Thứ nhất, nâng cao nhận thức và giáo dục cho cán bộ, đảng viên, cho toàn xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ về tầm quan trọng của tiết kiệm, phòng, chống lãng phí.
Cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và toàn xã hội cần thường xuyên đôn đốc, kiểm tra việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Tiết kiệm, chống lãng phí phải trở thành giá trị, chuẩn mực của văn hóa công sở, văn hóa công vụ, văn hóa doanh nghiệp. Cán bộ lãnh đạo, quản lý phải là tấm gương trong thực hành tiết kiệm, phòng, chống lãng phí. Các đoàn thể chính trị - xã hội cũng nghiên cứu đưa thực hành tiết kiệm, phòng, chống lãng phí thành một trong những chuẩn mực của hội viên, đoàn viên...
Đưa nội dung xây dựng và thực hành văn hóa tiết kiệm, phòng, chống lãng phí vào chương trình giáo dục quốc dân phù hợp với từng cấp học, bậc học. Nhà trường, gia đình và xã hội phối hợp giáo dục để hình thành thói quen và ý thức tiết kiệm từ khi còn nhỏ. Trẻ em nên được giáo dục về tầm quan trọng của thực hành tiết kiệm, không lãng phí đồ dùng và cần chi tiêu hợp lý. Trường học tổ chức các hoạt động ngoại khóa liên quan đến tiết kiệm, bảo vệ môi trường để trẻ em dần hình thành ý thức tự giác trong thực hành tiết kiệm. Trong mỗi gia đình, bố mẹ, ông bà cũng phải là tấm gương trong thực hành tiết kiệm. Tiết kiệm cũng cần trở thành chuẩn mực ứng xử trong mỗi gia đình.
Cơ quan báo chí, truyền thông tích cực tuyên truyền, lan tỏa văn hóa tiết kiệm, phòng, chống lãng phí trong toàn xã hội. Phê phán mạnh mẽ hành vi, biểu hiện lãng phí, đồng thời biểu dương kịp thời gương người tốt, việc tốt trong thực hành văn hóa tiết kiệm. Đa dạng hóa hình thức thông tin, tuyên truyền, phát huy hiệu quả của phương tiện truyền thông mới để việc đưa tin bài về tiết kiệm, phòng, chống lãng phí không chỉ kịp thời, chính xác, mà còn sinh động, hấp dẫn công chúng.
Thứ hai, xây dựng môi trường xã hội khuyến khích lối sống tiết kiệm.
Giá trị, chuẩn mực được hình thành, duy trì và củng cố trong môi trường xã hội. Giá trị, chuẩn mực đó sẽ dẫn dắt, điều chỉnh hành vi của cá nhân và cộng đồng. Sống trong một môi trường xã hội tôn vinh giá trị tiết kiệm, khuyến khích sử dụng lại và sử dụng tài nguyên hợp lý sẽ là cơ sở để hình thành, rèn giũa thói quen, hình thành ý thức tự giác của mỗi người trong tư duy và hành động hướng tới giá trị chuẩn mực đó. Chiến dịch truyền thông rộng rãi trong cộng đồng về việc sử dụng tiết kiệm tài nguyên, sự vào cuộc của các tổ chức, đoàn thể trong xã hội sẽ giúp củng cố thói quen này. Cộng đồng dân cư, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp nên thiết lập quy tắc rõ ràng để khuyến khích thành viên của mình thực hành tiết kiệm trong sử dụng thời gian, tài sản công, tài nguyên... Các ban, bộ, ngành nghiên cứu để phát động phong trào thi đua thực hành văn hóa tiết kiệm, phòng, chống lãng phí gắn với chức năng, nhiệm vụ của mình. Tổ chức một cuộc vận động sâu rộng trong toàn xã hội về thực hành tiết kiệm, phòng, chống lãng phí.
Thứ ba, công khai lợi ích thiết thực của việc tiết kiệm.
Mỗi người sẽ dễ dàng tự giác thực hành tiết kiệm hơn khi họ thấy rõ lợi ích trực tiếp của hành động đó. Cần nghiên cứu lượng hóa lợi ích của việc tiết kiệm và công bố công khai. Một cơ quan, đơn vị, một doanh nghiệp khi đẩy mạnh thực hành tiết kiệm sẽ mang lại lợi ích cụ thể nào cho tổ chức, cho thành viên trong tổ chức. Tương tự, mỗi cá nhân khi thực hành tiết kiệm trong đời sống hằng ngày sẽ mang lại lợi ích gì cho chính cá nhân đó và cho cả cộng đồng. Bằng cách công khai kết quả tích cực này, người dân sẽ có động lực để duy trì thói quen tiết kiệm.
Thứ tư, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ để quản lý và tối ưu hóa nguồn lực cho phát triển.
Ứng dụng công nghệ có thể giúp cơ quan quản lý xác định tiêu chuẩn, định mức, chế độ sát hợp với tình hình thực tế. Công nghệ có thể giúp cá nhân và tổ chức theo dõi, kiểm soát việc sử dụng thời gian, công sức, tài sản, năng lượng… từ đó kịp thời phát hiện và ngăn chặn sự lãng phí. Bên cạnh đó, công nghệ còn giúp tăng cường tính minh bạch trong chuỗi cung ứng, giảm thiểu tình trạng thừa thãi hoặc lãng phí trong quá trình vận hành và lưu thông hàng hóa. Công nghệ không chỉ giúp nâng cao hiệu quả trong việc sử dụng nguồn lực cho phát triển, mà còn giảm thiểu lãng phí.
Thứ năm, hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong đó có Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.
Văn hóa tiết kiệm, phòng, chống lãng phí sẽ trở nên hiệu quả hơn khi được hỗ trợ bởi hàng lang pháp lý. Bài viết “Chống lãng phí” của Đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm nêu rõ một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng lãng phí do chất lượng xây dựng, hoàn thiện pháp luật chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn công cuộc đổi mới dẫn đến khó khăn, cản trở việc thực thi, gây thất thoát, lãng phí nguồn lực. Chính vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, khắc phục triệt để tình trạng văn bản pháp luật chồng chéo, thậm chí mâu thuẫn, chưa sát với thực tế, biện pháp xử lý chưa đủ sức răn đe... Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí cần được rà soát, chỉnh sửa để bảo đảm bao quát, rõ ràng hơn, phù hợp với tình hình thực tế, đồng thời bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với các luật, bộ luật khác như Luật Đầu tư công, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Quản lý, sử dụng tài sản công, Luật Quản lý nợ công, Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp, Luật Đất đai, Luật Tài nguyên nước, Luật Khoáng sản, Luật Kiểm toán, Luật Xây dựng, Luật Quy hoạch, Luật Quy hoạch đô thị, Luật Biển Việt Nam, Bộ luật Lao động.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét