Áp đặt tiêu chuẩn dân chủ, nhân quyền phương Tây trên phạm vi toàn cầu nói chung và với Việt Nam nói riêng là cách thức rất vô lý và hoàn toàn không phù hợp với thực tiễn. Ngay trong Hiến chương Liên hợp quốc cũng nhấn mạnh: Không quốc gia nào, kể cả Liên hợp quốc, có quyền can thiệp vào công việc thực chất thuộc thẩm quyền quốc gia. Vậy mà, một số nước phương Tây lại tự cho mình có quyền áp đặt các “giá trị phương Tây” nhằm tác động vào việc xây dựng pháp luật, hoàn thiện thể chế, thúc đẩy phát triển xã hội dân sự, nhằm tạo ra lực lượng đối trọng với Chính phủ Việt Nam thì thật khó chấp nhận.
Một số nước này luôn sử dụng “tiêu chuẩn kép” về quyền con người. Họ áp đặt quan điểm “quyền con người phổ quát” nhưng theo kiểu “nhân quyền cao hơn chủ quyền”. Trong các chiêu bài áp đặt, họ luôn kêu gọi, khuyến khích các đòi hỏi cực đoan, hành vi vi phạm pháp luật, chống đối chính quyền thông qua các hình thức “bất tuân dân sự”, “kiến nghị tập thể”, “đấu tranh bất bạo động”... nhằm phá hoại sự ổn định và phát triển của Việt Nam.
Thực tiễn đang chứng minh một nghịch lý, trong khi không ngừng thúc ép các quốc gia khác, trong đó có Việt Nam cải thiện nhân quyền, nhưng ở chính nội tại một số nước đó vẫn áp dụng chính sách phân biệt đối xử. Có những nước lớn luôn tỏ ra quan tâm quá mức đến nhân quyền ở các nước khác thì sự bất công về phân biệt đối xử giữa người da trắng và người da đen chưa bao giờ chấm dứt. Hố sâu phân hóa giàu nghèo đang ngày càng xa hơn.
Trong khi những tỷ phú đô la ở nước đó có quyền năng rất lớn thì rất nhiều người sống trong nghèo khổ; nhiều con người vẫn bị tước đoạt mạng sống bởi tình trạng súng đạn mất kiểm soát. Thậm chí có những nước lớn đến nay vẫn chưa phê chuẩn một số công ước quốc tế quan trọng về quyền con người, trong đó có Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 (CRC).
Một số nước phương Tây hiện nay vẫn đang sử dụng hình thức viện trợ, hợp tác để công khai lôi kéo và hỗ trợ cho hoạt động đối lập, bất đồng chính kiến ở Việt Nam, thậm chí đưa các yêu sách cải thiện nhân quyền thành điều kiện cho hợp tác song phương và đa phương là vô lý. Các nước trên thế giới ở những trình độ phát triển khác nhau nên không thể lấy giá trị, tiêu chuẩn của nước này áp đặt cho nước khác.
Trong xã hội còn giai cấp, còn nhà nước thì một vấn đề tất yếu là quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc. Chỉ thị số 12/CT/TW của Ban Bí thư ngày 12-7-1992 “về vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta” khẳng định: “Trong xã hội có phân chia giai cấp đối kháng, khái niệm nhân quyền mang tính giai cấp sâu sắc”.
Bởi vậy, việc áp đặt tiêu chuẩn của một nước này cho một nước khác về các tiêu chí nhân quyền là hoàn toàn vô lý. Trên phạm vi quốc tế, tính giai cấp của khái niệm quyền con người được thể hiện trong cuộc đấu tranh giữa lực lượng cách mạng, tiến bộ với các lực lượng phản động, phản tiến bộ. Ngày nay nó được biểu hiện chính là dưới hình thức thúc đẩy chiến lược “diễn biến hòa bình”, gây bạo loạn, lật đổ...
Bảo đảm quyền con người trước hết và chủ yếu thuộc trách nhiệm của mỗi quốc gia. Trách nhiệm pháp lý này đã được Liên hợp quốc quy định trong các văn kiện quyền con người quốc tế. Dù đã được quốc tế hóa nhiều mặt, nhưng việc bảo đảm quyền con người chủ yếu vẫn thuộc thẩm quyền của các quốc gia. Sự hợp tác trên lĩnh vực quốc tế về quyền con người là rất quan trọng, vì có thể bổ sung thêm nguồn lực và kinh nghiệm trong việc bảo đảm quyền con người. Tuy nhiên, các cơ chế quyền con người quốc tế chỉ nhằm bổ sung chứ không thể thay thế các cơ chế đang vận hành tại các quốc gia.
Đối với việc bảo đảm các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, trách nhiệm của quốc gia càng rõ ràng, không bất cứ một quốc gia hay tổ chức quốc tế nào có thể đảm đương được công việc bảo đảm các quyền này thay cho mỗi nhà nước. Đây là những nguyên tắc cần được nhận thức rõ ràng, đầy đủ. Độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia là đòi hỏi hàng đầu trong việc bảo đảm và thực thi quyền con người.
Một yếu tố quan trọng khác trong xem xét vấn đề quyền con người, đó là phải đặt nó trong bối cảnh lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa của đất nước đó. Chính điều này đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận thông qua Tuyên bố Vienna và Chương trình Hành động tại Hội nghị thế giới về nhân quyền năm 1993 tại Vienna (Áo).
Tuyên bố đã khẳng định khi xem xét vấn đề nhân quyền phải luôn ghi nhớ tính đặc thù dân tộc, khu vực và bối cảnh khác nhau về lịch sử, văn hóa và tôn giáo... Như vậy, không thể áp đặt hay sao chép máy móc các tiêu chuẩn, mô thức của nước này cho nước khác.
Việc một số nước nào đó tự cho mình quyền áp đặt chuẩn mực cho quốc gia khác, rồi lại tự cho phép mình bảo vệ quyền con người ở mọi nơi theo ý đồ của họ, bất chấp chủ quyền của các quốc gia đó là điều không thể chấp nhận. Quyền con người là giá trị được kết tinh từ những thành tựu, kinh nghiệm đặc sắc trong lịch sử, truyền thống, văn hóa của mỗi quốc gia.
Tính phụ thuộc của quyền con người còn bắt nguồn từ sự phát triển không đều về mọi mặt của thế giới, nên quyền con người cũng không thể được đáp ứng như nhau giữa các quốc gia, mà phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của mỗi nước. Việt Nam đã tiệm cận rất rõ quan điểm này từ sớm, thể hiện trong Chỉ thị số 12/CT/TW của Ban Bí thư ngày 12-7-1992: “Nhân quyền luôn luôn gắn liền với lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa của đất nước. Do vậy, không thể áp đặt hoặc sao chép máy móc các tiêu chuẩn, mô thức của nước này cho nước khác”.
Chính trong hệ thống pháp luật quốc tế về quyền con người cũng cho phép một quốc gia bảo lưu những điều khoản cụ thể khi tham gia một công ước, hoặc có các nghị định thư bổ sung cho một công ước nào đó, thể hiện việc chưa ngang bằng giữa các quốc gia.
Mỗi quốc gia có quyền lựa chọn các giải pháp tối ưu cho việc cân bằng giữa ổn định xã hội với việc bảo đảm đầy đủ quyền con người, có quyền xây dựng lộ trình trong việc thực hiện cam kết đối với các điều ước quốc tế về quyền con người. Như vậy mọi sự sao chép, áp đặt các mô hình dân chủ, quyền con người là không thể chấp nhận.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét