Thứ Hai, 7 tháng 12, 2020

HẬU QUẢ NHÃN TIỀN.

Khởi tố vụ án hình sự liên quan đến bệnh nhân 1342 vi phạm quy định cách ly

Vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 3.12, Công an TP.HCM phối hợp Sở TT-TT TP.HCM tổ chức họp báo cung cấp thông tin về việc khởi tố vụ án hình sự lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người liên quan đến bệnh nhân 1342.
Bệnh nhân 1342 là nam tiếp viên hãng hàng không Quốc gia Vietnam Aiirlines.
Theo thông tin từ Bộ Y tế, bệnh nhân này sau khi thực hiện xong chuyến bay VN5301 từ Nhật Bản về Cần Thơ ngày 14.11 được cách ly tại khu cách ly do Vietnam Airlines quản lý (số 115 Hồng Hà, P.2, Q.Tân Bình, TP.HCM) từ ngày 14 - 18.11. Trong thời gian cách ly, bệnh nhân 1342 có tiếp xúc với đồng nghiệp trên chuyến bay khác (bệnh nhân 1325).
Cơ quan chức năng tổ chức họp báo thông tin về việc khởi tố vụ án hình sự “lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người”
Sau khi xét nghiệm 2 lần cho kết quả âm tính và toàn bộ hành khách trên chuyến bay VN5301 được xác nhận âm tính 2 lần, bệnh nhân 1342 được về cách ly tại nhà trọ (P305, lầu 3, số 50 Bạch Đằng, P.2, Q.Tân Bình, TP.HCM).
Trong quá trình cách ly, người này có tiếp xúc trực tiếp với 3 người, gồm: mẹ đẻ và hai người bạn (một nam, một nữ). Trong đó, người bạn nam (32 tuổi, trú tại P.3, Q.6, TP.HCM) có tới sống cùng. Ngày 28.11, bệnh nhân được lấy mẫu xét nghiệm lần 3, cho kết quả dương tính.
Bệnh nhân 1342 được xác định là F0 của 3 ca nhiễm Covid-19 khác lây lan trong cộng đồng gồm các ca số 1347, 1348 và 1349.
Trong phiên họp Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch Covid-19 ngày 1.12, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đánh giá vụ việc lây lan dịch bệnh ra cộng đồng xuất phát từ tiếp viên hàng không là vi phạm nghiêm trọng, đồng thời yêu cầu làm rõ trách nhiệm của từng bộ phận, cá nhân trong thực hiện quy trình cách ly để có biện pháp xử lý nghiêm minh.
Trao đổi với báo chí bên lề Hội nghị cán bộ chủ chốt TP.HCM học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ TP.HCM sáng ngày 3.12, Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Thành Phong cho biết đã yêu cầu các đơn vị liên quan nghiên cứu các quy định pháp luật liên quan đến công tác phòng chống dịch, nếu đủ cơ sở thì có thể khởi tố vụ án hình sự.

PHÁO POKEMON

Hiện tại, ở các trường học các em học sinh đang đổ xô" đầu tư " cho một trò chơi mới, trò chơi được mang tên là nổ pháo.

Trên thị trường có rất nhiều loại pháo, và lần lần đầu tiên có mặt loại pháo nổ dành cho trẻ em chơi có tên gọi là: Pháo Pokemon hay còn gọi là " bom Pokemon". Đây là một trò chơi hết sức nguy hiểm.
Tiếng nổ phát ra âm thanh lớn, về hình thức bên ngoài được trang trí bắt mắt in những con thú trong bộ truyện tranh Pokemon của Nhật Bản.Pháo Pokemon được làm bằng bao bì nhựa cứng, bốn góc bì được ép kín và có dòng chữ của Trung Quốc. Trong bì có khoảng 40 viên pháo nhỏ, có chất bột màu trắng không mùi, có một gói nhỏ đựng dung dịch có độ dẻo. Giá bán trên thị trường giao động từ 1.000đ - 2.000đ/gói. Bởi vì giá cả hạt dẻ phù hợp với túi tiền của học sinh nên các em ưa chuộng mua và sử dụng loại trò chơi này.
Khi sử dụng, các em dùng tay bóp hoặc giẫm chân lên cho viên pháo bên trong phồng lên, sau đó chúng phát ra tiếng nổ lớn, kèm theo đó là một thứ dung dịch lỏng bắn ra, loại hóa chất độc gây kích ứng, mẫn ngứa cho da, và đặc biệt là gây tổn thương mắt.
Theo thông tin từ cơ quan chức năng, đây là loại đồ chơi không rõ ràng nguồn gốc và chưa được cơ quan chức năng kiểm nghiệm về tính an toàn của sản phẩm.
Quý phụ huynh và các em học sinh phải cảnh giác cao độ với loại đồ chơi nguy hiểm .Tuyệt đối không mua không sử dụng.

VAI TRÒ CỦA LỰC LƯỢNG TÁC CHIẾN TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG! MẶT TRẬN KHÔNG TIẾNG SÚNG

Hiện nay, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ Tư với sự phát triển của Internet trên tất cả các lĩnh vực, không gian mạng đã và đang trở thành vùng lãnh thổ mới có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của mỗi quốc gia.

Trong chiến tranh hiện đại, không gian mạng được coi là môi trường tác chiến thứ 5 gắn kết chặt chẽ với tác chiến trên không, trên bộ, trên biển và trong không gian vũ trụ. Chiến tranh không gian mạng được tiến hành rất đa dạng về phương pháp tác chiến, linh hoạt về thời gian tiến hành, không phân định ranh giới rõ ràng nhưng hậu quả thì rất khó lường và có phạm vi ảnh hưởng rộng lớn; tấn công làm tê liệt hoạt động của các hệ thống thông tin quân sự, kiểm soát khống chế cơ sở hạ tầng thông tin quân sự, quốc phòng; xâm nhập, thu thập, tấn công chiếm quyền điều khiển, vô hiệu hóa các hệ thống điều khiển vũ khí, khí tài quân sự, thậm chí sử dụng chính những vũ khí này để tấn công lại đối phương; tổ chức các hoạt động của chiến tranh tâm lý, chiến tranh thông tin trên không gian mạng vào đối phương.
Thực tiễn trong các cuộc chiến tranh gần đây, đã cho thấy, chiến tranh không gian mạng có vai trò đặc biệt to lớn, góp phần quan trọng trong thắng lợi trên chiến trường. Trong chiến tranh Kosovo năm 1999, các tin tặc của Nga và Nam Tư thông qua hệ thống vệ tinh xâm nhập vào tàu sân bay Nimitz của Mỹ trên biển Adriatic, lây nhiễm virus và gửi thông báo “Chỉ có hòa bình mới có thể mang lại hạnh phúc cho loài người” vào tất cả các máy tính làm tê liệt toàn bộ hệ thống chỉ huy, thông tin và kiểm soát của tàu sân bay, làm cho tàu sân bay không hoạt động; năm 2009, Mỹ đã sử dụng vũ khí Stuxnet nhằm vào hệ thống làm giàu Uranium của Iran và phá hủy các máy ly tâm làm chương trình hạt nhân của Iran bị chậm lại một đến hai năm.
Tiến hành các hoạt động trên không gian mạng thông qua các mạng xã hội, hệ thống truyền thông để tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo sự thật, kích động hận thù dân tộc, tôn giáo, gây chia rẽ nội bộ quốc gia đối phương, kích động dân chúng chống lại chính quyền, làm rối loạn xã hội, dẫn đến xung đột. Điển hình: Các cuộc Cách mạng “Mùa xuân Ả Rập” hay “Cách mạng hoa nhài”... với sự hỗ trợ đắc lực của KGM đã dẫn tới sự sụp đổ nhanh chóng của Chính phủ nhiều nước Trung Đông - Bắc Phi như Ai Cập, Libya, Tunisia, Syria... Đối với Việt Nam hiện nay, các thế lực thù địch và những phần tử cơ hội chính trị đẩy mạnh các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội. Chúng đưa ra những thông tin sai trái, tiêu cực, thậm chí vu không, bịa đặt hết sức trắng trợn nhằm làm giảm lòng tin của các tầng lớp nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, kích động, lôi kéo, tập hợp lực lượng, nhen nhóm hình thành các tổ chức phản động, gây mất ổn định chính trị đất nước... Đây là những vấn đề hàng ngày, hàng giờ tác động tới nhận thức, tư tưởng, đạo đức, lối sống, nếp sống văn hóa, ý thức tổ chức kỷ luật của lực lượng tác chiến không gian mạng.
Lực lượng tác chiến không gian mạng là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng; là lực lượng quan trọng tham gia bảo đảm an ninh, an toàn không gian mạng quốc gia, đấu tranh phòng chống tội phạm công nghệ cao và “diễn biến hòa bình” trên không gian mạng; chuẩn bị sẵn sàng nguồn lực để thực hiện nhiệm vụ tác chiến không gian mạng góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền của Tổ quốc. Tuy nhiên, đây là lực lượng tác chiến mới, đang trong giai đoạn xây dựng và phát triển. Môi trường chiến đấu của lực lượng tác chiến không gian mạng mang tính đặc thù hoạt động tác chiến độc lập, khó kiểm soát, đòi hỏi tính tự giác cao. Môi trường đó tiềm ẩn rất nhiều rủi ro, dễ bị kẻ xấu lôi kéo mua chuộc; đội ngũ cán bộ đa phần là cán bộ kỹ thuật tuổi đời còn trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm trong tác chiến; trình độ lý luận chính trị còn hạn chế, nhất là nhận thức về âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch còn giản đơn. Chính vì vậy, tác chiến trên không gian mạng đòi hỏi rất cao về phẩm chất chính trị - đạo đức nhất là lòng trung thành với Tổ quốc, với Nhân dân.

AI ĐÃ VÔ ƠN THƯA ÔNG NGÔ BẢO CHÂU?

Câu chuyện về bệnh nhân số 1342 của hãng Vietnam airlines tưởng như đã tạm yên ổn khi mà Chính phủ, các bộ ngành, các cơ quan chức năng TP HCM đã rất nhanh chóng khống chế dịch. Thế nhưng, mới đây giáo sư Ngô Bảo Châu lại lên tiếng về cái gọi là "sự vô ơn của đám đông" đã biến những tiếp viên hàng không từ người hùng trở thành tội đồ. Xin có đôi lời gửi giáo sư:

Người Việt Nam ta nổi tiếng khắp thế giới với truyền thống "uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây". Tình nghĩa "đồng bào" thiêng liêng, cao cả, chẳng nơi nào có được. Chính vì thế mà khi covid 19 bùng phát khắp toàn cầu, nhiều nước mất kiểm soát, người Việt Nam phải đối diện với nguy cơ lây nhiễm, bị mắc kẹt ở hải ngoại; đó cũng là lúc mà nhà nước ta "không để ai ở lại phía sau". Vietnam airlines đã thực hiện những chuyến bay mang thông điệp "cùng bộc", đến với tâm dịch để đón công dân về quê hương để được cách ly, chữa trị. Chẳng ai vô ơn trong vấn đề này! Chẳng ai vội quên các tổ bay đã cứu dân ta trong lúc hoạn nạn.
Một quốc gia được coi là văn minh, khi và chỉ khi quốc gia đó có những con người văn minh. Cái nét văn minh đó không phải nằm ở khẩu hiệu hay sách vở mà nó nằm ở ý thức, trách nhiệm của mỗi công dân với quốc gia, dân tộc, với cộng đồng. Bệnh nhân 1342 và tổ bay thuộc hãng Vietnam airlines phải chịu trách nhiệm trước việc để lây lan dịch ra cộng đồng, gây hậu quả nghiêm trọng. Việc xử lý hình sự là không thể biện minh, nó mang tính răn đe, làm gương cho người khác. Vô ơn ư? Ông có biết là chỉ vì một nhóm người mà khiến cho hàng ngàn, hàng vạn người phải chịu ảnh hưởng cả về sức người lẫn sức của? Những người có trách nhiệm phòng chống dịch phải lao tâm, khổ tứ, mất ăn, mất ngủ, tục trực ngày đêm để kiểm soát dịch, giữ cho nhân dân được yên bình? Nhân viên của Vietnam airlines là những người hiểu rõ nhất các quy định của bộ Y tế, thế nhưng họ vẫn cố tình vi phạm. Biết luật mà phạm luật, biết có thể xảy ra hậu quả nghiêm trọng mà vẫn làm, vậy ai mới là người vô ơn.
Việt Nam trước khi tái có ca lây nhiễm ra cộng đồng từ bệnh nhân số 1342 thì cả nước đã 99 ngày sạch bóng covid 19. Vậy ai đã vô ơn khi biến mọi nỗ lực của cả nước xuống sông, xuống biển? Ai đã gây rối loạn cho cả thành phố Hồ Chí Minh? Làm người phải tách bạch rõ ràng mọi vấn đề, đúng, sai, phải, trái phải tường minh! Những cống hiến của cả tập thể Vietnam airlines là không một ai có lương tri có thể phủ nhận, thế nhưng sai phạm của cả tổ quản lý bay và cách ly thuộc Vietnam airlines là không thể chối cãi, không thể không xử lý theo quy định của pháp luật. Có công được thưởng, có lỗi phải chịu phạt, đó là luân lý xưa nay!
Ai đã vô ơn ư? Tôi nghĩ, ông là người đặt vấn đề thì cũng chính ông là người giải quyết vấn đề một cách thấu đáo nhất! Vô ơn là khi là người Việt Nam, sinh ra và lớn lên dưới chế độ này nhưng vì danh lợi mà rời bỏ tổ quốc để tìm đến cái nơi mà người ta cho là văn minh, quay lại xiên xỏ, xúc phạm lãnh tụ muôn vàn kính yêu của dân tộc Việt Nam. Vô ơn là khi con người ta được nuôi dưỡng từ bầu sữa mẹ Việt Nam nhưng lại quay lưng với đất nước, cho dù đã được tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để phát triển tài năng! Tôi cho rằng, ông Ngô Bảo Châu cần nghiên cứu lại định nghĩa về cái gọi là vô ơn./.

HOÀ HỢP NHƯNG KHÔNG ĐƯỢC QUÊN QUÁ KHỨ ĐAU THƯƠNG CỦA DÂN TỘC!

 Ngày 30/4/1975, mãi mãi là ngày trọng đại nhất trong các ngày trọng đại. Dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta thực hiện thành công Di chúc của Bác Hồ vĩ đại, dồn toàn lực “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, viết nên khúc khải hoàn ca vĩ đại nhất thế kỷ 20, thu giang sơn về một mối, Nam - Bắc một nhà để “nối lại nhịp cầu cho đôi lứa yêu nhau”, không còn cảnh “xa khơi” của ngày Bắc đêm Nam. Chiến tranh đã qua, vết thương đã liền sẹo. Đảng và Nhà nước ta đã làm rất tốt công tác hòa hợp dân tộc mà cụ thể là Nghị Quyết 36 của Bộ Chính trị; người Việt Nam ở hải ngoại là bộ phận không thể tách rời của dân tộc ta; hưởng ứng lời kêu gọi hòa hợp dân tộc để kết nối nhưng “khúc ruột vạn dặm” với đất nước tạo nên khối đại đoàn kết dân tộc vững chắc, tay nắm tay xây dựng nước Việt Lạc Hồng cường thịnh.

Nhiều người là chính khách, sĩ quan cao cấp của chế độ cũ, kiều bào ta ở hải ngoại đã trở về với đất mẹ Việt Nam như Nguyễn Cao Kỳ, Phó Tổng thống, Thủ tướng ngụy quyền Sài Gòn là một trong những người như thế, ông trở về để thấy sự thay đổi của quê hương, kêu gọi đồng bào ở hải ngoại bỏ thù hận, khép lại quá khứ đau thương của dân tộc để chung tay xây dựng một Việt Nam hùng cường. Trong những lần trở về, Ông Kỳ cũng đã nhận rõ những nỗ lực xây dựng quê hương từ điêu tàn của khói lửa chiến tranh của những người cộng sản. Chính ông Kỳ đã vạch mặt những kẻ chống cộng cực đoan ở hải ngoại: “Nước Việt Nam có mất cho Tây cho Tàu đâu mà phục quốc? Chưa kể là một số người cho là 3 triệu người hải ngoại không thể nhân danh tổ quốc Việt Nam được. Và tôi từng hỏi nếu họ thật sự yêu nước thì họ phải biết ngồi im và biết suy nghĩ chứ đừng đi theo một lũ côn đồ, hám danh hám lợi, lừa gạt mọi người. Cứ nhân danh chính nghĩa quốc gia, nhân danh tự do dân chủ, nhân danh chống cộng, dân chủ mà đi lừa gạt người ta”. Phát biểu của Ông Kỳ là cú đấm có sức mạnh ngàn cân, đấm thẳng vào mặt những tổ chức nhân danh chống cộng để lừa đảo kiếm tiền như: Hoàng Cơ Minh, Đào Minh Quân, Lý Thái Hùng, Đỗ Hoàng Điềm…
Hòa hợp dân tộc là việc làm thường xuyên, liên tục và được thực hiện kể sau ngày 30/4/1975 chứ không phải bây giờ mới thực hiện. Có điều là hiện nay, có nhiều kẻ mượn cớ “hòa hợp dân tộc” để mưu đồ bất chính, “rửa mặt cho nguy”! Chúng cho rằng “Công nhận VNCH để được thụ đắc liên tục đối với miền Nam Việt Nam, trong đó có chủ quyền biển đảo”. Đó là điều không thể chấp nhận! Chúng ta khép lại chứ không được phép đóng lại và quên đi, hoặc xét lại lịch sử, xuyên tạc sự thật lịch sử.
Mỹ xâm lược Việt Nam và cái giá mà họ phải trả trước một dân tộc nhỏ bé nhưng quật cường bằng hơn 58.000 mạng, 305.000 ngàn lính Mỹ bị tần phế suốt đời, hàng trăm ngàn cựu binh từng tham chiến ở Việt Nam bị “hội chứng Việt Nam”, bị điên hoặc ảo giác vì ám ảnh bởi tội ác chiến tranh; mất hơn 1000 tỷ USD (theo thời giá hiện nay) cùng vũ khí, khí tài hiện đại, chất độc da cam và hàng trăm ngàn quân chư hầu vào miền Nam Việt Nam nhưng không thể khuất phục được một dân tộc anh hùng, chúng phải cúi đầu, cuốn cờ cút khỏi Việt Nam sau khi ký Hiệp Định Paris 1973. Chế độ tay sai, bù nhìn ngụy Sài Gòn do mỹ do Mỹ nặn ra để phục vụ cho mục đích xâm lược của chúng; Mỹ là kẻ ăn cướp và để hợp thức hóa cho mục đích ấy chúng đã dựng nên đám tay sai, đứng tên để hợp thức hóa việc xâm lược và che mắt dư luận thế giới. Nói thế để hiểu rằng, từ 1955 - 1975, Mỹ mới là người quyết định chứ không phải là ngụy. Điều đó đã được minh chứng qua câu nói của ông Nguyễn Cao Kỳ: “Việt Cộng gọi chúng tôi là những con rối, những con bù nhìn của người Mỹ. Nhưng rồi chính nhân dân Mỹ cũng gọi chúng tôi là những con bù nhìn của người Mỹ, chứ không phải là lãnh tụ chân chính của nhân dân Việt Nam”.
Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị! ngày 02/9/1945, Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình, khai sinh ra nước VNDCCH và đến năm 1946 thì tổng tuyển cử toàn quốc, Quốc hội nước ta ra đời, Hiến pháp 1946 ra đời và Nhà nước và Chính phủ VNDCCH do Bác Hồ đứng đầu là nhà nước hợp hiến, hợp pháp và do chính nhân dân Việt Nam bầu ra. Theo lý mà nói thì kể từ đây Nhà nước ta có toàn bộ quyền quản lý trên toàn bộ lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam, từ Mũi Cà Mau đến Lủng Cú địa đầu! Mỹ xâm lược miền Nam, vi phạm Hiệp định Giơ Ne Vơ để chia đôi đất nước, lập nên ngụy Sài gòn thực chất là cướp quyền điều hành, quản lý miền Nam của VNDCCH. Nên nhớ, hiệp định Giơ Ne Vơ không có chữ nào nói “Việt Nam chia hai” mà chỉ nói tạm thời lấy Vĩ tuyến 17 làm giới tuyến, tổng tuyển cử thống nhất trước 1956. Sau 30/4/1975 đến nay, ta làm chủ lãnh thổ lãnh hải của mình. Vậy tại sao phải “Công nhận VNCH để được thụ đắc liên tục đối với miền Nam Việt Nam, trong đó có chủ quyền biển đảo”. Một chế độ khi tồn tại và được Mỹ chu cấp đến tận răng mà vẫn để cho Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, Malaysia, Campuchia, Phillpipines, Đài Loan…chiếm rất nhiều đảo tiền tiêu của chúng ta. Vậy thì cái xác chết đã hoai mục 45 năm nay thì làm được cái gì.
Đòi lại Hoàng Sa và một số đảo ở Trường Sa là nhiệm vụ của tất cả con dân Việt Nam; chúng ta kiên trì đấu tranh bằng pháp lý, trên cơ sở luật pháp quốc tế, Công ước quốc tế về Luật Biển năm 1982. Chúng ta phải đoàn kết, tự cường để đất nước hùng mạnh, đợi thời thế để lấy lại biển, đảo. Bảo đảm môi trường hòa bình để phát triển đất nước, vừa đấu tranh bằng lý trí chứ không nên kích động chiến tranh vì đó là hạ sách, là khi không còn cách lựa chọn nào khác. Chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ là bất biến nhưng khi còn giải pháp tối ưu hơn thì chúng ta lựa chọn vì chiến tranh xảy ra thì ngọc, đá đều tan, không phải là cái phúc của nhân dân mà chỉ là cơ hội cho đám tàn dư, phản động “đục nước, béo cò”.
Từ những lẽ trên, có thể khẳng định, hòa hợp dân tộc là điều rất tốt, chúng ta đã, đang và sẽ làm nhằm phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết để xây dựng đất nước giàu mạnh, thế nhưng không vì thế mà đánh tráo khái niệm, xuyên tạc lịch sử, đánh đồng giữa chính nghĩa và phi nghĩa, anh hùng và tiểu nhân. Rửa mặt cho giặc nhằm tiêm vào đầu con trẻ, thế hệ sau về cái gọi là “quốc gia VNCH”, “công nhận VNCH” hòng cào bằng lịch sử, xóa nhòa chiến công…là không thể chấp nhận. Chúng ta hãy tỉnh táo để đập tan luận điệu xuyên tạc của chúng:
"Không sức nào ngăn nổi sức dân quân
Ngày mai vẫn là ngày mai cộng sản".

Tích cực đấu tranh trên mặt trận chính trị, tư tưởng, phong, chống “diễn biến hoà bình” “phi chính trị hoá” lực lượng vũ trang.

 

Xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị phải kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chống những âm mưu, thủ đoạn, quan điểm, hiện tượng sai trái thù địch. Hiện nay chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang sử dụng chiến lược diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ để chống phá toàn diện sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Một trong những thủ đoạn cơ bản của chiến lược đó là chống phá trên lĩnh vực chính trị tư tưởng – văn hoá, “phi chính tri hoá” lực lượng vũ trang . Phòng, chống, đấu tranh, ngăn chặn và làm thất bại những âm mưu thủ đoạn đó sẽ góp phần trực tiếp xây dựng, củng cố lực lượng vũ trang về chính trị.

Tích cực, kiên quyết đấu tranh vạch trần những thủ đoạn xuyên tạc phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, vai trò và sự lãnh đạo của Đảng trong xã hội và trong lực lượng vũ trang; những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận lịch sử, truyền thống hào hùng của Đảng, dân tộc, lực lượng vũ trang, những luận điệu “ đa nguyên về chính trị, đa đảng đối lập”; ca ngơi, cổ vũ những giá trị của chủ nghĩa tư bản, văn hoá, lối sống phương tây; những thủ đoạn kích động đối lập Đảng với Nhà nước, với hệ thống chính trị, với lực lượng vũ trang; xuyên tạc, phủ nhận bản chất, mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận, tầm thường hoá, vô hiệu hoá vai trò của lực lượng vũ trang trong thời bình.

CẢNH GIÁC VỚI TRÀO LƯU XÉT LẠI LỊCH SỬ

Chủ nghĩa xét lại lịch sử là gì? Nói minh họa một cách đơn giản, đó là việc người Ukraine sẵn sàng từ bỏ những ký ức đẹp đẽ và hào hùng nhất về cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của nhân dân Liên Xô - trong đó có người dân Ukraine diễn ra vào Thế chiến thứ 2. Vậy những người Ukraine đã làm gì? Họ yêu cầu phía Nga phải bồi thường vì đã giải phóng Ukraine, họ tạt nước và xúc phạm những người cựu binh già, họ phủ nhận việc lên án chủ nghĩa phát xít tại Liên Hợp Quốc. Có không ít người Ukraine bày tỏ rằng nếu Đức xâm chiếm Ukraine, thì tương lai họ có thể sẽ giàu có và sung túc hơn.

Tháng 5/2020, một số quan chức ngoại giao Ba Lan lớn tiếng kêu gọi Nga ngưng tổ chức ngày duyệt binh Chiến thắng phát xít Đức và họ vu cáo Nga là quốc gia gây ra chiến tranh bằng việc xâm chiếm rìa phía Đông của Ba Lan. Họ kết luận rằng Nga cần phải thừa nhận là quốc gia gây chiến thay vì là một quốc gia chiến thắng. 

Điều này, khiến phía Đức nóng mặt. Ngoại trưởng Đức Heiko Maas trong một bài viết vào tháng 5/2020, đã lên án mạnh mẽ việc tôn vinh chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa xét lại. Bản thân bài viết của Ngoại trưởng Đức cũng kết luận rằng chính Đức là quốc gia gây chiến tranh bằng cách xâm chiếm Ba Lan - chứ không phải Nga, và cũng là quốc gia phải chịu trách nhiệm về diệt chủng người Do Thái.

Chủ nghĩa xét lại là một hành động nguy hiểm, biến những kẻ tấn công hay gây chiến thành những nạn nhân. Và khiến những nạn nhân thành những kẻ nguy hiểm, khát máu.

Chủ nghĩa xét lại tại Việt Nam là gì? Đó là việc nhân danh nghiên cứu và tìm hiểu lịch sử, rồi lớn tiếng phủ nhận lịch sử, truyền bá thông tin sai lệch về lịch sử. Một số ví dụ đơn giản, như là những luận điểm kiểu như Việt Nam Cộng Hòa, Mỹ và đồng minh không thua tại Việt Nam. Rồi phía này chỉ nhắm vào việc bảo vệ tự do, dân chủ, độc lập, còn phía Bắc Việt là những người gây ra tội ác chiến tranh. 

“Bắc Việt điều động đặc công đánh các sân bay Thái Lan có phải là một hành vi xâm phạm chủ quyền, lãnh thổ hay không? Việt Cộng không công bằng khi chỉ biết đánh lén” - Đó là câu hỏi nhận được rất nhiều luồng tranh luận trong một diễn đàn nghiên cứu lịch sử, mà người hỏi tự nhận là hỏi ngu, về các sự kiện đặc công Việt Nam tiến đánh các căn cứ quân sự, sân bay Utapao, Udon, Ubon… trên đất Thái Lan trong những năm từ 1968 đến 1972. 

Vậy, các căn cứ quân sự, sân bay đó dùng để làm gì? Đều dùng để các lượt máy bay của Mỹ đánh phá Việt Nam. Vậy hành động của phía Thái Lan lúc ấy có được coi là xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam hay không? Máy bay Mỹ bay từ các địa điểm đó để làm gì, nghiên cứu hải dương học hay bay chơi chơi? Thưa rằng là không. Những chuyến bay đó tiến thẳng đến miền Bắc Việt Nam, trút bom đạn xuống, bao nhiêu người dân thường thiệt mạng. Các ông ném bom đạn vào người khác thì được, còn khi người khác đột kích phá máy bay của các ông nhằm ngăn chặn hành động đó, thì các ông kêu ca là đánh lén, mất công bằng, xâm phạm chủ quyền trái phép. Khôn như thế, thì ai chơi được? 

Tháng 8/2018, nhà sử học Dương Trung Quốc cho rằng liên quan Pháp - Tây Ban Nha chỉ đánh Việt Nam nhằm mượn đường tiến đánh Trung Quốc. Nhiều luồng suy nghĩ theo đó mà được suy luận ra, rằng chính những sĩ phu yêu nước và người dân đã quá “nhạy cảm” khi đứng lên chống lại phía liên quân. Nếu đàm phán kỹ càng thì Việt Nam hoàn toàn có thể tránh khỏi việc trở thành thuộc địa như cách mà Thái Lan đã chọn đứng giữa Pháp và Anh. Tức là bây giờ, những người chống Pháp trở thành những kẻ phàm phu tục tử, suy nghĩ thấp hèn, không biết tính chuyện đại sự. 

Luận điểm này, khiến bao công lao, bao nhiêu tính mạng người Việt đã mất trong thời kỳ chống Pháp xâm lược Việt Nam giai đoạn đầu, trở thành những cái chết vô ích, thái quá. Việt Nam không phải là “vùng đệm” mà Pháp thích mượn thì mượn, người Việt hi sinh tại Đà Nẵng Gia Định, Huế, Hà Nội là để chống Pháp, càng không phải vì bảo vệ Thiên Triều.

Tờ VOA và BBC cùng cho rằng, phía Việt Cộng đánh lén, đánh du kích và không dám đối đầu với quân VNCH và đồng minh, những nhà báo của tờ này cho rằng chiến thắng của Việt Cộng là không oai hùng vì “những võ sĩ chỉ chiến thắng qua cuộc đấu tay đôi công bằng tại võ đài chứ không tại hầm mỏ với đủ loại bẫy”. Nhưng, xét công bằng, thì trang bị của Việt Cộng có ngang với phía VNCH đồng minh không? 

Một luồng ý kiến khác, cho rằng phía Việt Cộng đã chiến đấu không công bằng khi dùng nhân dân miền Nam làm lá chắn, Việt Cộng trà trộn vào dân, huy động nhân dân tham gia vào chiến tranh. Còn phía VNCH và đồng minh thì chỉ muốn bảo vệ nhân dân, bảo vệ tự do dân chủ. Vậy thì Mỹ Lai, Ấp Bắc, Bình Hòa, Phong Nhất Phong Nhị… từ đâu mà có? Bên cạnh đó, đây là cuộc chiến giữa nhân dân Việt Nam với những thế lực ngăn cản việc thống nhất Tổ Quốc, thì bất cứ thành phần nào cũng được tham gia. Chiến đấu vì Tổ Quốc không phải là việc của một nhóm người. Tổ Quốc là của chung, tất cả người dân Việt Nam phải góp vào đó, mỗi người dân là một binh lính. Như trong lịch sử, những lần kháng chiến chống Tống, Mông - Nguyên,... thì ngoài lực lượng quân đội, còn có lực lượng dân quân, nghĩa binh, người dân tộc thiểu số tham gia. 

Vừa tròn một năm, báo BBC ra xã luận nhận định rằng chiến dịch Linebacker II - mà chúng ta hay quen gọi là Điện Biên Phủ trên không, là phía Mỹ đã dành chiến thắng vì đã hủy diệt miền Bắc, khiến nhân dân miền Bắc sợ hãi và bắt ép Việt Cộng phải ngồi vào bàn đàm phán. Và người Mỹ không thua vì người Mỹ nhân từ, không muốn dùng bom nguyên tử. Vậy thì quốc gia nào đã tung hô B52 là pháo đài bay không thể bị bắn rơi, rồi đùng cái bị bắn rơi mấy chục chiếc? Quốc gia tuyên bố ra vào không phận Hà Nội, Hải Phòng như chỗ không người rồi bị tên lửa Bắc Việt bắn rụng như thị? Rồi quốc gia nào chủ động tuyên bố chấm dứt vì phi công, binh lính “chủ động” khiến may bay bị “hỏng kỹ thuật? Rồi ngày 22/12, quốc gia nào gửi điện mong muốn tái họp? Rồi Kissinger là người nước nào, mà chỉ dám thanh minh, xin lỗi trước Lê Đức Thọ rồi dàn xếp kí kết hiệp định trong vòng 14 ngày mà không dám yêu cầu gì thêm?

Mà thắng thì đã thắng rồi, thua thì cũng đã thua rồi, mà giờ ngồi viết bài không phục, thì vừa là vụng chèo khéo chống, vừa không dám thừa nhận, đó không phải là việc mà người quân tử thường làm. Quân tử là gì? Như người Đức ấy, thẳng thắng thừa nhận tội lỗi, không né tránh. Chứ không phải là làm những việc tiểu nhân, chẳng hạn như xét lại và đáp phân vào lịch sử.

Nghiên cứu lịch sử là đúng, nhưng nhân danh nghiên cứu lịch sử để truyền bá tư tưởng sai lệch, làm hỏng đi sự kiện lịch sử là sai. Thế hệ sau phải học hỏi quá khứ, để sống cho hiện tại và bảo vệ tương lai, chứ không phải là phán xét, tỏ thái độ, hằn học.

Một ngày nào đó, liệu ở Việt Nam có xảy ra câu chuyện tương tự như ở Ukraine, những thanh thiếu niên trẻ ném đá, chửi bới, nhục mạ những người cựu binh đã chiến đấu vì Tổ Quốc hay không?

"Bổn phận thiêng liêng của các thế hệ hiện tại là lưu giữ mãi mãi ký ức về những người - đã trải qua vô số sự hy sinh, thiếu thốn, để bảo vệ tự do của quê hương, chú ý và quan tâm đến các cựu chiến binh yêu quý của chúng ta" - Vladimir Putin.

Việt Nam – Cuba: Mối quan hệ nghĩa tình đặc biệt

 


Cách đây đúng 60 năm, vào thời điểm nhân dân Việt Nam đang tập trung nỗ lực thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đồng thời đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; ở phía Tây Bán cầu, nhân dân Cuba cũng phải đương đầu với sự chống phá ác liệt của các thế lực đế quốc, phản động để bảo vệ chính quyền non trẻ do Tổng Tư lệnh Fidel Castro đứng đầu. Những nét tương đồng trong tiến trình dựng nước và giữ nước cũng như những khát vọng, lý tưởng và truyền thống đấu tranh hào hùng vì độc lập, tự do mà hai nước cùng chia sẻ chính là nền tảng cho mối quan hệ tình nghĩa đặc biệt giữa hai dân tộc.

Có thể nói, trong lịch sử thế giới đương đại, hiếm có mối quan hệ nào đặc biệt như quan hệ giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam - Cuba. Mối quan hệ tốt đẹp này đã được các nhà lãnh tụ cách mạng tiền bối José Martí, Fidel Castro, Hồ Chí Minh, cũng như các thế hệ lãnh đạo Cuba và Việt Nam dày công vun đắp. Theo Tổng Tư lệnh Fidel Castro, tình hữu nghị anh em giữa hai nước đã được sinh ra và lớn lên trong tương đồng lịch sử của hai dân tộc cùng đấu tranh chống kẻ thù chung.

Trong suốt hơn nửa thế kỷ qua, kể từ ngày hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao, hai dân tộc Việt Nam - Cuba đã luôn kề vai sát cánh trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở mỗi nước.

Việt Nam mãi mãi ghi nhớ với lòng biết ơn sâu sắc về sự ủng hộ mạnh mẽ và giúp đỡ chí tình mà Đảng Cộng sản và nhân dân Cuba anh em đã dành cho nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc trước đây, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Tình đoàn kết thủy chung, trong sáng, đầy tinh thần quốc tế cao cả đó của Cuba được thể hiện vô cùng sinh động trong những câu nói bất hủ của Tổng Tư lệnh Fidel Castro: “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình”, “Trong hòa bình, Cuba sẵn sàng đổ mồ hôi để góp phần xây dựng lại Việt Nam mười lần to đẹp hơn như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn”. Về phần mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng khẳng định: “Việt Nam và Cuba cách xa nhau hàng vạn dặm nhưng lòng dân hai nước gần gũi như anh em một nhà”(1)Thực hiện di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thế hệ lãnh đạo và nhân dân Việt Nam luôn khẳng định: “Đoàn kết, ủng hộ Cuba là lương tâm và trách nhiệm của những người cộng sản và toàn thể nhân dân Việt Nam!”.

Cuba là nước Mỹ Latin đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, là nước đầu tiên trên thế giới công nhận Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (tháng 12-1961) và thành lập Ủy ban toàn quốc đoàn kết với nhân dân miền Nam Việt Nam (tháng 9-1963). Cuba cũng là một trong những nước đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam, đồng thời đặt Đại sứ quán trong vùng giải phóng miền Nam Việt Nam tại tỉnh Tây Ninh (tháng 7-1967). Chủ tịch Fidel Castro là vị lãnh tụ nước ngoài đầu tiên và duy nhất tới thăm vùng mới giải phóng Quảng Trị, Việt Nam vào tháng 9-1973, bất chấp khói lửa của bom đạn Mỹ lúc bấy giờ. Trong suốt những năm 80 của thế kỷ XX, Cuba là nước Mỹ Latin duy nhất đồng lòng cùng Việt Nam chống chính sách bao vây, cấm vận của Mỹ…

Việt Nam luôn giành cho Cuba tình đoàn kết, hữu nghị và hợp tác anh em chân thành, gắn bó, coi việc đoàn kết, giúp đỡ Cuba là nghĩa vụ xuất phát từ lương tâm và tình cảm quốc tế trong sáng mang tính truyền thống của dân tộc. Sau chiến tranh giải phóng và bước vào công cuộc tái thiết đất nước, Việt Nam đã hợp tác giúp Cuba kinh nghiệm thắng lợi của “Chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc chống xâm lược”; nhân dân Việt Nam đã đồng lòng chịu đựng thiếu thốn, thậm chí hy sinh lợi ích để hỗ trợ phần nào giúp Cuba vượt qua những thời điểm khó khăn nhất của “Thời kỳ đặc biệt”, hợp tác giúp Cuba sản xuất lúa, gạo(2) và phát triển lương thực (Dự án lúa gạo hộ gia đình, Chương trình hợp tác phát triển sản xuất lương thực giai đoạn 2010 - 2015 và giai đoạn 2018 - 2022)…, tiếp tục vững vàng trước mọi âm mưu và hành động chống phá, lật đổ của các thế lực thù địch. Đồng thời, hết lòng trao đổi, chia sẻ với Cuba những kinh nghiệm về xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế. Tình cảm đoàn kết và sự ủng hộ của Việt Nam đối với Cuba luôn được thể hiện nhất quán và mạnh mẽ thông qua phát biểu của lãnh đạo Đảng, Nhà nước cũng như lập trường của Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế.

Quá trình công nghiệp hóa cùng với cải cách, đổi mới đang tạo ra nhiều đặc điểm mới cho giai cấp công nhân.

 

Tác nhân hàng đầu làm biến đổi GCCN hiển nhiên là các cuộc cách mạng công nghiệp với chu kỳ ngày càng ngắn hơn, yêu cầu đa diện hơn. Trong hơn 100 năm gần đây nhất người ta đã thấy 3 cuộc cách mạng công nghiệp: lần thứ hai, lần thứ ba và lần thứ tư. Trong thế kỷ XX, nhân loại cũng đã tiến hành 2 kiểu công nghiệp hóa là công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa (TBCN) và công nghiệp hóa XHCN. Các cuộc cách mạng công nghiệp với chu kỳ ngày càng ngắn dần: Từ “đại công nghiệp” tức là từ “công nghiệp 1.0” đến “công nghiệp 2.0” mất gần hai thế kỷ; nhưng từ “công nghiệp 2.0” đến “công nghiệp 3.0” chỉ khoảng một thế kỷ; còn từ “công nghiệp 3.0” đến “công nghiệp 4.0” chỉ mất 30 năm!   

Công nghiệp hóa theo kiểu mới với các đặc trưng: Rút ngắn (diễn ra không tuần tự từ A đến Z mà phải tận dụng lợi thế so sánh của mỗi quốc gia); gắn với hiện đại hóa (sử dụng thành tựu khoa học và công nghệ mới, đáp ứng những yêu cầu mới về phát triển bền vững về xã hội và môi trường, sinh thái...); nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa được chuẩn bị sớm và kỹ hơn; các yêu cầu ngoài công nghiệp như tính nhân văn, bảo vệ môi trường, sinh thái, tài nguyên cao hơn; và hội nhập thị trường quốc tế cấp thiết hơn...

Theo đó, lý luận “GCCN là sản phẩm và chủ thể của đại công nghiệp” đã được bổ sung thêm nhiều nhận thức lý luận mới. Sự phát triển của công nhân gắn liền với hội nhập kinh tế thế giới, chẳng hạn, tham gia vào chuỗi sản xuất toàn cầu từ lợi thế và chấp nhận hợp tác, hội nhập quốc tế. Quá trình sản xuất hàng hóa công nghiệp của công nhân buộc phải đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế, đáp ứng những nhu cầu “khó tính” của thị trường... Và kết quả là một sản phẩm công nghiệp được công nhân tạo ra không chỉ là kết quả của công nghệ - kỹ thuật mà còn là sự tích hợp những giá trị kinh tế, xã hội, môi trường. Nhiều nước phát triển đã ứng dụng cơ chế quản lý linh hoạt (FMS) trong công nghiệp để khuyến khích tính linh hoạt, sáng tạo, tối ưu hóa quá trình sản xuất bằng nhiều nguyên tắc, như thường xuyên đổi mới công nghệ, tiết kiệm tối đa năng lượng và vật tư, hạn chế thời gian lưu kho bãi, linh hoạt thời gian và địa điểm làm việc (chế độ làm việc tại nhà). Công nhân hiện đại không còn là “chiếc đinh ốc trong dây chuyền sản xuất TBCN” mà có tính chủ động hơn, tư duy năng động và đa diện hơn. 

Sự phát triển của GCCN ở “các nước đang chuyển đổi” hiện nay còn là kết quả của sự kết hợp các cơ chế, quy luật của kinh tế thị trường với vai trò của nhà nước và thành phần kinh tế nhà nước; với chính sách đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ nhân lực, dần chuyển dịch mô hình kinh tế từ phát triển “bề rộng” là chủ yếu sang phát triển theo “chiều sâu”. Công nhân không chỉ là sản phẩm của công nghiệp hóa mà còn là kết quả tổng thành của chế độ chính trị và cơ chế kinh tế thị trường. Trình độ làm chủ và sáng tạo công nghệ, tư duy kinh tế thị trường, năng lực tổ chức quản lý của GCCN ở các nước cải cách, đổi mới đều đã có bước tiến lớn. Quan tâm đến lợi ích chính đáng của người lao động, kết hợp hài hòa lợi ích của người lao động với lợi ích của tập thể và lợi ích của xã hội..., vừa là tư duy kinh tế phù hợp, vừa là sự thể hiện tính chất XHCN trong phát triển.  

Tư duy mới về chính trị có thể thúc đẩy sự phát triển của GCCN. Chế độ XHCN đã tạo ra một chất lượng mới, quy mô và tốc độ mới cho công nghiệp hóa. Ngay trong kiểu công nghiệp hóa này cũng có 2 trình độ là công nghiệp hóa theo mô hình công nghiệp hóa cũ và theo mô hình công nghiệp hóa mới. Hiện nay, cùng với lý luận công nghiệp hóa mới của thế giới và xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, các nước XHCN có thể thông qua hợp tác - phân công lao động quốc tế để thực hiện công nghiệp hóa. Chính CNTB cũng cần đến CNXH và tìm đến để hợp tác trong sản xuất toàn cầu. Đổi mới tư duy chính trị, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, đẩy mạnh hội nhập quốc tế... là xu thế chung của nhiều quốc gia. Giai cấp công nhân đã xuất hiện với số lượng, chất lượng và diện mạo mới không chỉ từ công nghiệp hóa mà còn từ cải cách, đổi mới. Nhưng quan trọng hơn, là khả năng phát triển, cơ động xã hội của GCCN và các giai cấp khác. Trước đây, như nhận định của một tác giả Trung Quốc: “Nhà nước trao cho GCCN địa vị giai cấp lãnh đạo và thực hiện chính sách phúc lợi toàn xã hội khiến cho GCCN có được địa vị xã hội và kinh tế “trời phú” rất cao, ở vào vị trí trung tâm trong toàn bộ kết cấu xã hội, được hưởng một loạt quyền lợi đặc thù, có sự khác biệt với giai cấp nông dân trên nhiều phương diện và cao hơn nhiều so với nông dân”(9). Nhưng hiện nay, “thân phận “trời phú” của GCCN Trung Quốc đương đại bị phá vỡ, chuyển biến từ tượng trưng thân phận sang khái niệm nghề nghiệp”. “Phương thức hợp đồng hóa nghề nghiệp” thay cho chế độ công nhân, viên chức vĩnh viễn; quan hệ lợi ích kinh tế thay cho quan hệ hành chính, “từ trạng thái do quá khứ lưu truyền đến trạng thái do khế ước quy định”(10). Rõ ràng, công nhân hiện nay không chỉ là sản phẩm của công nghiệp hóa mà còn là sản phẩm của đổi mới chính trị. Trong một số trường hợp, chính trị, chính sách đã tác động mạnh mẽ, trực tiếp và tạo biến đổi sâu sắc đối với GCCN.

Hiện thực hóa quyền con người bằng những chính sách thiết thực, việc làm nhân văn

 Mỗi khi đến dịp Ngày Nhân quyền thế giới (10-12) hằng năm, các thế lực thù địch, phản động và đối tượng cơ hội chính trị lại tung ra những luận điệu cũ rích nhằm xuyên tạc, phủ nhận những nỗ lực, thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền con người.

Thường xuyên quán triệt và tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, phát huy vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang trong giữ vững ổn định chính trị


Hồ Chí Minh khẳng định: Chính trị của lực lượng vũ trang phải được thể hiện trong lúc đánh giặc. Xây dựng  lực lượng vũ trang về chính trị được thể hiện bằng những hoạt động chính trị, giải quyết các mối quan hệ chính trị, được hội tụ ở việc tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị.

Cần thực hiện thống nhất và thực hiện tốt chức năng đội quân chiến đấu, đội quân sản xuất, đội quân công tác của lực lượng vũ trang trong thời kỳ mới. Thường xuyên giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ nắm vững đường lối, chính sách phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng an ninh, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới. xây dựng quân đội cách mạng chính quy tinh nhuệ từng bước hiện đại; xây dựng lực lượng dự bị động viên hùng hậu, vững chắc; xây dựng lực lượng dân quân tự vệ rộng khắp mọi nơi nòng cốt cho nhân dân địa phương đánh giặc. Nâng cao chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu, trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu của lực lượng vũ trang. Tổ chức thực hiện thắng lợi nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu. Ngăn chăn làm thất bại mọi mưu đồ xâm lược, “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch.TB

Lãnh đạo toàn diện, triển khai đồng bộ các giải pháp, hoàn thành toàn diện công tác quân sự, quốc phòng

 Ngày 7-12, tại Hà Nội, Quân ủy Trung ương (QUTƯ), Bộ Quốc phòng (BQP) tổ chức Hội nghị Quân chính toàn quân năm 2020. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Bí thư QUTƯ dự và phát biểu chỉ đạo hội nghị. Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư QUTƯ, Bộ trưởng BQP chủ trì hội nghị.

Tăng cường củng cố sự đoàn kết thống nhất, phát huy dân chủ, tăng cương kỷ luật, giải quyết tốt các mối quan hệ trong nội bộ lực lượng vũ trang.


Quan hệ chính trị của lực lượng vũ trang được thể hiện trước hết ở quan hệ trong nội bộ lực lượng vũ trang. Xây dựng  lực lượng vũ trang về chính trị phải coi trọng xây dựng củng cố và giải quyết đúng đắn các mối quan hệ trong nội bộ lực lượng vũ trang, đó là mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới, quan hệ đồng chí đồng đội, quan hệ cá nhân với tổ chức, lãnh đạo, chỉ huy với phục tùng… Đây là mối quan hệ nội tại bên trong của quân đội cách mạng, được thể hiện trên cơ sở giác ngộ sâu sắc về mục tiêu, lý tưởng, nhiệm vụ, thống nhất lợi ích. Vì vậy, các mối quan hệ đó phải được thực hiện trên cơ sở  tuân thủ nghiêm ngặt những quy định của điều lệnh, kỷ luật của lực lượng vũ trang đồng thời phải thực sự dân chủ, bình đẳng, thống nhất về mục tiêu, lý tưởng, nhiệm vụ, lợi ích. CáC mối quan hệ đó phải được xây dựng và giải quyết trên nền tảng của tình cảm đồng chí, đồng đội, luôn sát cánh bên nhau, đồng cam cộng khổ để hoàn thành nhiệm vụ. Đó phải là mối quan hệ đoàn kết. TB

Xây dựng các tổ chức chính trị - xã hội trong lực lượng vũ trang vững mạnh

 

Các tổ chức chính trị trong lực lượng vũ trang gồm: đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội phụ nữ, Công đoàn, Hội đồng quân nhân. Đây là một bộ phận của hệ thống chính trị được tổ chức và hoạt động ở các đơn vị lực lượng vũ trang để đại diện, bảo vệ lợi ích và thực hiện, phát huy quyền làm chủ của các thành viên, hội viên. Cùng với việc xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện thì xây dựng tổ chức chính trị,  xã hội vững mạnh sẽ trực tiếp góp phần xây dựng, củng cố thể chế chính trị trong lực lượng vũ trang.TB


Xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ, đặc biệt là vai trò của đội ngũ cán bộ chính trị trong xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị


Đội ngũ cán bộ là lực lượng nòng cốt tạo thành tổ chức, tạo thành quân đội. Đường lối, chính sách và cán bộ là nhân tố quyết định sự nghiệp cách mang, xây dựng và hoạt động của lực lượng vũ trang. Bản chất giai cấp công nhân, bản chất chính trị xã hội, sức mạnh chính trị của lực lượng vũ trang được thể hiện tập trung ở phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ. Đội ngũ cán bộ là người trực tiếp chỉ huy đơn vị, giáo dục rèn luyện chiến sĩ, tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang về chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh làm cơ sở để xây dựng các đơn vị lực lượng vũ trang  vững mạnh vè chính trị, giáo dục, rèn luyện chiến sĩ. Để xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh về chính trị phải hết sức coi trọng xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ chủ trì về chính trị.TB


Lật tẩy chiêu trò lợi dụng góp ý dự thảo các văn kiện Đại hội XIII để chống phá Đảng, Nhà nước

 Thời gian qua, toàn bộ dự thảo văn kiện trình Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng để xin ý kiến của nhân dân. Vậy mà, bên cạnh những đóng góp trách nhiệm, chân tình của đông đảo người dân thì một số “nhà yêu nước”, “nhà dân chủ, nhân quyền” tự xưng lại lợi dụng, ra sức tuyên truyền những luận điệu xuyên tạc nhằm công kích, chống phá Đảng và Nhà nước.

Tỉnh táo nhận diện và vạch trần những luận điệu sai trái, phản động

 Cứ “đến hẹn lại lên”, mỗi khi Đảng ta tiến hành Đại hội thì sự chống phá của các thế lực thù địch ngày càng đậm đặc, quyết liệt hơn. Càng gần thời điểm diễn ra Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng các thế lực thù địch càng giở nhiều chiêu bài tuyên truyền, xuyên tạc, kích động chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, trong đó đặc biệt tập trung xuyên tạc nội dung Dự thảo văn kiện Đại hội và các bước chuẩn bị nhân sự. Vì vậy, để đấu tranh, phản bác lại thông tin xuyên tạc, bịa đặt của các thế lực thù địch, chúng ta cần nhận diện được những luận điệu sai trái, phản động của chúng.

"CHĂM LO XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI VỮNG MẠNH TOÀN DIỆN, ĐẶC BIỆT LÀ VỮNG MẠNH VỀ CHÍNH TRỊ"

 

Trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Bí thư Quân uỷ TW Nguyễn Phú Trọng tại hội nghị.

Thưa các vị đại biểu!

Thưa các đồng chí!

Hôm nay, trong không khí cả nước hân hoan, phấn khởi và đang tích cực chuẩn bị tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, tôi rất vui mừng đến dự Hội nghị Quân chính toàn quân - một Hội nghị quan trọng tổng kết công tác năm 2020 và bàn những biện pháp để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ năm 2021. Trước hết, tôi xin được thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Quân uỷ Trung ương, gửi tới các vị đại biểu cùng toàn thể các đồng chí, và qua các đồng chí, tới toàn thể cán bộ, chiến sĩ, công nhân, viên chức quốc phòng và lực lượng dân quân, tự vệ trong cả nước lời chào thân ái, lời thăm hỏi chân tình và lời chúc mừng tốt đẹp nhất.

Tôi được biết, các đồng chí Quân uỷ Trung ương đã chuẩn bị cho Hội nghị này rất kỹ; các báo cáo, tài liệu được chuẩn bị công phu, nghiêm túc; một số ý kiến phát biểu tham luận, bổ sung thêm có nhiều thông tin thiết thực. Tôi tin tưởng, với sự chuẩn bị và cách thảo luận dân chủ, trách nhiệm, chắc chắn Hội nghị của chúng ta sẽ thành công tốt đẹp.

Thưa các đồng chí,

Năm 2020, năm cuối cùng của nhiệm kỳ (2015 - 2020) có ý nghĩa quyết định đến kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng; bên cạnh những thuận lợi, cơ hội, đất nước ta tiếp tục đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Tình hình thế giới, khu vực có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó đoán định, đặc biệt do tác động mạnh của đại dịch Covid-19. Cạnh tranh chiến lược, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa bảo hộ, chiến tranh thương mại gia tăng; sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; xung đột vũ trang xảy ra ở một số nơi trên thế giới; hoạt động khủng bố, an ninh mạng, vấn đề trên Biển Đông và an ninh phi truyền thống đã và đang đặt ra những thách thức lớn đối với cộng đồng quốc tế, trong đó có nước ta.

Ở trong nước, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã đoàn kết một lòng, nỗ lực phấn đấu, đạt được nhiều kết quả quan trọng trên tất cả các lĩnh vực. Kinh tế cơ bản ổn định; an ninh chính trị - xã hội được giữ vững; quốc phòng, an ninh, đối ngoại được tăng cường; tiềm lực và vị thế đất nước được nâng cao; công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục đạt kết quả tích cực, củng cố và tăng cường lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và Quân đội. Chúng ta đã tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp và đang tích cực chuẩn bị mọi mặt để tiến tới Đại hội XIII của Đảng. Đại dịch Covid-19 đã cơ bản được khống chế, kiểm soát. Nhiều tháng qua không có lây nhiễm trong cộng đồng, đây là một thành công lớn. Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh "diễn biến hoà bình", thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hoá"; thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, đặc biệt là đại dịch Covid-19, bão, lũ, sạt lở đất ở miền Trung vừa qua đã gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản của nhân dân.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Bí thư Quân uỷ TW Nguyễn Phú Trọng 
phát biểu tại hội nghị

Tình hình trên đã tác động trực tiếp đến nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc với cả thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen. Trong bối cảnh đó, Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng và cấp uỷ, chỉ huy các cấp đã lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân nỗ lực phấn đấu, vượt qua mọi khó khăn, hoàn thành tương đối toàn diện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng năm 2020; trong đó, nhiều nhiệm vụ hoàn thành tốt, một số nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc. Kết quả đó đã được thể hiện đầy đủ trong Báo cáo của Bộ Quốc phòng cũng như phát biểu tham luận của các đồng chí. Tôi xin nhấn mạnh thêm mấy điểm nổi bật sau đây:

Thứ nhất, Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng đã thực hiện tốt chức năng tham mưu với Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng; thường xuyên nắm chắc tình hình, nhạy bén trong công tác nghiên cứu, dự báo, kịp thời đề xuất các chủ trương, đối sách đúng đắn, xử lý hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ. Chủ động tham mưu bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo và hoạt động kinh tế biển; phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành Trung ương và các địa phương triển khai thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị về chiến lược quân sự, quốc phòng. Chuẩn bị chu đáo, trình Quốc hội thông qua với số phiếu tán thành rất cao về Luật Biên phòng Việt Nam, Nghị quyết về tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc và Nghị quyết về thí điểm một số chính sách tháo gỡ vướng mắc, tồn đọng trong quản lý, sử dụng đất quốc phòng, an ninh vào hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế. Công tác xây dựng, ban hành các văn bản về lĩnh vực quân sự, quốc phòng từng bước được hoàn thiện, đáp ứng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc cả trước mắt và lâu dài.

Thứ hai, trước tình hình thiên tai, đại dịch Covid-19 diễn biến hết sức phức tạp, Bộ Quốc phòng đã chỉ đạo toàn quân chủ động xây dựng kế hoạch, phương án, chuẩn bị lực lượng, phương tiện, phối hợp chặt chẽ với các cấp, các ngành, các địa phương ứng phó kịp thời với các tình huống. Đặc biệt, trong phòng, chống bão lũ tại miền Trung, tôi được biết, các đồng chí đã huy động hàng trăm nghìn lượt bộ đội, dân quân tự vệ, hàng chục nghìn lượt phương tiện, thực hiện và vận dụng linh hoạt phương châm "4 tại chỗ", tổ chức sơ tán nhân dân, tích cực tìm kiếm người mất tích, nhanh chóng khắc phục hậu quả, giải quyết kịp thời các chính sách, được sự ủng hộ và đồng thuận cao trong nhân dân. Toàn quân đã triển khai các chốt kiểm soát chặt chẽ các đường mòn, lối mở trên tuyến biên giới đất liền và trên hướng biển; huy động nhiều lực lượng, phương tiện, cơ sở doanh trại để làm khu cách ly, quyết tâm khống chế dịch Covid-19, không để lây lan trong cộng đồng. Cán bộ, chiến sĩ toàn quân đã không quản ngại khó khăn, gian khổ, xung kích trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn, xử lý ô nhiễm môi trường; một số cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ, xứng đáng là Quân đội của dân, do dân, vì dân, đã tô đẹp thêm hình ảnh "Bộ đội Cụ Hồ".

Thứ ba, toàn quân đã phát huy tốt vai trò nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân và xây dựng phòng thủ quân khu, khu vực phòng thủ các cấp vững chắc; tăng cường được tiềm lực, sức mạnh quốc phòng của đất nước. Tổ chức tốt việc bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho các đối tượng. Quan tâm chỉ đạo xây dựng hải đội dân quân thường trực, chốt chiến đấu dân quân thường trực biên giới đất liền và nhân lực, tàu thuyền đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biên giới, biển, đảo. Phối hợp chặt chẽ với lực lượng công an và các lực lượng khác kịp thời giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh, giữ vững ổn định tình hình.

Thứ tư, tăng cường quản lý chặt chẽ vùng trời, vùng biển, biên giới, nội địa, các địa bàn trọng điểm và không gian mạng, tập trung chỉ đạo đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập ở các loại hình đơn vị, như Hải quân, Cảnh sát biển, Đặc công, Bộ binh. Tiếp tục chỉ đạo quán triệt, thực hiện nghiêm túc Kết luận số 16 của Bộ Chính trị về tổ chức lực lượng Quân đội; đã chỉ đạo điều chỉnh tổ chức lực lượng theo hướng "tinh, gọn, mạnh", hoàn chỉnh và triển khai biểu tổ chức biên chế mới, giảm 10% quân số cơ quan chiến dịch, chiến lược, ưu tiên các đơn vị mới thành lập và đơn vị chiến đấu. Tôi được biết, từ năm 2016 đến nay, các đồng chí đã điều chỉnh trên 800 tổ chức, riêng năm 2020 đã điều chỉnh 196 tổ chức.

Thứ năm, công tác xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức được đặc biệt chú trọng. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp uỷ, tổ chức đảng, vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng bộ ngày càng được nâng cao. Đại hội đảng các cấp trong Đảng bộ Quân đội và Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI mới đây được tổ chức chặt chẽ và thành công tốt đẹp, thực sự mẫu mực, tiêu biểu trong toàn Đảng. Coi trọng xây dựng vững mạnh về chính trị; cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn vững vàng, kiên định, đoàn kết, quyết tâm cao. Cơ quan báo chí Quân đội đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền, tích cực đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Các đồng chí đã quyết tâm chỉ đạo giải quyết những tồn đọng, vướng mắc trong quản lý, sử dụng đất quốc phòng, hoạt động thương mại quân sự, tăng cường các giải pháp phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xử lý nghiêm minh các sai phạm, không có "vùng cấm", "không có ngoại lệ", góp phần củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và Quân đội.

Thứ sáu, triển khai linh hoạt, hiệu quả công tác đối ngoại quốc phòng trong bối cảnh đất nước hội nhập quốc tế sâu rộng, đặc biệt trong năm Việt Nam làm Chủ tịch ASEAN và Uỷ viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021. Đẩy mạnh hợp tác quốc phòng song phương, đa phương, đi vào chiều sâu, thực chất. Giải quyết tốt quan hệ với các nước láng giềng, các nước lớn, các nước ASEAN, bạn bè truyền thống và tích cực tham gia có trách nhiệm vào hoạt động gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc. Đối ngoại quốc phòng đã phát huy tốt sức mạnh tổng hợp, tiến hành tích cực, chủ động, sáng tạo, có chiều sâu, trở thành một trong những trụ cột quan trọng trong hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước, góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ vững môi trường hoà bình để xây dựng và phát triển đất nước.

Đạt được những kết quả nêu trên có nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng nguyên nhân chủ yếu là các đồng chí đã bám sát sự lãnh đạo của Đảng, giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương, đoàn kết thống nhất, trên dưới một lòng, tích cực đổi mới phương pháp, tác phong, đề cao trách nhiệm, tập trung vào nhiệm vụ trọng tâm, then chốt; khắc phục các yếu kém, tồn tại trong những năm qua. Những kết quả đó đã góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị hoàn thành tốt các mục tiêu, nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã đề ra.

Thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tôi nhiệt liệt hoan nghênh và biểu dương những thành tích mà Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng và cán bộ, chiến sĩ toàn quân đã đạt được trong năm 2020.

Bên cạnh những kết quả, thành tích đã đạt được, với tinh thần thẳng thắn, nghiêm túc, chúng ta cũng cần phải thấy rằng, trong năm qua cũng còn những hạn chế, khuyết điểm như trong Báo cáo đã nêu. Trong đó, có những hạn chế, khuyết điểm chậm được khắc phục, nhất là trong công tác quản lý cán bộ, chiến sĩ; giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương; ngăn chặn, xử lý kịp thời các vụ việc vi phạm nghiêm trọng; giải quyết tồn đọng về quản lý, sử dụng đất quốc phòng, tài chính của một số doanh nghiệp chưa triệt để... Đó là những điều khiến chúng ta phải trăn trở, suy nghĩ. Với tinh thần trách nhiệm cao, không né tránh khuyết điểm, đề nghị các đồng chí tập trung thảo luận, xác định rõ trách nhiệm, tìm đúng nguyên nhân và đề xuất các giải pháp hữu hiệu để kịp thời khắc phục trong thời gian tới.

Thưa các đồng chí,

Năm 2021 là năm mở đầu cho một thập kỷ mới, cho một thời kỳ phát triển mới của đất nước; năm diễn ra Đại hội XIII của Đảng, bầu cử Quốc hội khoá XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026; năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp. Tình hình an ninh chính trị thế giới, khu vực sẽ còn có những diễn biến phức tạp, khó lường. Ở trong nước, thời cơ, thuận lợi là cơ bản, nhưng cũng còn nhiều khó khăn, thách thức. Các thế lực thù địch sẽ còn đẩy mạnh các hoạt động "diễn biến hoà bình", thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hoá", tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội; tình hình thiên tai, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu; hoạt động của các loại tội phạm sẽ còn có những diễn biến bất thường... Những vấn đề đó chắc chắn sẽ tác động trực tiếp đến việc thực hiện nhiệm vụ của Quân đội.

Trong bối cảnh đó, tôi tán thành các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nêu trong Báo cáo tổng kết; chỉ nhấn mạnh và lưu ý thêm một số nội dung để các đồng chí tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện cho tốt.

Trước hết, Quân uỷ Trung ương và toàn quân phải tiếp tục nêu cao tinh thần cảnh giác, ý chí cách mạng tiến công, đề cao tính chiến đấu và chỉ đạo thực hiện quyết liệt Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI. Thực hiện tốt chức năng tham mưu với Đảng, Nhà nước về quân sự, quốc phòng; chủ động nắm chắc, đánh giá, dự báo đúng tình hình để tham mưu với Đảng, Nhà nước những đối sách bảo vệ đất nước, giữ vững ổn định, hoà bình, làm nền tảng để xây dựng, phát triển đất nước bền vững. Tập trung xử lý có hiệu quả một số vấn đề biển, đảo, biên giới, nhất là các tình huống trên Biển Đông, tuyến biên giới và vùng biển Tây Nam, các quan hệ quốc tế, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Quân đội tuyệt đối không được chủ quan, thoả mãn; không được để xảy ra bị động, bất ngờ.

Chủ động phối hợp chặt chẽ với các cấp, các ngành, các địa phương triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quân sự, quốc phòng; trực tiếp là các chiến lược, nghị quyết, kết luận của Đảng và các luật của Nhà nước mới được ban hành, kết hợp bảo đảm quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế - xã hội, nhất là trên các địa bàn chiến lược, trọng điểm. Tiếp tục cụ thể hoá và tổ chức thực hiện thật tốt Chiến lược bảo vệ Tổ quốc, xây dựng nền quốc phòng vững mạnh, phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Hai là, phát huy sức mạnh tổng hợp để xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân vững mạnh; xây dựng các khu vực phòng thủ vững chắc, liên kết chặt chẽ trong thế trận phòng thủ của các quân khu; hoàn chỉnh quy hoạch tổng thể bố trí quốc phòng gắn với phát triển kinh tế - xã hội. Nâng cao chất lượng xây dựng và hoạt động của lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên; coi trọng xây dựng hải đội dân quân thường trực, dân quân ở những địa bàn trọng điểm, tuyến biên giới. Làm tốt công tác giáo dục quốc phòng, an ninh, nâng cao nhận thức, trách nhiệm, hành động của toàn dân đối với nhiệm vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Phối hợp chặt chẽ giữa Quân đội với Công an và các lực lượng chức năng khác để chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch; phòng, chống vi phạm, tội phạm, giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trong phạm vi cả nước, đặc biệt là vào thời điểm diễn ra Đại hội XIII của Đảng, bầu cử Quốc hội khoá XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026.

Quân đội cần phối hợp chặt chẽ với các bộ, ban, ngành Trung ương, cấp uỷ, chính quyền và nhân dân các địa phương, chuẩn bị tốt mọi mặt, tính toán căn cơ hơn để sẵn sàng ứng phó, khắc phục hậu quả của thiên tai, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, với tinh thần ở đâu khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, ở đó có bộ đội; kịp thời bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. Chúng ta không được chủ quan, thoả mãn, cần tiếp tục thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19, duy trì các chốt, điểm, ngăn chặn ngay từ bên ngoài và làm chặt chẽ ở bên trong, đề phòng dịch bệnh bùng phát trở lại, bởi những nguy cơ lây nhiễm trong cộng đồng là rất lớn. Làm tốt công tác dân vận, công tác chính sách, xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, xây dựng nông thôn mới, tạo sự đoàn kết, đồng lòng của toàn dân, củng cố vững chắc thế trận lòng dân.

Ba là, tập trung đổi mới công tác huấn luyện, diễn tập, nâng cao trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu của Quân đội; xây dựng đơn vị "mẫu mực, tiêu biểu", toàn quân có môi trường văn hoá lành mạnh, giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương; chủ động phòng ngừa, không để tiêu cực, tệ nạn xâm nhập, thẩm thấu vào nội bộ Quân đội. Tiếp tục chỉ đạo thực hiện có hiệu quả Kết luận 16 và Nghị quyết 15 của Bộ Chính trị về tổ chức lực lượng và bảo đảm vũ khí trang bị cho Quân đội; quyết liệt điều chỉnh để đến năm 2025, cơ bản kiện toàn tổ chức biên chế theo hướng tinh, gọn, mạnh; đến năm 2030 một số quân chủng, binh chủng, lực lượng hiện đại; phấn đấu từ năm 2030 xây dựng Quân đội hiện đại. Trong mua sắm, sản xuất vũ khí phải bảo đảm chất lượng, đồng bộ, hiệu quả và ưu tiên các dự án mua sắm trọng điểm, không để xảy ra thất thoát, tiêu cực, lãng phí. Bảo đảm đầy đủ, kịp thời hậu cần, kỹ thuật, đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng và các mặt công tác khác, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tích cực ứng dụng thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đẩy mạnh xây dựng, phát triển công nghiệp quốc phòng; từng bước xây dựng nền công nghiệp quốc phòng độc lập, tự chủ, hiện đại, nâng cao tiềm lực quốc phòng, sức mạnh phòng thủ của đất nước.

Bốn là, chăm lo xây dựng Quân đội vững mạnh toàn diện, đặc biệt là vững mạnh về chính trị; Đảng bộ Quân đội trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; đề cao tính tiền phong, gương mẫu của người đứng đầu cấp uỷ và chỉ huy đơn vị. Chú trọng làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục sâu sắc nhiệm vụ, bồi dưỡng tình cảm, đạo đức cách mạng, tình thương yêu đồng chí, đồng đội cho cán bộ, chiến sĩ, bảo đảm cho Quân đội luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, là chỗ dựa vững chắc, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt nhiệm vụ trong mọi tình huống. Tiếp tục đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch hòng chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ, Quân đội ta. Đấu tranh chống các biểu hiện cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, giảm sút niềm tin, mơ hồ, mất cảnh giác; không để suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ. Quân đội phải làm mạnh hơn nữa, bài bản hơn nữa, quyết liệt hơn nữa, hiệu quả hơn nữa. Đối với những người lầm đường, lạc lối thì phải kiên trì vận động, cảm hoá, giáo dục, thuyết phục. Đối với những kẻ mượn cớ, nhân danh "góp ý" để chống đối, phá hoại thì phải kiên quyết trừng trị theo pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của Đảng, kỷ luật của Quân đội.

Tiếp tục làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chấp hành nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; phát huy vai trò đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ chủ trì, phải thực sự nêu gương, thực sự mẫu mực về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; trách nhiệm, trí tuệ và năng lực thực tiễn để đáp ứng ngày càng cao yêu cầu, nhiệm vụ cả trước mắt và lâu dài. Phải chủ động kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngay trong nội bộ; phải dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật, không sợ khuyết điểm, càng không che giấu khuyết điểm; không nể nang, né tránh, kiên quyết xử lý các vi phạm. Tăng cường kiểm tra, giám sát, giữ nghiêm kỷ luật đảng và kỷ luật quân đội.

Năm là, tiếp tục quán triệt sâu sắc đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá và hội nhập quốc tế của Đảng, không ngừng nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại quốc phòng, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc phòng với các nước, nhất là các nước liền kề, các nước ASEAN và bạn bè truyền thống. Chủ động tham gia các cơ chế hợp tác quốc phòng đa phương. Tham gia có trách nhiệm vào hoạt động gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc, nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của đất nước và Quân đội.

Thưa các đồng chí,

Năm 2020 đang dần khép lại với đầy ắp các sự kiện, với biết bao nhiêu khó khăn, trở ngại; với một khối lượng công việc to lớn, nặng nề và phức tạp. Nhưng cũng là năm để lại nhiều dấu ấn rất tốt đẹp, sâu sắc trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta và bạn bè quốc tế; năm để lại cho chúng ta những thành quả rất quan trọng, niềm tin tưởng và hy vọng  lớn lao và cho ta thêm nhiều bài học quý. Một không khí vui mừng, phấn khởi đang lan toả khắp cả nước, thể hiện sự gắn bó, thống nhất giữa ý Đảng và lòng dân. Tôi tin tưởng rằng, với tinh thần đoàn kết, dân chủ, đổi mới, trách nhiệm, quyết tâm cao, nhất định Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng và cán bộ, chiến sĩ toàn quân sẽ hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ năm 2021, mãi mãi xứng danh "Bộ đội Cụ Hồ" và sự yêu mến, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Tôi đề nghị, ngay sau Hội nghị này, các đồng chí cần khẩn trương phổ biến, học tập và quán triệt để toàn quân triển khai thực hiện tốt nhiệm vụ năm 2021 với tinh thần: Năm 2021 phải làm tốt hơn năm 2020. Trước mắt, thực hiện tốt nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, phối hợp thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ tuyệt đối an toàn Đại hội XIII của Đảng và các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, chuẩn bị đón Tết Tân Sửu, công tác tuyển quân và huấn luyện năm 2021.

Nhân dịp chuẩn bị bước sang năm mới 2021 và chào đón Xuân Tân Sửu, thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước và với tình cảm cá nhân, tôi thân ái gửi tới các đồng chí đại biểu cùng toàn thể cán bộ, chiến sĩ, công nhân, viên chức quốc phòng trong toàn quân và lực lượng dân quân tự vệ cả nước lời chúc sức khoẻ, hạnh phúc, giành nhiều thắng lợi trong năm công tác mới với một quyết tâm mới và khí thế mới, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, tiếp tục xứng danh Quân đội anh hùng của Nhân dân Việt Nam anh hùng!

Trân trọng cảm ơn các đồng chí./.

Cảnh giác với các chiêu trò vốn không mới



Một trong các thủ đoạn mà các thế lực thù địch, cơ hội chính trị gia tăng chống Đảng Cộng sản Việt Nam và nền tảng tư tưởng của Đảng khi Đại hội XIII của Đảng đến gần là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng. Các hoạt động kiểu này vốn không mới, thậm chí ngôn từ cũng không mới, có chăng là nhóm những người chống đối này không chỉ tự mình phủ nhận mà còn nhân danh yêu nước, yêu Tổ quốc và nhân dân để xuyên tạc, kích động nhằm gây tâm lý hoang mang trong các tầng lớp nhân dân và một bộ phận cán bộ, đảng viên, trí thức vốn đã "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".

LUẬT SƯ MỸ VÀ GÓC NHÌN VỀ VỤ ÁN ĐỒNG TÂM

    Tiếp cận vụ án từ góc độ một luật sư người Mỹ gốc Việt đang hành nghề tại Mỹ, Luật sư Hoàng Duy Hùng đã gửi bài viết bàn về một số vấn đề liên quan phiên tòa.

    Trước hết, phải nhấn mạnh rằng, trong lúc đất nước đang sống trong thời bình mà ba chiến sĩ Công an lại phải hy sinh vì chính những người vẫn rêu rao là "vì nhân dân, chống tham nhũng" như "tổ đồng thuận" đó là điều rất đau lòng cho mọi người dân Việt Nam quan tâm tới đất nước, đó cũng là một trong các lý do quan trọng nhất để rất nhiều người quan tâm theo dõi vụ án. Và tôi nhận xét vụ án có một số điểm nổi bật như sau:

    1. Vụ án này là vụ án hình sự, không phải vụ án chính trị song một số luật sư bào chữa cho một số bị cáo lại muốn đánh tráo khái niệm, họ gọi đây là vụ án "mang đầy màu sắc chính trị" như một luật sư đã đăng trên trang Facebook của ông ngay ngày đầu xử án. Vấn đề cơ bản nhất là lúc đầu số người hùa theo "tổ đồng thuận" đã không hiểu luật một cách đúng đắn.

Luật sư Mỹ gốc Việt - Hoàng Duy Hùng

    Ở Việt Nam, đất đai là của Nhà nước, người dân được trao quyền sử dụng, khi cần sử dụng cho việc chung (như xây dựng công trình công cộng, công trình quốc phòng,... thì Nhà nước thu hồi, đền bù). Ở Mỹ và châu Âu cũng có luật Eminent Domain tương tự như vậy. Ðất Ðồng Sênh là đất của sân bay Miếu Môn, là đất phục vụ nhiệm vụ quốc phòng.

    Từ những năm 1980, khi là Bí thư Ðảng ủy, Chủ tịch UBND xã Ðồng Tâm, ông Lê Ðình Kình đã cắt đất bán cho sáu hộ dân một cách bất hợp pháp. Sau đó, sáu hộ đó sang tay và nhân lên thành 14 hộ. Khi thu hồi, Nhà nước đã điều đình, đền bù cho 14 hộ, họ nhận tiền, vui vẻ di dời. Các nhân chứng cho biết ông Lê Ðình Kình cùng "tổ đồng thuận" gây áp lực không cho các chủ hộ này dời đi, rồi hăm dọa, thậm chí đánh đập một số chủ hộ.

    Gia đình ông Lê Ðình Kình và các bị cáo không có một mét vuông đất ở Ðồng Sênh sao lại gọi là tranh chấp đất đai? Các bị cáo thú nhận ông Lê Ðình Kình cho họ ăn "bánh vẽ" mỗi mét vuông giá sáu triệu đồng để khơi dậy lòng tham, kích động họ vi phạm pháp luật. Tôi lấy làm tiếc khi lòng tham đã che khuất lý trí của họ.

    Dù từ khi sự việc xảy ra, chính quyền đã tổ chức gặp gỡ, thảo luận, báo chí tuyên truyền, phổ biến các điều luật liên quan, chỉ rõ hành vi sai trái, kêu gọi tuân thủ pháp luật nhưng họ vẫn không nhận thức để tự giác điều chỉnh hành vi. Hơn nữa, khi lực lượng chức năng thực hiện biện pháp cần thiết để bảo vệ trật tự, ông Lê Ðình Kình cùng đồng phạm đã có kế hoạch chống trả từ trước, cho nên không thể coi việc giết hại Công an một cách rất dã man lại thuộc về lĩnh vực "chính trị".

    2. Trước, trong và sau khi phiên tòa được tổ chức, một số tổ chức, cá nhân đã cố gắng "quốc tế hóa" vụ án để kích động. Từ ngày 9-1-2020, khi vụ án xảy ra, các tổ chức chống cộng ở nước ngoài, nhất là tổ chức khủng bố "Việt Tân", đã ráo riết tiếp cận một số chính phủ để rêu rao Nhà nước Việt Nam "giết" ông Lê Ðình Kình, đề nghị họ can thiệp. Tội nghiệp thay cho đến nay, không có bất kỳ chính phủ nước nào lên tiếng can thiệp. Vì làm sao can thiệp khi cơ quan Cảnh sát điều tra có đủ tang chứng, nhân chứng, vật chứng và lời thú tội của các bị cáo. Chưa kể, pháp luật nhiều nước trên thế giới đều có chế tài rất nghiêm khắc đối với hành vi sai phạm này.

    Ở Mỹ, án lệnh của Tối cao Pháp viện trong vụ Graham v. Connor (Gờ-ra-ham Co-nơ), 490 U.S. 386 (1989) cho phép Cảnh sát dùng vũ lực bắn chết nghi phạm trong cả các trường hợp dân sự nếu Cảnh sát cảm thấy tính mạng của mình bị đe dọa. Chánh Thẩm phán lúc đó là W.Rehnquist (W.Ren-quýt) viết án lệnh như sau: "Các cảnh sát viên phải quyết định chỉ trong tích tắc, rất căng thẳng, không chắc chắn tình thế ra sao cho mình, nên áp dụng bạo lực cần thiết là điều có lý (reasoanable)".

    Căn cứ các bài viết và những hình ảnh công bố trên Facebook trước đó thì "tổ đồng thuận" đã chuẩn bị bom xăng, dao bầu, dao chọc, dao phóng lợn, bình gas, lựu đạn,... thề sẽ giết chết "từ 300 đến 500" Công an thì rõ ràng, đó là một nhóm khủng bố cần áp dụng bạo lực cần thiết nếu họ chống người thi hành công vụ. Ở Mỹ, khi Cảnh sát tiến vào mà một người cầm lựu đạn đòi ném vào cảnh sát thì không những họ bắn chết một mình người đó, mà bắn luôn cả những ai có mặt, không chỉ bắn một phát súng mà bắn cả một băng đạn. Vì luật pháp của Mỹ cũng như các quốc gia phương Tây như thế và trước vật chứng, nhân chứng, lời thú tội của các bị cáo, cho nên không nhà nước nào lên tiếng hoặc can thiệp vào vụ án xảy ra ở Ðồng Tâm, và đã làm cho những người chống phá Nhà nước Việt Nam bị nhục nhã, tẽn tò.

    3. Tôi thấy tính nhân văn, lượng khoan hồng của luật pháp Việt Nam rất cao khi Viện Kiểm sát nhân dân chuyển 19 người từ tội danh "giết người" sang tội danh "chống người thi hành công vụ". Ở Mỹ, dù có khoan hồng, họ chỉ chuyển đổi tội "giết người" sang tội "đồng lõa giết người" với mức án chí ít cũng 20 năm hoặc chung thân. Viện Kiểm sát nhân dân quyết định đổi tội danh vì các bị cáo đã nhận ra lỗi lầm và ăn năn, hối hận. Họ cũng nói rõ tự nguyện nhận lỗi để được khoan hồng chứ không bị bức cung.

Chính ông Bùi Viết Hiểu, không cần tham khảo với luật sư của ông, đã bất ngờ giơ tay phát biểu thay đổi lời khai, thú nhận lỗi lầm. Theo tôi, từ hành động của ông Bùi Viết Hiểu và các bị cáo khác, mà ông mới được nhận mức án từ 16 đến 18 năm tù, còn cứ nghe cố vấn của luật sư để cố cãi theo chiều hướng vô tội, có thể sẽ bị đề nghị mức án cao hơn.

    4. Theo tôi, một số luật sư bào chữa cho một số bị cáo trong vụ án có biểu hiện không bình thường. Hoạt động nghề nghiệp của mấy luật sư này tại phiên tòa khiến bị cáo nản lòng, nên trước ngày tranh luận cuối cùng, một số người công khai không nhờ luật sư biện hộ nữa, đó là điều rất hy hữu.

    Luật pháp cho phép luật sư dựa trên cơ sở pháp luật để bảo vệ quyền lợi thân chủ của mình một cách tối đa, nhưng khi đã có bằng chứng, nhân chứng, vật chứng, và lời thú tội của bị cáo thì không thể bào chữa theo hướng vô tội, mà phải bào chữa theo hướng hối lỗi để được pháp luật khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt. Nhưng mấy luật sư này không làm thế, thậm chí còn đổ lỗi cho Công an.

    Trong lúc phiên tòa đang diễn ra, có luật sư còn lên Facebook cho rằng "lựu đạn chỉ là để tập luyện trên thao trường nên không phải là vũ khí"; một luật sư khác viết trên Facebook rằng đó là "lựu đạn rởm" không thể coi là vũ khí giết người... Nếu ở Mỹ, theo án lệnh Graham v. Connor, 490 U.S. 386 (1989) đề cập ở trên, khi tính mạng bị đe dọa, chỉ trong tích tắc Cảnh sát phải quyết định có hay không bóp súng, đâu cần xác định lựu đạn "rởm" hay lựu đạn "thật" mới bắn hạ. Công an Việt Nam quá hiền, như theo luật pháp Mỹ thì Cảnh sát đã bắn cả băng đạn.

    Tôi đặc biệt chú ý tới sự kiện ngay ngày đầu xử án, một vị luật sư than phiền vì không được ưu tiên gửi ô-tô gần tòa án, phải đi bộ 350 m trong trời mưa, cho nên khi bước vào tòa ông quát tháo ầm ĩ, rồi than phiền về Ðoàn Luật sư Hà Nội với mấy việc không dính líu tới vụ án. Ở Mỹ, luật sư tham gia vụ án đều bị nghiêm cấm không được viết hay bình luận khi quá trình xét xử đang diễn ra. Như luật sư nọ thì nếu không bị rút bằng hành nghề, thì chí ít cũng bị tống giam vì tội khinh miệt tòa án.

    Tôi biết ngành Tư pháp ở Việt Nam đã có nhiều đổi mới rất tích cực; mấy vị luật sư này vẫn đòi cải tổ ngành Tư pháp của Việt Nam. Song có lẽ với hành xử nghề nghiệp vừa qua, họ cần cải tổ nhận thức của chính mình. Cần hiểu rằng không luật pháp ở quốc gia nào cho phép luật sư hành nghề một cách phi lý, ngang ngược, vừa bào chữa trước tòa, vừa lên mạng xã hội công bố thông tin, bình luận về sự kiện đang diễn ra tại phiên tòa.

    Lời kết: Phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án "Giết người" và "Chống người thi hành công vụ" xảy ra tại Ðồng Tâm (Hà Nội) đã kết thúc, Tòa đã tuyên các bản án tương ứng với mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo. Và những người chống cộng cực đoan lại tiếp tục la lối, điều đó không có gì phải ngạc nhiên. Tôi rất đồng tình với bản án vì ngoài việc răn đe thì luật pháp còn có tính nhân đạo, giáo dục con người khi họ biết hối lỗi. Dù có thể có phiên tòa phúc thẩm, tôi vẫn mong những người đã phải nhận án tù sẽ cải tạo thật tốt để tiếp tục được hưởng khoan hồng, những người nhận án tù treo sẽ cố gắng sinh sống lương thiện để trở thành công dân tốt.

    Là một luật sư người Mỹ gốc Việt, tôi quan sát vụ án và rất tán thành cách làm việc của tòa án, trình tự rõ ràng, xử lý nhân văn, mức án đúng người, đúng tội. Qua vụ án, pháp luật Việt Nam đã chứng tỏ với thế giới về sự nghiêm minh nhưng cũng đầy tính nhân văn. Cũng như trong thực tế cuộc sống đất nước hiện nay, ý Ðảng và lòng dân đã kết hợp hài hòa, triển khai rất cụ thể, hiệu quả. Phiên tòa là một bằng chứng thuyết phục, góp phần bẻ gãy những luận điệu chống phá Nhà nước Việt Nam