Nhìn chung,
dù được tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng tựu trung, các quan điểm
sai trái trên đều nhằm cùng mục đích: cố tình xuyên tạc, bôi nhọ chính sách hòa
hợp của Đảng và Nhà nước ta, qua đó hòng kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết
dân tộc, thay đổi và phá hoại sự ổn định chính trị – xã hội và cuối cùng là đòi
đa nguyên đa đảng.
Qua nhận
diện các quan điểm, luận điệu sai trái, xuyên tạc về hòa hợp dân tộc, chúng tôi
xin làm rõ các nội dung sau:
Thứ nhất,
sai lầm khi cho rằng ở Việt Nam không có hòa hợp dân tộc thực sự
Thực tiễn
cho thấy, trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, nhất là từ khi có Đảng lãnh
đạo, Nhà nước quản lý, ở Việt Nam không có sự bất đồng và mâu thuẫn giữa các
tộc người với nhau, đặc biệt là giữa người Kinh và các dân tộc thiểu số.
Chúng ta
biết rằng, mâu thuẫn hoặc xung đột tộc người, tôn giáo thường bắt nguồn từ sự
khác biệt về hệ tư tưởng, lợi ích (kinh tế) và cả những khác biệt văn hóa… giữa
các tộc người, tôn giáo. Tuy nhiên điều này chỉ đúng ở tầm bao quát chung của
nhân loại, hoặc đã và đang diễn ra ở một số nước, khu vực trên thế giới. còn ở
Việt Nam lại hoàn toàn khác. Trải qua suốt chiều dài lịch sử, Việt Nam cũng đã
có những xung đột hoặc cuộc chiến xảy ra (ví dụ như sự chuyển tiếp, thay thế
quyền lực giữa các vương triều: Đinh, Lý, Trần, Hồ, Lê…; phân tranh Trịnh –
Nguyễn; Đàng Trong – Đàng Ngoài…) nhưng các
cuộc chiến, xung đột này (bao gồm những liên minh và đối địch,
tạm thời hay lâu dài) không
phải là xung đột hoặc chiến tranh mang màu sắc thanh trừng sắc tộc, tôn
giáo mà chỉ là các cuộc chiến, xung đột dựa trên quyền lợi
thiết thân với tính chất chuyển giao hoặc thôn tính quyền lực, lợi ích… được thực hiện bởi
các vua, chúa; ở mỗi bên “tham chiến”, đội quân thường là sự tập hợp lực lượng
bao gồm những người cùng chung mục đích về lợi ích kinh tế, quyền lợi hay địa
vị xã hội… được xuất thân từ nhiều thành phần dân tộc, tầng lớp xã hội khác
nhau.
Hiện nay,
Việt Nam có 54 dân tộc anh em cùng chung sống lâu đời, trong đó có 53 dân tộc
thiểu số, với hơn 14 triệu người (chiếm khoảng 14,7% dân số cả nước)(2). Mặc
dù người Kinh là dân tộc chiếm đa số, nhưng thực tế cho thấy dưới sự lãnh đạo,
quản lý của Đảng và Nhà nước, vai trò và tham gia vào bộ máy chính quyền cũng
như những đóng góp vào đời sống xã hội của người dân tộc thiểu số ngày càng
được đảm bảo. Đơn cử như trong Quốc hội, số lượng đại biểu Quốc hội người
dân tộc thiểu số ở Việt Nam đã tăng dần theo các khóa: Khóa I: 10,2%, khóa
XIII: 15,6%, khóa XIV: 17,3%, khóa XII: 17,7%, khóa XV: 17,84%.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét