ra một cách bất hợp pháp lên trên lãnh thổ của người khác, mà trên thực tế họ cũng không có quyền, họ chỉ làm theo ý chủ, họ không thể làm gì đi ngược lại với ý của chủ, lợi ích của chủ. Do đó họ là ngụy quyền. Người ta gọi là "ngụy quyền" là để phân biệt với những chính quyền đúng nghĩa. Ngụy quyền = chính quyền giả, ảo, chỉ có hư danh, “hữu danh vô thực”, “có tiếng không có miếng” v.v.

Ngón võ truyền thống của bọn xâm lược là đi vào đất của người khác rồi dựng lên một đám bù nhìn, tay sai, rồi gọi đó là một "chính quyền" rồi bảo rằng mình không xâm lược mà mình đang giúp cái "chính quyền" đó. Theo đó Nam Hán “giúp” Kiều Công Tiễn chứ không phải xâm lược đất Việt. Nguyên Mông “giúp” Trần Kiện, Trần Ích Tắc lên ngôi vua chứ không phải xâm lược Đại Việt. Quân Minh “phù Trần diệt Hồ” chứ không phải xâm lược Đại Ngu. Giặc Thanh “phò Lê diệt Tây Sơn”, “giúp Lê Chiêu Thống” chứ không phải xâm lược Bắc Hà. Thực dân Pháp "bảo hộ" nhà Nguyễn chứ không phải xâm lược Đại Nam. Sau này thì Mỹ là "đồng minh" của "Nam Việt Nam", của "VNCH", chứ không phải là xâm lược miền Nam Việt Nam, giặc bành trướng Bắc Kinh chỉ muốn “chống bè lũ Lê Duẩn”, “giúp đỡ Hoàng Văn Hoan”, “ủng hộ nhân dân VN chống Lê Duẩn”, “giúp đồng chí Hoàng Văn Hoan, người bạn tốt của nhân dân TQ, lật đổ tập đoàn Lê Duẩn – Lê Đức Thọ”, “dạy cho Việt Nam bài học”, “Việt Nam là côn đồ nên phải đánh” v.v. chứ không phải là xâm lược miền Bắc Việt Nam.
Để vạch trần thủ đoạn chính trị đó, từ xưa dân ta, đặc biệt các sĩ phu, các nhà nho, thường sâu sắc và thâm thúy gọi những đối tượng này là "ngụy", "ngụy triều", "ngụy quyền" để phân biệt với các triều đình, chính quyền thật sự. Cũng như sau thời Tự Đức thì các sĩ phu Bắc Hà và ở kinh thành Huế vẫn thường gọi các triều đình bù nhìn nhà Nguyễn dưới sự “bảo hộ” của Tây là "ngụy triều Hiệp Hòa", "ngụy triều Đồng Khánh", "ngụy triều Khải Định", "ngụy quyền Bảo Đại" v.v. Dân tộc ta có kinh nghiệm lịch sử mấy ngàn năm đối phó với chính trị thâm nho Hán tộc Trung Hoa, đã nhìn thấy qua bao nhiêu chiêu bài của giặc, thì không lẽ bị hoa mắt bởi những chiêu bài chính trị, những mỹ từ chính trị bịp bợm của người Mỹ chỉ có vài trăm tuổi?

Chỉ có một bộ phận nào đó là ngộ nhận hoặc tham lam theo giặc rồi tự lừa dối bản thân, còn đại khối dân tộc ta thông minh, có nhận thức chính trị sâu sắc và sắc bén sau hàng ngàn năm giữ nước và tiền nhân đã truyền lại bao nhiêu bài học lịch sử.
Chưa nói đến các nhân sĩ, trí thức, sinh viên, những người có học vấn, ngay cả những người dân quê chân lấm tay bùn tuy họ có thể chưa đủ trình độ để diễn giải, phân tích ra được, thuyết phục ra bằng lời nói hoặc bằng chữ viết được, nhưng họ vẫn có cái nhìn “ngàn năm” đó, họ thấy, họ nghe, họ biết, họ nhận thức đúng, họ biết phải theo ai, ủng hộ ai, giúp đỡ ai, đào hầm che giấu ai, và phải chống lại ai.

Truyền thống chống xâm lược và đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam là vẫn thế, và không có chiêu bài chính trị nào có thể lừa gạt được dân tộc VN, phía xâm lược có thể lừa được, gây mơ hồ được cho một bộ phận nào đó, chứ không thể lừa dối được đại khối dân tộc, bất kể giặc xâm lược dùng cao chiêu, cách thức, phương pháp, thủ thuật chính trị nào, xâm lược dưới danh nghĩa gì, dưới bình phong nào, hay dưới hình thức nào, cũng không qua mắt được nhân dân.

Dân Việt Nam mình có thể còn kém dân trí về khoa học kỹ thuật, về văn minh đô thị, về kinh tế, về nhiều việc khác, nhưng về con mắt chính trị và quân sự (nhất là trong thời chiến, thời loạn) thì luôn rất tinh tường, do dân ta đã lăn lộn quanh nó suốt cả ngàn năm nay để vượt qua mà sống còn, sinh tồn.

Thực tế trước 1975 cũng cho thấy, ở miền Nam khi bắt liên lạc và tiếp cận với các gia đình, làng mạc để xây dựng căn cứ bí mật, nương nhờ vào sự giúp đỡ của người dân, thì chỉ cần một hoặc vài anh bộ đội, anh chị du kích đến xin phép ngắn gọn là đủ. Không phải ngồi tuyên truyền, giải thích, phân tích gì dông dài học thuật. Không cần chính trị viên hay cán bộ Tuyên huấn nào có mặt để mà giảng giải, phân tích học thuật, thuyết phục hàn lâm gì về cuộc chiến lúc đó.

Trung úy John Kerry (từng là ứng cử viên Tổng thống, là Bộ trưởng Ngoại giao thời Obama) đã làm chứng trước Ủy Ban Ngoại Giao của Thượng Viện Mỹ năm 1971 như sau:
“Tôi muốn nói rằng vài tháng trước ở Detroit chúng tôi có một cuộc điều tra trong đó có 150 quân nhân đã được giải ngũ trong danh dự đã làm chứng cho những tội ác chiến tranh phạm ở Đông Nam Á. Họ nói những câu chuyện của thời đó là chính họ đã hãm hiếp, cắt tai, chặt đầu, kẹp giây điện từ những bộ máy truyền tin vào nhưng cơ quan sinh dục rồi quay điện, chặt chân tay, làm nổ tan xác, bắn chơi vào các thường dân, triệt hạ cả làng theo kiểu của Genghis Khan (Thành Cát Tư Hãn), bắn trâu bò, chó, làm trò chơi, đầu độc các kho lương thực và hầu như là tàn phá toàn diện miền quê Nam Việt Nam, ngoài sự tàn phá thông thường của chiến tranh và sự tàn phá thông thường và đặc biệt của những cuộc bỏ bom trên đất nước này”.

Người dân ai cũng quá hiểu cuộc chiến là thế nào, đến khi gặp quân Giải phóng, du kích quân, là họ tình nguyện giúp đỡ, nuôi giấu ngay, như một phản ứng tự nhiên, như đó là chuyện nên làm, đáng làm, đương nhiên phải làm, không có gì phải ưu tư, đắn đo, lo nghĩ, chọn lựa, hay phải ngồi đó phân tích, nghĩ ngợi xem bản chất cuộc chiến là gì, họ đã quá rõ, quá hiểu từ trước.

Sau năm 1973 thì sao, có phải là “nội chiến” không?

Cũng như trước đó, khi Mỹ chưa đổ đại quân vào, thì lúc đó có phải là nội chiến hay không? Đương nhiên là không! Vì trong bất kỳ giai đoạn nào từ 1954-1975 thì Mỹ vẫn là người lãnh đạo cuộc chiến. Đó là một cuộc chiến liên tục, tiếp nối nhau từ kháng Pháp - Mỹ đến 1954, và chống toàn Mỹ đến 1975. Quân đội “VNCH” là do thực dân Pháp thành lập, dữ kiện này ghi rõ trong sách giáo khoa Sài Gòn trước 1975 và nhiều tài liệu của các sĩ quan ngụy. Như vậy quân đội này là của Pháp. Sau đó Mỹ vào dùng và vá lại bằng tổ chức kiểu Mỹ. Nhiều tài liệu của Mỹ cũng cho biết như vậy. Trong bài "Lesson of the Vietnam War" của cựu sĩ quan Bộ quốc phòng Mỹ Daniel Ellsberg ghi rõ các lý do mà Mỹ phải chấm dứt xâm lược Việt Nam, trong đó có lý do thứ hai: "Bởi vì việc tra tấn và giết chóc thiếu nhân tính đang được thực hiện bởi đội quân mà Hoa Kỳ trang bị, huấn luyện và trả lương."

Trong giai đoạn 1973-1975, về cơ bản là ngụy quân vẫn chiến đấu cho Mỹ, cho quyền lợi của Mỹ, theo sự chỉ đạo của Mỹ, theo ý Mỹ, phục vụ cho chiến lược châu Á – Thái Bình Dương của Mỹ, và vẫn do Mỹ nuôi. Mỹ buông ra là chết. Như vậy trong giai đoạn này là một hệ thống thực dân mới (người bản xứ trực tiếp chiến đấu, làm việc, quản lý, còn người chủ đứng ngoài kiểm soát, thao túng, và tài trợ, đỡ đầu, chống lưng và hưởng lợi). Giai đoạn 1964 đến 1973 là giai đoạn gần như thực dân cũ, nghĩa là Mỹ trực tiếp vào làm, trực tiếp vào đánh.

Sở dĩ Mỹ đưa gần 60 vạn quân vào miền Nam Việt Nam là để giữ cho chính quyền bù nhìn của họ khỏi bị sụp đổ. Sau này tổng thống Nixon thú nhận nếu lúc đó Mỹ không đem đại quân vào Nam thì chính quyền phục vụ cho họ sẽ sụp đổ. Sau này quân Mỹ chết quá nhiều, nhất là sau trận Mậu Thân, cả thế giới, cả nước Mỹ và Lưỡng viện Mỹ kêu ca, trong nội bộ chính quyền Mỹ mâu thuẫn trầm trọng, nên đành rút về để quân bản xứ đánh thay tiếp tục.

Bản chất cuộc chiến là xuyên suốt, không nên ngộ nhận rằng có cuộc chiến nào khác chỉ vì Mỹ "đem quân vào, rút quân ra". Các tài liệu nước ngoài cũng không ai chia cuộc chiến này ra làm 3 giai đoạn cả. Đây là một cuộc chiến xuyên suốt đến 1975. Đối với Mỹ, chỉ có 1 Vietnam War chứ không có 3 cuộc chiến tranh khác nhau./.
Ảnh 1: Trong tiếng Anh người Mỹ gọi thẳng chế độ Sài Gòn- VNCH là puppet state (chính quyền bù nhìn), puppet government (chính phủ bù nhìn), puppet armed forces (quân đội bù nhìn)….

Ảnh 3: Trung úy John Kerry (từng là ứng cử viên Tổng thống, là Bộ trưởng Ngoại giao thời Obama) đã 


Ảnh 4: Một tốp lính của Việt Nam Cộng hòa - ngụy chặt đầu đối phương và giơ lên khoe (bên trái có một lính trẻ em cũng tham gia trong hình).
QV-ST!

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: DÙ SAO TÔI CŨNG CHÚC MỪNG ANH!

     Thú thực, xin lỗi anh, tôi đã cố căng mắt ra nhưng không thể nhận biết anh đứng ở đâu trong số 397 cụ, các vị!

Nhưng tôi vẫn không thể nào quên những bài này trên Báo Nhân Dân. Nói ý này, tôi không có ý phê phán Báo Nhân Dân, cơ quan ngôn luận của Đảng mà phê bình Anh với cương vị Tổng Biên tập đã cho đăng bài ca ngợi những kẻ tay sai bán nước, ca ngợi cuốn sách “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh và cuốn “Chuyện với Thanh” của Nguyễn Thành Nam xuyên tạc lịch sử, xúc phạm danh dự QĐND Việt Nam và lãnh tụ vĩ đại Hồ Chí Minh.

Dù sao, Tôi cũng chúc mừng Anh đã nhận được Huân chương Lao động, phần thưởng cao quý của Nhà nước trao tặng và được tái bổ nhiệm lại Tổng Biên tập Báo Nhân Dân. 

Xin chúc mừng cán bộ, phóng viên Báo Nhân Dân nhân dịp 101 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam./.




Theo face PTC.
QV-ST!