Thời kỳ trung đại ở châu Âu đã tồn tại và phát triển kéo dài suốt 10 thế kỷ, từ thế kỷ V đến thế
kỷ XV. Giai đoạn từ thế
kỷ V đến thế kỷ X, sau khi chế độ chiếm hữu nô lệ La Mã sụp đổ, trên lãnh thổ
Tây Âu đã lần lượt xuất hiện các nhà nước
phong kiến. Đời sống xã hội nông thôn và quan hệ phong kiến gia trưởng chiếm ưu
thế. Xã hội Tây Âu bị xé nhỏ thành nhiều quốc gia phong kiến, hoàn toàn phụ
thuộc vào chính quyền nhà vua và hoàng đế tập quyền. Mâu thuẫn xã
hội cơ bản là mâu thuẫn giữa giai cấp đại địa chủ phong kiến với nông nô và thợ
thủ công. Tuy nhiên, mức độ đối kháng xã hội chưa trở nên gay gắt, sự
giác ngộ xã hội của các giai cấp bên dưới cũng chưa phát triển cao. Chính vì
vậy, ở giai đoạn này xã hội chưa có những xung đột giai cấp lớn và do đó chưa
sản sinh những tư tưởng xã hội chủ nghĩa điển hình.
Giai đoạn từ thế
kỷ XI đến thế kỷ XV, điều kiện kinh tế - xã hội phát triển làm nảy sinh những trào lưu tư tưởng mang khuynh hướng
cộng sản chủ nghĩa. Do sự phát
triển của hàng hóa, tiền tệ, đã hình thành những tập đoàn xã hội có thái độ
thù địch với chế độ xã hội đương thời và muốn thực hiện cộng sản chủ nghĩa theo
ước mơ đặc thù của họ. Sự phân hóa giai cấp diễn ra ở cả
thành thị lẫn nông thôn. Ở thành thị, do sự biến động của nền sản xuất thủ công
nghiệp và sự chi phối của tư sản thương nghiệp. Ở nông thôn, cũng do tác động
của sản xuất hàng hóa và thương nghiệp, một mặt nó tạo tiền đề cho sự giải
phóng nông dân và nông nô; mặt khác, nó kích thích giai cấp địa chủ tăng cường
bóc lột họ bằng đủ mọi thủ đoạn kinh tế và siêu kinh tế.
Ở Tây Âu thời trung đại nhà thờ Cơ đốc giáo có vị
trí đặc biệt trong xã hội phong kiến. Giới tăng lữ là đẳng cấp đầu tiên của chế
độ phong kiến. Giám mục, nhà thờ Cơ đốc giáo là chỗ dựa cho xã hội phong kiến.
Tôn giáo trở thành một thế lực, chi phối nặng nề đời sống tinh
thần của xã hội và đóng vai trò thống soái trong hệ tư tưởng của xã hội phong
kiến. Ph.Ăngghen viết: “Trong tay bọn giáo sĩ, chính trị
và luật học, cũng như tất cả các khoa học khác, cũng chỉ là những ngành của
khoa học thần học, và những nguyên lý thống trị trong thần học cũng được áp
dụng cho chính trị và luật học, những giáo lý của giáo hội đồng thời cũng là
những định lý chính trị và những đoạn kinh thánh cũng có hiệu lực trước toà án
như là luật pháp... Và sự thống trị tối cao ấy của thần học trong tất cả các
lĩnh vực hoạt động tinh thần đồng thời cũng là hậu quả tất yếu của các vị trí
mà giáo hội đã chiếm với tính cách là sự tổng hợp chung nhất của sự phê chuẩn
chung nhất của chế độ phong kiến hiện tồn”[1].
1
& 2 C.Mác và
Ph.Ăngghen toàn tập, Tập 7, “Chiến tranh nông dân ở Đức”
(1850), Nxb Chính trị quốc gia
Sự thật, Hà Nội, 1993, tr.476.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét