Thứ Sáu, 10 tháng 7, 2020

Sống tối giản


Có lần, tôi và vài người bạn bị lạc nhiều ngày trong rừng mà không còn thức ăn. Ra khỏi rừng, được người qua đường tốt bụng biếu cho một quả táo thì mừng muốn rớt nước mắt. Bốn anh em chia nhau cắn một quả táo trong sự cẩn trọng và thưởng thức như chưa bao giờ được ăn táo. Đến nỗi, chúng tôi ăn luôn cả hạt táo. Chúng tôi đã quả quyết rằng, trên đời này chưa có quả táo nào ngon như quả táo đó cả.
Ông bà ta thường nói "Một miếng khi đói bằng một gói khi no". Khi đói mà có được một miếng thức ăn thì nó trở nên quý vô cùng, ta có thể cảm nhận được hạnh phúc trong khi thưởng thức miếng thức ăn ít ỏi đó. Nhưng khi chưa đói hoặc đã no rồi, mà có thêm một miếng thức ăn sẽ chẳng có ý nghĩa gì. Thêm hai miếng, ba miếng nữa cũng vậy. Có thể phải thêm tới một gói, một mâm cao lương mỹ vị, may ra mới thấy quý. Tuy nhiên, cái quý này là vì tham lam, hoàn toàn khác với cái quý trước là vì đói và được ăn - nhu cầu cơ bản để sinh tồn.
Có lẽ người xưa đã biết rõ bản tính khá kỳ lạ này của con người, rằng hễ có nhiều thì sẽ mau chóng bão hoà, khinh lờn, rồi nhàm chán, nên ông bà ta chủ trương sống không cho đủ đầy - tri túc. Mặc dù có thêm cũng mang lại cảm giác thích thú, an tâm, nhưng nó làm mất đi cảm giác trân quý và thưởng thức trọn vẹn khi tiếp xúc từng món đồ. Thật vậy, thời đó ai cũng nhớ rất rõ mình có bao nhiêu bộ quần áo. Chiếc áo nào vá chỗ nào, vì sao bị rách chỗ đó, đều nhớ rõ mồn một. Thậm chí nhớ luôn mình có bao nhiêu cuốn sách, và cuốn sách đó mình đã mua trong dịp nào, ở đâu, nội dung ra sao, và có những trang đọc đi đọc lại muốn nát nhàu. Hạnh phúc, có lẽ, chỉ xuất hiện khi ta biết nâng niu và muốn giữ gìn một món đồ hay đối tượng nào đó. Và ý thức rằng nó có thể biến mất hay tàn phai bất cứ lúc nào.
Như vậy, điều kiện cơ bản của hạnh phúc là phải thấy được giá trị của những gì mà mình đang sử dụng hay tiếp xúc. Mà, để thấy được giá trị của chúng thì ta phải có mặt một cách đích thực và trọn vẹn, tức là phải có sự tập trung. Mà, để có được sự chú ý hay tập trung trọn vẹn vào một đối tượng hay món đồ nào đó, điều kiện bắt buộc là chúng phải ít. Có lẽ các nước như Nhật Bản, Bhutan, hay một số nước Bắc Âu như Phần Lan, Đan Mạch, Thuỵ Điển... đã ngộ ra chân lý này từ xa xưa nên họ chọn nếp sống tối giản mà không bao giờ thay đổi.
Tôi từng vác ba lô đi bộ suốt ba năm, qua 25 tiểu bang của nước Mỹ, không mang tiền và điện thoại. Tài sản hiện tại của tôi: Ba bộ y phục chính, ba bộ đồ lao động, hai bộ đồ thể thao, vài bộ đồ và dụng cụ "đi phượt"; một xe đạp, một laptop, một điện thoại Nokia, hai kệ sách, hai bộ tách trà. Tôi không có tài khoản ngân hàng riêng, không có trang cá nhân trên mạng xã hội, không xài các ứng dụng.
Bây giờ rõ mặt đôi ta. Biết đây rồi nữa chẳng là chiêm bao (Truyện Kiều - Nguyễn Du). Nếu biết lần chia tay này rồi lâu lắm mới gặp lại, hoặc không biết đến bao giờ mới gặp lại, thì chắc chắn ta sẽ trân quý từng giây phút ngắn ngủi đó. Ta sẽ không để lãng phí thời gian cho những việc không cần thiết, để chỉ tập trung vào câu chuyện giữa mình và người ấy, chỉ tập trung vào nhau, chỉ nhìn vào mặt nhau. Ta muốn biến những khoảnh khắc còn may mắn có nhau trở thành những khoảnh khắc đặc biệt, vừa để trân quý vừa để lưu vào ký ức của nhau những gì hay ho và đẹp đẽ nhất. Cái ý thức "sợ mất đi" sẽ giúp ta buông bỏ cái tôi của mình xuống để hoàn toàn kết nối với trái tim cũng không còn cái tôi của người kia. Giây phút đó còn có thể buông bỏ hết những giận hờn, oán trách nhau, nếu cả hai đẩy nhận thức của mình tới mức: Hãy nhìn vào mặt người lần cuối trong đời (Hãy yêu nhau đi - Trịnh Công Sơn).
Ta thường chỉ thể hiện được "cái tốt đẹp nhất" của mình khi ta có một động cơ hay tác nhân mạnh mẽ nào đó. Mà, động cơ để quyết tâm sống với những khoảnh khắc hay ho nhất thường đến từ một cái thấy sâu sắc hay phút giây phản tỉnh. Tuy nhiên, con người hiếm khi đạt được khả năng này. Phần lớn là phải chờ đến khi có chuyện gì xảy ra, có tác nhân là hoàn cảnh thay đổi, người kia không còn có mặt bên ta nữa, thì ta mới giật mình nhận ra mình đã mất đi một thứ gì đó rất quý giá. Mất mới quý là một trong những "thói xấu" nhất của con người. Nhưng nghịch lý là con người lại luôn cố gắng nắm bắt cho thật nhiều, yêu thích thứ gì là lao vào đam mê cuồng nhiệt. Kết quả là mau nhàm chán và bỏ nhau.
Đáng lẽ, một khi đã ý thức được "thói xấu" hễ đủ đầy hay dư thừa là mau chóng khinh lờn, nhàm chán, thì ta sẽ cố gắng giới hạn sự chung chạ, tiếp xúc nhau quá lâu. Trên thực tế thì không ai có thể sống với phút giây đẹp nhất của mình liên tục cả, trừ những bậc tu luyện tới mức làm chủ được tâm ý mình. Phút giây nào cũng là thần thánh hết thì lại càng không thể. Nên dù là quan hệ thân thiết như vợ chồng, cha mẹ và con cái, rất yêu thương nhau thì cũng cần nên giới hạn tương tác nhau. Thời gian tách ra là để bên kia hồi phục năng lượng, để quay về khơi dậy năng lượng lành và chuyển hóa năng lượng không lành, để khi xuất hiện trở lại thì họ vẫn là một đóa hoa. Ngoài ra, thời gian tách ra là cũng để giúp cho đôi bên ý thức trở lại sự cần thiết và quý giá của nhau, để khi gặp lại nhau thì mỗi giây phút sẽ trở nên đặc biệt.
Vì không thể liên tục đặc biệt, nên ta chọn một khoảng thời gian cố định để biến nó trở thành đặc biệt. Mà thật ra lúc nào cũng đặc biệt hết thì nó sẽ không còn là đặc biệt nữa. Đó là bí quyết để giữ gìn một liên hệ tình cảm, mà cũng là bí quyết của sự sống. Kể cả khi buộc phải sống chung với nhau liên tục, như thời gian giãn cách xã hội trong trận đại dịch, thì ta vẫn có cách để hạn chế sự tương tác không cần thiết với nhau. Chỉ cần nhìn nhau và mỉm cười là đủ. Dành năng lượng tốt nhất để khi gặp nhau là chỉ tặng nhau toàn là hoa, chứ không có rác.
Tiếc thay, con người đã dần quên bí quyết sống này, cả đời cứ lao theo những ham muốn vô độ của mình. Bỏ hình, bắt bóng. Những gì đang có, rất thật, thì không chịu tận hưởng, mà lại tất tả đi tìm những thứ chưa có hoặc sẽ không bao giờ có. Mà, sở dĩ con người cứ sống ngược đời như vậy là vì con người đã để cho phần "con" dẫn dắt phần "người", nỗi sợ và tham lam đã chiến thắng bình yên và sáng suốt. Do đó, có hai cách để giúp con người thay đổi lại thái độ sống của mình. Một là, tập trung toàn lực để luyện tập làm sao cho phần "người" làm chủ được phần "con". Hai là, chọn một lối sống an toàn và có nhiều cơ hội để hạnh phúc hơn, đó chính là lối sống tối giản - "quý hồ tinh bất quý hồ đa".
Ít mới quý. Ít, là để mỗi giây phút trở nên đặc biệt

Để lựa chọn được cán bộ xứng tầm, có tài ở cấp huyện hoặc tương đương trở lên


Muốn lựa chọn được cán bộ có “tầm”, bản thân cán bộ đó phải kinh qua cơ sở. Bí thư phải kinh qua các chức vụ như: Trưởng phòng, phó chủ tịch hay chủ tịch. Qua đó thể hiện tầm suy nghĩ, tư duy của mình, trong đầu phải có chiến lược. Không nên “bỗng dưng mà lên” mà phải có chương trình, kế hoạch.
Bầu huyện ủy, tỉnh ủy xong, khi bầu bí thư thì dứt khoát người đó phải trình bày phương án nếu làm bí thư tôi sẽ làm gì để mọi người đánh giá tầm suy nghĩ của anh. Tầm suy nghĩ phù hợp sẽ làm cho huyện phát triển, tỉnh phát triển.
Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của nhân dân. Đoàn kết toàn dân thì sức mạnh lớn như nước. Những việc có hại cho dân dù một tý cũng dứt khoát phải tránh. Như thế phải có tầm nhìn và nhân cách.
Đã làm đến chức đó mà cái gì cũng vơ vét, tí ti cũng vét, cái gì cũng “ăn” là không còn nhân cách. Không còn nhân cách gần dân làm sao được.


Từ thắng lợi của chống dịch COVID- 19, Việt Nam phát huy hơn nữa sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc



Đảng ta từ khi thành lập và trong xuốt quá trình lãnh đạo luôn xác định: Vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc là nhiệm vụ chiến lược, cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta. Điều đó  được thể hiện trong Chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt của Đảng năm 1930, với  mục tiêu của cách mạng Việt nam là thực hiện cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ, nhân quyền và tiến lên XHCN. Kế thừa, phát huy, phát triển văn kiện đầu tiên của Đảng ở văn kiện nghị quyết các kỳ đại hội của Đảng tiếp theo đều thể hiện rõ là thực hiện vấn đề dân tộc là mục tiêu của cách mạng Việt Nam, là nhiệm vụ chiến lược, cơ bản, lâu dài. Như vậy để cách mạng XHCN của chúng ta thành công phải thực hiện tốt  vấn đề dân tộc, phải giải phóng dân tộc,  muốn giải phóng dân tộc phải giải phóng con người. Vì vậy phải là một quá trình lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta.
Trong thời gian vừa qua, chúng ta đã thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Tôn trọng lợi ích, truyền thống, văn hóa, ngôn ngữ, tập quán tín ngưỡng của các dân tộc. Chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, kỳ thị và chia rẽ dân tộc. Với mục tiêu cuối cùng là: các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội
Trải qua các kỳ đại hội, Đảng ta luôn nhất quán chủ trương, nguyên tắc trong đường lối, chính sách dân tộc, đó là xây dựng khối đoàn kết, bình đẳng giữa cộng đồng các tộc người, phát triển toàn diện về kinh tế- chính trị- xã hội, bảo đảm các quyền và tiếp cận các quyền của đồng bào DTTS trên các lĩnh vực.
Đặc biệt trong thời gian vừa qua,  các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc. Các dân tộc luôn bình đẳng: Bình đẳng trong giải quyết các mối quan hệ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá v.v…; Các dân tộc đoàn kêt: Đoàn kết trong xây dựng và thực hiện quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước; Các dân tộc tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau cùng phát triển: Dân tộc  mạnh giúp dân tộc yếu, cùng nhau phát triển vì lợi ích chung. Đặc biệt các dân tộc luôn đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc, làm thất bại âm mưu phá hoại kẻ thù.
Những vấn đề trên đã được chứng minh qua nhiều thành tựu, từng giai đoạn lịch sử, đặc biệt qua chống dịch COVID- 19 vừa qua, nếu các dân tộc không đoàn kết đồng lòng sẽ rất khó thắng được đại dịch (minh chứng là hiện nay đã gần 12 triệu người trên thế giới mắc dương tính với dịch COVID- 19, trong đó đã có hơn 500.000 người chết vì đại dịch.
Để phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, trong thời gian tới, Đảng và Nhà nước ta cần thực hiện tốt hơn nữa công tác dân tộc, nhát là vùng đồng bào dân tộc, tập trung thực hiện tốt các vấn đề sau:
 Phát triển toàn diện chính trị,  kinh tế, văn hoá, xã hội và an ninh- quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, quốc phòng- an ninh
Về chính trị: Mở rộng, phát huy dân chủ, nâng cao chất lượng tham kiến về chính trị đối với đồng bào các dân tộc thiểu số.
Về kinh tế: Quy hoạch lại các điểm dân cư phân tán tại địa bàn Miền núi, đồng bào dân tộc. Nghiên cứu cơ chế quản lý liên kết hợp tác phát triển vùng phù hợp, tạo điều kiện phát triển các khu vực, địa bàn còn nhiều khó khăn, nhất là miền núi, biên giới hải đảo, Tây bắc, Tây nguyên, Tây Nam bộ và  phía tây các tỉnh miền trung.
Về văn hoá- xã hội: Quan tâm phát triển giáo dục dạy nghề trong đồng bào dân tộc thiểu số và các vùng khó khăn. Đẩy mạnh giảm nghèo bền vững, nhất là các vùng đặc biệt khó khăn và có chính sách đặc thù để giảm nghèo nhanh hơn trong đồng bào DTTS. Hoàn thiện mạng lưới cơ sở y tế, nhất là miền núi, biên giới, hải đảo. Tăng cường nhân lực y tế cho khu vực nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo. Phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, giữ gìn bản sắc tốt đẹp của các dân tộc. Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Kịp thời di dời đồng bào ra khỏi khu vực sạt lở, lũ lụt. Tăng cường bảo vệ và phát triển rừng bền vững, nhất là rừng phòng hộ, ven biển, rừng đầu nguồn, rừng đặc dụng; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thuỷ sản. Xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Giữ gìn và phát huy truyền thống, tập quán tốt đẹp của làng quê Việt Nam.
Về quốc phòng- An ninh: Kết hợp tốt nhiệm vụ QP-AN với nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội trong các khu vực phòng thủ, phải bảo đảm yêu cầu về QP-AN nhất là ở những vị trí trọng yếu, chiến lược. Xây dựng đường tuần tra biên giới. Nâng cao hiệu quả hoạt động các khu kinh tế- quốc phòng và phát triển bền vững kinh tế- xã hội khu vực dọc biên giới và biển đảo.
Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế, xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo.
Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế, xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo. Ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước, tín dụng ưu đãi và huy động các nguồn lực ngoài nhà nước để đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế- xã hội. Đẩy mạnh tạo nghề với các hình thức đa dạng, phù hợp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn, miền núi. Tập trung giải quyết tình trạng du canh, du cư, di dân tự do. Khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái. Phát huy nội lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước.
Để thực hiện tốt quan điểm trên, chúng ta cần đồng bộ thực hiện tốt các giải pháp sau:
Thứ nhất, cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho các cấp, các ngành và toàn xã hội về công tác dân tộc trong thời kỳ mới
 Cần làm chuyển biến nhận thức về công tác dân tộc cho đội ngũ cán bộ các cấp, các ngành, nhất là cán bộ địa phương vùng dân tộc. Trang bị kiến thức về công tác dân tộc cho cán bộ công tác ở vùng dân tộc. Nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của toàn dân về công tác dân tộc, đặc biệt là nhận thức, ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền lợi công dân cho đồng bào DTTS (không nghe theo kẻ xấu, không tham gia bạo loạn, biểu tình, chống chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, tự ti, dân tộc cực đoan,...)
   Thứ hai, thực hiện tốt chính sách dân tộc, nâng cao đời sống cho đồng bào DTTS
      Phát triển kinh tế , hạ tầng KT - XH ở vùng dân tộc. Ưu tiên giảm nghèo, hạn chế bất bình đẳng, phân hóa giàu nghèo.  Giải quyết vấn đề thiếu đất và những vấn đề bức xúc của đồng bào. Nâng cao chất lượng giáo dục, y tế, phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm, thực hiện chính sách an sinh xã hội (không để đồng bào đói, khát); cải thiện đời sống văn hóa, tinh thần cho đồng bào DTTS. Bảo vệ môi trường (bảo vệ rừng, nguồn nước, vệ sinh)
Thứ ba, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch
Đấu tranh chống xuyên tạc lịch sử các vùng đất, biên giới (nhất là vùng Tây Nam bộ); Xuyên tạc chính sách dân tộc của Đảng, nhà nước ta (vu cáo VN phân biệt đối xử, ngược đãi các DTTS); Đòi công nhận một số dân tộc thiểu số là người dân bản địa (đòi hưởng các quyền của dân tộc bản địa); Xuyên tạc chính sách tôn giáo, nhân quyền ở vùng dân tộc (ngăn cấm tôn giáo, vi phạm nhân quyền)
Thứ tư, làm tốt công tác xây dựng Đảng, phát triển đội ngũ cán bộ là người DTTS
 Có chính sách ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ là người DTTS. Kiện toàn và chăm lo xây dựng hệ thống tổ chức cơ quan làm công tác dân tộc; tăng cường số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc. Đổi mới phong cách, phương thức công tác dân vận, dân tộc.
Thứ năm, Xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, phát huy sức mạnh tổng hợp, chủ động đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, để chống phá cách mạng nước ta
Làm rõ âm mưu, thủ đoạn của địch; chống tư tưởng chủ quan, mơ hồ, mất cảnh giác, bị động. Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của địch lợi dụng vấn đề dân tộc. Củng cố thế trận QP toàn dân, an ninh nhân dân trên địa bàn xung yếu, vùng trọng điểm về QP&AN
Thứ sáu, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước trong công tác dân tộc
Tăng cường công tác xây dựng Đảng, nâng cao trách nhiệm của các cấp ủy trong công tác dân tộc. Xây dựng chính quyền, nhất là cơ sở vững mạnh. Xây dựng và thực hiện có hiệu quả chính sách dân tộc. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra. Vận động đồng bào thực hiện tốt chính sách, pháp luật, công tác dân tộc; tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững chắc

Các dân tộc Việt Nam cư trú đan xen nhưng không có mâu thuẫn, xung đột



 Các dân tộc ở Việt Nam hiện nay cư trú đan xen, các dân tộc không sống quần cư, thành khu vực biệt lập, tuy nhiên các dân tộc rất đoàn kết, không sảy ra mâu thuẫn. Hiện nay, hầu như không có một đơn vị hành chính (xã, huyện, tỉnh), nào ở vùng dân tộc thiểu số chỉ có một dân tộc cư trú. Các dân tộc ở đan xen lẫn nhau, không có khu tự trị riêng (Trung quốc có khu tự trị). Việc cư trú đan xen giữa các dân tộc, tạo điều kiện để các dân tộc giao lưu phát triển kinh tế- xã hội, bảo đảm quốc phòng an ninh. Tuy nhiên cũng rất dễ nảy sinh các vấn đề như mất ngôn ngữ, văn hoá, phân hoá giàu nghèo, tranh chấp đất đai, tài nguyên, gia tăng các tệ nạn xã hội, tiềm ẩn xung đột dân tộc. Thấy được đặc điểm đó, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã thực hiện rất tốt chính sách dân tộc, đặc biệt luôn trú trọng thực hiện tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, không ngừng nâng cao nhận thức, trách nhiệm giữa các dân tộc, đồng thời luôn tạo điều kiện để các dân tộc giao lưu văn hóa, kinh tế, xã hội, học hỏi chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau. Chính vì vậy các năm qua, các dân tộc Việt Nam luôn gắn bó keo sơn, một lòng vì Đảng, vì dân tộc, không có mâu thuẫn xung đột dân tộc, xung đột sắc tộc.

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc nhưng rất đoàn kết



 Gần đây các thế lực thù địch có nhiều chiêu bài nói xấu Đảng, Nhà nước ta, trong đó chúng cho rằng do Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, phần lớn các tộc người di cư từ nơi khác đến cho nên mang tâm lý, bản sắc văn hóa khác nhau, cùng với sự không quan tâm đến chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước Việt Nam nên ở Việt Nam các dân tộc luôn mâu thuẫn, xung đột với nhau, đặc biệt là dân tộc Kinh với các dân tộc thiểu số. Tuy nhiên những lời lẽ trên là hoàn toàn bịa đặt, không đúng sự thật, cần phải lên án kịch liệt. Trái lại, Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thành lập cho đến nay luôn xác định: Vấn đề dân tộc, đoàn kết dân tộc là nhiệm vụ chiến lược, cơ bản, lâu dài của cách mạng Việt Nam. Thực hiện chính sách dân tộc, làm cho các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, cùng nhau phát triển là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị và toàn thể dân tộc Việt Nam.
Hiện nay ở Việt Nam có 54 thành phần dân tộc, dân tộc Kinh và 53 dân tộc thiểu số, dân tộc kinh là dân tộc đa số. Trong đó một số dân tộc có nguồn gốc tại chỗ, một số dân tộc di cư từ Trung Quốc, Lào và Cam Phu Chia (tại chỗ có dân tộc Việt, còn gọi là dân tộc Kinh; dân tộc Mường, còn gọi là Việt - Mường. Di cư từ Trung Quốc như dân tộc Thái, Hoa, Cao Lan, HMông, Sán Chỉ, Giáy v.v..., dân tộc HMông, Cao Lan, Sán chỉ và Giáy di cư đến Việt Nam khoảng 300 năm trước;  từ Lào có dân tộc Chăm; từ Camphuchia có dân tộc Kheme v.v...). Trong thời kỳ hội nhập có một số dân tộc từ các nước khác như: Triều Tiên, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ, Châu Âu, Châu Mỹ sang làm việc, sinh sống tại Việt Nam…
Tuy là quốc gia đa dân tộc nhưng đoàn kết đã trở thành truyền thống, thành sức mạnh và là nền móng để xây dựng một quốc gia dân tộc bền vững xuyên suốt mọi thời kỳ lịch sử (sự tích 100 trứng, 50 người con theo mẹ lên núi, 50 người con theo cha xuống biển, thể hiện: Con giồng, cháu tiên, cùng xuất thân từ một bào thai - Hồng bào, nên có hai chữ: đồng bào, nghe vừa gần gũi, vừa thân thương,  bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn, hoặc tình làng nghĩa nước, nước mất, nhà tan; tướng sỹ một lòng phụ tử hoà nước sông chén rượu ngọt ngào, lá lành đùm lá rách.
Dân tộc Việt Nam đoàn kết, được xuất phát từ các lý do là: Từ yêu cầu của công cuộc chinh phục thiên nhiên, đấu tranh chống giặc ngoại xâm; Các dân tộc Việt Nam có lòng yêu nước nồng nàn, yêu chuộng hoà bình và giàu lòng nhân ái vị tha. Đặc biệt ngay sau khi thống nhất đất nước (năm 1975), dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, các dân tộc Việt Nam cùng đồng lòng, đồng sức chung tay xây dựng chủ nghĩa xã hội – một chế độ xã hội có nền tảng tư tưởng tiến bộ là chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, với một chế độ dân chủ thực sự vì quyền lợi vì quyền làm chủ của nhân dân, vì quyền con người thực sự. Từ bản chất tốt đẹp của chế độ; từ bản sắc văn hóa truyền thống đoàn kết, yêu nước, nhân ái cho nên, các dân tộc Việt Nam rất đoàn kết, kể cả những lúc khó khăn gian lao (thời kỳ chiến tranh), cho đến thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước, cho nên nhiệm vụ nào cùng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Qua chống dịch COVID- 19 vừa qua đã minh chứng điều đó. Từ những yếu tố trên có thể khẳng định rằng, 54 dân tộc Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một dân tộc đoàn kết, yêu nước, chứ không như những lời bịa đặt của các thế lực cho rằng các dân tộc Việt Nam không đoàn kết, luôn mâu thuẫn, xung đột.

Chính sách dân tộc của Đảng ta đã được kiểm chứng qua chống dịch COVID 19



Đảng ta luôn xác định: Dân tộc và đoàn kết dân tộc là nhiệm vụ chiến lược, cơ bản, lâu dài của cách mạng Vieẹt Nam. Trong cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, Đảng ta xác định: Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Tôn trọng lợi ích, truyền thống, văn hóa, ngôn ngữ, tập quán tín ngưỡng của các dân tộc. Chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, kỳ thị và chia rẽ dân tộc”[1]. Mục tiêu cuối cùng của cách mạng là: các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng thành công CNXH.
Trải qua các kỳ đại hội, Đảng ta luôn nhất quán chủ trương, nguyên tắc trong đường lối, chính sách dân tộc, đó là xây dựng khối đoàn kết, bình đẳng giữa cộng đồng các tộc người, phát triển toàn diện về kinh tế- chính trị- xã hội, bảo đảm các quyền và tiếp cận các quyền của đồng bào DTTS trên các lĩnh vực. Đặc biệt Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng của nước ta. Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng có đông đồng bào DTTS, nhất là các vùng Tây Bắc, Tây nguyên, Tây Nam bộ, Duyên Hải Miền trung.”
Do làm tốt công tác dân tộc, cho đến nay qua chống dịch COVID- 19, chúng ta đã phát huy được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; các dân tộc, các tầng lớp, các tổ chức chung sức, chung long, hỗ trợ lẫn nhau trong chống dịch và chúng ta đã chống dịch thành công.


[1] ĐCSVN, Cương lĩnh xây dựng đát nước trong thời ký quá độ lên CNXH, NXB Sự thật Hà Nội 1991,tr16.

Vấn đề dân tộc là nhiệm vụ cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam



Đảng ta từ khi ra đời cho đến nay luôn xác định: Vấn đề dân tộc là nhiệm vụ chiến lược, cơ bản, lâu dài của cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên trong tình hình hiện nay, vấn đề dân tộc cũng được xác định là nhiệm vụ cấp bách hiện nay, điều đó được xuất phát từ những lý do sau:
Xuất phát từ tình hình dân tộc và xu thế dân tộc trên thế giới hiện nay 
 Độc lập dân tộc gắn với chủ quyền quốc gia vẫn là xu thế của thế giới. Mỗi quốc gia dân tộc dù lớn hay nhỏ, đều cố gắng khẳng định giá trị dân tộc như quyền tự quyết định chế độ xã hội, kinh tế, đường lối phát triển đất nước, khẳng định sự bình đẳng giữa các quốc gia trong sinh hoạt quốc tế. Lợi ích quốc gia được các nước đặt lên hàng đầu trong các hoạt động đối ngoại. Chính phủ các nước đều coi trọng việc xác lập, bảo vệ và củng cố các giá trị truyền thống, bản sắc dân tộc, thực thi nhiều chính sách phát triển kinh tế- xã hội tích cực, cố gắng tạo lập sự hài hoà lãnh thổ, vùng miền, sắc tộc nhằm hướng tới sự đồng thuận, gắn kết quốc gia. Về mặt đối ngoại, ranh giới ý thức hệ, tôn giáo, lý tưởng cùng chung chế độ xã hội không còn nhiều ý nghĩa mà thay vào đó là các điểm tương đồng về lợi ích quốc gia dân tộc và được xem là cơ sở để lựa chọn và xây dựng các mối quan hệ song phương, đa phương. Lợi ích quốc gia dân tộc đôi khi được đánh đổi bằng các cuộc chiến tranh xâm lược hay các cuộc đàn áp đối phương.
 Trên thế giới hiện nay, do không giải quyết tốt vấn đề dân tộc cho nên xung đột dân tộc, sắc tộc, ly khai dân tộc, chủ nghĩa dân tộc cực đoan, dân tộc cường quyền gia tăng (Nửa cuối thế kỷ 20 có hơn 300 cuộc xung đột, bạo loạn dân tộc, điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh, chính trị các quốc gia dân tộc, trong đó có Việt nam.
 Xuất phát từ những hạn chế, bất cập của công tác dân tộc hiện nay, và sự chống phá của các thế lực thù địch
Trong đó nổi bật là trình độ, mức sống ở một số đồng bào dân tộc thiểu số còn thấp với các điều kiện ăn ở, sinh hoạt khó khăn. Điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến niềm tin vào Đảng, vào chế độ  xã hội chủ nghĩa của đồng bào dân tộc thieur số
 Các thế lực thù địch lợi dụng “dân tộc’, “tôn giáo” ‘dân chủ”, “nhân quyền” tuyên truyền, kích động chống phá sự nghiệp cách mạng.
Lợi dụng đời sống đồng bào DTTS còn có khó khăn; trình độ học vấn một số đồng bào DTTS còn thấp; đồng thời chúng lợi dụng một số hạn chế, yếu kém trong quản lý xã hội của Đảng, Nhà nước để nói xấu, kích động chia rẽ, xây dựng lực lượng từ bên trong; khi lực lượng bên trong mạnh sẽ nổi dạy từ bên trong, kết hợp với can thiệp bên ngoài để lật đổ chính quyền.
Từ những vấn đề trên, trong Mục XII: Phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc (Trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khoá XI về các Văn kiện Đại hội XII của Đảng, (Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, tr 164)[1], xác định: Tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hoà quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội vùng có đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là các vùng Tây Bắc, Tây nguyên, Tây Nam Bộ, Tây Duyên hải Miền Trung. Nâng cao chất lượng giáo dục- đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực và chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, người tiêu biểu có uy tín trong cộng đồng các dân tộc. Tăng cường kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện các chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở các cấp. Chống kỳ thị dân tộc; nghiêm trị những âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc.


[1] Văn kiên Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, tr 164.

Vấn đề dân tộc là nhiệm vụ chiến lược cơ bản, lâu dài, của cách mạng Việt Nam



Đảng cộng sản Việt Nam từ khi ra đời cho đến nay luôn xác định: Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là nhiệm vụ chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam.
Theo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lê nin: Để thực hiện công cuộc giải phóng dân tộc và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, các dân tộc phải bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau. Trong cương lĩnh dân tộc của Lê nin xác định: Để thực hiện thành công mục tiêu cách mạng XHCN, các tộc người trong quốc gia dân tộc hay các dân tộc trên thế giới đều có quyền bình đẳng, tự quyết, đoàn kết tương trợ giúp nhau, cùng nhau phát triển . Đó là quyền thiêng liêng của các dân tộc, không phân biệt đó là dân tộc thiểu số hay đa số, trình độ phát triển cao hay thấp. Quyền đó phải được pháp luật bảo vệ và thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Tuy nhiên, do quá trình hình thành và điều kiện tự nhiên, các dân tộc có quá trình hình thành, điều kiện tự nhiên khác nhau dẫn tới  trình độ khác nhau, để các dân tộc có trình độ phát triển như nhau đáp ứng được quyền bình đẳng, quyền tự quyết của mình, đòi hỏi phải phải trải qua một thời gian dài, với những chủ trương, chính sách phù hợp của cách mạng XHCN.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh: Vấn đề dân tộc, đoàn kết dân tộc chỉ có thể được thực hiện gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. “Muốn cứu nước, giải phóng dân tộc thì phải đi theo con đường cách mạng vô sản”. Thực hiện nguyên tắc: bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các tộc người. Phát huy được khả năng vươn lên của các dân tộc, phù hợp đặc thù của từng dân tộc, từng vùng miền. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ cán bộ các dân tộc thiểu số.
Vân dụng sáng tạo, quan điểm chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta từ khi thành lập và trong xuốt quá trình lãnh đạo luôn xác định: Vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc là nhiệm vụ chiến lược, cơ bản, lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta. Điều đó  được thể hiện trong Chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt của Đảng năm 1930, với  mục tiêu của cách mạng Việt nam là thực hiện cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ, nhân quyền và tiến lên XHCN. Kế thừa, phát huy, phát triển văn kiện đầu tiên của Đảng ở văn kiện nghị quyết các kỳ đại hội của Đảng tiếp theo đều thể hiện rõ là thực hiện vấn đề dân tộc là mục tiêu của cách mạng Việt Nam, là nhiệm vụ chiến lược, cơ bản, lâu dài. Như vậy để cách mạng XHCN của chúng ta thành công phải thực hiện tốt  vấn đề dân tộc, phải giải phóng dân tộc,  muốn giải phóng dân tộc phải giải phóng con người. Vì vậy phải là một quá trình lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta.

Chủ nghĩa Đế quốc và các thế lực thù địch ra sức chống phá chính sách dân tộc của Việt Nam



Trong tình hình hiện nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hoà bình” chống cách mạng Việt Nam với phương châm lấy chống phá về chính trị, tư tưởng làm hàng đầu, kinh tế là mũi nhọn, ngoại giao làm hậu thuẫn, tôn giáo dân tộc làm ngòi nổ, kết hợp với bạo loạn lật đổ, uy hiếp, răn đe, gây sức ép về quân sự. Vì vậy hơn lúc nào hết, chúng ta phải thực hiện tốt chính sách dân tộc, không ngừng nang cao mức sống đồng bào, nhất là đồng bào vùng dân tộc, vùng sâu, vùng biên giới, vùng hải đảo…Chúng ta phải giải quyết tốt các mối quan hệ: Quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với các dân tộc; quan hệ giữa dân tộc Kinh với dân tộc thiểu số; quan hệ giữa nội bộ các dân tộc thiểu số với nhau; quan hệ trong nội bộ dân tộc thiểu số; quan hệ giữa nhân dân vùng biên giới với nhân dân nước bạn. Để thực hiện tốt các mối quan hệ này, cần làm tốt công tác giáo dục, nâng cao nhận thức cho toàn dân, nhất là các dân tộc thiểu số về vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước; tăng cường công tác cán bộ, nhất là vùng dân tộc thiểu số; đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội, nâng cao mức sống của nhân dân, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các dân tộc. Nâng cao nhận thức của nhân dân về sự lợi dụng dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền của kẻ thù để chống phá cách mạng nước ta.

Việt Nam thực hiện tốt chính sách dân tộc vùng dân tộc thiểu số



Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa tín ngưỡng, tôn giáo, đồng bào các dân tộc đoàn kết, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong quá trình dựng nước, giữ nước và xây dựng CNXH. Ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn xác định thực hiện vấn đề dân tộc, tôn giáo có vị trí chiến lược quan trọng, lâu dài đối với cách mạng nước ta.
Từ quan điểm của Đảng, chinh sách dân tộc của Nhà nước, trong thời gian qua, công tác dân tộc của Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, được biểu hiện:
 Quyền tự quyết, bình đẳng giữa các dân tộc được đảm bảo
 Các dân tộc luôn được bảo đảm quyền bình đẳng trên các lĩnh vực, quyền bình đẳng về chính trị của đồng bào dân tộc thiểu số từng bước được nâng cao.
Số lượng đại biểu là người dân tộc thiểu số trong các khoá quốc hội luôn chiếm tỷ lệ cao hơn so với người dân tộc thiểu số của cả nước. ở địa phương, người dân tộc thiểu số cũng chiếm tỷ lệ cao hơn trong tham gia hội đồng nhân dân. Nhiều người dân tộc thiểu số đã và đang giữ những chức vụ quan trọng trong các cơ quan lãnh đạo, các cơ quan quyền lực của đất nước. Có 86 đại biểu quốc hội Khoa XIV là người dân tộc thiểu số, chiếm 17,4% đại biểu quốc hội cả nước; Đại biểu trong hội đồng nhân dân các cấp khoảng 20%; Nhiều lãnh đạo Đảng, Nhà nước người dân tộc thiểu số như Tổng Bí thư; ủy viên Bộ chính trị, Ban Bí thư, ủy viên Trung ương Đảng; Chủ tịch quốc hội; Phó Chủ tich quốc hội; Bộ trưởng; Bí thư tỉnh; Chủ tịch Tỉnh...
 Đời sống đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng được cải thiện
Hạn chế gia tăng khoảng cách giàu nghèo, chênh lệch phát triển giữa các dân tộc, các vùng dân tộc. Tỷ lệ hộ nghèo trong vùng dân tộc giảm bình quân 3% năm. Bộ mặt vùng dân tộc miền núi, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội vùng dân tộc thay đổi rõ rệt (điện, đường, trường, trạm).
 Hệ thống chính trị vùng dân tộc ngày càng vững chắc
Có nhiều cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học. Năng lực, trình độ cán bộ xã, phường ngày càng nâng cao, phát triển đảng người dân tộc được trú trọng, Hoạt động của cấp uỷ, chính quyền, mặt trận và đoàn thể ở nhiều nơi đạt hiệu quả.
Với những thành tựu trên, hiện nay các dân tộc thiểu số luôn vững tin ở Đảng, Nhà nước, đoàn kết một lòng chung tay xây dựng quê hương, đất nước, tích cực đấu tranh với các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, hòng chia rẽ khối đoàn kết toàn dân tộc của Việt Nam.

Bao biện cho hành vi phạm tội là những kẻ độc ác


Trước việc Cơ quan Cảnh sát điều tra CATP Hà Nội ban hành Kết luận điều tra, sau đó là quyết định truy tố 25 kẻ tấn công các chiến sỹ công an ở Đồng Tâm khiến 3 chiến sỹ hy sinh gần đây đang được những kẻ nhân danh “đấu tranh dân chủ” đốt nóng trở lại nhằm xuyên tạc và phủ nhận cáo trạng đối với nhóm tội phạm nguy hiểm này.
Chúng tiếp tục đánh tráo bản chất vụ việc, xưng xưng cho rằng Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an TP. Hà Nội không có thẩm quyền khởi tố, điều tra hình sự đối với vụ án Đồng Tâm cũng như ban hành kết luận điều tra. Chúng chỉ trích bản kết luận điều tra và đề nghị truy tố 25 người cùng với tội danh giết người tại Điều 123 của Bộ luật Hình sự là mang tính “áp đặt và quy chụp”. Thậm chí, “Hội những người cầm bút can đảm” đăng đơn kiếu nại để “đòi công lý” cho Lê Đình Kình và đồng bọn, xuyên tạc Cơ quan Điều tra cố tình tạo dựng sai án để vu khống người dân Đồng Tâm, che đậy việc “giết người vô tội”.
Chúng cũng lật lại diễn biến vụ chiếm đất quốc phòng (dự án sân bay Miếu Môn), vu cáo chính quyền dùng truyền thông tuyên truyền bóp méo sự thật sự việc diễn ra tại Đồng Tâm là lừa dối nhân dân Việt Nam ở trong và ngoài nước, lừa dối quốc tế, khăng khăng phủ nhận chính quyền thu hồi đất nông nghiệp và khu vực xung quanh phục vụ xây dựng sân bay Miếu Môn là vi phạm “quyền chiếm hữu và sử dụng đất của người dân Đồng Tâm là có từ hàng trăm năm trước, bất kỳ 1 chế độ, chính thể nào muốn lấy đất của người dân Đồng Tâm vì bất cứ mục đích gì thì phải có sự thương lượng, trao đổi. Không được vô cớ sử dụng quyền lực chính trị để hợp pháp hóa hành vi ăn cướp”.
Chúng cũng lật ngược vụ tấn công, giết hại các chiến sỹ công an một cách có chủ ý, chủ động của băng nhóm Lê Đình Kinh thành vu cáo chính quyền huy động lực lượng vũ trang trên một ngàn người tấn công vào dân thường, giết hại dân thường lúc đêm khuya là một tội ác, băng nhóm Lê Đình Kình có “quyền phòng vệ chính đáng”, cái chết của 3 chiến sỹ cơ động là do chính tội ác của chính quyền gây ra; chính quyền “giết hại cụ Lê Đình Kình, bắn trọng thương anh Lê Đình Chức, Bùi Viết Hiểu là phạm tội ác chống lại loài người”; “Việc không cho các luật sư gặp gỡ, bảo vệ các thân chủ của họ trong suốt quá trình điều tra là hành động cố tình ép cung, nhục hình nhằm che đậy tội ác”….
Thậm chí chúng gán ghép việc bắt giữ nhóm khiếu kiện Dương Nội là mẹ con Cấn Thị Thêu, Dương Thị Tâm là “làm sạch địa bàn” trước sự kiện Đại hội 13”, mục đích trực tiếp là bắt giữ những người đưa tin về Đồng Tâm để dẹp yên dư luận, chống ý kiến phản biện liên quan trực tiếp đến phiên xử 29 người dân Đồng Tâm sắp tới…
Đọc kết luận điều tra vụ án tung trên mạng cho thấy, tội ác giết người, chống người thi hành công vụ được băng nhóm Đồng Thuận của Lê Đình Kình lên kế hoạch rất rõ ràng từ khâu bàn tính, chủ mưu, mua sắm lựu đạn, vũ khí ra sao, quá trình giết người có chủ đích, quyết tâm và man rợ thế nào. Rất may số này ném ra nhiều lựu đạn (có thể do chất lượng không tốt, hoặc sử dụng không đúng kỹ thuật) nên giảm rất nhiều thương vong, chứ không thì, con số chiến sỹ cơ động hy sinh không thể dừng ở con số …3! Diễn biến vụ việc cho thấy rõ, lực lượng công an hoàn toàn bị động trước sự tấn công hung hãn, liều lĩnh của băng nhóm. Chúng có tổ chức, có mưu mô lừa lọc, dựng chuyện để kích động dân chúng Đồng Tâm đi theo một kịch bản giả tạo đòi đất nông nghiệp Đồng Sênh (Đồng Tâm) cho đến quá trình chống đối quyết liệt, vượt xa sự tưởng tượng của chính quyền, lực lượng công an ở đây.
Thế mới thấy, cái gọi là “phong trào dân chủ” kia, từ Nguyên Ngọc, Nguyễn Quang A, Huỳnh Ngọc Chênh, Mạc Văn Trang cho đến băng nhóm tay chân VOICE, Việt tân…đều là những kẻ bất chấp thủ đoạn, bất chấp liêm sỉ nhằm nuôi dưỡng, cổ vũ cho bất cứ kẻ nào miễn là dám “đối đầu” với chính quyền, càng liều lĩnh, càng bạo động, càng ác độc chúng càng tung hô, càng hưởng ứng. Những khẩu hiệu, vỏ bọc “đấu tranh dân chủ, nhân quyền”, “thúc đẩy xã hội dân sự”, “đấu tranh ôn hòa, bất bạo động”…đều là giả dối, lòe mị dân chúng, che mắt cộng đồng quốc tế mà thôi./.


Thứ Năm, 9 tháng 7, 2020

Ngày xưa- Ngày nay

Chuyện kể rằng : "Lính Mỹ nhảy dù xuống miền Bắc, thằng nào may thì gặp bộ đội, thằng nào không may thì gặp dân. Gặp bộ đội thì họ chỉ bắt rồi đem về trại giam, còn gặp dân thì họ đánh cho bố mẹ không nhận ra, thế nên ngày trước mà có nghe tin lính Mỹ nhảy dù là mấy anh bộ đội phải chạy nhanh đến hiện trường, không phải là để bắt thằng giặc mà là để bảo vệ nó khỏi đòn gánh với điếu cày của bà con". 

Mình cũng hơi nghi nghi, cho đến khi gặp mấy thằng trộm chó thì tin hẳn. Bây giờ, công an mà có nghe tin dân bắt được trộm chó thì cũng phải rảo chân đến hiện trường, không phải là để bắt trộm mà là bảo vệ thằng trộm không bị dân đánh nhừ tử. Có lắm thằng bị bà con vây đánh, thấy công an đến cứ ôm chặt chân: "Anh ơi, anh cứu em, anh cứu em!".. 

So sánh giữa phi công Mỹ - ngụy với thằng trộm chó thì cũng có phần khập khễnh. Nhưng có một điều đặc biệt giống nhau là khi bắt trộm hay bắt giặc thì chỉ một vài người bắt, nhưng khi đánh hội đồng thì bất kể già trẻ lớn bé đều nhảy vào hôi. Mỗi người một đạp, một đòn gánh, một điếu cày.... thằng trộm, thằng giặc te tua lúc nào không hay...🤓🤓🤓
Mai Năm Mới (ST)

CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRƯỚC THỀM ĐẠI HỘI ĐẢNG


Càng gần đến Đại hội XIII của Đảng, các thế lực thù địch càng đẩy mạnh tuyên truyền xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta. Vì vậy, mỗi chúng ta cần nhận diện và có biện pháp đấu tranh ngăn chặn kịp thời.

Những việc làm cần thiết để giữ gìn kỷ cương phép nước


Trong thời gian vừa qua, việc một số cán bộ bị khởi tố, bắt giam (trong đó có cả cán bộ cấp cao) được dư luận hết sức quan tâm. Đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, cho rằng đó là những việc làm cần thiết để giữ gìn kỷ cương, phép nước, tiếp tục chỉnh đốn, làm trong sạch bộ máy của Đảng và Nhà nước, cho dù, đây cũng là nỗi đau xót trong Đảng, không ai có thể vui mừng khi thấy đồng chí của mình bị xử lý như vậy.
Trong khi đó, nhân những sự việc này, nhiều đối tượng cơ hội chính trị, phản động lại “chọc gậy bánh xe”, “đục nước béo cò”, đưa ra những quan điểm lệch lạc… Họ đưa ra luận điệu, sự việc “chưa phải hồi kết”, cho rằng không có chống tham nhũng thực sự mà đây chỉ là cuộc đấu đá nội bộ rồi từ đó đồn đoán sẽ có những nhân vật nào tiếp tục bị bắt. Thậm chí, lợi dụng sự việc này, họ dựng lên cái gọi là “cuộc chiến sinh tử” của cá nhân lãnh đạo Đảng, Nhà nước để “giữ thể diện” mà thôi.
Từ câu chuyện chống tham nhũng, họ lái vấn đề sang chuyện thay đổi chế độ. Họ đồn đoán đây là cuộc chiến không khoan nhượng nhưng không phải là cuộc chiến chống tham nhũng vì gốc rễ của tham nhũng là “thể chế”. Khi thể chế chưa thay đổi thì đánh tham nhũng chỉ là “tranh giành phe phái”. Họ còn đơm đặt rằng, công luận cũng sẽ chỉ một hướng tấn công những người vi phạm pháp luật bị bắt; còn Đảng không có tính nhân văn, sẽ tìm mọi cách quy kết thật nhanh. Từ đó, họ cố tình xuyên tạc cho rằng Việt Nam không có tự do ngôn luận, rằng có một “bi kịch” tiềm ẩn rủi ro chung cho tất cả mọi người là “đều có thể là nạn nhân của một nền pháp quyền què quặt”... Họ kêu gọi mọi người hãy sớm đến với dân chủ nhân quyền,  đừng “đợi tới lúc trở thành nạn nhân mới bắt đầu nghĩ tới quyền của mình”.
Trên thực tế, điều quan trọng nhất để chống tham nhũng chính là giáo dục, răn đe, tạo ra sự chuyển biến trong toàn Đảng, toàn dân. Chỉ có bằng việc không ngừng xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính trị, giúp bộ máy Nhà nước hoạt động hiệu quả hơn để dân thêm giàu, nước thêm mạnh mới là con đường tốt nhất./.

Cuộc chiến “Chống tham nhũng” của Đảng ta ngày càng hiệu quả


Trong thời gian qua, công tác phòng chống tham nhũng của Đảng ta ngày càng được đẩy mạnh và đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, đã được các tầng lớp nhân dân đánh giá cao. Tuy nhiên, các thế lực thù địch còn bịa đặt: “Đã thỏa thuận ngầm giữa các phe nhóm”, “cuộc chiến chống tham nhũng đã bị thỏa hiệp, thoái trào”, đây là “hội nghị đốt lò” nhưng chỉ đốt được củi bé, củi to vẫn chưa được đưa vào “lò”… Trên thực tế, một số cán bộ và tổ chức đảng đã bị xử lý kỷ luật, trong đó có cả những cán bộ cao cấp, Uỷ viên TW, Uỷ viên BCT. Điều đó cho thấy, bất cứ trường hợp nào mà vi phạm kỷ luật, chúng ta phải xử lý nghiêm, làm nghiêm từ trên xuống dưới để giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng, để lấy lại và củng cố lòng tin và tình thương yêu, quý trọng của nhân dân”.
Có thể nói, đó là thông điệp rõ ràng, nhất quán, thể hiện tinh thần chiến đấu không khoan nhượng với “giặc nội xâm” của Đảng ta. Điều đó đồng nghĩa với việc làm “từ trên xuống dưới” sẽ thường xuyên hơn, kiên quyết hơn, không có vùng cấm. Hoàn toàn không có chuyện “thỏa hiệp”, “không hồi tố”, xử lý tham nhũng kiểu “đầu voi đuôi chuột” như thông tin bóp méo.
Những vấn đề trên phần nào đã khẳng định, cuộc chiến chống tham nhũng dưới sự lãnh đạo của Đảng ta không hề thoái trào mà ngày càng mạnh hơn, hiệu quả hơn. Hiệu quả của cuộc chiến này không chỉ nhằm ở chỗ xử lý được bao nhiêu cán bộ vi phạm mà quan trọng hơn là giúp nhiều người thắng được kẻ địch trong lòng, quan trọng là để mỗi người chúng ta giác ngộ, thấy ra để tiến lên./.

Phòng ngừa, đấu tranh với lợi dụng không gian mạng đưa thông tin xấu độc, giả mạo chống phá mạng cách mạng Việt Nam


Thông tin xấu độc, giả mạo trên không gian mạng gây tác động tiêu cực đến dư luận xã hội, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ; ảnh hưởng xấu đến đạo đức, lối sống, nhân cách của cá nhân, cộng đồng và văn hóa dân tộc. Do vậy, cần vạch trần những thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu lợi dụng không gian mạng đưa thông tin xấu độc, giả mạo trên không gian mạng, qua đó, đề xuất các biện pháp chủ động phòng ngừa, đấu tranh, góp phần vào cuộc đấu tranh chống âm mưu diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ, tự diễn biếntự chuyển hóa của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam.
Những lợi ích từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (cách mạng công nghiệp 4.0) mang lại như: Trí tuệ nhân tạo, công nghệ nano, thực tế ảo, tương tác thực tại ảo, mạng xã hội, điện toán đám mây, công nghệ sinh học phân tửin 3D... đã và đang làm biến đổi toàn diện các mặt của quan hệ sản xuất xã hội truyền thống, được biểu hiện từ quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chức quản lý đến phân phối sản phẩm và từ quản lý, quản trị truyền thống sang quản lý số. Con người tương tác, kết nối, chia sẻ thông tin với nhau và gắn kết, tích hợp với vạn vật qua mạng Iternet (IoT), các hệ thống kết nối Internet (IoS). Các quốc gia đang từng bước xây dựng thành phố “thông minh”, “chính quyền điện tử”, cách mạng công nghiệp 4.0 càng phát triển thì chúng ta càng phụ thuộc nhiều vào hạ tầng công nghệ. Mối quan hệ giữa bảo vệ bí mật nhà nước và bí mật dữ liệu cá nhân với tính tiện ích, đơn giản, chia sẻ của cách mạng công nghiệp 4.0 càng mâu thuẫn, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội đứng trước nguy cơ bị đe dọa, đặc biệt là các loại tội phạm phi truyền thống sử dụng không gian mạng để đưa những thông tin xấu độc, giả mạo lên các trang mạng xã hội không những tác động, phủ nhận bản chất của báo chí cách mạng mà còn tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh văn hóa, an ninh xã hội, an ninh trật tự của đất nước, tác động đến niềm tin, tình cảm của các giai tầng xã hội vào chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Trong tình hình hiện nay, khi lĩnh vực truyền thông được hưởng lợi ích từ cách mạng công nghiệp 4.0 thì nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, lại bị tác động không mong muốn, ngoài sự kiểm soát bởi “lợi ích phi truyền thống” từ truyền thông đưa lại. Cụ thể, các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu đã, đang tiếp tục triệt để lợi dụng, khai thác tính lan tỏa nhằm thực hiện “cuộc cách mạng truyền thông” đưa các thông tin xấu độc, giả mạo, những hình ảnh khiêu dâm, kích động bạo lực, kêu gọi hình thành các hội nhóm trái phép, lực lượng chính trị đối lập hoạt động đối trọng với Đảng; tuyên truyền lối sống thực dụng phương Tây, hưởng thụ, kích động hận thù dân tộc; bôi nhọ uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, mục tiêu làm chuyển biến, thay đổi nhận thức chính trị, không phân biệt được thông tin thật và giả, dần dần tin vào những thông tin giả mạo, xấu độc dẫn đến mất niềm tin vào cuộc sống, xa rời sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước. Thủ đoạn phổ biến của chúng là:
Thứ nhất, lợi dụng trang thông tin điện tử, mạng xã hội để đăng tải, đưa các thông tin sai sự thật hoặc các thông tin có phần đúng nhưng sai lệch về bản chất thông tin trên các trang mạng xã hội để đánh lừa người đọc, làm người đọc lầm tưởng là thông tin chính thống để đăng nhập, chia sẻ trạng thái, bình luận gây hiệu ứng tâm lý xã hội trước những vấn đề có tính thời sự của đất nước. Khi đã thu hút được sự quan tâm, theo dõi của người đọc thì các thế lực thù địch, bọn phản động và phần tử xấu sẽ đưa vào những thông tin giả mạo, xấu độc, lồng ghép với các nội dung chống Đảng, Nhà nước, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối phát triển kinh tế của đất nước, làm người đọc không phân biệt được những thông tin thật - giả, gây hoang mang, tiềm ẩn nguy cơ gây bất ổn về an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.
Thứ hai, lợi dụng tiện ích từ cách mạng công nghiệp 4.0, trong đó tập trung khai thác tính lan tỏa, tương tác, chia sẻ, ẩn danh trên không gian mạng của website, trang thông tin điện tử, mạng xã hội để tán phát thông tin giả mạo, xấu độc, gắn với việc đưa thông tin bí mật đời tư, bí mật cá nhân, bài viết hồi ký của các đồng chí lãnh đạo cao cấp, sau đó đưa ra nhận xét, phân tích, bình luận nhạy cảm để tác động đến niềm tin của người đọc, từng bước phủ nhận, gây hoài nghi về lịch sử, truyền thống đoàn kết của dân tộc Việt Nam, tinh thần độc lập, tự chủ... nhằm tuyên truyền đề cao chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa cá nhân, cổ súy cho xã hội dân sự, lối sống thực dụng phương Tây, thúc đẩy đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, tạo dựng ngọn cờ “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”.
Thứ ba, lợi dụng tiến bộ khoa học của cách mạng công nghiệp 4.0, ứng dụng miễn phí trong các trang mạng xã hội để chia sẻ trạng thái, kết bạn, quản lý nhóm bạn bè trên không gian mạng. Từ đó, đưa thông tin xấu độc, thông tin thật, giả lẫn lộn nhằm tuyên truyền, gây hoài nghi trong xã hội, tác động đến tư tưởng, tình cảm, đạo đức của cán bộ, đảng viên và nhân dân, gây mơ hồ, mất cảnh giác, dao động mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Chúng còn khai thác, sử dụng các trang mạng xã hội, tính năng livestream của Facebook với mục tiêu làm “truyền thông xã hội” để chỉ đạo, truyền hình trực tiếp âm thanh, hình ảnh, coi đây là một dạng đấu tranh “bất bạo động” không cần vũ trang, để tác động đến chính trị, tư tưởng, “quyền con người”, thúc đẩy sự hình thành, phát triển báo chí tư nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội đối lập với quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước.
Thứ tư, khai thác lỗ hổng bảo mật của các website, cổng thông tin điện tử để sửa chữa, chèn thêm đường dẫn (link) đăng tải nội dung, thông tin giả mạo, xấu độc, văn hóa đồi trụy, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, vi phạm thuần phong mỹ tục, văn hóa truyền thống của dân tộc; chèn, chỉnh sửa nội dung bài viết, hình ảnh trên các website, cổng thông tin điện tử làm sai lệch bản chất thông tin, làm người đọc mơ hồ mất cảnh giác, từ đó thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tác động đến tư tưởng, đạo đức và lối sống, tâm tư, tình cảm của các giai tầng xã hội; tạo lập các blog, website, mạng xã hội kết hợp với các loại hình thông tin khác báo viết, báo hình, báo nói... để thu hút lượng người truy cập, qua đó truyền bá các quan điểm, tư tưởng phản động.
Thứ năm, lợi dụng tính tương thích và ứng dụng kết nối mạng không dây (wifi) 3G, 4G giữa màn hình tivi thông minh (SmartTV) với máy tính, máy tính bảng hoặc điện thoại thông minh (Smartphone) trong việc trình chiếu hình ảnh hoặc đăng tải các thông tin phục vụ lợi ích công cộng để khai thác, lợi dụng các tính năng, ứng dụng tương thích trên tivi thông minh, máy tính, máy tính bảng, điện thoại thông minh để kết nối, điều khiển và mở ứng dụng Youtube được cài sẵn trên tivi với các khung ảnh tĩnh để đưa những hình ảnh có nội dung xấu độc hoặc thay đổi nội dung thông tin nhằm mục đích tuyên truyền, xuyên tạc, chống đối Đảng và Nhà nước, gây hoang mang và tạo dư luận xấu. Với cơ chế hoạt động hiện nay, Youtube sẽ tự động gợi ý hiển thị các video clip khác hoặc tự động phát chương trình nếu người quản lý thiết lập chế độ tự động phát trên ứng dụng mà video clip có nhiều nội dung xấu độc, giả mạo tác động đến người đọc.
Thời gian tới, cùng với sự phát triển của cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ tiếp tục xuất hiện nhiều ứng dụng và các tiện ích đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của đời sống nhân dân, trong đó phải khẳng định sự hiện diện và phát triển của mạng xã hội, của Internet là tất yếu khách quan, trong đó có cả tích cực và tiêu cực, cơ hội và thách thức, phát triển và kìm hãm, truyền thống và phi truyền thống, niềm tin và pháp luật... việc tiếp nhận, khai thác và đánh giá, sử dụng, bình luận như thế nào là tùy thuộc vào ý thức chủ quan, thái độ chính trị của người sử dụng. Lợi dụng vấn đền này, các thế lực thù địch xác định Internet là “công cụ số một” để tung tin xấu độc, xuyên tạc, hạ thấp uy tín cá nhân và tổ chức, gây nghi ngờ, mất đoàn kết nội bộ, khoét sâu vào những yếu kém, làm mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.
Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm, vi phạm pháp luật. Nhận thức rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động, phần tử xấu lợi dụng không gian mạng để tuyên truyền quan điểm sai trái chống phá Đảng, Nhà nước ta, thời gian qua, lực lượng Công an nhân dân đã chủ động tập trung đấu tranh, ngăn chặn kịp thời các hành vi lợi dụng không gian mạng để đưa thông tin xấu độc, giả mạo thu được nhiều kết quả đáng khích lệ, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước.
Trong thời gian tới, để chủ động phòng ngừa, đấu tranh với các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu lợi dụng không gian mạng đưa thông tin xấu độc, giả mạo chống phá cách mạng Việt Nam, lực lượng Công an nhân dân cần làm tốt công tác nắm tình hình từ xa, ngay tại cơ sở và trên không gian mạng, tập trung đấu tranh ngăn chặn và hạn chế thấp nhất tác động ảnh hưởng tiêu cực của hoạt động lợi dụng không gian mạng để đưa thông tin xấu độc, giả mạo. Đồng thời, chủ động tham mưu đề xuất với Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Bộ Công an có nhiều giải pháp nhằm phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh hiệu quả với các thông tin xấu độc, giả mạo trên không gian mạng, trong đó tập trung làm tốt một số giải pháp cơ bản sau:
Một là, cấp ủy đảng, chính quyền các cấp, trong đó Công an nhân dân là nòng cốt, cần chủ động, chủ trì, tích cực tham mưu, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức chính trị, ý thức cảnh giác cho cán bộ, đảng viên, nhân dân trước những hoạt động tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước. Chú trọng tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trước mọi âm mưu, thủ đoạn hoạt động “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, các dấu hiệu “tự diễn biến, tự chuyển hóa”, có khả năng nhận thức, phân tích, phân biệt, đánh giá thông tin chính thống với thông tin giả mạo, xuyên tạc. Đây là một giải pháp rất quan trọng, thường xuyên, cơ bản, lâu dài để mỗi cán bộ, đảng viên dù công tác ở cương vị nào cũng nêu cao trách nhiệm và nâng cao cảnh giác trước mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, từ đó tự ngăn ngừa, phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong chính bản thân mình, bảo đảm “giữ vững bên trong là chính”.
Hai là, tổ chức tuyên truyền bằng nhiều nội dung, hình thức, trong đó tập trung tuyên truyền về âm mưu, phương thức, thủ đoạn đưa thông tin xấu độc, giả mạo trên không gian mạng của các loại đối tượng làm chuyển biến nhận thức trong cán bộ, đảng viên và nhân dân để mỗi cán bộ, đảng viên, nhân dân khi tham gia, tương tác, chia sẻ bình luận, hưởng ứng, bài viết trên các trang mạng xã hội có trách nhiệm trước bản thân, trước pháp luật. Chủ động có thái độ, ứng xử không bình luận, chia sẻ với những bài viết có nội dung xấu, phản cách mạng, đồng thời đấu tranh phản bác những thông tin xấu độc, giả mạo, viết không đúng tôn chỉ, mục đích, viết theo lối suy diễn một chiều... Đối với những bài viết hay, phản ánh đúng nguyện vọng chính đáng của nhân dân, đúng chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước thì chủ động tương tác, chia sẻ, ủng hộ, tạo ra hiệu ứng xã hội tích cực, góp phần đẩy lùi những thông tin xấu độc, giả mạo trên không gian mạng.
Ba là, tiếp tục tổ chức quán triệt, thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 28-CT/TW ngày 16-9-2013 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa XI) về tăng cường công tác đảm bảo an toàn thông tin mạng, Chỉ thị số 15/CT-TTg, ngày 17-6-2014 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác đảm bảo an ninh và an toàn thông tin mạng trong tình hình mới và Thông báo số 17/TB-VPTW ngày 23-8-2016 của Thường trực Ban Bí thư về biện pháp cấp bách bảo đảm an ninh, an toàn thông tin mạng; đồng thời, tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong đấu tranh với hoạt động lợi dụng không gian mạng để đưa thông tin xấu độc, giả mạo, các thông tin tuyên truyền phản động, xuyên tạc, vu cáo, nói xấu Đảng, Nhà nước trên không gian mạng.
Bốn là, thường xuyên cập nhật thông tin, hướng dẫn kỹ thuật trên báo, đài, mạng xã hội để cán bộ, đảng viên, nhân dân biết và sử dụng các chức năng an toàn, những khuyến cáo của nhà sản xuất để nâng cao khả năng phòng chống phát tán phần mềm gián điệp, thông tin xấu độc, giả mạo, vô hiệu hóa các tính năng, ứng dụng trên máy tính, điện thoại di động thông minh... không cần thiết. Chủ động tham mưu cho Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các cơ quan chức năng, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, Internet trong nước xây dựng phương án phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn các trang mạng phản động thường đưa các thông tin xấu độc, giả mạo. Tập trung đấu tranh với tội phạm mạng, khẩn trương làm rõ các tên miền, địa chỉ IP, xác minh hệ thống hạ tầng mạng khi bị tấn công mạng... sử dụng các biện pháp kỹ thuật đánh sập, vô hiệu hóa một số trang website, blog mà đối tượng thường xuyên đăng tải thông tin giả mạo, xấu độc của các tổ chức phản động lưu vong...
Năm là, các đơn vị chức năng của Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông, các nhà mạng viễn thông trong nước và nước ngoài cần chủ động phối hợp để triển khai có hiệu quả các nghị định thư, thoả thuận hợp tác về phòng, chống tội phạm mạng xuyên biên giới. Rà soát, đề xuất bổ sung, sửa đổi các quy định của pháp luật, cơ chế, chính sách về bảo đảm an toàn, an ninh mạng phù hợp với luật pháp và thông lệ quốc tế trong việc chặn lọc thông tin xấu độc. Quản lý, bố trí lực lượng theo dõi, giám sát thường xuyên hoạt động của hệ thống mạng, các trang, cổng thông tin điện tử để phát hiện sơ hở, thiếu sót dẫn đến mất an ninh, an toàn thông tin mạng mà các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu lợi dụng để đưa các thông tin xấu độc, giả mạo trên không gian mạng và có biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời.
Sáu là, tập trung quản lý các loại hình thông tin trên mạng, nhất là các mạng xã hội, trang thông tin điện tử, blog; xây dựng những từ khóa để sàng lọc, ngăn chặn các trang thông tin điện tử, báo điện tử, blog có nội dung xấu độc trên mạng xã hội, các tin nhắn rác. Quản lý chặt chẽ thuê bao di động trả trước và dịch vụ Internet. Tiếp tục nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện các quy định quản lý để doanh nghiệp nước ngoài khi cung cấp dịch vụ viễn thông, Internet tại Việt Nam phải tuân thủ pháp luật, phong tục tập quán của Việt Nam, tôn trọng chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia và lợi ích của người sử dụng theo hướng chấp hành nghiêm pháp luật gắn với kinh doanh hiệu quả, minh bạch. Tiếp tục nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp về an toàn thông tin, hướng các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp hành nghề cung cấp dịch vụ viễn thông, internet xóa bỏ hoàn toàn các thông tin xấu độc, giả mạo trên không gian mạng.
LHH_BHC

Phòng chống thông tin giả, xấu độc trên internet và mạng xã hội


Bên cạnh những mặt tích cực của internet và mạng xã hội đem lại  cho xã hội và đời sống con người thì mặt tiêu cực của nó cũng không ít, một trong số đó là tin giả, xấu độc.
Những đối tượng đưa tin giả, xấu độc lên mạng internet, mạng xã hội lợi dụng việc sử dụng lối viết giật gân, không trung thực hoặc dùng các tiêu đề bịa đặt để tăng lượng like, lượng view, tăng độ nổi tiếng, hay kiếm tiền trên mạng. Bên cạnh đó, cũng có không ít các phần tử cơ hội chính trị, thù địch đã lợi dụng triệt để truyền thông xã hội để thực hiện ý đồ chống phá Đảng, Nhà nước ta. Cách thức của chúng thường là lấy thông tin từ báo chí chính thống để cắt ghép với những thông tin chưa được kiểm chứng, nhất là đối với những vấn đề bức xúc, nổi cộm, dư luận quan tâm để thổi phồng những yếu kém, hạn chế, khuyết điểm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của các cấp ủy, chính quyền; nói xấu, hạ uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ở Trung ương, tỉnh và cơ sở nhằm đánh lừa, gây ra tâm lý hoang mang, bất an, suy giảm niềm tin vào chế độ của người đọc. Sở dĩ tin giả, xấu độc có đất sống vì sự dễ dãi, cả tin, kém hiểu biết, cùng tâm lý đám đông khi truy cập internet, tham gia MXH của một bộ phận người dân đã vô tình cổ súy, tiếp tay tạo nên tầm ảnh hưởng và tác hại ghê gớm từ tin giả, tin xấu, độc trên MXH thời gian qua.
Để khắc phục nạn tin giả, tin xấu độc, các cơ quan chức năng phải nêu cao vai trò trách nhiệm, tuyên truyền, giáo dục cho người dân nâng cao nhận thức, trách nhiệm khi sử dụng internet, mạng xã hội, biết cách nhận diện các tin giả, tin xấu độc. Đồng thời sử dụng các công cụ pháp luật, kỹ thuật để kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử phạt nghiêm các đối tượng đưa tin giả, tin xấu độc. Đồng thời, mỗi cá nhân phải tự trang bị cho mình kiến thức toàn diện, khi tiếp nhận thông tin phải bình tĩnh nhận định, đánh giá, phân tích tổng hợp để không biến mình thành nạn nhân, hay vi phạm pháp luật, qua đó góp phần lành mạnh không gian mạng. 

NTN_BHC