Trong
quan hệ tôn giáo, thực tiễn cũng đã chứng minh Việt Nam là một quốc gia đa tín
ngưỡng, đa tôn giáo và không có sự mâu thuẫn hoặc xung đột giữa các tôn giáo,
tín ngưỡng; các tôn giáo ở Việt Nam luôn được tôn trọng, bình đẳng, không bị
phân biệt đối xử và được Nhà nước bảo hộ hoạt động bằng pháp luật; người dân
được thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo… Điều này đã được kiểm chứng,
thừa nhận bởi nhiều quốc gia, nhiều tổ chức tôn giáo lớn trên thế giới.
Trong Báo cáo Tự do Tôn
giáo Quốc tế – Việt Nam 2018 của Đại sứ quán và Tổng Lãnh
sự quán Hoa Kỳ tại Việt Nam đã khẳng định: “Hiến pháp (của Việt Nam) quy
định mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bao gồm cả quyền tự do
không theo một tôn giáo nào. (…) Hiến pháp quy định tất cả các tôn giáo đều
bình đẳng trước pháp luật và nhà nước phải tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo. Hiến pháp cấm công dân vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc
lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật” và “Việt Nam là thành viên
của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị”(3).
Trong
sinh hoạt, vào những ngày lễ lớn của các tôn giáo ở Việt Nam (Phật giáo, Công
giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo, Hồi giáo…), lãnh đạo Đảng và Nhà nước đều tới
thăm, chúc mừng và cùng các tôn giáo hướng tới lẽ sống “tốt đời đẹp đạo”. Đặc
biệt, với đặc tính dung hòa sẵn có của đời sống văn hóa Việt Nam, trong hầu hết
các lễ hội tôn giáo, ngoài sự hiện diện của tín đồ, còn có rất nhiều người dân,
thậm chí là tín đồ của các tôn giáo khác cũng đến xem lễ, tham quan, du lịch,
tìm hiểu văn hóa, tín ngưỡng…
Thứ hai,
rất ấu trĩ khi cho rằng các chính sách, luật pháp về hòa giải, hòa hợp dân
tộc ở Việt Nam hiện nay là “đãi bôi”, “con đường nửa vời”; Đảng và Nhà nước
Việt Nam không có thiện chí trong quá trình hòa hợp dân tộc.
Phát huy
truyền thống văn hóa dân tộc kết hợp thực hiện lời dạy của Hồ Chí Minh về đoàn
kết dân tộc: “Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân
ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới thành đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương
lai chắc sẽ vẻ vang”(4), Đảng và Nhà nước ta đã ban hành các chính sách, luật pháp cùng
những hành động thiết thực về hòa giải, hòa hợp dân tộc, có thể kể đến Nghị
quyết số 36-NQ/TW về công
tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, Quy chế miễn thị thực cho
người Việt Nam ở nước ngoài, Chỉ thị 45-CT/TW về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện nghị quyết
số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về công tác đối với người Việt Nam ở nước
ngoài trong tình hình mới… Đặc biệt, chính sách đối với người Việt
Nam ở nước ngoài đã được Đảng cụ thể hóa vào các Văn kiện Đại hội Đảng toàn
quốc, như: “đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan
dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước”(5), “Hỗ
trợ để người Việt Nam ở nước ngoài có địa vị pháp lý vững chắc, phát triển kinh
tế và đời sống, hòa nhập xã hội nước sở tại”(6), “Làm
tốt công tác bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài và tranh thủ tối đa nguồn
lực người Việt Nam ở nước ngoài tham gia đóng góp phục vụ phát triển đất nước”(7). Các cơ
quan chuyên trách về công tác người Việt ở nước ngoài (Ủy ban người Việt ở nước
ngoài, Bộ Ngoại giao) cũng đã làm tốt công tác hòa hợp, hòa giải dân tộc thông qua
giúp người Việt Nam ở nước ngoài ổn định cuộc sống, hội nhập vào xã hội sở tại,
hướng về Tổ quốc…
Những lý
lẽ nêu trên cho thấy: không hề có cái gọi là “đãi bôi” hay “con đường nửa vời”
trong việc ban hành các chính sách, luật pháp về hòa giải, hòa hợp dân tộc của
Việt Nam. Đảng và Nhà nước ta luôn tỏ rõ thiện chí trong quá trình hòa hợp dân
tộc. Trong đó, việc chủ động chào đón sự trở về của những kiều bào từng làm
việc cho chế độ cũ, từng rời bỏ đất nước… là minh chứng tiêu biểu nhất. Trường
hợp của nguyên Phó Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Cao Kỳ là một ví dụ điển
hình. Trở về quê hương sau gần 30 năm xa xứ, ông đã khẳng định: “Đại đoàn kết
dân tộc là chính sách đúng đắn của chính phủ Việt Nam, trong đó xem kiều bào ở
nước ngoài là một bộ phận của cộng đồng dân tộc Việt Nam”(8). Hoặc
như trường hợp của nguyên chuẩn tướng, quyền Tổng tham mưu trưởng Quân lực Việt
Nam Cộng hoà Nguyễn Hữu Hạnh: Từ khi còn nắm giữ quyền lực trong chế độ cũ cho
đến lúc qua đời (2019) tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhân sĩ Nguyễn Hữu Hạnh đã có
những việc làm thiết thực, trở thành “một tấm gương tiêu biểu của những người
Việt Nam chân chính, có tinh thần dân tộc và yêu nước, cho dù chỗ đứng ở đâu,
cương vị thế nào vẫn luôn hướng về đất nước và dân tộc”(9).
Không
chỉ dang tay đón nhận những người con Việt Nam thiết tha thực tâm trở về với
đất mẹ, Đảng và Nhà nước còn có những việc làm thiết thực, nhân văn để giúp đỡ,
bảo hộ công dân đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài. Việc hỗ trợ người bị
nạn (bao gồm cộng đồng người Việt) trong cơn bão Katrina năm 2005 ở Mỹ; việc
khuyến cáo và có những hành động kịp thời để bảo hộ công dân tránh khỏi những
tổn thất về người và của trước những xung đột, biểu tình, đảo chính ở một số
nước, khu vực; việc tiến hành đưa người Việt ở nước ngoài trở về Tổ quốc trước
đại dịch COVID-19… đã chứng minh cho thiện chí hòa hợp và tinh thần “không ai
bị bỏ lại phía sau”.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét