Kiểm soát được hiểu là “xem xét để phát hiện, ngăn
chặn những gì trái với quy định.[9]”
Kiểm soát quyền lực Nhà nước là một vấn đề phức tạp
song cần thiết xuất phát từ đặc tính của quyền lực Nhà nước. Kiểm soát quyền
lực nhằm mục đích khắc phục sự tha hóa của quyền lực, đưa quyền lực trở về đúng
nội dung chân chính là quyền lực của nhân dân, thực hiện chức năng công quản lý
xã hội. Kiểm soát quyền lực để đảm bảo quyền lực được sử dụng đúng mục đích,
quyền lực được thực thi hiệu quả. Là một nội dung của quyền lực Nhà nước, quyền
lực Tư pháp cũng cần phải được kiểm soát.
Tuy nhiên, đối với quyền lực Tư pháp vốn là phạm vi
quyền lực có tính độc lập cao nhưng nó luôn phải đặt trong nhu cầu tiết chế, kiểm
soát chặt chẽ. Vậy kiểm soát quyền lực Tư pháp và quyền Tư pháp độc lập cần
được hiểu theo những phạm vi như thế nào và tác động với nhau ra sao?
Theo nghĩa chung nhất, kiểm soát quyền lực Tư pháp là
hệ thống những cơ chế, biện pháp được thực hiện bởi Nhà nước và xã hội nhằm giữ
cho quyền lực Tư pháp được thực thi đúng mục đích, hiệu quả.
Xét theo nghĩa rộng, kiểm soát quyền lực Tư pháp chính
là việc tổ chức, thực thi quyền lực Tư pháp đúng mục đích, hiệu quả nhất. Để
đạt được mục tiêu này, việc tổ chức và thực hiện quyền lực Tư pháp phải dựa
trên các nguyên tắc nhất định và kiểm soát quyền lực Tư pháp cũng phải thống
nhất trên cơ sở các nguyên tắc đó. Theo nghĩa này, nguyên tắc quyền lực Tư pháp
độc lập là một nội dung của kiểm soát quyền lực Tư pháp. Quyền Tư pháp phải độc
lập với quyền Lập pháp và quyền Hành pháp. “Cũng không có gì là tự do
nếu quyền Tư pháp không tách khỏi quyền Lập pháp và quyền Hành pháp. Nếu quyền
Tư pháp nhập lại với quyền Lập pháp thì người ta sẽ độc đoán với quyền sống và
quyền tự do của công dân; quan tòa sẽ là người đặt ra luật. Nếu quyền Tư pháp
nhập lại với quyền Hành pháp thì quan tòa sẽ có cả sức mạnh của kẻ đàn áp.[10]”
Xét theo nghĩa hẹp, kiểm soát quyền lực Tư pháp là
toàn bộ những cách thức, quy trình, biện pháp mà dựa vào đó Nhà nước và xã hội
có thể ngăn chặn, loại bỏ những Hành động sai trái của chủ thể quyền lực Tư
pháp, điều chỉnh việc thực thi quyền lực Tư pháp đảm bảo mục đích và hiệu quả.
Kiểm soát quyền lực Tư pháp gồm hệ thống các cơ chế kiểm soát, từ trên ngoài và
bên trong hệ thống, thông qua các phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước như:
hạn chế phạm vi quyền lực nhà nước, sự kiểm soát của nhân dân và xã hội, sự
kiểm soát của nhà nước[11].
Những cơ chế kiểm soát này tác động ở mức độ khác nhau đến thực thi quyền lực
Tư pháp không nhằm mục đích nào khác là để quyền lực Tư pháp được thực thi theo
đúng chức năng, nguyên tắc của mình. Kiểm soát quyền lực Tư pháp đảm bảo quyền
lực Tư pháp độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Kiểm soát quyền lực Tư pháp
không mâu thuẫn hay tác động tiêu cực đến nguyên tắc độc lập Tư pháp.
Đồng thời, kiểm soát quyền lực tư pháp cũng chỉ trong
giới hạn của nguyên tắc độc lập tư pháp. Độc lập tư pháp không phải là mục đích
tự thân nhưng là phương tiện, công cụ để đạt đến những mục đích trong thực thi
quyền lực nhà nước. Tuy nhiên, tư pháp chỉ được độc lập trong khuôn khổ pháp
luật. Từ đó, yêu cầu đặt ra là kiểm soát quyền lực Tư pháp phải được tiến Hành
thông qua các cơ chế, phương thức và nội dung đặc thù, theo đó, hoạt động kiểm
soát luôn bị giới hạn bởi tính chất độc lập của tư pháp trên cả ba bình diện:
(1) sự độc lập của nhánh quyền lực Tư pháp so với nhánh quyền lực Lập pháp và
Hành pháp. Theo đó, Tòa án phải độc lập về thể chế, nghĩa là phải có hệ thống
tổ chức với những quy chế hoạt động riêng, không trùng và không thể giống với
Lập pháp và Hành pháp; (2) sự độc lập của Thẩm phán và Bồi thẩm, Hội thẩm nhân
dân khi xét xử, loại trừ mọi Hành vi can thiệp trực tiếp hay gián tiếp của các
cá nhân, tổ chức khác; (3) sự độc lập của mỗi cấp xét xử, hệ thống Tòa án được
thiết kế theo cấp xét xử, chứ không theo hệ thống dọc từ trung ương đến cấp xã
theo kiểu quan hệ “trên – dưới”[12].
Ở Việt Nam, cơ chế kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước
trong việc thực hiện các quyền Lập pháp, Hành pháp và tư pháp được đặt ra trực
tiếp và cụ thể trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), khẳng định: “Nhà nước ta là Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả
quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp
công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam
lãnh đạo. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm
soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền Lập pháp, Hành pháp và tư
pháp”. Thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng, Hiến pháp năm 2013 đã quy
định tại khoản 3, Điều 2: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân
công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các
quyền Lập pháp, Hành pháp, tư pháp”. Việt Nam cũng đã xây dựng được nhiều
cơ chế để kiểm soát quyền lực nhà nước nói chung, kiểm soát quyền lực tư pháp
nói riêng. Đây là những cơ sở chính trị, pháp lý để việc kiểm soát quyền lực Tư
pháp và nguyên tắc quyền Tư pháp độc lập được duy trì và hiệu quả.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét