Pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc
căn bản trong tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước, của các tổ chức xã hội và
các đoàn thể quần chúng; là nguyên tắc xử sự của công dân và các chủ thể khác
trong xã hội. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa quy định việc tổ chức và hoạt
động của nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân phải đảm bảo tính
hợp pháp, tuân theo pháp luật. Do vậy, tăng cường pháp chế
xã hội chủ nghĩa vừa là nguyên tắc, vừa là biện pháp để phát huy dân chủ xã hội
chủ nghĩa.
Nội dung nguyên tắc pháp chế xã hội chủ
nghĩa trong quản lý xã hội biểu hiện ở quyền lập pháp của nhà nước. Theo đó,
các cơ quan nhà nước khi ban hành quy phạm pháp luật thuộc phạm vi thẩm quyền
theo quy định phải tôn trọng vị trí cao nhất của hiến pháp và luật. Nội dung
văn bản pháp luật ban hành không được trái với hiến pháp và văn bản luật, chỉ được ban hành những văn bản quy phạm pháp luật trong
phạm vi thẩm quyền và hình thức, trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.
Trong tổ chức thực hiện quản lý xã hội, trước
hết là quản lý hành chính nhà nước, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa đòi hỏi các cơ quan
nhà nước khi áp dụng quy phạm pháp luật phải phù hợp với yêu cầu của luật và
các văn bản quy phạm pháp luật khác, phải thiết lập trách nhiệm pháp lý đối với
các chủ thể áp dụng quy phạm pháp luật. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa
còn thể hiện ở việc mở rộng, bảo đảm các quyền dân chủ của công dân trong quản
lý xã hội. Mọi quyết định và hành vi hành chính phải dựa trên quyền và lợi ích
hợp pháp trực tiếp hoặc gián tiếp của công dân. Ngược lại, việc hạn chế quyền
công dân chỉ được áp dụng trên cơ sở hiến định. Hoạt động quản lý xã hội phải gắn
liền với một chế độ trách nhiệm nghiêm ngặt đối với một chủ thể quản lý. Chế độ
trách nhiệm ấy thông qua pháp luật và các hệ thống kỷ luật nhà nước.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét