Thứ Tư, 2 tháng 3, 2022

Cảnh giác trước luận điệu xuyên tạc về hòa hợp dân tộc

 

Thứ nhất, hoàn toàn ngộ nhận và sai lầm khi các thế lực thù địch tự nhận mình là “người đại diện” cho “nguyện vọng của đa số” để tuyên truyền, đề xuất về cái gọi là “phương cách hòa hợp”.

Xét ở góc độ luật pháp, “đại diện” là việc một người, một cơ quan, tổ chức nhân danh người, cơ quan, tổ chức khác xác lập, thực hiện hành vi pháp lí trong phạm vi thẩm quyền đại diện. Quyền đại diện được xác lập theo sự ủy quyền, theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật… Trong hiến pháp và pháp luật của hầu hết các quốc gia trên thế giới, “đại diện” là một trong những chế định quan trọng được ghi nhận. Ví dụ như tại Mục 1, Điều 3 của Hiến pháp Nga: “Nhân dân Nga đa sắc tộc là đại diện cho chủ quyền và là nguồn duy nhất của quyền lực ở Liên bang Nga”(10), hoặc trong Điều 135, Bộ luật Dân sự năm 2015 của Việt Nam, “quyền đại diện” cũng được quy định rõ: “Quyền đại diện được xác lập theo ủy quyền giữa người được đại diện và người đại diện; theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo điều lệ của pháp nhân hoặc theo quy định của pháp luật”(11)… Lấy cơ sở pháp lý làm căn cứ, chúng ta thấy những hoạt động (từ phát ngôn cho đến các hành động cụ thể) của những người trong Việt Tân, Việt Quốc, Khối 8406, Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời… chỉ nhân danh cho chính bản thân họ hoặc cho một nhóm người “cùng chung tham vọng”; việc đưa ra các “tuyên ngôn” chẳng qua chỉ là chiêu bài lừa mị những người nhẹ dạ cả tin, những người đã lâu không có điều kiện nắm bắt tình hình trong nước…; các bài viết đăng tải trên Internet của họ chỉ thể hiện quan điểm cá nhân, nhóm người và hoàn toàn không phải là quan điểm đại diện cho nhân dân Việt Nam. Đặc biệt, những người này không có bất kỳ cơ sở pháp lý nào (sự ủy quyền, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, điều lệ pháp nhân, quy định của pháp luật…) để có thể “đại diện” cho số đông hay “nguyện vọng của đa số”, nhất là khi nguyện vọng của đa số ở đây không phải là mong ước chính đáng, phù hợp của tất cả các tầng lớp nhân dân và các tổ chức chính trị – xã hội Việt Nam, mà chỉ là tham vọng của một nhóm người mang mưu đồ ích kỷ, xấu xa.

Khi đã không có cơ sở pháp lý để “đại diện” cho “nguyện vọng của đa số” thì cái gọi là “phương cách hòa hợp” cũng chỉ là viển vông. Đối với những kẻ không có tư cách đại diện, lại thường xuyên sử dụng các hành động khủng bố thì dĩ nhiên các “phương cách hòa hợp” chỉ đơn thuần là một cách diễn đạt nhằm đánh tráo khái niệm, và mục đích chính là nhằm lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa, cuối cùng là đòi đa nguyên đa đảng tại Việt Nam.

Thứ hai, ấu trĩ và sai lầm khi lợi dụng tính chất dễ dàng tìm kiếm, truy cập của mạng Internet để dẫn lại, chỉnh sửa (edit) các thông tin một cách bừa bãi, không có và không cần nguồn kiểm chứng… nhằm xuyên tạc, phá hoại chính sách hòa hợp dân tộc.

Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện nay, nhất là khi nhân loại đã bước vào kỷ nguyên số thì việc dẫn nguồn, biên tập lại một cách méo mó thông tin sớm muộn cũng sẽ bị phát hiện, tẩy chay. Trong khi đó, chỉ cần lướt qua trên Internet, người ta rất dễ tìm được những thông tin đã được kiểm chứng rõ ràng. Ví dụ như các chương trình “Xuân Quê hương”, “Trại hè dành cho thanh thiếu niên người Việt ở nước ngoài”… mà chúng ta đã và đang tiến hành đã được rất nhiều hãng thông tấn báo chí, các website trên thế giới thừa nhận và đăng tải. Mặt khác, tình trạng tin giả hiện nay cũng đã được hầu hết các tổ chức, quốc gia cảnh báo và bài trừ. Về vấn đề này, xin dẫn lại một khuyến nghị trên Trang tin tức của Tòa thánh Vatican (Vatican News) trong việc cảnh báo những tin giả (fake new) âm mưu chia rẽ sự đoàn kết về tôn giáo (trong đó có Công giáo) ở Việt Nam như sau: “Trong thời đại hiện nay, Internet nói chung và mạng xã hội nói riêng là mảnh đất tốt để chúng ta có thể thực hiện việc loan báo Tin Mừng. Tuy nhiên, nó đồng thời cũng là mảnh đất màu mỡ cho những thông tin “phản – Tin Mừng” phát triển, nhưng lại mạo danh hay núp dưới danh nghĩa của Giáo hội Công giáo. Trong hoàn cảnh ở Việt Nam, điều này vô cùng nguy hiểm!”(12).

Thứ năm, sai lầm khi cho rằng Đảng và Nhà nước Việt Nam vẫn còn cấm đoán và hạn chế các nghiên cứu về văn hóa, văn học miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975 để quy chụp rằng chưa có sự hòa giải, hòa hợp dân tộc.

Thời gian qua, đặc biệt là từ những năm ‘80 của thế kỷ XX trở lại đây, việc nghiên cứu văn hóa, văn học miền Nam giai đoạn 1954-1975 đã có nhiều chuyển biến, cởi mở, “quan điểm chính thức được khẳng định hiện nay là, ủng hộ việc đẩy mạnh nghiên cứu, chọn lọc phổ biến các giá trị đích thực của văn học nghệ thuật miền Nam trước 1975 trên tinh thần hòa hợp dân tộc để hàn gắn vết thương, đoàn kết mọi người cùng nhìn về một phía, thực hiện hòa hợp dân tộc bằng con đường văn hóa văn nghệ.”(13). Đặc biệt, trong nghiên cứu khoa học chuyên sâu, đã có nhiều luận văn, luận án, chuyên luận lấy văn hóa, văn học đô thị miền Nam (1954-1975) làm đối tượng nghiên cứu, như: Khảo sát sự du nhập của phân tâm học và chủ nghĩa hiện sinh vào văn học đô thị miền Nam trước năm 1975 của Nguyễn Phúc (Luận án Tiến sĩ, 1995); Lý luận phê bình văn học ở đô thị miền Nam 1954–1975 của Trần Hoài Anh (Luận án Tiến sĩ, 2009); Vấn đề thân phận con người trong tiểu thuyết đô thị miền Nam 1954–1975 của Nguyễn Thị Việt Nga (Luận án Tiến sĩ, 2012); Con người và những giá trị văn hóa truyền thống trong văn xuôi đô thị miền Nam giai đoạn 1954-1975 của Nguyễn Thị Thu Trang (Luận án Tiến sĩ, 2008); Đặc điểm tùy bút ở đô thị miền Nam (1954–1975) của Bùi Tiến Sỹ (Luận án Tiến sĩ, năm 2017); Toàn cảnh thơ Việt Nam 1945-1975 của Nguyễn Bá Thành (Nxb. Đại học Quốc gia, 2016); Những nguồn cảm hứng trong văn học của Huỳnh Như Phương (Nxb. Văn nghệ, 2009); Văn học Sài Gòn 1954-1975: Những chuyện bên lề của Lê Văn Nghĩa (Nxb. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2020)… Ngoài ra, nhiều tác phẩm văn – sử – triết học cùng các công trình nghiên cứu có giá trị xuất bản trước 1975 ở miền Nam, nay cũng đã được công nhận và lưu hành… Như vậy, không có cái gọi là “tồn tại những cấm đoán” trong nghiên cứu khoa học về miền Nam Việt Nam giai đoạn 1954-1975, có chăng, chỉ là sự cố tình dựng chuyện và sự vu khống của các thế lực thù địch.

Khép lại quá khứ, hướng tới tương lai tốt đẹp là quan điểm hòa hợp, hòa giải nhân văn của bất cứ quốc gia tiến bộ nào trên thế giới. Với tư cách là một quốc gia có độc lập chủ quyền, có luật pháp và có vị thế quan trọng trên chính trường quốc tế, Việt Nam đã và đang làm tốt công tác hòa hợp dân tộc, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Tuy nhiên, hòa hợp không đồng nghĩa với xuyên tạc lịch sử, với vi phạm pháp luật. Chúng ta dang rộng vòng tay chào đón mọi người con Việt Nam từ khắp nơi trên thế giới trở về trong hòa bình, trở về với tâm thế xây dựng đất nước… nhưng chúng ta cũng cương quyết không chào đón, thậm chí phải loại bỏ những kẻ cơ hội, trở về nhằm mục đích chia rẽ, phạm pháp và phá hoại đoàn kết dân tộc./.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét