Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm dân, nhân dân dùng để chỉ “mọi con dân nước Việt”, “mỗi một người con Rồng cháu Tiên” không phân biệt giống nòi, dân tộc, tín ngưỡng “già, trẻ, gái trai, giầu, nghèo, quý tiện”. Như vậy, dân hay nhân dân vừa là đông đảo quần chúng, vừa là mọi người Việt Nam. Đại đoàn kết dân tộc là đại đoàn kết toàn dân, không phân biệt tầng lớp, giai cấp trên cơ sở liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức. Ngay từ năm 1941, trong bài “Kính cáo đồng bào”, Bác viết: “Hiện thời muốn đánh Pháp, Nhật, ta chỉ cần một điều: Toàn dân đoàn kết”. Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy. Chúng ta phải đoàn kết lại. “Cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm...”[1].
Do đó, đại đoàn kết dân tộc cũng là đại đoàn kết toàn dân và ngược lại.
Người dùng khái niệm đại đoàn kết dân tộc để định hướng cho việc xây dựng khối
đại đoàn kết toàn dân trong suốt tiến trình của cách mạng Việt Nam.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét