Thứ Hai, 7 tháng 12, 2020

Quá trình công nghiệp hóa cùng với cải cách, đổi mới đang tạo ra nhiều đặc điểm mới cho giai cấp công nhân.

 

Tác nhân hàng đầu làm biến đổi GCCN hiển nhiên là các cuộc cách mạng công nghiệp với chu kỳ ngày càng ngắn hơn, yêu cầu đa diện hơn. Trong hơn 100 năm gần đây nhất người ta đã thấy 3 cuộc cách mạng công nghiệp: lần thứ hai, lần thứ ba và lần thứ tư. Trong thế kỷ XX, nhân loại cũng đã tiến hành 2 kiểu công nghiệp hóa là công nghiệp hóa tư bản chủ nghĩa (TBCN) và công nghiệp hóa XHCN. Các cuộc cách mạng công nghiệp với chu kỳ ngày càng ngắn dần: Từ “đại công nghiệp” tức là từ “công nghiệp 1.0” đến “công nghiệp 2.0” mất gần hai thế kỷ; nhưng từ “công nghiệp 2.0” đến “công nghiệp 3.0” chỉ khoảng một thế kỷ; còn từ “công nghiệp 3.0” đến “công nghiệp 4.0” chỉ mất 30 năm!   

Công nghiệp hóa theo kiểu mới với các đặc trưng: Rút ngắn (diễn ra không tuần tự từ A đến Z mà phải tận dụng lợi thế so sánh của mỗi quốc gia); gắn với hiện đại hóa (sử dụng thành tựu khoa học và công nghệ mới, đáp ứng những yêu cầu mới về phát triển bền vững về xã hội và môi trường, sinh thái...); nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa được chuẩn bị sớm và kỹ hơn; các yêu cầu ngoài công nghiệp như tính nhân văn, bảo vệ môi trường, sinh thái, tài nguyên cao hơn; và hội nhập thị trường quốc tế cấp thiết hơn...

Theo đó, lý luận “GCCN là sản phẩm và chủ thể của đại công nghiệp” đã được bổ sung thêm nhiều nhận thức lý luận mới. Sự phát triển của công nhân gắn liền với hội nhập kinh tế thế giới, chẳng hạn, tham gia vào chuỗi sản xuất toàn cầu từ lợi thế và chấp nhận hợp tác, hội nhập quốc tế. Quá trình sản xuất hàng hóa công nghiệp của công nhân buộc phải đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế, đáp ứng những nhu cầu “khó tính” của thị trường... Và kết quả là một sản phẩm công nghiệp được công nhân tạo ra không chỉ là kết quả của công nghệ - kỹ thuật mà còn là sự tích hợp những giá trị kinh tế, xã hội, môi trường. Nhiều nước phát triển đã ứng dụng cơ chế quản lý linh hoạt (FMS) trong công nghiệp để khuyến khích tính linh hoạt, sáng tạo, tối ưu hóa quá trình sản xuất bằng nhiều nguyên tắc, như thường xuyên đổi mới công nghệ, tiết kiệm tối đa năng lượng và vật tư, hạn chế thời gian lưu kho bãi, linh hoạt thời gian và địa điểm làm việc (chế độ làm việc tại nhà). Công nhân hiện đại không còn là “chiếc đinh ốc trong dây chuyền sản xuất TBCN” mà có tính chủ động hơn, tư duy năng động và đa diện hơn. 

Sự phát triển của GCCN ở “các nước đang chuyển đổi” hiện nay còn là kết quả của sự kết hợp các cơ chế, quy luật của kinh tế thị trường với vai trò của nhà nước và thành phần kinh tế nhà nước; với chính sách đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ nhân lực, dần chuyển dịch mô hình kinh tế từ phát triển “bề rộng” là chủ yếu sang phát triển theo “chiều sâu”. Công nhân không chỉ là sản phẩm của công nghiệp hóa mà còn là kết quả tổng thành của chế độ chính trị và cơ chế kinh tế thị trường. Trình độ làm chủ và sáng tạo công nghệ, tư duy kinh tế thị trường, năng lực tổ chức quản lý của GCCN ở các nước cải cách, đổi mới đều đã có bước tiến lớn. Quan tâm đến lợi ích chính đáng của người lao động, kết hợp hài hòa lợi ích của người lao động với lợi ích của tập thể và lợi ích của xã hội..., vừa là tư duy kinh tế phù hợp, vừa là sự thể hiện tính chất XHCN trong phát triển.  

Tư duy mới về chính trị có thể thúc đẩy sự phát triển của GCCN. Chế độ XHCN đã tạo ra một chất lượng mới, quy mô và tốc độ mới cho công nghiệp hóa. Ngay trong kiểu công nghiệp hóa này cũng có 2 trình độ là công nghiệp hóa theo mô hình công nghiệp hóa cũ và theo mô hình công nghiệp hóa mới. Hiện nay, cùng với lý luận công nghiệp hóa mới của thế giới và xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, các nước XHCN có thể thông qua hợp tác - phân công lao động quốc tế để thực hiện công nghiệp hóa. Chính CNTB cũng cần đến CNXH và tìm đến để hợp tác trong sản xuất toàn cầu. Đổi mới tư duy chính trị, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, đẩy mạnh hội nhập quốc tế... là xu thế chung của nhiều quốc gia. Giai cấp công nhân đã xuất hiện với số lượng, chất lượng và diện mạo mới không chỉ từ công nghiệp hóa mà còn từ cải cách, đổi mới. Nhưng quan trọng hơn, là khả năng phát triển, cơ động xã hội của GCCN và các giai cấp khác. Trước đây, như nhận định của một tác giả Trung Quốc: “Nhà nước trao cho GCCN địa vị giai cấp lãnh đạo và thực hiện chính sách phúc lợi toàn xã hội khiến cho GCCN có được địa vị xã hội và kinh tế “trời phú” rất cao, ở vào vị trí trung tâm trong toàn bộ kết cấu xã hội, được hưởng một loạt quyền lợi đặc thù, có sự khác biệt với giai cấp nông dân trên nhiều phương diện và cao hơn nhiều so với nông dân”(9). Nhưng hiện nay, “thân phận “trời phú” của GCCN Trung Quốc đương đại bị phá vỡ, chuyển biến từ tượng trưng thân phận sang khái niệm nghề nghiệp”. “Phương thức hợp đồng hóa nghề nghiệp” thay cho chế độ công nhân, viên chức vĩnh viễn; quan hệ lợi ích kinh tế thay cho quan hệ hành chính, “từ trạng thái do quá khứ lưu truyền đến trạng thái do khế ước quy định”(10). Rõ ràng, công nhân hiện nay không chỉ là sản phẩm của công nghiệp hóa mà còn là sản phẩm của đổi mới chính trị. Trong một số trường hợp, chính trị, chính sách đã tác động mạnh mẽ, trực tiếp và tạo biến đổi sâu sắc đối với GCCN.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét