Đối với
Nga,“chiến dịch quân sự đặc biệt” năm 2022 được xem là “trận đánh chiến lược”
của Tổng thống Nga V. Putin, do đó Nga chấp nhận đối mặt với nhiều vấn đề, bao
gồm cả việc sẵn sàng chuẩn bị đối phó với các lệnh trừng phạt kinh tế ngặt
nghèo, kéo dài của Mỹ và phương Tây. Nga cũng hiểu rất rõ, chiến tranh sẽ tạo
thêm một gánh nặng mới đối với nền kinh tế Nga vốn bị ảnh hưởng nhiều do Nga là
một trong những nước chịu tác động nặng nề nhất của đại dịch COVID-19. Tuy
nhiên, Chính phủ Nga đã đưa ra thông báo, Nga có đủ nguồn lực tài chính cho sự
ổn định của hệ thống trước các lệnh trừng phạt và các mối đe dọa từ bên ngoài.
Mục tiêu
của Nga khi phát động chiến dịch quân sự lần này, bao gồm: 1) Ngăn chặn phương
Tây giành lại bán đảo Crimea; 2) Tạo sức ép đối với phương Tây và Ukraine thực
hiện Thỏa thuận Minsk 2 theo cách của Nga; 3) Cơ cấu lại an ninh khu vực châu
Âu, trong đó an ninh của Nga phải được tôn trọng và bảo đảm; 4) Thúc đẩy Đức và
Liên minh châu Âu (EU) phê chuẩn dự án “Dòng chảy phương Bắc 2”; 5) Củng cố nhà
nước liên minh giữa Nga và Belarus vừa được khởi động sau 20 năm không có nhiều
tiến triển.
Theo đánh
giá chung, hiện nay, Nga có nhiều thuận lợi trong việc mở chiến dịch quân sự:
1) Mặc dù bị ảnh hưởng nghiêm trọng từ các lệnh trừng phạt của Mỹ và phương
Tây, song kinh tế Nga đã tăng cường được tính tự chủ, chủ động thích ứng, vượt
qua thời điểm khó khăn nhất và đang trên đà hồi phục. Tính đến tháng 8/2021,
Quỹ Tài sản quốc gia Nga có nguồn vốn vào khoảng 185 tỷ USD và dự trữ ngoại tệ
ở mức 615 tỷ USD. Bên cạnh đó, Nga cũng được dự báo là quốc gia sẽ hồi phục
nhanh hơn các nước lớn khác sau đại dịch COVID-19 do đã thích nghi tốt với tình
trạng bị cấm vận, cô lập từ năm 2014 đến nay; 2) Căng thẳng leo thang đẩy giá
dầu mỏ tăng cao, đang tạo lợi thế cho Nga; 3) Cán cân quyền lực và cục diện thế
giới tiếp tục có sự dịch chuyển nhanh từ Tây sang Đông, nhất là cạnh tranh
chiến lược Mỹ - Trung Quốc gia tăng mạnh mẽ cùng với việc Nga đẩy mạnh chính
sách đối ngoại ưu tiên hơn trong quan hệ với Trung Quốc, đã góp phần củng cố vị
thế của Nga với vai trò là một trong những nhân tố “cân bằng chiến lược” quan
trọng hàng đầu mà cả Mỹ và Trung Quốc đều cần tranh thủ; 4) Cuộc khủng hoảng
Ukraine buộc các nước phải quay trở lại Thỏa thuận Minsk 2; 5) Cuộc khủng hoảng
Ukraine cũng tiếp tục làm bộc lộ rõ những mâu thuẫn trong nội bộ NATO và EU
hiện nay; đồng thời, tạo sức ép buộc Mỹ và phương Tây phải đàm phán với Nga về
những vấn đề lớn hơn liên quan đến an ninh châu Âu.
Trên cơ sở đó, Tổng thống
Nga V. Putin đã triển khai được 5 bước đi lớn: 1) Gia tăng sự hiện diện quân sự
tại Ukraine và gây ảnh hưởng lên các nước vùng Baltic; 2) Phô trương được sức
mạnh quân sự cùng một lúc trên tất cả các mặt trận; 3) Cộng hưởng với Trung
Quốc trong cuộc đua với Mỹ tiến tới vị trí trung tâm của vũ đài quốc tế; 4) Gửi
tới Mỹ và NATO bản đề nghị an ninh gồm 8 điểm với các điều kiện tiên quyết,
trong đó nêu rõ những quan ngại về an ninh của Nga; 5) Đẩy mạnh các hoạt động
ngoại giao con thoi để trao đổi với các nước. Những động thái này góp phần bảo
vệ và củng cố thể chế của nước Nga, nhất là vị thế, uy tín của Tổng thống Nga
V. Putin. Trong khi đó, thực tế cho thấy, các nước phương Tây và NATO thiếu sự
quyết đoán khi đối mặt với những mối đe dọa hiện hữu.
Đối với
Mỹ, chính quyền của Tổng thống Mỹ Joe Biden đang gặp không ít khó khăn,
thách thức cả trong nước và ngoài nước. Ở trong nước, chính trị nội bộ Mỹ mâu
thuẫn và chia rẽ sâu sắc, nhất là sau cuộc bạo loạn xảy ra ở tòa nhà Quốc hội
vào ngày 6/1/2021 . Bên cạnh đó, dịch bệnh COVID-19 tiếp tục kéo dài và diễn
biến phức tạp, tác động đến mọi mặt đời sống của nước Mỹ. Ở ngoài nước, mặc dù
vẫn là siêu cường số 1 thế giới với sức mạnh vượt trội song khoảng cách sức
mạnh của Mỹ so với Trung Quốc đang tiếp tục bị thu hẹp. Nhiều lợi ích chiến
lược của Mỹ đang bị thách thức. Hệ thống đồng minh, đối tác có sự rạn nứt nhất
định sau nhiệm kỳ của chính quyền Tổng thống Mỹ Donal Trump khiến các nỗ lực
của Mỹ trong xử lý những vấn đề toàn cầu gặp nhiều khó khăn…
Tuy nhiên,
việc thúc đẩy leo thang một cuộc khủng hoảng mới được cho là sẽ giúp Mỹ trở lại
vị thế chi phối và vai trò lãnh đạo thế giới, ngăn chặn, đối phó với thách thức
gia tăng từ các đối thủ chiến lược và các thách thức an ninh khác; khôi phục và
củng cố hệ thống đồng minh, đối tác; định hình trật tự thế giới mới dựa trên
các nguyên tắc, chuẩn mực, giá trị chung.
Mục tiêu
của Mỹ trong cuộc khủng hoảng chính trị Ukraine là: 1) Làm suy giảm sức mạnh
tổng hợp quốc gia của Nga; 2) “Phương Tây hóa Ukraine”, lôi kéo các nước có xu
hướng thân Nga “đoạn tuyệt” với Nga và dựa hẳn vào Mỹ và phương Tây; 3) Củng cố
mối quan hệ xuyên Đại Tây Dương; 4) Tranh thủ cuộc khủng hoảng chính trị tại
Ukraine leo thang để khiến các nước châu Âu phụ thuộc hơn nữa vào Mỹ về mặt
quân sự, an ninh, kinh tế và năng lượng; 5) Có lý do chính đáng để ngăn chặn
Đức phê duyệt dự án “Dòng chảy phương Bắc 2”.
Đối với
Ukraine,nước này vốn được coi là “nạn nhân” trong cuộc khủng hoảng chính trị hiện
nay, nhưng lại mong muốn gia nhập NATO và EU. Ukraine cho rằng, việc gia nhập
NATO “không gây ảnh hưởng đến an ninh của Nga”. Chính vì vậy, ngay sau khi lên nắm
quyền, chính quyền của Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky tiếp tục: 1) Khẳng
định quyết tâm gia nhập NATO và đẩy mạnh cải cách lực lượng vũ trang theo tiêu
chuẩn NATO; 2) Tăng cường củng cố tiềm lực quốc phòng - an ninh, với việc gia
tăng chi phí và đẩy mạnh thử nghiệm các loại tên lửa mới; 3) Duy trì các cuộc
tập trận quân sự chung với NATO nhằm nâng cao khả năng tác chiến hiệp đồng giữa
quân đội Ukraine với quân đội các nước thành viên NATO; 4) Tiến hành sửa chữa,
cải tiến và hiện đại hóa các loại vũ khí, khí tài cũ để trang bị cho lực lượng
quân đội; 5) Mua vũ khí sát thương của các nước phương Tây.
Trong khi đó, NATO lại tỏ ra
khá thận trọng trước viễn cảnh Ukraine gia nhập tổ chức này. Theo Tổng Thư ký
NATO Jens Stoltenberg, Ukraine đã xin gia nhập NATO từ năm 2008 và NATO đang
xem xét, chưa kết nạp Ukraine, với lý do theo Điều 6 Hiến chương NATO, về mặt
kỹ thuật, Ukraine hiện chưa đủ điều kiện để gia nhập NATO. Tuy nhiên, cũng như
Mỹ và các nước phương Tây, NATO cho rằng, tất cả quốc gia độc lập, có chủ quyền
như Ukraine, có thể xin gia nhập không chỉ NATO mà bất kỳ tổ chức kinh tế,
chính trị, quân sự hay ngoại giao nào phù hợp với lợi ích quốc gia của Ukraine.
Thế nhưng,
theo Điều 5 Hiến chương NATO - một nguyên tắc sáng lập của NATO về phòng thủ
tập thể - bất kỳ cuộc tấn công vũ trang nào nhằm vào một hay một số thành viên
của liên minh đều được coi là cuộc tấn công vào toàn bộ liên minh… Mỗi thành
viên, với quyền tự vệ cá thể hay tập thể chính đáng theo Điều 51 Hiến chương
Liên hợp quốc, sẽ hỗ trợ một bên hoặc các bên. Như vậy, nếu Ukraine trở thành
một phần của NATO, các nước thành viên có nguy cơ phải tham gia đối đầu trực
tiếp với Nga. Đây là điều mà dường như không một quốc gia nào trong NATO mong
muốn.
Triển khai
chính sách đối ngoại thân phương Tây, Ukraine đặt mục tiêu có thể gia nhập NATO
và EU, giúp Ukraine bảo toàn lãnh thổ, lấy lại bán đảo Crimea và các vùng ly
khai ở khu vực Donbass. Tuy nhiên, cả Ukraine và phương Tây đều bất ngờ khi cho
rằng, khả năng Nga sẽ tiến hành “một cuộc chiến tranh toàn diện” như hiện nay
là không cao.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét