Khởi tố vụ án hình sự liên quan đến bệnh nhân 1342 vi phạm quy định cách ly
Thứ Hai, 7 tháng 12, 2020
HẬU QUẢ NHÃN TIỀN.
PHÁO POKEMON
Hiện tại, ở các trường học các em học sinh đang đổ xô" đầu tư " cho một trò chơi mới, trò chơi được mang tên là nổ pháo.
VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG TÁC CHIẾN TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG! MẶT TRẬN KHÔNG TIẾNG SÚNG
Hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư với sự phát triển của Internet trên tất cả các lĩnh vực, không gian mạng đã và đang trở thành vùng lãnh thổ mới có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của mỗi quốc gia.
AI ĐÃ VÔ ƠN THƯA ÔNG NGÔ BẢO CHÂU?
Câu chuyện về bệnh nhân số 1342 của hãng Vietnam airlines tưởng như đã tạm yên ổn khi mà Chính phủ, các bộ ngành, các cơ quan chức năng TP HCM đã rất nhanh chóng khống chế dịch. Thế nhưng, mới đây giáo sư Ngô Bảo Châu lại lên tiếng về cái gọi là "sự vô ơn của đám đông" đã biến những tiếp viên hàng không từ người hùng trở thành tội đồ. Xin có đôi lời gửi giáo sư:
HOÀ HỢP NHƯNG KHÔNG ĐƯỢC QUÊN QUÁ KHỨ ĐAU THƯƠNG CỦA DÂN TỘC!
Ngày 30/4/1975, mãi mãi là ngày trọng đại nhất trong các ngày trọng đại. Dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta thực hiện thành công Di chúc của Bác Hồ vĩ đại, dồn toàn lực “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, viết nên khúc khải hoàn ca vĩ đại nhất thế kỷ 20, thu giang sơn về một mối, Nam - Bắc một nhà để “nối lại nhịp cầu cho đôi lứa yêu nhau”, không còn cảnh “xa khơi” của ngày Bắc đêm Nam. Chiến tranh đã qua, vết thương đã liền sẹo. Đảng và Nhà nước ta đã làm rất tốt công tác hòa hợp dân tộc mà cụ thể là Nghị Quyết 36 của Bộ Chính trị; người Việt Nam ở hải ngoại là bộ phận không thể tách rời của dân tộc ta; hưởng ứng lời kêu gọi hòa hợp dân tộc để kết nối nhưng “khúc ruột vạn dặm” với đất nước tạo nên khối đại đoàn kết dân tộc vững chắc, tay nắm tay xây dựng nước Việt Lạc Hồng cường thịnh.
Tích cực đấu tranh trên mặt trận chính trị, tư tưởng, phong, chống “diễn biến hoà bình” “phi chính trị hoá” lực lượng vũ trang.
Xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị phải kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chống những âm mưu, thủ đoạn, quan điểm, hiện tượng sai trái thù địch. Hiện nay chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang sử dụng chiến lược diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ để chống phá toàn diện sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Một trong những thủ đoạn cơ bản của chiến lược đó là chống phá trên lĩnh vực chính trị tư tưởng – văn hoá, “phi chính tri hoá” lực lượng vũ trang . Phòng, chống, đấu tranh, ngăn chặn và làm thất bại những âm mưu thủ đoạn đó sẽ góp phần trực tiếp xây dựng, củng cố lực lượng vũ trang về chính trị.
Tích cực, kiên quyết đấu tranh vạch trần những thủ đoạn xuyên tạc phủ
nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, vai trò
và sự lãnh đạo của Đảng trong xã hội và trong lực lượng vũ trang; những luận
điệu xuyên tạc, phủ nhận lịch sử, truyền thống hào hùng của Đảng, dân tộc, lực
lượng vũ trang, những luận điệu “ đa nguyên về chính trị, đa đảng đối lập”; ca
ngơi, cổ vũ những giá trị của chủ nghĩa tư bản, văn hoá, lối sống phương tây;
những thủ đoạn kích động đối lập Đảng với Nhà nước, với hệ thống chính trị, với
lực lượng vũ trang; xuyên tạc, phủ nhận bản chất, mục tiêu, con đường đi lên
chủ nghĩa xã hội ở nước ta; những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận, tầm thường
hoá, vô hiệu hoá vai trò của lực lượng vũ trang trong thời bình.
CẢNH GIÁC VỚI TRÀO LƯU XÉT LẠI LỊCH SỬ
Chủ nghĩa xét lại lịch sử là gì? Nói minh họa một cách đơn giản, đó là việc người Ukraine sẵn sàng từ bỏ những ký ức đẹp đẽ và hào hùng nhất về cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của nhân dân Liên Xô - trong đó có người dân Ukraine diễn ra vào Thế chiến thứ 2. Vậy những người Ukraine đã làm gì? Họ yêu cầu phía Nga phải bồi thường vì đã giải phóng Ukraine, họ tạt nước và xúc phạm những người cựu binh già, họ phủ nhận việc lên án chủ nghĩa phát xít tại Liên Hợp Quốc. Có không ít người Ukraine bày tỏ rằng nếu Đức xâm chiếm Ukraine, thì tương lai họ có thể sẽ giàu có và sung túc hơn.
Tháng 5/2020, một số quan chức ngoại giao Ba Lan lớn tiếng kêu gọi Nga ngưng tổ chức ngày duyệt binh Chiến thắng phát xít Đức và họ vu cáo Nga là quốc gia gây ra chiến tranh bằng việc xâm chiếm rìa phía Đông của Ba Lan. Họ kết luận rằng Nga cần phải thừa nhận là quốc gia gây chiến thay vì là một quốc gia chiến thắng.
Điều này, khiến phía Đức nóng mặt. Ngoại trưởng Đức Heiko Maas trong một bài viết vào tháng 5/2020, đã lên án mạnh mẽ việc tôn vinh chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa xét lại. Bản thân bài viết của Ngoại trưởng Đức cũng kết luận rằng chính Đức là quốc gia gây chiến tranh bằng cách xâm chiếm Ba Lan - chứ không phải Nga, và cũng là quốc gia phải chịu trách nhiệm về diệt chủng người Do Thái.
Chủ nghĩa xét lại là một hành động nguy hiểm, biến những kẻ tấn công hay gây chiến thành những nạn nhân. Và khiến những nạn nhân thành những kẻ nguy hiểm, khát máu.
Chủ nghĩa xét lại tại Việt Nam là gì? Đó là việc nhân danh nghiên cứu và tìm hiểu lịch sử, rồi lớn tiếng phủ nhận lịch sử, truyền bá thông tin sai lệch về lịch sử. Một số ví dụ đơn giản, như là những luận điểm kiểu như Việt Nam Cộng Hòa, Mỹ và đồng minh không thua tại Việt Nam. Rồi phía này chỉ nhắm vào việc bảo vệ tự do, dân chủ, độc lập, còn phía Bắc Việt là những người gây ra tội ác chiến tranh.
“Bắc Việt điều động đặc công đánh các sân bay Thái Lan có phải là một hành vi xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ hay không? Việt Cộng không công bằng khi chỉ biết đánh lén” - Đó là câu hỏi nhận được rất nhiều luồng tranh luận trong một diễn đàn nghiên cứu lịch sử, mà người hỏi tự nhận là hỏi ngu, về các sự kiện đặc công Việt Nam tiến đánh các căn cứ quân sự, sân bay Utapao, Udon, Ubon… trên đất Thái Lan trong những năm từ 1968 đến 1972.
Vậy, các căn cứ quân sự, sân bay đó dùng để làm gì? Đều dùng để các lượt máy bay của Mỹ đánh phá Việt Nam. Vậy hành động của phía Thái Lan lúc ấy có được coi là xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam hay không? Máy bay Mỹ bay từ các địa điểm đó để làm gì, nghiên cứu hải dương học hay bay chơi chơi? Thưa rằng là không. Những chuyến bay đó tiến thẳng đến miền Bắc Việt Nam, trút bom đạn xuống, bao nhiêu người dân thường thiệt mạng. Các ông ném bom đạn vào người khác thì được, còn khi người khác đột kích phá máy bay của các ông nhằm ngăn chặn hành động đó, thì các ông kêu ca là đánh lén, mất công bằng, xâm phạm chủ quyền trái phép. Khôn như thế, thì ai chơi được?
Tháng 8/2018, nhà sử học Dương Trung Quốc cho rằng liên quan Pháp - Tây Ban Nha chỉ đánh Việt Nam nhằm mượn đường tiến đánh Trung Quốc. Nhiều luồng suy nghĩ theo đó mà được suy luận ra, rằng chính những sĩ phu yêu nước và người dân đã quá “nhạy cảm” khi đứng lên chống lại phía liên quân. Nếu đàm phán kỹ càng thì Việt Nam hoàn toàn có thể tránh khỏi việc trở thành thuộc địa như cách mà Thái Lan đã chọn đứng giữa Pháp và Anh. Tức là bây giờ, những người chống Pháp trở thành những kẻ phàm phu tục tử, suy nghĩ thấp hèn, không biết tính chuyện đại sự.
Luận điểm này, khiến bao công lao, bao nhiêu tính mạng người Việt đã mất trong thời kỳ chống Pháp xâm lược Việt Nam giai đoạn đầu, trở thành những cái chết vô ích, thái quá. Việt Nam không phải là “vùng đệm” mà Pháp thích mượn thì mượn, người Việt hi sinh tại Đà Nẵng Gia Định, Huế, Hà Nội là để chống Pháp, càng không phải vì bảo vệ Thiên Triều.
Tờ VOA và BBC cùng cho rằng, phía Việt Cộng đánh lén, đánh du kích và không dám đối đầu với quân VNCH và đồng minh, những nhà báo của tờ này cho rằng chiến thắng của Việt Cộng là không oai hùng vì “những võ sĩ chỉ chiến thắng qua cuộc đấu tay đôi công bằng tại võ đài chứ không tại hầm mỏ với đủ loại bẫy”. Nhưng, xét công bằng, thì trang bị của Việt Cộng có ngang với phía VNCH đồng minh không?
Một luồng ý kiến khác, cho rằng phía Việt Cộng đã chiến đấu không công bằng khi dùng nhân dân miền Nam làm lá chắn, Việt Cộng trà trộn vào dân, huy động nhân dân tham gia vào chiến tranh. Còn phía VNCH và đồng minh thì chỉ muốn bảo vệ nhân dân, bảo vệ tự do dân chủ. Vậy thì Mỹ Lai, Ấp Bắc, Bình Hòa, Phong Nhất Phong Nhị… từ đâu mà có? Bên cạnh đó, đây là cuộc chiến giữa nhân dân Việt Nam với những thế lực ngăn cản việc thống nhất Tổ Quốc, thì bất cứ thành phần nào cũng được tham gia. Chiến đấu vì Tổ Quốc không phải là việc của một nhóm người. Tổ Quốc là của chung, tất cả người dân Việt Nam phải góp vào đó, mỗi người dân là một binh lính. Như trong lịch sử, những lần kháng chiến chống Tống, Mông - Nguyên,... thì ngoài lực lượng quân đội, còn có lực lượng dân quân, nghĩa binh, người dân tộc thiểu số tham gia.
Vừa tròn một năm, báo BBC ra xã luận nhận định rằng chiến dịch Linebacker II - mà chúng ta hay quen gọi là Điện Biên Phủ trên không, là phía Mỹ đã dành chiến thắng vì đã hủy diệt miền Bắc, khiến nhân dân miền Bắc sợ hãi và bắt ép Việt Cộng phải ngồi vào bàn đàm phán. Và người Mỹ không thua vì người Mỹ nhân từ, không muốn dùng bom nguyên tử. Vậy thì quốc gia nào đã tung hô B52 là pháo đài bay không thể bị bắn rơi, rồi đùng cái bị bắn rơi mấy chục chiếc? Quốc gia tuyên bố ra vào không phận Hà Nội, Hải Phòng như chỗ không người rồi bị tên lửa Bắc Việt bắn rụng như thị? Rồi quốc gia nào chủ động tuyên bố chấm dứt vì phi công, binh lính “chủ động” khiến may bay bị “hỏng kỹ thuật? Rồi ngày 22/12, quốc gia nào gửi điện mong muốn tái họp? Rồi Kissinger là người nước nào, mà chỉ dám thanh minh, xin lỗi trước Lê Đức Thọ rồi dàn xếp kí kết hiệp định trong vòng 14 ngày mà không dám yêu cầu gì thêm?
Mà thắng thì đã thắng rồi, thua thì cũng đã thua rồi, mà giờ ngồi viết bài không phục, thì vừa là vụng chèo khéo chống, vừa không dám thừa nhận, đó không phải là việc mà người quân tử thường làm. Quân tử là gì? Như người Đức ấy, thẳng thắng thừa nhận tội lỗi, không né tránh. Chứ không phải là làm những việc tiểu nhân, chẳng hạn như xét lại và đáp phân vào lịch sử.
Nghiên cứu lịch sử là đúng, nhưng nhân danh nghiên cứu lịch sử để truyền bá tư tưởng sai lệch, làm hỏng đi sự kiện lịch sử là sai. Thế hệ sau phải học hỏi quá khứ, để sống cho hiện tại và bảo vệ tương lai, chứ không phải là phán xét, tỏ thái độ, hằn học.
Một ngày nào đó, liệu ở Việt Nam có xảy ra câu chuyện tương tự như ở Ukraine, những thanh thiếu niên trẻ ném đá, chửi bới, nhục mạ những người cựu binh đã chiến đấu vì Tổ Quốc hay không?
"Bổn phận thiêng liêng của các thế hệ hiện tại là lưu giữ mãi mãi ký ức về những người - đã trải qua vô số sự hy sinh, thiếu thốn, để bảo vệ tự do của quê hương, chú ý và quan tâm đến các cựu chiến binh yêu quý của chúng ta" - Vladimir Putin.
Việt Nam – Cuba: Mối quan hệ nghĩa tình đặc biệt
Cách đây đúng 60 năm, vào thời điểm nhân dân Việt Nam đang tập
trung nỗ lực thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở
miền Bắc, đồng thời đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; ở phía
Tây Bán cầu, nhân dân Cuba cũng phải đương đầu với sự chống phá ác liệt của các
thế lực đế quốc, phản động để bảo vệ chính quyền non trẻ do Tổng Tư lệnh Fidel
Castro đứng đầu. Những nét tương đồng trong tiến trình dựng nước và giữ nước
cũng như những khát vọng, lý tưởng và truyền thống đấu tranh hào hùng vì độc
lập, tự do mà hai nước cùng chia sẻ chính là nền tảng cho mối quan hệ tình
nghĩa đặc biệt giữa hai dân tộc.
Có thể nói, trong lịch sử thế giới đương đại, hiếm có mối quan
hệ nào đặc biệt như quan hệ giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước
Việt Nam - Cuba. Mối quan hệ tốt đẹp này đã được các nhà lãnh tụ cách mạng tiền
bối José Martí, Fidel Castro, Hồ Chí Minh, cũng như các thế hệ lãnh đạo Cuba và
Việt Nam dày công vun đắp. Theo Tổng Tư lệnh Fidel Castro, tình hữu nghị anh em
giữa hai nước đã được sinh ra và lớn lên trong tương đồng lịch sử của hai dân
tộc cùng đấu tranh chống kẻ thù chung.
Trong suốt hơn nửa thế kỷ qua, kể từ ngày hai nước thiết lập
quan hệ ngoại giao, hai dân tộc Việt Nam - Cuba đã luôn kề vai sát cánh trong
cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc xã hội chủ nghĩa ở mỗi nước.
Việt Nam mãi mãi ghi nhớ với lòng biết ơn sâu sắc về sự ủng hộ
mạnh mẽ và giúp đỡ chí tình mà Đảng Cộng sản và nhân dân Cuba anh em đã dành
cho nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây,
cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Tình đoàn kết
thủy chung, trong sáng, đầy tinh thần quốc tế cao cả đó của Cuba được thể hiện
vô cùng sinh động trong những câu nói bất hủ của Tổng Tư lệnh Fidel
Castro: “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình”, “Trong
hòa bình, Cuba sẵn sàng đổ mồ hôi để góp phần xây dựng lại Việt Nam mười lần to
đẹp hơn như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn”. Về phần mình, Chủ
tịch Hồ Chí Minh cũng từng khẳng định: “Việt
Nam và Cuba cách xa nhau hàng vạn dặm nhưng lòng dân hai nước gần gũi như anh
em một nhà”(1). Thực hiện di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
các thế hệ lãnh đạo và nhân dân Việt Nam luôn khẳng định: “Đoàn kết, ủng hộ
Cuba là lương tâm và trách nhiệm của những người cộng sản và toàn thể nhân dân
Việt Nam!”.
Cuba là nước Mỹ Latin đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, là nước đầu tiên trên thế giới công nhận Mặt
trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (tháng 12-1961) và thành lập Ủy ban
toàn quốc đoàn kết với nhân dân miền Nam Việt Nam (tháng 9-1963). Cuba cũng là
một trong những nước đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Chính phủ Cách
mạng lâm thời miền Nam Việt Nam, đồng thời đặt Đại sứ quán trong vùng giải
phóng miền Nam Việt Nam tại tỉnh Tây Ninh (tháng 7-1967). Chủ tịch Fidel Castro
là vị lãnh tụ nước ngoài đầu tiên và duy nhất tới thăm vùng mới giải phóng
Quảng Trị, Việt Nam vào tháng 9-1973, bất chấp khói lửa của bom đạn Mỹ lúc bấy
giờ. Trong suốt những năm 80 của thế kỷ XX, Cuba là nước Mỹ Latin duy nhất đồng
lòng cùng Việt Nam chống chính sách bao vây, cấm vận của Mỹ…
Việt Nam luôn giành cho Cuba tình đoàn kết, hữu nghị và hợp tác
anh em chân thành, gắn bó, coi việc đoàn kết, giúp đỡ Cuba là nghĩa vụ xuất
phát từ lương tâm và tình cảm quốc tế trong sáng mang tính truyền thống của dân
tộc. Sau chiến tranh giải phóng và bước vào công cuộc tái thiết đất nước, Việt
Nam đã hợp tác giúp Cuba kinh nghiệm thắng lợi của “Chiến tranh nhân
dân bảo vệ Tổ quốc chống xâm lược”; nhân dân Việt Nam đã đồng lòng
chịu đựng thiếu thốn, thậm chí hy sinh lợi ích để hỗ trợ phần nào giúp Cuba
vượt qua những thời điểm khó khăn nhất của “Thời kỳ đặc biệt”, hợp tác giúp
Cuba sản xuất lúa, gạo(2) và phát triển lương
thực (Dự án lúa gạo hộ gia đình, Chương trình hợp tác phát triển sản xuất lương
thực giai đoạn 2010 - 2015 và giai đoạn 2018 - 2022)…, tiếp tục vững vàng trước
mọi âm mưu và hành động chống phá, lật đổ của các thế lực thù địch. Đồng thời,
hết lòng trao đổi, chia sẻ với Cuba những kinh nghiệm về xây dựng, phát triển
kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế. Tình cảm đoàn kết và sự ủng hộ của Việt Nam
đối với Cuba luôn được thể hiện nhất quán và mạnh mẽ thông qua phát biểu của
lãnh đạo Đảng, Nhà nước cũng như lập trường của Việt Nam trên các diễn đàn quốc
tế.
Quá trình công nghiệp hóa cùng với cải cách, đổi mới đang tạo ra nhiều đặc điểm mới cho giai cấp công nhân.
Tác nhân hàng đầu làm biến đổi GCCN hiển nhiên là các cuộc cách mạng công nghiệp với chu kỳ ngày càng ngắn hơn, yêu cầu đa diện hơn. Trong hơn 100 năm gần đây nhất người ta đã thấy 3 cuộc cách mạng công nghiệp: lần thứ hai, lần thứ ba và lần thứ tư. Trong thế kỷ XX, nhân loại cũng đã tiến hành 2 kiểu công nghiệp hóa là công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa (TBCN) và công nghiệp hóa XHCN. Các cuộc cách mạng công nghiệp với chu kỳ ngày càng ngắn dần: Từ “đại công nghiệp” tức là từ “công nghiệp 1.0” đến “công nghiệp 2.0” mất gần hai thế kỷ; nhưng từ “công nghiệp 2.0” đến “công nghiệp 3.0” chỉ khoảng một thế kỷ; còn từ “công nghiệp 3.0” đến “công nghiệp 4.0” chỉ mất 30 năm!
Công nghiệp hóa theo
kiểu mới với các đặc trưng: Rút ngắn (diễn ra không tuần tự từ
A đến Z mà phải tận dụng lợi thế so sánh của mỗi quốc gia); gắn với
hiện đại hóa (sử dụng thành tựu khoa học và công nghệ mới, đáp ứng
những yêu cầu mới về phát triển bền vững về xã hội và môi trường, sinh
thái...); nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa được chuẩn bị sớm
và kỹ hơn; các yêu cầu ngoài công nghiệp như tính
nhân văn, bảo vệ môi trường, sinh thái, tài nguyên cao hơn; và hội nhập thị
trường quốc tế cấp thiết hơn...
Theo đó, lý luận “GCCN
là sản phẩm và chủ thể của đại công nghiệp” đã được bổ sung thêm nhiều nhận
thức lý luận mới. Sự phát triển của công nhân gắn liền với hội nhập
kinh tế thế giới, chẳng hạn, tham gia vào chuỗi sản xuất toàn cầu từ lợi thế và
chấp nhận hợp tác, hội nhập quốc tế. Quá trình sản xuất hàng hóa công nghiệp
của công nhân buộc phải đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế, đáp ứng những
nhu cầu “khó tính” của thị trường... Và kết quả là một sản phẩm công nghiệp
được công nhân tạo ra không chỉ là kết quả của công nghệ - kỹ thuật mà còn là
sự tích hợp những giá trị kinh tế, xã hội, môi trường. Nhiều nước phát triển đã
ứng dụng cơ chế quản lý linh hoạt (FMS) trong công nghiệp để khuyến khích tính
linh hoạt, sáng tạo, tối ưu hóa quá trình sản xuất bằng nhiều nguyên tắc, như
thường xuyên đổi mới công nghệ, tiết kiệm tối đa năng lượng và vật tư, hạn chế
thời gian lưu kho bãi, linh hoạt thời gian và địa điểm làm việc (chế độ làm
việc tại nhà). Công nhân hiện đại không còn là “chiếc đinh ốc trong dây chuyền
sản xuất TBCN” mà có tính chủ động hơn, tư duy năng động và đa diện hơn.
Sự phát triển của GCCN ở
“các nước đang chuyển đổi” hiện nay còn là kết quả của sự kết hợp các cơ chế,
quy luật của kinh tế thị trường với vai trò của nhà nước và thành phần kinh tế
nhà nước; với chính sách đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ nhân lực, dần
chuyển dịch mô hình kinh tế từ phát triển “bề rộng” là chủ yếu sang phát triển
theo “chiều sâu”. Công nhân không chỉ là sản phẩm của công nghiệp hóa mà còn là
kết quả tổng thành của chế độ chính trị và cơ chế kinh tế thị trường. Trình độ
làm chủ và sáng tạo công nghệ, tư duy kinh tế thị trường, năng lực tổ chức quản
lý của GCCN ở các nước cải cách, đổi mới đều đã có bước tiến lớn. Quan tâm đến
lợi ích chính đáng của người lao động, kết hợp hài hòa lợi ích của người lao
động với lợi ích của tập thể và lợi ích của xã hội..., vừa là tư duy kinh tế
phù hợp, vừa là sự thể hiện tính chất XHCN trong phát triển.
Tư duy mới về chính trị
có thể thúc đẩy sự phát triển của GCCN. Chế độ XHCN đã tạo ra một chất lượng
mới, quy mô và tốc độ mới cho công nghiệp hóa. Ngay trong kiểu công nghiệp hóa
này cũng có 2 trình độ là công nghiệp hóa theo mô hình công nghiệp hóa cũ và
theo mô hình công nghiệp hóa mới. Hiện nay, cùng với lý luận công nghiệp hóa
mới của thế giới và xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, các nước XHCN có thể
thông qua hợp tác - phân công lao động quốc tế để thực hiện công nghiệp hóa.
Chính CNTB cũng cần đến CNXH và tìm đến để hợp tác trong sản xuất toàn cầu. Đổi
mới tư duy chính trị, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, đẩy mạnh hội
nhập quốc tế... là xu thế chung của nhiều quốc gia. Giai cấp công nhân đã xuất
hiện với số lượng, chất lượng và diện mạo mới không chỉ từ công nghiệp hóa mà
còn từ cải cách, đổi mới. Nhưng quan trọng hơn, là khả năng phát triển, cơ động
xã hội của GCCN và các giai cấp khác. Trước đây, như nhận định của một tác giả
Trung Quốc: “Nhà nước trao cho GCCN địa vị giai cấp lãnh đạo và thực hiện chính
sách phúc lợi toàn xã hội khiến cho GCCN có được địa vị xã hội và kinh tế “trời
phú” rất cao, ở vào vị trí trung tâm trong toàn bộ kết cấu xã hội, được hưởng
một loạt quyền lợi đặc thù, có sự khác biệt với giai cấp nông dân trên nhiều
phương diện và cao hơn nhiều so với nông dân”(9). Nhưng hiện nay,
“thân phận “trời phú” của GCCN Trung Quốc đương đại bị phá vỡ, chuyển biến từ
tượng trưng thân phận sang khái niệm nghề nghiệp”. “Phương thức hợp đồng hóa
nghề nghiệp” thay cho chế độ công nhân, viên chức vĩnh viễn; quan hệ lợi ích
kinh tế thay cho quan hệ hành chính, “từ trạng thái do quá khứ lưu truyền đến
trạng thái do khế ước quy định”(10). Rõ ràng, công nhân hiện nay
không chỉ là sản phẩm của công nghiệp hóa mà còn là sản phẩm của đổi mới chính
trị. Trong một số trường hợp, chính trị, chính sách đã tác động mạnh mẽ, trực
tiếp và tạo biến đổi sâu sắc đối với GCCN.
Hiện thực hóa quyền con người bằng những chính sách thiết thực, việc làm nhân văn
Mỗi khi đến dịp Ngày Nhân quyền thế giới (10-12) hằng năm, các thế lực thù địch, phản động và đối tượng cơ hội chính trị lại tung ra những luận điệu cũ rích nhằm xuyên tạc, phủ nhận những nỗ lực, thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền con người.
Thường xuyên quán triệt và tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang trong giữ vững ổn định chính trị
Hồ Chí Minh khẳng định: Chính trị của lực lượng vũ trang phải được thể
hiện trong lúc đánh giặc. Xây dựng lực
lượng vũ trang về chính trị được thể hiện bằng những hoạt động chính trị, giải
quyết các mối quan hệ chính trị, được hội tụ ở việc tổ chức thực hiện thắng lợi
nhiệm vụ chính trị.
Cần thực hiện thống nhất và thực hiện tốt chức năng đội quân chiến đấu,
đội quân sản xuất, đội quân công tác của lực lượng vũ trang trong thời kỳ mới.
Thường xuyên giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nắm vững đường lối, chính sách phát
triển kinh tế – xã hội, quốc phòng an ninh, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. xây dựng quân đội cách mạng chính quy
tinh nhuệ từng bước hiện đại; xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, vững
chắc; xây dựng lực lượng dân quân tự vệ rộng khắp mọi nơi nòng cốt cho nhân dân
địa phương đánh giặc. Nâng cao chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu, trình độ,
khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang. Tổ chức thực hiện thắng lợi
nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu. Ngăn chăn làm thất bại mọi mưu đồ xâm
lược, “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc và các thế
lực thù địch.TB
Lãnh đạo toàn diện, triển khai đồng bộ các giải pháp, hoàn thành toàn diện công tác quân sự, quốc phòng
Ngày 7-12, tại Hà Nội, Quân ủy Trung ương (QUTƯ), Bộ Quốc phòng (BQP) tổ chức Hội nghị Quân chính toàn quân năm 2020. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Bí thư QUTƯ dự và phát biểu chỉ đạo hội nghị. Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư QUTƯ, Bộ trưởng BQP chủ trì hội nghị.
Tăng cường củng cố sự đoàn kết thống nhất, phát huy dân chủ, tăng cương kỷ luật, giải quyết tốt các mối quan hệ trong nội bộ lực lượng vũ trang.
Quan hệ chính trị của lực lượng vũ trang được thể hiện trước hết ở quan hệ trong nội bộ lực lượng vũ trang. Xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị phải coi trọng xây dựng củng cố và giải quyết đúng đắn các mối quan hệ trong nội bộ lực lượng vũ trang, đó là mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới, quan hệ đồng chí đồng đội, quan hệ cá nhân với tổ chức, lãnh đạo, chỉ huy với phục tùng… Đây là mối quan hệ nội tại bên trong của quân đội cách mạng, được thể hiện trên cơ sở giác ngộ sâu sắc về mục tiêu, lý tưởng, nhiệm vụ, thống nhất lợi ích. Vì vậy, các mối quan hệ đó phải được thực hiện trên cơ sở tuân thủ nghiêm ngặt những quy định của điều lệnh, kỷ luật của lực lượng vũ trang đồng thời phải thực sự dân chủ, bình đẳng, thống nhất về mục tiêu, lý tưởng, nhiệm vụ, lợi ích. CáC mối quan hệ đó phải được xây dựng và giải quyết trên nền tảng của tình cảm đồng chí, đồng đội, luôn sát cánh bên nhau, đồng cam cộng khổ để hoàn thành nhiệm vụ. Đó phải là mối quan hệ đoàn kết. TB
Xây dựng các tổ chức chính trị - xã hội trong lực lượng vũ trang vững mạnh
Các tổ chức chính trị trong lực lượng vũ trang gồm: đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội phụ nữ, Công đoàn, Hội đồng quân nhân. Đây là một bộ phận của hệ thống chính trị được tổ chức và hoạt động ở các đơn vị lực lượng vũ trang để đại diện, bảo vệ lợi ích và thực hiện, phát huy quyền làm chủ của các thành viên, hội viên. Cùng với việc xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện thì xây dựng tổ chức chính trị, xã hội vững mạnh sẽ trực tiếp góp phần xây dựng, củng cố thể chế chính trị trong lực lượng vũ trang.TB
Xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ, đặc biệt là vai trò của đội ngũ cán bộ chính trị trong xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị
Đội ngũ cán bộ là lực lượng nòng cốt tạo thành tổ chức, tạo thành quân
đội. Đường lối, chính sách và cán bộ là nhân tố quyết định sự nghiệp cách mang,
xây dựng và hoạt động của lực lượng vũ trang. Bản chất giai cấp công nhân, bản
chất chính trị xã hội, sức mạnh chính trị của lực lượng vũ trang được thể hiện
tập trung ở phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ. Đội ngũ cán bộ là người
trực tiếp chỉ huy đơn vị, giáo dục rèn luyện chiến sĩ, tổ chức xây dựng lực
lượng vũ trang về chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh làm cơ sở để xây
dựng các đơn vị lực lượng vũ trang vững
mạnh vè chính trị, giáo dục, rèn luyện chiến sĩ. Để xây dựng lực lượng vũ trang
vững mạnh về chính trị phải hết sức coi trọng xây dựng và phát huy vai trò của
đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ chủ trì về chính trị.TB
Lật tẩy chiêu trò lợi dụng góp ý dự thảo các văn kiện Đại hội XIII để chống phá Đảng, Nhà nước
Thời gian qua, toàn bộ dự thảo văn kiện trình Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng để xin ý kiến của nhân dân. Vậy mà, bên cạnh những đóng góp trách nhiệm, chân tình của đông đảo người dân thì một số “nhà yêu nước”, “nhà dân chủ, nhân quyền” tự xưng lại lợi dụng, ra sức tuyên truyền những luận điệu xuyên tạc nhằm công kích, chống phá Đảng và Nhà nước.
Tỉnh táo nhận diện và vạch trần những luận điệu sai trái, phản động
Cứ “đến hẹn lại lên”, mỗi khi Đảng ta tiến hành Đại hội thì sự chống phá của các thế lực thù địch ngày càng đậm đặc, quyết liệt hơn. Càng gần thời điểm diễn ra Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng các thế lực thù địch càng giở nhiều chiêu bài tuyên truyền, xuyên tạc, kích động chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, trong đó đặc biệt tập trung xuyên tạc nội dung Dự thảo văn kiện Đại hội và các bước chuẩn bị nhân sự. Vì vậy, để đấu tranh, phản bác lại thông tin xuyên tạc, bịa đặt của các thế lực thù địch, chúng ta cần nhận diện được những luận điệu sai trái, phản động của chúng.
"CHĂM LO XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI VỮNG MẠNH TOÀN DIỆN, ĐẶC BIỆT LÀ VỮNG MẠNH VỀ CHÍNH TRỊ"
Trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Bí thư Quân uỷ TW Nguyễn Phú Trọng tại hội nghị.
Thưa các vị đại biểu!
Thưa các đồng chí!
Hôm nay, trong không khí cả nước hân
hoan, phấn khởi và đang tích cực chuẩn bị tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần
thứ XIII của Đảng, tôi rất vui mừng đến dự Hội nghị Quân chính toàn quân - một
Hội nghị quan trọng tổng kết công tác năm 2020 và bàn những biện pháp để tiếp tục
thực hiện nhiệm vụ năm 2021. Trước hết, tôi xin được thay mặt lãnh đạo Đảng,
Nhà nước và Quân uỷ Trung ương, gửi tới các vị đại biểu cùng toàn thể các đồng
chí, và qua các đồng chí, tới toàn thể cán bộ, chiến sĩ, công nhân, viên chức
quốc phòng và lực lượng dân quân, tự vệ trong cả nước lời chào thân ái, lời
thăm hỏi chân tình và lời chúc mừng tốt đẹp nhất.
Tôi được biết, các đồng chí Quân uỷ
Trung ương đã chuẩn bị cho Hội nghị này rất kỹ; các báo cáo, tài liệu được chuẩn
bị công phu, nghiêm túc; một số ý kiến phát biểu tham luận, bổ sung thêm có nhiều
thông tin thiết thực. Tôi tin tưởng, với sự chuẩn bị và cách thảo luận dân chủ,
trách nhiệm, chắc chắn Hội nghị của chúng ta sẽ thành công tốt đẹp.
Thưa các đồng chí,
Năm 2020, năm cuối cùng của nhiệm kỳ
(2015 - 2020) có ý nghĩa quyết định đến kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội
XII của Đảng; bên cạnh những thuận lợi, cơ hội, đất nước ta tiếp tục đứng trước
nhiều khó khăn, thách thức. Tình hình thế giới, khu vực có những diễn biến
nhanh chóng, phức tạp, khó đoán định, đặc biệt do tác động mạnh của đại dịch
Covid-19. Cạnh tranh chiến lược, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa bảo
hộ, chiến tranh thương mại gia tăng; sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp
lần thứ tư; xung đột vũ trang xảy ra ở một số nơi trên thế giới; hoạt động khủng
bố, an ninh mạng, vấn đề trên Biển Đông và an ninh phi truyền thống đã và đang
đặt ra những thách thức lớn đối với cộng đồng quốc tế, trong đó có nước ta.
Ở trong nước, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã đoàn kết một lòng, nỗ lực phấn đấu, đạt được nhiều kết quả quan trọng trên tất cả các lĩnh vực. Kinh tế cơ bản ổn định; an ninh chính trị - xã hội được giữ vững; quốc phòng, an ninh, đối ngoại được tăng cường; tiềm lực và vị thế đất nước được nâng cao; công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục đạt kết quả tích cực, củng cố và tăng cường lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và Quân đội. Chúng ta đã tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp và đang tích cực chuẩn bị mọi mặt để tiến tới Đại hội XIII của Đảng. Đại dịch Covid-19 đã cơ bản được khống chế, kiểm soát. Nhiều tháng qua không có lây nhiễm trong cộng đồng, đây là một thành công lớn. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh "diễn biến hoà bình", thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hoá"; thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, đặc biệt là đại dịch Covid-19, bão, lũ, sạt lở đất ở miền Trung vừa qua đã gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản của nhân dân.
Tình hình trên đã tác động trực tiếp đến
nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc với cả thời cơ,
thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen. Trong bối cảnh đó, Quân uỷ Trung
ương, Bộ Quốc phòng và cấp uỷ, chỉ huy các cấp đã lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân nỗ
lực phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn, hoàn thành tương đối toàn diện nhiệm vụ
quân sự, quốc phòng năm 2020; trong đó, nhiều nhiệm vụ hoàn thành tốt, một số
nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc. Kết quả đó đã được thể hiện đầy đủ trong Báo cáo
của Bộ Quốc phòng cũng như phát biểu tham luận của các đồng chí. Tôi xin nhấn mạnh
thêm mấy điểm nổi bật sau đây:
Thứ nhất, Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc
phòng đã thực hiện tốt chức năng tham mưu với Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc
phòng; thường xuyên nắm chắc tình hình, nhạy bén trong công tác nghiên cứu, dự
báo, kịp thời đề xuất các chủ trương, đối sách đúng đắn, xử lý hiệu quả các
tình huống, không để bị động, bất ngờ. Chủ động tham mưu bảo vệ vững chắc chủ
quyền biển, đảo và hoạt động kinh tế biển; phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ,
ngành Trung ương và các địa phương triển khai thực hiện có hiệu quả các nghị quyết,
kết luận của Bộ Chính trị về chiến lược quân sự, quốc phòng. Chuẩn bị chu đáo,
trình Quốc hội thông qua với số phiếu tán thành rất cao về Luật Biên phòng Việt
Nam, Nghị quyết về tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc và Nghị
quyết về thí điểm một số chính sách tháo gỡ vướng mắc, tồn đọng trong quản lý,
sử dụng đất quốc phòng, an ninh vào hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh
tế. Công tác xây dựng, ban hành các văn bản về lĩnh vực quân sự, quốc phòng từng
bước được hoàn thiện, đáp ứng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc cả trước
mắt và lâu dài.
Thứ hai, trước tình hình thiên tai, đại
dịch Covid-19 diễn biến hết sức phức tạp, Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo toàn quân chủ
động xây dựng kế hoạch, phương án, chuẩn bị lực lượng, phương tiện, phối hợp chặt
chẽ với các cấp, các ngành, các địa phương ứng phó kịp thời với các tình huống.
Đặc biệt, trong phòng, chống bão lũ tại miền Trung, tôi được biết, các đồng chí
đã huy động hàng trăm nghìn lượt bộ đội, dân quân tự vệ, hàng chục nghìn lượt
phương tiện, thực hiện và vận dụng linh hoạt phương châm "4 tại chỗ",
tổ chức sơ tán nhân dân, tích cực tìm kiếm người mất tích, nhanh chóng khắc phục
hậu quả, giải quyết kịp thời các chính sách, được sự ủng hộ và đồng thuận cao
trong nhân dân. Toàn quân đã triển khai các chốt kiểm soát chặt chẽ các đường
mòn, lối mở trên tuyến biên giới đất liền và trên hướng biển; huy động nhiều lực
lượng, phương tiện, cơ sở doanh trại để làm khu cách ly, quyết tâm khống chế dịch
Covid-19, không để lây lan trong cộng đồng. Cán bộ, chiến sĩ toàn quân đã không
quản ngại khó khăn, gian khổ, xung kích trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh,
cứu hộ, cứu nạn, xử lý ô nhiễm môi trường; một số cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh
trong khi làm nhiệm vụ, xứng đáng là Quân đội của dân, do dân, vì dân, đã tô đẹp
thêm hình ảnh "Bộ đội Cụ Hồ".
Thứ ba, toàn quân đã phát huy tốt vai
trò nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn
với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân và xây dựng phòng thủ quân
khu, khu vực phòng thủ các cấp vững chắc; tăng cường được tiềm lực, sức mạnh quốc
phòng của đất nước. Tổ chức tốt việc bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh
cho các đối tượng. Quan tâm chỉ đạo xây dựng hải đội dân quân thường trực, chốt
chiến đấu dân quân thường trực biên giới đất liền và nhân lực, tàu thuyền đáp ứng
yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biên giới, biển, đảo. Phối hợp chặt chẽ với lực
lượng công an và các lực lượng khác kịp thời giải quyết những vấn đề phức tạp nảy
sinh, giữ vững ổn định tình hình.
Thứ tư, tăng cường quản lý chặt chẽ vùng
trời, vùng biển, biên giới, nội địa, các địa bàn trọng điểm và không gian mạng,
tập trung chỉ đạo đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập ở các loại
hình đơn vị, như Hải quân, Cảnh sát biển, Đặc công, Bộ binh. Tiếp tục chỉ đạo
quán triệt, thực hiện nghiêm túc Kết luận số 16 của Bộ Chính trị về tổ chức lực
lượng Quân đội; đã chỉ đạo điều chỉnh tổ chức lực lượng theo hướng "tinh,
gọn, mạnh", hoàn chỉnh và triển khai biểu tổ chức biên chế mới, giảm 10%
quân số cơ quan chiến dịch, chiến lược, ưu tiên các đơn vị mới thành lập và đơn
vị chiến đấu. Tôi được biết, từ năm 2016 đến nay, các đồng chí đã điều chỉnh
trên 800 tổ chức, riêng năm 2020 đã điều chỉnh 196 tổ chức.
Thứ năm, công tác xây dựng Đảng bộ Quân
đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức được đặc biệt chú trọng.
Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp uỷ, tổ chức đảng, vai trò tiền
phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng bộ ngày càng được nâng
cao. Đại hội đảng các cấp trong Đảng bộ Quân đội và Đại hội đại biểu Đảng bộ
Quân đội lần thứ XI mới đây được tổ chức chặt chẽ và thành công tốt đẹp, thực sự
mẫu mực, tiêu biểu trong toàn Đảng. Coi trọng xây dựng vững mạnh về chính trị;
cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn vững vàng, kiên định, đoàn kết, quyết tâm cao.
Cơ quan báo chí Quân đội đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền, tích cực đấu tranh
phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Các đồng chí đã quyết tâm chỉ đạo giải
quyết những tồn đọng, vướng mắc trong quản lý, sử dụng đất quốc phòng, hoạt động
thương mại quân sự, tăng cường các giải pháp phòng, chống tham nhũng, tiêu cực,
xử lý nghiêm minh các sai phạm, không có "vùng cấm", "không có
ngoại lệ", góp phần củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước
và Quân đội.
Thứ sáu, triển khai linh hoạt, hiệu quả
công tác đối ngoại quốc phòng trong bối cảnh đất nước hội nhập quốc tế sâu rộng,
đặc biệt trong năm Việt Nam làm Chủ tịch ASEAN và Uỷ viên không thường trực Hội
đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021. Đẩy mạnh hợp tác quốc phòng
song phương, đa phương, đi vào chiều sâu, thực chất. Giải quyết tốt quan hệ với
các nước láng giềng, các nước lớn, các nước ASEAN, bạn bè truyền thống và tích
cực tham gia có trách nhiệm vào hoạt động gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc. Đối
ngoại quốc phòng đã phát huy tốt sức mạnh tổng hợp, tiến hành tích cực, chủ động,
sáng tạo, có chiều sâu, trở thành một trong những trụ cột quan trọng trong hoạt
động đối ngoại của Đảng, Nhà nước, góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ vững
môi trường hoà bình để xây dựng và phát triển đất nước.
Đạt được những kết quả nêu trên có
nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng nguyên nhân chủ yếu là các đồng chí
đã bám sát sự lãnh đạo của Đảng, giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương, đoàn kết
thống nhất, trên dưới một lòng, tích cực đổi mới phương pháp, tác phong, đề cao
trách nhiệm, tập trung vào nhiệm vụ trọng tâm, then chốt; khắc phục các yếu
kém, tồn tại trong những năm qua. Những kết quả đó đã góp phần cùng toàn Đảng,
toàn dân và cả hệ thống chính trị hoàn thành tốt các mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị
quyết Đại hội XII của Đảng đã đề ra.
Thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tôi
nhiệt liệt hoan nghênh và biểu dương những thành tích mà Quân uỷ Trung ương, Bộ
Quốc phòng và cán bộ, chiến sĩ toàn quân đã đạt được trong năm 2020.
Bên cạnh những kết quả, thành tích đã đạt
được, với tinh thần thẳng thắn, nghiêm túc, chúng ta cũng cần phải thấy rằng,
trong năm qua cũng còn những hạn chế, khuyết điểm như trong Báo cáo đã nêu.
Trong đó, có những hạn chế, khuyết điểm chậm được khắc phục, nhất là trong công
tác quản lý cán bộ, chiến sĩ; giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương; ngăn chặn, xử lý kịp
thời các vụ việc vi phạm nghiêm trọng; giải quyết tồn đọng về quản lý, sử dụng
đất quốc phòng, tài chính của một số doanh nghiệp chưa triệt để... Đó là những
điều khiến chúng ta phải trăn trở, suy nghĩ. Với tinh thần trách nhiệm cao,
không né tránh khuyết điểm, đề nghị các đồng chí tập trung thảo luận, xác định
rõ trách nhiệm, tìm đúng nguyên nhân và đề xuất các giải pháp hữu hiệu để kịp
thời khắc phục trong thời gian tới.
Thưa các đồng chí,
Năm 2021 là năm mở đầu cho một thập kỷ mới,
cho một thời kỳ phát triển mới của đất nước; năm diễn ra Đại hội XIII của Đảng,
bầu cử Quốc hội khoá XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026; năm
đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và nghị quyết đại hội đảng bộ
các cấp. Tình hình an ninh chính trị thế giới, khu vực sẽ còn có những diễn biến
phức tạp, khó lường. Ở trong nước, thời cơ, thuận lợi là cơ bản, nhưng cũng còn
nhiều khó khăn, thách thức. Các thế lực thù địch sẽ còn đẩy mạnh các hoạt động
"diễn biến hoà bình", thúc đẩy "tự diễn biến", "tự
chuyển hoá", tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội; tình hình
thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu; hoạt động của các
loại tội phạm sẽ còn có những diễn biến bất thường... Những vấn đề đó chắc chắn
sẽ tác động trực tiếp đến việc thực hiện nhiệm vụ của Quân đội.
Trong bối cảnh đó, tôi tán thành các mục
tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nêu trong Báo cáo tổng kết; chỉ nhấn mạnh và lưu ý
thêm một số nội dung để các đồng chí tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện cho
tốt.
Trước hết, Quân uỷ Trung ương và toàn
quân phải tiếp tục nêu cao tinh thần cảnh giác, ý chí cách mạng tiến công, đề
cao tính chiến đấu và chỉ đạo thực hiện quyết liệt Nghị quyết Đại hội XIII của
Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI. Thực hiện tốt chức năng
tham mưu với Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng; chủ động nắm chắc, đánh
giá, dự báo đúng tình hình để tham mưu với Đảng, Nhà nước những đối sách bảo vệ
đất nước, giữ vững ổn định, hoà bình, làm nền tảng để xây dựng, phát triển đất
nước bền vững. Tập trung xử lý có hiệu quả một số vấn đề biển, đảo, biên giới,
nhất là các tình huống trên Biển Đông, tuyến biên giới và vùng biển Tây Nam,
các quan hệ quốc tế, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn
lãnh thổ của Tổ quốc. Quân đội tuyệt đối không được chủ quan, thoả mãn; không
được để xảy ra bị động, bất ngờ.
Chủ động phối hợp chặt chẽ với các cấp,
các ngành, các địa phương triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả chủ trương
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quân sự, quốc phòng; trực tiếp
là các chiến lược, nghị quyết, kết luận của Đảng và các luật của Nhà nước mới
được ban hành, kết hợp bảo đảm quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã
hội, nhất là trên các địa bàn chiến lược, trọng điểm. Tiếp tục cụ thể hoá và tổ
chức thực hiện thật tốt Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, xây dựng nền quốc phòng vững
mạnh, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Hai là, phát huy sức mạnh tổng hợp để
xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân vững mạnh; xây dựng
các khu vực phòng thủ vững chắc, liên kết chặt chẽ trong thế trận phòng thủ của
các quân khu; hoàn chỉnh quy hoạch tổng thể bố trí quốc phòng gắn với phát triển
kinh tế - xã hội. Nâng cao chất lượng xây dựng và hoạt động của lực lượng dân
quân tự vệ, dự bị động viên; coi trọng xây dựng hải đội dân quân thường trực,
dân quân ở những địa bàn trọng điểm, tuyến biên giới. Làm tốt công tác giáo dục
quốc phòng, an ninh, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, hành động của toàn dân đối
với nhiệm vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Phối hợp chặt chẽ giữa Quân đội
với Công an và các lực lượng chức năng khác để chủ động đấu tranh làm thất bại
mọi âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch; phòng, chống vi phạm,
tội phạm, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trong phạm vi cả
nước, đặc biệt là vào thời điểm diễn ra Đại hội XIII của Đảng, bầu cử Quốc hội
khoá XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026.
Quân đội cần phối hợp chặt chẽ với các bộ,
ban, ngành Trung ương, cấp uỷ, chính quyền và nhân dân các địa phương, chuẩn bị
tốt mọi mặt, tính toán căn cơ hơn để sẵn sàng ứng phó, khắc phục hậu quả của
thiên tai, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, với tinh thần ở đâu khó khăn, gian khổ,
hiểm nguy, ở đó có bộ đội; kịp thời bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân.
Chúng ta không được chủ quan, thoả mãn, cần tiếp tục thực hiện các biện pháp
phòng, chống dịch Covid-19, duy trì các chốt, điểm, ngăn chặn ngay từ bên ngoài
và làm chặt chẽ ở bên trong, đề phòng dịch bệnh bùng phát trở lại, bởi những
nguy cơ lây nhiễm trong cộng đồng là rất lớn. Làm tốt công tác dân vận, công
tác chính sách, xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, xây dựng nông
thôn mới, tạo sự đoàn kết, đồng lòng của toàn dân, củng cố vững chắc thế trận
lòng dân.
Ba là, tập trung đổi mới công tác huấn
luyện, diễn tập, nâng cao trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu của Quân đội;
xây dựng đơn vị "mẫu mực, tiêu biểu", toàn quân có môi trường văn hoá
lành mạnh, giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương; chủ động phòng ngừa, không để tiêu cực,
tệ nạn xâm nhập, thẩm thấu vào nội bộ Quân đội. Tiếp tục chỉ đạo thực hiện có
hiệu quả Kết luận 16 và Nghị quyết 15 của Bộ Chính trị về tổ chức lực lượng và
bảo đảm vũ khí trang bị cho Quân đội; quyết liệt điều chỉnh để đến năm 2025, cơ
bản kiện toàn tổ chức biên chế theo hướng tinh, gọn, mạnh; đến năm 2030 một số
quân chủng, binh chủng, lực lượng hiện đại; phấn đấu từ năm 2030 xây dựng Quân
đội hiện đại. Trong mua sắm, sản xuất vũ khí phải bảo đảm chất lượng, đồng bộ,
hiệu quả và ưu tiên các dự án mua sắm trọng điểm, không để xảy ra thất thoát,
tiêu cực, lãng phí. Bảo đảm đầy đủ, kịp thời hậu cần, kỹ thuật, đẩy mạnh phát
triển công nghiệp quốc phòng và các mặt công tác khác, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
Tích cực ứng dụng thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đẩy mạnh
xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng; từng bước xây dựng nền công nghiệp
quốc phòng độc lập, tự chủ, hiện đại, nâng cao tiềm lực quốc phòng, sức mạnh
phòng thủ của đất nước.
Bốn là, chăm lo xây dựng Quân đội vững mạnh
toàn diện, đặc biệt là vững mạnh về chính trị; Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững
mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; đề cao tính tiền phong, gương
mẫu của người đứng đầu cấp uỷ và chỉ huy đơn vị. Chú trọng làm tốt công tác
giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục sâu sắc nhiệm vụ, bồi dưỡng tình cảm, đạo
đức cách mạng, tình thương yêu đồng chí, đồng đội cho cán bộ, chiến sĩ, bảo đảm
cho Quân đội luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung
thành, là chỗ dựa vững chắc, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, sẵn sàng
nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ trong mọi tình huống. Tiếp tục đấu tranh với
các quan điểm sai trái, thù địch hòng chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ, Quân đội
ta. Đấu tranh chống các biểu hiện cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, giảm sút niềm tin,
mơ hồ, mất cảnh giác; không để suy thoái, "tự diễn biến", "tự
chuyển hoá" trong nội bộ. Quân đội phải làm mạnh hơn nữa, bài bản hơn nữa,
quyết liệt hơn nữa, hiệu quả hơn nữa. Đối với những người lầm đường, lạc lối
thì phải kiên trì vận động, cảm hoá, giáo dục, thuyết phục. Đối với những kẻ mượn
cớ, nhân danh "góp ý" để chống đối, phá hoại thì phải kiên quyết trừng
trị theo pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Đảng, kỷ luật của Quân đội.
Tiếp tục làm tốt công tác xây dựng, chỉnh
đốn Đảng, chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; phát huy vai trò đội
ngũ cán bộ các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ chủ trì, phải thực sự nêu gương, thực
sự mẫu mực về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; trách nhiệm, trí tuệ và năng
lực thực tiễn để đáp ứng ngày càng cao yêu cầu, nhiệm vụ cả trước mắt và lâu
dài. Phải chủ động kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngay
trong nội bộ; phải dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật, không sợ
khuyết điểm, càng không che giấu khuyết điểm; không nể nang, né tránh, kiên quyết
xử lý các vi phạm. Tăng cường kiểm tra, giám sát, giữ nghiêm kỷ luật đảng và kỷ
luật quân đội.
Năm là, tiếp tục quán triệt sâu sắc đường
lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá và hội nhập quốc tế của
Đảng, không ngừng nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại quốc phòng, góp phần bảo
vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc phòng với các nước, nhất là các nước liền kề, các
nước ASEAN và bạn bè truyền thống. Chủ động tham gia các cơ chế hợp tác quốc
phòng đa phương. Tham gia có trách nhiệm vào hoạt động gìn giữ hoà bình của
Liên hợp quốc, nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của đất nước và Quân đội.
Thưa các đồng chí,
Năm 2020 đang dần khép lại với đầy ắp
các sự kiện, với biết bao nhiêu khó khăn, trở ngại; với một khối lượng công việc
to lớn, nặng nề và phức tạp. Nhưng cũng là năm để lại nhiều dấu ấn rất tốt đẹp,
sâu sắc trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và bạn bè quốc tế; năm để lại
cho chúng ta những thành quả rất quan trọng, niềm tin tưởng và hy vọng lớn lao và cho ta thêm nhiều bài học quý. Một
không khí vui mừng, phấn khởi đang lan toả khắp cả nước, thể hiện sự gắn bó, thống
nhất giữa ý Đảng và lòng dân. Tôi tin tưởng rằng, với tinh thần đoàn kết, dân
chủ, đổi mới, trách nhiệm, quyết tâm cao, nhất định Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc
phòng và cán bộ, chiến sĩ toàn quân sẽ hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ năm 2021,
mãi mãi xứng danh "Bộ đội Cụ Hồ" và sự yêu mến, tin cậy của Đảng, Nhà
nước và nhân dân.
Tôi đề nghị, ngay sau Hội nghị này, các
đồng chí cần khẩn trương phổ biến, học tập và quán triệt để toàn quân triển
khai thực hiện tốt nhiệm vụ năm 2021 với tinh thần: Năm 2021 phải làm tốt hơn
năm 2020. Trước mắt, thực hiện tốt nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, phối hợp thực
hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ tuyệt đối an toàn Đại hội XIII của Đảng và các sự kiện
chính trị quan trọng của đất nước, chuẩn bị đón Tết Tân Sửu, công tác tuyển
quân và huấn luyện năm 2021.
Nhân dịp chuẩn bị bước sang năm mới
2021 và chào đón Xuân Tân Sửu, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước và với tình cảm
cá nhân, tôi thân ái gửi tới các đồng chí đại biểu cùng toàn thể cán bộ, chiến
sĩ, công nhân, viên chức quốc phòng trong toàn quân và lực lượng dân quân tự vệ
cả nước lời chúc sức khoẻ, hạnh phúc, giành nhiều thắng lợi trong năm công tác
mới với một quyết tâm mới và khí thế mới, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được
giao, tiếp tục xứng danh Quân đội anh hùng của Nhân dân Việt Nam anh hùng!
Trân trọng cảm ơn các đồng chí./.
Cảnh giác với các chiêu trò vốn không mới
Một trong các thủ đoạn mà các thế lực thù địch, cơ hội chính trị gia tăng chống Đảng Cộng sản Việt Nam và nền tảng tư tưởng của Đảng khi Đại hội XIII của Đảng đến gần là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng. Các hoạt động kiểu này vốn không mới, thậm chí ngôn từ cũng không mới, có chăng là nhóm những người chống đối này không chỉ tự mình phủ nhận mà còn nhân danh yêu nước, yêu Tổ quốc và nhân dân để xuyên tạc, kích động nhằm gây tâm lý hoang mang trong các tầng lớp nhân dân và một bộ phận cán bộ, đảng viên, trí thức vốn đã "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".
LUẬT SƯ MỸ VÀ GÓC NHÌN VỀ VỤ ÁN ĐỒNG TÂM
1. Vụ án này là vụ án hình sự, không phải vụ án chính trị song một số luật sư bào chữa cho một số bị cáo lại muốn đánh tráo khái niệm, họ gọi đây là vụ án "mang đầy màu sắc chính trị" như một luật sư đã đăng trên trang Facebook của ông ngay ngày đầu xử án. Vấn đề cơ bản nhất là lúc đầu số người hùa theo "tổ đồng thuận" đã không hiểu luật một cách đúng đắn.
Luật sư Mỹ gốc Việt - Hoàng Duy Hùng
Ở Việt Nam, đất đai là của Nhà nước, người dân được trao quyền sử dụng, khi cần sử dụng cho việc chung (như xây dựng công trình công cộng, công trình quốc phòng,... thì Nhà nước thu hồi, đền bù). Ở Mỹ và châu Âu cũng có luật Eminent Domain tương tự như vậy. Ðất Ðồng Sênh là đất của sân bay Miếu Môn, là đất phục vụ nhiệm vụ quốc phòng.
Từ những năm 1980, khi là Bí thư Ðảng ủy, Chủ tịch UBND xã Ðồng Tâm, ông Lê Ðình Kình đã cắt đất bán cho sáu hộ dân một cách bất hợp pháp. Sau đó, sáu hộ đó sang tay và nhân lên thành 14 hộ. Khi thu hồi, Nhà nước đã điều đình, đền bù cho 14 hộ, họ nhận tiền, vui vẻ di dời. Các nhân chứng cho biết ông Lê Ðình Kình cùng "tổ đồng thuận" gây áp lực không cho các chủ hộ này dời đi, rồi hăm dọa, thậm chí đánh đập một số chủ hộ.
Gia đình ông Lê Ðình Kình và các bị cáo không có một mét vuông đất ở Ðồng Sênh sao lại gọi là tranh chấp đất đai? Các bị cáo thú nhận ông Lê Ðình Kình cho họ ăn "bánh vẽ" mỗi mét vuông giá sáu triệu đồng để khơi dậy lòng tham, kích động họ vi phạm pháp luật. Tôi lấy làm tiếc khi lòng tham đã che khuất lý trí của họ.
Dù từ khi sự việc xảy ra, chính quyền đã tổ chức gặp gỡ, thảo luận, báo chí tuyên truyền, phổ biến các điều luật liên quan, chỉ rõ hành vi sai trái, kêu gọi tuân thủ pháp luật nhưng họ vẫn không nhận thức để tự giác điều chỉnh hành vi. Hơn nữa, khi lực lượng chức năng thực hiện biện pháp cần thiết để bảo vệ trật tự, ông Lê Ðình Kình cùng đồng phạm đã có kế hoạch chống trả từ trước, cho nên không thể coi việc giết hại Công an một cách rất dã man lại thuộc về lĩnh vực "chính trị".
2. Trước, trong và sau khi phiên tòa được tổ chức, một số tổ chức, cá nhân đã cố gắng "quốc tế hóa" vụ án để kích động. Từ ngày 9-1-2020, khi vụ án xảy ra, các tổ chức chống cộng ở nước ngoài, nhất là tổ chức khủng bố "Việt Tân", đã ráo riết tiếp cận một số chính phủ để rêu rao Nhà nước Việt Nam "giết" ông Lê Ðình Kình, đề nghị họ can thiệp. Tội nghiệp thay cho đến nay, không có bất kỳ chính phủ nước nào lên tiếng can thiệp. Vì làm sao can thiệp khi cơ quan Cảnh sát điều tra có đủ tang chứng, nhân chứng, vật chứng và lời thú tội của các bị cáo. Chưa kể, pháp luật nhiều nước trên thế giới đều có chế tài rất nghiêm khắc đối với hành vi sai phạm này.
Ở Mỹ, án lệnh của Tối cao Pháp viện trong vụ Graham v. Connor (Gờ-ra-ham Co-nơ), 490 U.S. 386 (1989) cho phép Cảnh sát dùng vũ lực bắn chết nghi phạm trong cả các trường hợp dân sự nếu Cảnh sát cảm thấy tính mạng của mình bị đe dọa. Chánh Thẩm phán lúc đó là W.Rehnquist (W.Ren-quýt) viết án lệnh như sau: "Các cảnh sát viên phải quyết định chỉ trong tích tắc, rất căng thẳng, không chắc chắn tình thế ra sao cho mình, nên áp dụng bạo lực cần thiết là điều có lý (reasoanable)".
Căn cứ các bài viết và những hình ảnh công bố trên Facebook trước đó thì "tổ đồng thuận" đã chuẩn bị bom xăng, dao bầu, dao chọc, dao phóng lợn, bình gas, lựu đạn,... thề sẽ giết chết "từ 300 đến 500" Công an thì rõ ràng, đó là một nhóm khủng bố cần áp dụng bạo lực cần thiết nếu họ chống người thi hành công vụ. Ở Mỹ, khi Cảnh sát tiến vào mà một người cầm lựu đạn đòi ném vào cảnh sát thì không những họ bắn chết một mình người đó, mà bắn luôn cả những ai có mặt, không chỉ bắn một phát súng mà bắn cả một băng đạn. Vì luật pháp của Mỹ cũng như các quốc gia phương Tây như thế và trước vật chứng, nhân chứng, lời thú tội của các bị cáo, cho nên không nhà nước nào lên tiếng hoặc can thiệp vào vụ án xảy ra ở Ðồng Tâm, và đã làm cho những người chống phá Nhà nước Việt Nam bị nhục nhã, tẽn tò.
3. Tôi thấy tính nhân văn, lượng khoan hồng của luật pháp Việt Nam rất cao khi Viện Kiểm sát nhân dân chuyển 19 người từ tội danh "giết người" sang tội danh "chống người thi hành công vụ". Ở Mỹ, dù có khoan hồng, họ chỉ chuyển đổi tội "giết người" sang tội "đồng lõa giết người" với mức án chí ít cũng 20 năm hoặc chung thân. Viện Kiểm sát nhân dân quyết định đổi tội danh vì các bị cáo đã nhận ra lỗi lầm và ăn năn, hối hận. Họ cũng nói rõ tự nguyện nhận lỗi để được khoan hồng chứ không bị bức cung.
Chính ông Bùi Viết Hiểu, không cần tham khảo với luật sư của ông, đã bất ngờ giơ tay phát biểu thay đổi lời khai, thú nhận lỗi lầm. Theo tôi, từ hành động của ông Bùi Viết Hiểu và các bị cáo khác, mà ông mới được nhận mức án từ 16 đến 18 năm tù, còn cứ nghe cố vấn của luật sư để cố cãi theo chiều hướng vô tội, có thể sẽ bị đề nghị mức án cao hơn.
4. Theo tôi, một số luật sư bào chữa cho một số bị cáo trong vụ án có biểu hiện không bình thường. Hoạt động nghề nghiệp của mấy luật sư này tại phiên tòa khiến bị cáo nản lòng, nên trước ngày tranh luận cuối cùng, một số người công khai không nhờ luật sư biện hộ nữa, đó là điều rất hy hữu.
Luật pháp cho phép luật sư dựa trên cơ sở pháp luật để bảo vệ quyền lợi thân chủ của mình một cách tối đa, nhưng khi đã có bằng chứng, nhân chứng, vật chứng, và lời thú tội của bị cáo thì không thể bào chữa theo hướng vô tội, mà phải bào chữa theo hướng hối lỗi để được pháp luật khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt. Nhưng mấy luật sư này không làm thế, thậm chí còn đổ lỗi cho Công an.
Trong lúc phiên tòa đang diễn ra, có luật sư còn lên Facebook cho rằng "lựu đạn chỉ là để tập luyện trên thao trường nên không phải là vũ khí"; một luật sư khác viết trên Facebook rằng đó là "lựu đạn rởm" không thể coi là vũ khí giết người... Nếu ở Mỹ, theo án lệnh Graham v. Connor, 490 U.S. 386 (1989) đề cập ở trên, khi tính mạng bị đe dọa, chỉ trong tích tắc Cảnh sát phải quyết định có hay không bóp súng, đâu cần xác định lựu đạn "rởm" hay lựu đạn "thật" mới bắn hạ. Công an Việt Nam quá hiền, như theo luật pháp Mỹ thì Cảnh sát đã bắn cả băng đạn.
Tôi đặc biệt chú ý tới sự kiện ngay ngày đầu xử án, một vị luật sư than phiền vì không được ưu tiên gửi ô-tô gần tòa án, phải đi bộ 350 m trong trời mưa, cho nên khi bước vào tòa ông quát tháo ầm ĩ, rồi than phiền về Ðoàn Luật sư Hà Nội với mấy việc không dính líu tới vụ án. Ở Mỹ, luật sư tham gia vụ án đều bị nghiêm cấm không được viết hay bình luận khi quá trình xét xử đang diễn ra. Như luật sư nọ thì nếu không bị rút bằng hành nghề, thì chí ít cũng bị tống giam vì tội khinh miệt tòa án.
Tôi biết ngành Tư pháp ở Việt Nam đã có nhiều đổi mới rất tích cực; mấy vị luật sư này vẫn đòi cải tổ ngành Tư pháp của Việt Nam. Song có lẽ với hành xử nghề nghiệp vừa qua, họ cần cải tổ nhận thức của chính mình. Cần hiểu rằng không luật pháp ở quốc gia nào cho phép luật sư hành nghề một cách phi lý, ngang ngược, vừa bào chữa trước tòa, vừa lên mạng xã hội công bố thông tin, bình luận về sự kiện đang diễn ra tại phiên tòa.
Lời kết: Phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án "Giết người" và "Chống người thi hành công vụ" xảy ra tại Ðồng Tâm (Hà Nội) đã kết thúc, Tòa đã tuyên các bản án tương ứng với mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo. Và những người chống cộng cực đoan lại tiếp tục la lối, điều đó không có gì phải ngạc nhiên. Tôi rất đồng tình với bản án vì ngoài việc răn đe thì luật pháp còn có tính nhân đạo, giáo dục con người khi họ biết hối lỗi. Dù có thể có phiên tòa phúc thẩm, tôi vẫn mong những người đã phải nhận án tù sẽ cải tạo thật tốt để tiếp tục được hưởng khoan hồng, những người nhận án tù treo sẽ cố gắng sinh sống lương thiện để trở thành công dân tốt.
Là một luật sư người Mỹ gốc Việt, tôi quan sát vụ án và rất tán thành cách làm việc của tòa án, trình tự rõ ràng, xử lý nhân văn, mức án đúng người, đúng tội. Qua vụ án, pháp luật Việt Nam đã chứng tỏ với thế giới về sự nghiêm minh nhưng cũng đầy tính nhân văn. Cũng như trong thực tế cuộc sống đất nước hiện nay, ý Ðảng và lòng dân đã kết hợp hài hòa, triển khai rất cụ thể, hiệu quả. Phiên tòa là một bằng chứng thuyết phục, góp phần bẻ gãy những luận điệu chống phá Nhà nước Việt Nam


