Nhìn lại chiều dài lịch sử dựng nước và
giữ nước của dân tộc, cha ông ta luôn lấy lợi ích quốc gia - dân tộc làm trọng,
đề ra kế sách “sâu rễ, bền gốc”, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”, coi đó là
quy luật sinh tồn của dân tộc. Danh tướng thời nhà Trần, Thượng tướng Thái sư
Trần Quang Khải (1241-1294), đã đúc kết chân lý: “Thái bình tu trí lực/Vạn cổ
cựu giang san” (Thái bình nên gắng sức, non nước vững nghìn thu). Trên một vách
đá trên núi ở Hòa Bình còn lưu dấu ấn bài thơ của vua Lê Thái Tổ viết dặn hậu
thế: “Biên phòng hảo vị trù phương lược, xã tắc ưng tu kế cửu an” (Biên phòng
cần có phương lược tốt, đất nước nên có kế lâu dài). Ông còn căn dặn: “Nên sửa
sang võ bị, để phòng việc không ngờ”.
Các bậc tiền nhân còn thực hiện nhiều
chính sách ngay trong thời bình để làm cho “dân giàu, nước mạnh, “quốc phú,
binh cường”, kiên trì phương châm “nội yên, ngoại tĩnh”; thực hiện chính sách
“ngụ binh ư nông”, “cả nước là lính, toàn dân đánh giặc”. Bên cạnh đó, các
triều đại phong kiến nước ta đã thực thi chính sách “bang giao hòa hiếu”, mềm
dẻo, khôn khéo, giữ hòa khí với các nước láng giềng, bảo vệ hòa bình, tránh nạn
binh đao; đồng thời, chăm lo xây dựng quân đội, củng cố quốc phòng, thực hiện
kế sách khoan thư sức dân, xây dựng “thế trận lòng dân”, “lo giữ nước từ lúc
nước chưa nguy”.
Trong trường hợp không thể ngăn ngừa được
chiến tranh bằng biện pháp hòa bình thì bất đắc dĩ phải chủ động thực hiện
phương châm “tiên phát chế nhân”, nhằm triệt phá cơ sở chuẩn bị chiến tranh xâm
lược của đối phương để bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa. Khi đất nước bị
xâm lăng, mỗi người dân phải cầm vũ khí để tự vệ, nhưng vẫn thực hiện tư tưởng
“không đuổi cùng diệt tận những kẻ bại trận”, “mưu phạt công tâm”, đánh vào lòng
người để muôn đời dập tắt chiến tranh. Nguyễn Trãi trong bài thơ Phú
núi Chí Linh đã viết: “Nghĩ vì kế lâu dài của Nhà nước;
Tha kẻ hàng mười vạn sĩ binh; Sửa hòa hiếu cho hai nước. Tắt muôn đời chiến
tranh”. Đó chính là tư tưởng: “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí
nhân để thay cường bạo”.
Đặc biệt, dân tộc ta đã sớm khẳng định độc lập, chủ quyền lãnh
thổ quốc gia, làm cơ sở pháp lý đấu tranh, ngăn chặn âm mưu xâm lược của ngoại
bang: “Sông núi nước Nam Vua Nam ở/ Rành rành định phận ở sách trời/ Cớ sao lũ
giặc sang xâm phạm/ Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời”.
Vì độc lập, tự do của Tổ quốc, chúng ta
không sợ chiến tranh nhưng chúng ta không hề muốn chiến tranh. Nhìn lại lịch sử
cách mạng Việt Nam, chúng ta có những niềm tự hào mà ít quốc gia trên thế giới
sánh được. Chúng ta đã đánh bại những đế quốc xâm lược lớn mạnh hàng đầu thế
giới. Đó là sự hy sinh của hàng triệu người con ưu tú của dân tộc đã ngã xuống
giữa tuổi thanh xuân để thực hiện khát vọng độc lập tự do. Bởi vì, độc lập, tự do là điều kiện nền
tảng để đất nước ta phát triển trở nên hùng cường, sánh vai cường quốc năm châu
như tâm nguyện của Bác Hồ kính yêu và vì mỗi gia đình thân yêu của chúng ta. Do
đó, chủ động ngăn ngừa chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa là đặc biệt cần
thiết.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét