- Để góp phần bàn giao sự nghiệp bảo vệ bằng sức
mạnh truyền thống của dân tộc đất nước cho các thế hệ tiếp nối, đã từ lâu nhiều
cán bộ lão thành trong các lực lượng vũ trang cách mạng muốn thực hiện một công
trình nghiên cứu, làm rõ những luận cứ về nghệ thuật giữ nước bằng sức mạnh
truyền thống của Việt Nam, không chỉ bằng sức mạnh vật chấn mà quan trọng hơn
là sức mạnh trí tuệ từ ông cha đến thời đại Hồ Chí Minh, bao gồm cả nghệ thuật
động viên, tổng hợp sức mạnh đến nghệ thuật ứng xử với kẻ thù trong mọi tình
huống bất trắc.
Qua thể nghiệm của nhiều thế hệ, khi nào ta chống giặc một cách chủ
động sáng tạo, phù hợp với thực tiễn của đất nước thì thắng lợi; khi nào ta
tiếp thu, học theo nước ngoài một cách rập khuôn, máy móc thì thất bại. Từ đó
thấy rõ bên cạnh những nguyên lý chung mà bất cứ nền khoa học - nghệ thuật quân
sự nào cũng phải tuân theo, mỗi dân tộc lại có truyền thống quân sự, tư chất
quân sự của riêng mình. Lịch sử đấu tranh để đứng vững và phát triển của dân
tộc Việt Nam đã sản sinh ra một nghệ thuật giữ nước, một cách đánh giặc có
những nét riêng, không chỉ do kinh nghiệm các đời để lại, mà do thúc bách của
tình thế mất còn, buộc ông cha ta phải “chọn binh pháp các nhà” mà soạn thảo
binh thư, tìm ra “bí thuật cầm quân bày trận dạy bảo con em làm gia truyền,
không tiết lộ cho người ngoài biết”, tức là buộc phải có binh thư, binh pháp
soạn thành bài bản, chẳng những để giảng giải cho tướng sĩ cùng thời mà còn có
dụng ý căn dặn đời sau.
Tuy nhiều sách quý đã bị thất lạc hoặc có sự thêm bớt của các đời
tiếp nối, nhưng các binh thư, kế sách đó đã được chính các tác giả chỉ đạo ứng
dụng thành công, thiết thực góp phần làm nên lịch sử vẻ vang của dân tộc, cho
phép đời sau có thể “thông qua hiệu quả mà biết được giá trị của sản phẩm”.
Có thể chỉ ra rằng, trong lịch sử Việt Nam không chỉ có một nền nghệ
thuật quân sự của dân tộc mà đã từng có một nền học vấn quân sự bao gồm cả thực
hành và lý luận (thực hành đã đi trước và bỏ xa lý luận đến một hạn độ mà thực
tiễn đất nước đời phải có lý luận đúc kết từ thực tiễn, có nhu cầu cấp bách
phải chỉ đạo thực tiễn). Một nền học vấn quân sự sinh ra từ nền văn hiến Việt
Nam qua nghiên cứu các binh thư cổ phương Đông mà rút lấy những điều hợp với
nước mình. Nền binh học được coi là bộ phận hợp thành của nền văn hóa Việt Nam
không chỉ lấy binh thư Trung Quốc cổ làm nền kiến thức mà đã chú trọng đề xuất,
vận dụng binh thư, binh pháp của nước ta.
Cũng từ đó thấy rõ: cùng với nền học vấn quân sự hình thành trong
lịch sử, đã xuất hiện một dạng “Học thuyết quân sự Việt Nam” đại diện cho nền
học vấn đó, đã được thế hệ tiếp nối kế thừa và phát triển một cách xuất sắc
trong thời chống đế quốc, kể từ khi được hệ tư tưởng quân sự Mác - Lênin soi
sáng, đồng thời tiếp thu có chọn lọc các tinh hoa quân sự trên thế giới. Để
thực hiện mục tiêu và ý định nghiên cứu đó, vấn đề đầu tiến phải giải quyết là
cân nhắc xem phải khái quát chủ đề đó dưới cái tên gì cho chính xác? Lấy tên
“Học thuyết quân sự Việt Nam” đã chín chắn chưa, nếu đem so sánh với cái tên:
- Tư tưởng quân sự Việt Nam.
- Nghệ thuật quân sự Việt Nam.
- Lý luận quân sự Việt Nam.
- Tinh hoa, truyền thống quân sự Việt Nam.
- Học thuyết chiến tranh nhân dân Việt Nam.
- Nghệ thuật đánh giặc giữ nước của dân tộc ViệtNam... nhằm xác định
thật đúng chủ đề và các khía cạnh cần đi sâu nghiên cứu.
Sự phân biệt đầu tiên là chủ đề không đòi hỏi phải đi sâu nghiên cứu
“lịch sử nghệ thuật quân sự Việt Nam” mà chỉ thông qua thực tiễn lịch sử để rút
ra những luận điểm chỉ đạo có giá trị một Học thuyết quân sự (HTQS) Việt Nam.
Việc rút ra đó mới là chủ đề phải đi sâu nghiên cứu.
Chủ đề này không chỉ nghiên cứu về chuẩn bị và tiến hành chiến tranh
hay về nghệ thuật đánh giặc giữ nước. Dân tộc ta chỉ đánh giặc khi đất nước có
giặc. Mặc dù nghệ thuật đánh giặc có thể được nghiên cứu cả trong các thời kỳ
chuẩn bị thế trận và lực lượng để đợi giặc đến rồi mới đánh, nhưng nói cho cùng
học thuyết chiến tranh nhân dân và nghệ thuật đánh giặc giữ nước chỉ biểu hiện
rõ rệt trong các cuộc chiến tranh chống xâm lược.
So với nội dung đó, chủ đề nghiên cứu có mặt rộng hơn và mang tính
khái quát cao hơn. Rộng hơn ở chỗ, nó không chỉ nghiên cứu vấn đề chuẩn bị và
tiến hành chiến tranh hay nghệ thuật đánh giặc mà phải nghiên cứu việc tạo dựng
sức mạnh toàn diện để đẩy lùi ngăn chặn chiến tranh, nghiên cứu cả nghệ thuật
phá vỡ các âm mưu và thủ đoạn gây chiến của giặc, làm sao càng ít phải đánh,
chậm phải đánh, thậm chí không phải đánh càng tốt. Dùng ngoại giao khôn khéo để
trì hoãn chiến tranh, kéo thật dài thời gian chuẩn bị trước khi phải chấp nhận
xung đột đã thành đối sách từ ông cha đến con cháu đều chú trọng vận dụng.
Nó cũng không chỉ nghiên cứu nghệ thuật đánh giặc với tư cách là các
phương thức, cách thức được tiến hành một cách thuần thục mà còn chú trọng
những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, những trí tuệ, tri thức sáng tạo và điều
chỉnh nghệ thuật ấy.
Nó mang tính khái quát cao hơn: khi nghiên cứu nghệ thuật đánh giặc
giữ nước, ta phải xuất phát chặt chẽ từ quá trình đấu tranh giữa kẻ cướp nước
và người giữ nước, có chỉ rõ cái nguy hại của kẻ thù mới làm rõ được giá trị
của nghệ thuật đánh bại nó. Còn HTQS không nhất thiết phải xuất phát đầy đủ từ
quá trình lịch sử, mà có thể khái quát, rút ra những nét đặc trưng tiêu biểu
nhất của mọi cuộc đấu tranh, cũng có thể chỉ dựa vào những cuộc thử thách điển
hình nhất mà chỉ ra những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo.
Hơn nữa, việc mất chủ quyền, độc lập dân tộc xưa nay không nhất
thiết chỉ thông qua đấu tranh vũ trang là đặc trưng của chiến tranh mà còn
thông qua nhiều hình thức đấu tranh khác mà HTQS Việt Nam không thể không
nghiên cứu.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét