Năm 1945, một tai họa kh*ủng khi*ếp đã xảy ra với dân tộc chúng ta: hơn 2 triệu đồng bào miền Bắc c*hết đói, chiếm khoảng 1/10 dân số cả nước khi ấy. Nếu chỉ tính riêng ở miền Bắc (vì miền Nam không bị đói) thì số người c*hết chiếm khoảng 1/6 dân số. Nỗi đau này chưa thể nguôi ngoai và hàng triệu người đang sống hôm nay cũng có thân nhân hoặc là nhân chứng trong thảm trạng đau đớn này của dân tộc.
Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật vào Đông Dương, thực dân Pháp không những không bảo hộ được nhân dân Việt Nam như họ vẫn thường rêu rao mà đã từng bước đầu hàng và dần dần cấu kết với phát xít Nhật để đ*àn á*p nhân dân Việt Nam. Nhân dân Việt Nam rơi vào cảnh “một cổ hai tròng”, vừa bị thực dân Pháp đ*àn á*p, vừa bị ph*át x*ít Nhật hành hạ. Từ khi đặt chân đến Đông Dương, ph*át x*ít Nhật thi hành hàng loạt chính sách đánh vào nền kinh tế: buộc thực dân Pháp phải ký kết nhiều hiệp ước yêu cầu cung cấp lương thực, giao nộp lúa, gạo cho Nhật hàng năm; cấm vận chuyển lương thực từ Nam ra Bắc, đặc biệt là chính sách bắt dân nhổ lúa trồng đay lấy nguyên liệu phục vụ cho chiến tranh đã đẩy nhân dân Việt Nam đến nạn đói thảm khốc cuối năm 1944 đầu năm 1945.
Mặc dù năm 1944, Việt Nam vỡ đê và bị mất mùa nhưng thực dân Pháp và chính quyền phong kiến Việt Nam vẫn phải cung cấp cho Nhật hơn 900.000 tấn gạo để nuôi chiến tranh. Có những năm phải cung cấp trên 1 triệu tấn (năm 1943: 1.125.904 tấn). Việc vận chuyển thóc gạo từ miền Nam ra đã bị Nhật cấm vận, cùng với việc vơ vét thóc gạo ở miền Bắc đã làm cho giá thóc gạo tăng cao quá sức chịu đựng của người dân, nhiều người không đủ sức mua và phải chịu cảnh c*hết đói.
Công trình nghiên cứu về nạn đói năm 1945 của GS Văn Tạo và GS Furuta Moto (người Nhật) đã chỉ rõ: chính sách vơ vét thóc gạo của phát xít Nhật và thực dân Pháp lúc bấy giờ cùng với thiên tai, mất mùa ở nhiều tỉnh đồng bằng Bắc bộ là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thảm cảnh trên.
Trong Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên án và nhắc lại sự kiện bi thảm này: “Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh Đồng Minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật. Từ đó dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. Kết quả là cuối năm ngoái sang đầu năm nay, từ Quảng Trị đến Bắc kỳ, hơn 2 triệu đồng bào ta bị ch*ết đói”. Và nhiều, nhiều công trình khác nữa đã chứng minh chính thực dân Pháp và phát xít Nhật là thủ phạm chính gây ra thảm cảnh này cho dân tộc Việt Nam khi ấy.
Bác sĩ Ngô Văn Quỹ trong một tham luận của mình về nạn đói đã cho biết: “Cuối năm 1944, quân số của Nhật ở Bắc kỳ đã lên tới gần 100.000 người. Bắc kỳ lúc đó đã thiếu gạo, vì 3 trận bão tàn phá các tỉnh Nam Định, Thái Bình, Hải Dương và Bắc Ninh, làm cho vụ mùa bị thất thâu, lại bị cái họa phải nhổ lúa để trồng cây công nghiệp cho Nhật, nay lại phải nuôi thêm 100.000 miệng ăn của quân đội Nhật. Theo tờ trình của Thống sứ Bắc kỳ Chauvet, thì vào năm 1944 ở Bắc kỳ, diện tích trồng cây công nghiệp đã lên tới 45.000 ha”.
Ngoài các chính sách tô thuế, Nhật còn đưa ra “chương trình kinh tế chỉ huy” để thực hiện một cách triệt để chủ trương phát xít của mình. Bắt đầu từ ngày 6-5-1941, Nhật buộc Pháp kí một Hiệp ước kinh tế yêu cầu Pháp phải cung cấp lương thực ở Đông Dương cho Nhật hàng năm, năm sau cao hơn năm trước. Theo tài liệu của Viện Sử học: năm 1941 là 700.000 tấn gạo; năm 1942 là 1.050.000 tấn gạo và 45 tấn bột gạo; năm 1943 là 1.125.904 tấn; năm 1944, mặc dù mất mùa nhưng vẫn phải cung cấp cho Nhật 900.000 tấn. Ngoài ra, Nhật còn cho Pháp xuất khẩu gạo sang các nhượng địa của Pháp ở Trung Quốc. Tham luận của bác sỹ Ngô Văn Quỹ cũng cho biết, ngay trong năm 1945, tức lúc nạn đói lên đến đỉnh điểm, vậy mà theo các tài liệu chính thức của Pháp - Đông Dương đã thu hoạch được./.
Yêu nước ST.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét