Thứ Ba, 12 tháng 1, 2021

Thực hiện quyền tư pháp cần năm vững mối quan hệ giữa nguyên tắc quyền Tư pháp độc lập và nguyên tắc kiểm soát quyền lực Tư pháp

 


Kiểm soát được hiểu là “xem xét để phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định.[9]

Kiểm soát quyền lực Nhà nước là một vấn đề phức tạp song cần thiết xuất phát từ đặc tính của quyền lực Nhà nước. Kiểm soát quyền lực nhằm mục đích khắc phục sự tha hóa của quyền lực, đưa quyền lực trở về đúng nội dung chân chính là quyền lực của nhân dân, thực hiện chức năng công quản lý xã hội. Kiểm soát quyền lực để đảm bảo quyền lực được sử dụng đúng mục đích, quyền lực được thực thi hiệu quả. Là một nội dung của quyền lực Nhà nước, quyền lực Tư pháp cũng cần phải được kiểm soát.

Tuy nhiên, đối với quyền lực Tư pháp vốn là phạm vi quyền lực có tính độc lập cao nhưng nó luôn phải đặt trong nhu cầu tiết chế, kiểm soát chặt chẽ. Vậy kiểm soát quyền lực Tư pháp và quyền Tư pháp độc lập cần được hiểu theo những phạm vi như thế nào và tác động với nhau ra sao?

Theo nghĩa chung nhất, kiểm soát quyền lực Tư pháp là hệ thống những cơ chế, biện pháp được thực hiện bởi Nhà nước và xã hội nhằm giữ cho quyền lực Tư pháp được thực thi đúng mục đích, hiệu quả.

Xét theo nghĩa rộng, kiểm soát quyền lực Tư pháp chính là việc tổ chức, thực thi quyền lực Tư pháp đúng mục đích, hiệu quả nhất. Để đạt được mục tiêu này, việc tổ chức và thực hiện quyền lực Tư pháp phải dựa trên các nguyên tắc nhất định và kiểm soát quyền lực Tư pháp cũng phải thống nhất trên cơ sở các nguyên tắc đó. Theo nghĩa này, nguyên tắc quyền lực Tư pháp độc lập là một nội dung của kiểm soát quyền lực Tư pháp. Quyền Tư pháp phải độc lập với quyền Lập pháp và quyền Hành pháp. “Cũng không có gì là tự do nếu quyền Tư pháp không tách khỏi quyền Lập pháp và quyền Hành pháp. Nếu quyền Tư pháp nhập lại với quyền Lập pháp thì người ta sẽ độc đoán với quyền sống và quyền tự do của công dân; quan tòa sẽ là người đặt ra luật. Nếu quyền Tư pháp nhập lại với quyền Hành pháp thì quan tòa sẽ có cả sức mạnh của kẻ đàn áp.[10]

Xét theo nghĩa hẹp, kiểm soát quyền lực Tư pháp là toàn bộ những cách thức, quy trình, biện pháp mà dựa vào đó Nhà nước và xã hội có thể ngăn chặn, loại bỏ những Hành động sai trái của chủ thể quyền lực Tư pháp, điều chỉnh việc thực thi quyền lực Tư pháp đảm bảo mục đích và hiệu quả. Kiểm soát quyền lực Tư pháp gồm hệ thống các cơ chế kiểm soát, từ trên ngoài và bên trong hệ thống, thông qua các phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước như: hạn chế phạm vi quyền lực nhà nước, sự kiểm soát của nhân dân và xã hội, sự kiểm soát của nhà nước[11]. Những cơ chế kiểm soát này tác động ở mức độ khác nhau đến thực thi quyền lực Tư pháp không nhằm mục đích nào khác là để quyền lực Tư pháp được thực thi theo đúng chức năng, nguyên tắc của mình. Kiểm soát quyền lực Tư pháp đảm bảo quyền lực Tư pháp độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Kiểm soát quyền lực Tư pháp không mâu thuẫn hay tác động tiêu cực đến nguyên tắc độc lập Tư pháp.

Đồng thời, kiểm soát quyền lực tư pháp cũng chỉ trong giới hạn của nguyên tắc độc lập tư pháp. Độc lập tư pháp không phải là mục đích tự thân nhưng là phương tiện, công cụ để đạt đến những mục đích trong thực thi quyền lực nhà nước. Tuy nhiên, tư pháp chỉ được độc lập trong khuôn khổ pháp luật. Từ đó, yêu cầu đặt ra là kiểm soát quyền lực Tư pháp phải được tiến Hành thông qua các cơ chế, phương thức và nội dung đặc thù, theo đó, hoạt động kiểm soát luôn bị giới hạn bởi tính chất độc lập của tư pháp trên cả ba bình diện: (1) sự độc lập của nhánh quyền lực Tư pháp so với nhánh quyền lực Lập pháp và Hành pháp. Theo đó, Tòa án phải độc lập về thể chế, nghĩa là phải có hệ thống tổ chức với những quy chế hoạt động riêng, không trùng và không thể giống với Lập pháp và Hành pháp; (2) sự độc lập của Thẩm phán và Bồi thẩm, Hội thẩm nhân dân khi xét xử, loại trừ mọi Hành vi can thiệp trực tiếp hay gián tiếp của các cá nhân, tổ chức khác; (3) sự độc lập của mỗi cấp xét xử, hệ thống Tòa án được thiết kế theo cấp xét xử, chứ không theo hệ thống dọc từ trung ương đến cấp xã theo kiểu quan hệ “trên – dưới”[12].

Ở Việt Nam, cơ chế kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền Lập pháp, Hành pháp và tư pháp được đặt ra trực tiếp và cụ thể trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), khẳng định: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền Lập pháp, Hành pháp và tư pháp”. Thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng, Hiến pháp năm 2013 đã quy định tại khoản 3, Điều 2: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền Lập pháp, Hành pháp, tư pháp”. Việt Nam cũng đã xây dựng được nhiều cơ chế để kiểm soát quyền lực nhà nước nói chung, kiểm soát quyền lực tư pháp nói riêng. Đây là những cơ sở chính trị, pháp lý để việc kiểm soát quyền lực Tư pháp và nguyên tắc quyền Tư pháp độc lập được duy trì và hiệu quả.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét