Thứ Tư, 9 tháng 12, 2020

Phát hiện mã độc đánh cắp tiền trên hàng ngàn smartphone giá rẻ Trung Quốc

 Mã độc được cài đặt sẵn trên hàng ngàn chiếc smartphone giá rẻ của Trung Quốc sẽ âm thầm lấy cắp dữ liệu và tiền của người dùng.

Các hãng smartphone Trung Quốc ít tên tuổi thường nhắm đến phân khúc smartphone giá rẻ tại các quốc gia nghèo và đang phát triển. Nhiều người dùng tại đây cũng lựa chọn các smartphone này vì mức giá rẻ, phù hợp với túi tiền. Tuy nhiên, không ít người dùng lại trở thành nạn nhân bị mất tiền và dữ liệu vì những loại smartphone giá rẻ này.

Phát hiện mã độc đánh cắp tiền trên hàng ngàn smartphone giá rẻ Trung Quốc - 1

Nhấn để phóng to ảnh

Tecno W2 có giá bán chỉ khoảng 30 USD tại châu Phi, nhưng người dùng lại phải mất những khoản tiền lớn khác vì mã độc cài sẵn trên thiết bị

Theo đó, công ty bảo mật và chống gian lận công nghệ cao Upstream đã phát hiện ra loại mã độc nguy hiểm được cài đặt sẵn trên hơn 200.000 chiếc smartphone do hãng Tecno Mobile (Trung Quốc) sản xuất và phân phối, trong đó các mẫu smartphone có cài sẵn mã độc hiện đang được bán tại các quốc gia châu Phi, bao gồm Ethiopia, Cameroon, Ai Cập, Ghana và Nam Phi.

Các chuyên gia bảo mật cho biết, mẫu smartphone Tecno W2 được cài đặt sẵn hai loại mã độc xHelper và Triada ngay từ khi mới xuất xưởng mà người dùng không hề hay biết.

Hai loại mã độc này sẽ tự động tải xuống các ứng dụng khác nhau để lấy cắp dữ liệu trên thiết bị của người dùng và tự ý đăng ký các dịch vụ mà người dùng không hề hay biết, chẳng hạn dịch vụ nghe nhạc hoặc xem video trực tuyến… rồi trừ tiền của người dùng, dù họ không hề sử dụng dịch vụ.

Điều đáng nói là hai loại mã độc kể trên được cài vào firmware của thiết bị, thay vì chỉ cài đặt sẵn trên hệ điều hành, nghĩa là cho dù người dùng có khôi phục lại hệ thống trên smartphone về trạng thái ban đầu thì vẫn không thể gỡ bỏ hai loại mã độc này.

Transsion Holdings, công ty mẹ của Tecno Mobile, thừa nhận về sự tồn tại của hai loại mã độc Triada và xHelper trên chiếc smartphone Tecno W2, nhưng đã đổ lỗi cho một nhà cung cấp trong chuỗi cung ứng sản phẩm. Transsion Holdings cho biết công ty không thu được bất kỳ lợi nhuận nào từ các phần mềm độc hại trên smartphone và đã tung ra bản vá lỗi để khắc phục vấn đề.

“Đối với những người dùng smartphone W2 hiện đang gặp sự cố, họ nên tải xuống bản sửa lỗi trên smartphone của mình hoặc liên hệ với bộ phận hỗ trợ dịch vụ sau bán hàng của Tecno để được hỗ trợ”, đại diện của Transsion Holdings cho biết. “Mỗi phần mềm được cài đặt trên các thiết bị đều phải trải qua một loạt kiểm tra bảo mật nghiêm ngặt, chẳng hạn như nền tảng quét bảo mật của riêng chúng tôi”.

Đáng chú ý, đây không phải là lần đầu tiên các chuyên gia bảo mật phát hiện ra mã độc được cài đặt sẵn trên các thiết bị khác nhau của Trung Quốc ngay từ khi xuất xưởng. Trước đó nhiều thiết bị công nghệ, bao gồm smartphone, máy tính bảng, máy tính... có xuất xứ từ Trung Quốc cũng đã phát hiện thấy cài đặt sẵn các phần mềm độc hại và có khả năng gián điệp, trong đó có nhiều sản phẩm được bán tại Việt Nam.

Theo Dantri.com

Phó ban Nội chính Trung ương: 'Tiếp tục chống tham nhũng quyết liệt'

Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng thời gian tới "vẫn mạnh mẽ, quyết liệt" và "không ai có thể cưỡng lại được".

Ông Nguyễn Thái Học, Phó Ban Nội chính Trung ương, nói như trên khi trả lời câu hỏi của VnExpress tại cuộc họp báo thông tin về Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2013-2020, chiều 9/12.

Ông Học cho hay, trong nhiều phiên họp của Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng (Ban chỉ đạo), Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng (Trưởng Ban chỉ đạo) đã nêu vấn đề về tâm trạng của người dân, "quan tâm lo lắng, vừa qua làm tốt rồi, tới đây sẽ như thế nào?".

Theo ông, thời gian qua trong bối cảnh đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng và tập trung phòng, chống dịch Covid-19, công tác phòng, chống tham nhũng vẫn được tiến hành "không dừng, không nghỉ, không trùng xuống".

"Đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã trở thành phong trào quần chúng, trở thành xu thế không ai có thể cưỡng lại được; ai không muốn làm, không dám làm thì đứng dẹp sang một bên để người khác làm", ông Học dẫn lời Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng.

Với quyết tâm chính trị này của người đứng đầu Đảng, Nhà nước, ông Học khẳng định "chắc chắn công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng trong thời gian tới vẫn mạnh mẽ, quyết liệt. Lò nóng từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII thì tinh thần đấu tranh vẫn mãi như thế".

Ông Nguyễn Thái Học, Phó Ban Nội chính Trung ương. Ảnh: Gia Chính

Ông Nguyễn Thái Học, Phó Ban Nội chính Trung ương. Ảnh: Gia Chính

Về kết quả công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2013 - 2020, ông Học nói, từ khi được thành lập vào năm 2013 đến nay, Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã đưa hơn 800 vụ án, vụ việc nghiêm trọng, phức tạp, được dư luận, xã hội quan quan tâm vào diện theo dõi, chỉ đạo ở ba cấp độ.

Trong đó, cấp độ một là Ban chỉ đạo, cấp độ hai Ban Nội chính Trung ương và cấp độ ba các tỉnh thành. Riêng Ban chỉ đạo đã trực tiếp theo dõi, chỉ đạo 133 vụ án, 94 vụ việc; đến nay các cơ quan chức năng đã kết thúc điều tra, truy tố và đưa ra xét xử sơ thẩm 86 vụ án, 814 bị cáo; phúc thẩm là 61 vụ án, 581 bị cáo...

Ông Võ Văn Dũng, Phó trưởng Ban thường trực Ban Nội chính Trung ương, cho biết căn cứ vào thực tiễn, các cấp có thẩm quyền đã xây dựng năm cấp độ phối hợp xử lý án tham nhũng để giúp đảm bảo tiến độ các công việc liên quan.

"Quá trình giải quyết một vụ án sẽ có nhiều khó khăn, vướng mắc đặt ra, như đánh giá chứng cứ, xác định tội danh. Theo luật hiện hành thì cơ quan tố tụng nào làm theo nhìn nhận của cơ quan đó, nên nếu không có cơ chế phối hợp chặt chẽ, việc xử lý vụ án sẽ bị kéo dài", ông Dũng giải thích.

Cấp độ một, nếu vụ việc, vụ án đang được cơ quan tố tụng xử lý có khó khăn thì thủ trưởng của ngành chủ trì cuộc họp liên ngành, mời các cơ quan khác để giải quyết các vướng mắc.

Trong giai đoạn điều tra, thủ trưởng cơ quan điều tra tổ chức cuộc họp mời Viện kiểm sát, toà án, lãnh đạo Ban Nội chính Trung ương dự để trao đổi, tháo gỡ. Nếu vụ án nằm ở giai đoạn truy tố thì Viện kiểm sát chủ trì, ở giai đoạn xét xử thì toà án chủ trì; trường hợp chưa thống nhất, Trưởng Ban Nội chính Trung ương chủ trì họp liên ngành để bàn tháo gỡ.

Ông Võ Văn Dũng, Phó thường trực Ban Nội chính Trung ương. Ảnh: Gia Chính

Ông Võ Văn Dũng, Phó trưởng Ban thường trực Ban Nội chính Trung ương. Ảnh: Gia Chính

Nếu vẫn chưa thống nhất thì chuyển sang cấp độ hai, do Thường trực Ban Bí thư (Phó trưởng Ban chỉ đạo) chủ trì cuộc họp liên ngành.

Cấp độ ba là họp thường trực Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng gồm Tổng bí thư, Chủ tịch nước (Trưởng ban), các phó trưởng ban...

Cấp độ bốn là họp toàn thể Ban chỉ đạo để giải quyết, nếu chưa xong sẽ chuyển lên cấp độ năm là họp Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Ông Võ Văn Dũng nói đối với những vụ án phức tạp thì cấp có thẩm quyền sẽ thành lập Ban chỉ đạo riêng để xử lý. "Ban chỉ đạo không chỉ đạo tội danh, mức án cụ thể mà đặt ra yêu cầu là phải làm thế nào đảm bảo tiến độ, đúng người đúng tội, đúng pháp luật, không được thiên vị, không được oan sai, không được nhẹ tay mà phải làm nghiêm minh", ông Dũng nêu rõ.

Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2013-2020 sẽ diễn ra vào ngày 12/12.

Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN ra tuyên bố chung

 Tuyên bố chung gồm 15 điểm được Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN thông qua tại hội nghị ADMM-14, ngày 9/12.

Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN lần thứ 14 (ADMM-14) được tổ chức trực tuyến, do Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam chủ trì.

Trong khuôn khổ hội nghị, Trưởng đoàn các nước đánh giá cao sự hợp tác hiệu quả, kịp thời giữa quân đội các nước ASEAN trong ứng phó dịch Covid-19; khẳng định, bằng nỗ lực nội tại của mỗi quốc gia và sự phối hợp chặt chẽ giữa các thành viên, các nước ASEAN đã tích cực triển khai hiệu quả các hoạt động hợp tác, quyết tâm không để dịch bệnh ảnh hưởng đến hợp tác quốc phòng trong ASEAN.

Tuyên bố chung thông qua kế hoạch hoạt động ba năm của ADMM giai đoạn 2020 - 2022. Theo đó, các Bộ trưởng thống nhất duy trì nguyên tắc về vai trò trung tâm của ASEAN, tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, ra quyết định dựa trên đồng thuận...

Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam (thứ 7 từ trái qua) cùng Thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh (thứ 6 từ trái qua) và Tuỳ viên Quốc phòng các nước ASEAN tham dự hội nghị. Ảnh: TTXVN

Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam (thứ 7 từ trái qua) cùng Thứ trưởng Nguyễn Chí Vịnh (thứ 6 từ trái qua) và Tuỳ viên Quốc phòng các nước ASEAN tham dự hội nghị. Ảnh: TTXVN

Tuyên bố chung tái khẳng định tầm quan trọng của việc duy trì và thúc đẩy hòa bình, an ninh, ổn định, an toàn và tự do hàng hải, hàng không ở Biển Đông.

Các Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN khẳng định sự cần thiết phải thực hiện tự kiềm chế việc tiến hành các hoạt động làm phức tạp hoặc gia tăng tranh chấp, ảnh hưởng đến hòa bình và ổn định, tránh các hành động có thể làm phức tạp thêm tình hình, thực hiện giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với các nguyên tắc được thừa nhận rộng rãi của luật pháp quốc tế, bao gồm UNCLOS 1982.

Tuyên bố chung cũng nhấn mạnh sự cần thiết duy trì và thúc đẩy môi trường thuận lợi cho việc sớm hoàn tất một Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) hiệu quả và thực chất, phù hợp với luật pháp quốc tế (bao gồm UNCLOS 1982); thực thi đầy đủ và hiệu quả toàn bộ Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).

Tuyên bố chung nêu rõ các nước ASEAN hoan nghênh sáng kiến xây dựng lòng tin như Bộ quy tắc tránh va chạm bất ngờ trên biển; Hướng dẫn tương tác trên biển; và các hoạt động khác trong khuôn khổ DOC. Những sáng kiến này nhằm tăng cường thông tin liên lạc, xây dựng lòng tin và sự tin cậy lẫn nhau, giảm căng thẳng và nguy cơ xảy ra tại nạn, hiểu nhầm và những tính toán sai lầm trên không và trên biển.

Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam chủ trì hội nghị ADMM-14. Ảnh: TTXVN

Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam chủ trì hội nghị ADMM-14. Ảnh: TTXVN

Theo Bộ trưởng Quốc phòng, Đại tướng Ngô Xuân Lịch, với việc thống nhất thông qua và ký Tuyên bố chung của Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN, các nước đã thể hiện mạnh mẽ sự đoàn kết, thống nhất và cam kết đối với hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực.

Nguồn: Vnexpress.com

"CIVICUS" XUYÊN TẠC SỰ THẬT VỀ TÌNH HÌNH NHÂN QUYỀN TẠI VIỆT NAM


Ngày 8/12/2020, cái gọi là “liên minh xã hội dân sự toàn cầu” - CIVICUS đã công bố Báo cáo có tựa People Power Under Attack 2020, tạm dịch quyền lực của người dân bị tấn công năm 2020. Theo đó, Báo cáo của CIVICUS xếp Việt Nam vào danh sách các nước “đóng”, tức là mức cao nhất trong đàn áp xã hội dân sự và các quyền con người căn bản. Đây rõ ràng là một báo cáo có nội dung xuyên tạc sự thật, thể hiện rõ sự thiếu khách quan, mang nặng tính định kiến và thù địch của tổ chức núp bóng “nhân quyền” này.

Báo cáo của CIVICUS xuyên tạc rằng, Việt Nam là một trong 4 nước ở Châu Á bị xếp vào danh sách “đóng” màu đỏ cùng với Trung Quốc, Lào và Bắc Hàn. Không những vậy, trong báo cáo của CIVICUS còn xuyên tạc rằng, “giới chức Việt Nam trong năm nay tiếp tục đàn áp những người lên tiếng chỉ trích chính quyền độc đảng. Hàng chục cá nhân đã bị bắt giữ, bỏ tù sau các phiên toà chớp nhoáng theo các một loạt các điều luật như lợi dụng quyền tự do dân chủ hay tuyền truyền chống nhà nước. Những người bị bắt giữ và phạt tù bao gôm các nhà hoạt động, bloggers, các Facebooker”.

Để “chứng minh” cho nhận định xuyên tạc, vô căn cứ trên, báo cáo của CIVICUS đã lấy dẫn chứng về một số trường hợp mà họ cho là những nhà hoạt động, bloggers, Facebooker bị chính quyền Việt Nam gia tăng “đàn áp”, đó là Phạm Đoan TrangNguyễn Tường ThụyPhạmChí Dũng…  CIVICUS cho rằng, những trường hợp trên đều bị bắt với cáo buộc “tuyên truyền chống nhà nước” và làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm" chống nhà nước”.


Trang bìa báo cáo People Power Under Attack 2020 của CIVICUS

Thực tế có như vậy không? Chỉ xin điểm một vài lát cắt nhỏ thôi, cũng đã thấy rõ đó là sự bóp méo, thổi phồng, vu khống của CIVICUS. Hiếm có đất nước nào người dân lại được tự do ngôn luận, tự do Internet, tự do lập hội...

Bất kỳ người dân nào cũng đều có thể tự do ngôn luận cả ngoài đời lẫn trên không gian mạng về mọi chuyện, từ tâm tư, phản ánh, thắc mắc, nêu quan điểm, chính kiến của mình về các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội… của đất nước. Bất kỳ người dân nào cũng có thể thành lập, tham gia các hội, hoặc tự do tham gia các tôn giáo khác nhau theo quy định của pháp luật… Đặc biệt, kinh tế - xã hội có những bước phát triển mạnh mẽ, đời sống người dân không ngừng được nâng cao, bảo đảm; các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, điển hình là xóa đói, giảm nghèo được hoàn thành sớm, đầy nhân văn khiến bạn bè thế giới thán phục.

Một nguyên tắc rất sơ đẳng, căn bản là, thể chế chính trị, luật pháp của một quốc gia này không thể áp dụng một cách cứng nhắc, nguyên xi ở một đất nước có chủ quyền khác. Và, người dân của đất nước nào cũng phải thượng tôn pháp luật của đất nước đó.

Tại Việt Nam, không có cái gọi là “đàn áp những người lên tiếng chỉ trích chính quyền độc đảng” như cái cách CIVICUS cố tình thông tin lập lờ, sai lệch để từ đó đưa ra những đánh giá, nhận định sai trái về vấn đề dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam. Tại Việt Nam, chỉ có những đối tượng vi phạm pháp luật bị bắt giữ, truy tố và xét xử theo đúng quy định luật pháp hiện hành - những điều khoản luật pháp theo đúng những nguyên tắc phổ quát luật pháp quốc tế, được quốc tế thừa nhận rộng rãi và công nhận.

Hành vi của những người được nêu tên trong báo cáo của CIVICUS bao gồm: Phạm Đoan Trang, Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thuỵ… không phải là đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền mà là tuyên truyền chống nhà nước thể hiện ở hành vi sử dụng mạng xã hội chia sẻ, phát tán bài viết, video, hình ảnh có nội dung tiêu cực, kích động, xuyên tạc sự thật, tuyên truyền các luận điệu phản động trái với đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước… Do đó, cơ quan bảo vệ pháp luật Việt Nam thực hiện khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các đối tượng trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

Rõ ràng, báo cáo CIVICUS của không chỉ phản ánh sai lệch, thiếu chính xác, bôi nhọ bức tranh nhân quyền ở Việt Nam mà còn ngang nhiên lợi dụng vấn đề nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam./

Hải Đăng st

Không thể phủ nhận thành quả dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam

 Dân chủ, nhân quyền là giá trị thiêng liêng mà toàn nhân loại hướng tới. Thế nhưng, đây cũng là chủ đề nhạy cảm mà các thế lực thù địch, cơ hội chính trị và một số tổ chức phi chính phủ được sự hậu thuẫn của phương Tây luôn tìm cách lợi dụng nhằm thực hiện những động cơ, mưu đồ đen tối đối với Việt Nam.

Cảnh giác với uy tín giả - Tấm bình phong “chui sâu, leo cao”

 

Uy tín là tiền đề và điều kiện bảo đảm chắc chắn cho sự thành công trong hoạt động thực tiễn của các tập thể, cá nhân nói chung, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nói riêng. Tuy nhiên, thực tế đã và đang xuất hiện loại uy tín giả rất nguy hại, nó ngấm ngầm phá vỡ mối đoàn kết nội bộ, che đậy bản chất và là bình phong để những kẻ cơ hội “chui sâu, leo cao”. Nhận diện những biểu hiện, thủ đoạn và có giải pháp hữu hiệu để ngăn ngừa, đấu tranh với loại uy tín giả là điều cấp thiết trong công tác xây dựng Đảng, nhất là trong xây dựng đội ngũ cán bộ của nhiệm kỳ mới hiện nay.

Lợi dụng góp ý dự thảo các văn kiện Đại hội XIII để kích động chống phá Đảng, Nhà nước

 Trong khi đông đảo các tầng lớp nhân dân đang có những ý kiến đóng góp tâm huyết, trách nhiệm vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng thì vẫn còn một số người cố tình lợi dụng việc đóng góp ý kiến để xuyên tạc, tuyên truyền các luận điệu sai trái, thù địch. Vì vậy, việc nhận diện một cách đầy đủ âm mưu, ý đồ, thủ đoạn của các đối tượng từ đó chủ động triển khai các công tác, biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn là rất cần thiết khi Đại hội XIII của Đảng đang đến gần.

Đảng Cộng sản Việt Nam - Nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam

 Chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam là mục tiêu hàng đầu và xuyên suốt của các thế lực thù địch. Chúng dùng nhiều thủ đoạn tinh vi, tiến hành tác động, phá hoại nội bộ Đảng, làm giảm uy tín, đi đến xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Tuy nhiên, dù có sử dụng "trăm phương nghìn kế", các thế lực thù địch cũng không thể phủ nhận được sự thật hiển nhiên về niềm tin của toàn dân ta đồng lòng đi theo Đảng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với những thành tựu to lớn đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận cả trên phương diện lý luận, thực tiễn và lịch sử.

 NGÀY QUỐC TẾ NHÂN QUYỀN THẾ GIỚI

(10-12-1948, 10-12-2020) 🌎


Mỗi khi đến dịp Ngày Nhân quyền thế giới (10-12) hằng năm, các thế lực thù địch, phản động và đối tượng cơ hội chính trị lại tung ra những luận điệu cũ rích nhằm xuyên tạc, phủ nhận những nỗ lực, thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền con người. Những luận điệu bịa đặt đó hoàn toàn vô căn cứ bởi từ khi lập quốc theo chế độ mới đến nay, Việt Nam luôn thực hiện mục tiêu, chính sách nhất quán là tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm tất cả những giá trị tốt đẹp thuộc về quyền lợi cơ bản của con người.

1. Quyền con người là giá trị phổ quát của nhân loại và được hầu hết các quốc gia trên thế giới thừa nhận, trong đó có Việt Nam. Tuy vậy, khi nhìn nhận vấn đề quyền con người, quyền công dân cần phải có quan điểm khách quan, toàn diện gắn với thể chế chính trị, lịch sử, văn hóa truyền thống và điều kiện kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia dân tộc. Không nên xem xét, nhận định quyền con người, quyền công dân theo con mắt “thầy bói xem voi”, chỉ nhìn thấy vài ba hiện tượng bên ngoài rồi đánh giá thành bản chất. Vì cách nhìn nhận hẹp hòi, thiên kiến như vậy có thể tạo ra mâu thuẫn, xung khắc giữa chủ thể nhận định, đánh giá và đối tượng bị nhận định, đánh giá, từ đó gây bất lợi cho việc củng cố mối quan hệ hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển giữa các quốc gia trên thế giới.

 Là một nước đang phát triển, Việt Nam luôn thiện chí hợp tác với các quốc gia, các tổ chức quốc tế nhằm không ngừng cải thiện, bảo đảm những quyền cơ bản, chính đáng của con người. Nhưng chúng ta không chấp nhận một số tổ chức phi chính phủ ở nước ngoài như: Theo dõi nhân quyền thế giới (HRW), Phóng viên không biên giới (RSF) thường xuyên có cái nhìn sai trái, nhận định rất thiếu khách quan về tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Mặt khác, chúng ta cũng đề cao cảnh giác, kiên quyết vạch trần, lên án những phần tử có tư tưởng thâm thù với chế độ, cũng như các đối tượng đội lốt “đấu tranh vì dân chủ, nhân quyền” nhưng lại có lời lẽ đơm đặt, bôi nhọ những giá trị cơ bản của quyền con người chân chính và rêu rao xuyên tạc Đảng, Nhà nước Việt Nam không tôn trọng, bảo đảm quyền con người nhằm mưu đồ chống phá cách mạng Việt Nam.

2. Khi nói đến một thể chế chính trị tiến bộ, một quốc gia văn minh, thì không thể không nói đến thể chế chính trị, quốc gia đó có quan tâm đến việc bảo đảm những quyền cơ bản của con người hay không. Chế độ chính trị XHCN mà Việt Nam đang nỗ lực xây dựng, thực hiện là một chế độ của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Vì vậy, từ khi lập quốc theo thể chế dân chủ XHCN đến nay, Việt Nam đã kiên trì theo đuổi mục tiêu không ngừng thúc đẩy, bảo vệ và bảo đảm quyền con người cho mọi người dân.

Tuy không phải là quốc gia đầu tiên đề ra các vấn đề về quyền cơ bản của con người, nhưng Việt Nam là một trong số ít quốc gia sớm tiếp cận về quyền con người. Trong bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Như vậy, thông qua khẳng định các giá trị của một dân tộc là quyền bình đẳng, quyền sống, quyền sung sướng, quyền tự do, Chủ tịch Hồ Chí Minh muốn nhấn mạnh quyền con người chỉ thực sự được bảo đảm khi gắn liền với quyền độc lập, tự do của dân tộc.


Quốc hiệu Việt Nam từ khi thành lập chính quyền cách mạng đến nay cũng nhất quán một khẩu hiệu: “Độc lập-Tự do-Hạnh phúc”. Điều đó có nghĩa là, mục tiêu trước sau như một mà cả dân tộc Việt Nam kiên trì thực hiện là bảo đảm dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc.

Nếu bản “Tuyên ngôn thế giới về quyền con người” mà Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10-12-1948, trong đó vấn đề hàng đầu mà tuyên ngôn này khuyến nghị cộng đồng quốc tế và các quốc gia dân tộc phải thực hiện là bảo đảm “Tự do, công lý và hòa bình”; thì vấn đề quyền tự do trong bản Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được nêu ra trước 3 năm so với bản “Tuyên ngôn thế giới về quyền con người”. Nhắc lại điều đó để thấy, với tầm nhìn vượt thời đại của mình, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã thay mặt nhân dân và dân tộc Việt Nam khẳng định Việt Nam luôn tôn trọng các giá trị quyền con người và cam kết thực hiện quyền con người trước cộng đồng quốc tế ngay từ khi thành lập chính quyền cách mạng công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

Qua nhiều lần xây dựng, sửa đổi Hiến pháp, từ các bản Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 đến Hiến pháp năm 2013 luôn giữ một vấn đề căn cốt là hiến định các quyền con người và quyền công dân. Trong đó, Hiến pháp năm 2013 đã thiết kế một chương về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Ngay sau Điều 1 hiến định về chủ quyền địa lý, Điều 2 Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định nguyên tắc chủ quyền tối cao thuộc về nhân dân, đó là: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”. Cũng lần đầu tiên, chữ “Nhân Dân” được viết hoa trong bản Hiến pháp để nhấn mạnh đến vị trí, vai trò quyết định của nhân dân trong tiến trình lịch sử và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Trong giai đoạn 2014-2019, Nhà nước Việt Nam đã ban hành hơn 100 văn bản luật và pháp lệnh liên quan đến việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân.


3. Do trải qua hai cuộc chiến tranh chống thực dân đế quốc kéo dài suốt ba thập niên (1945-1975) và chịu ảnh hưởng, tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội khoảng chục năm sau khi đất nước thống nhất, dù rất quan tâm, song Việt Nam chưa có nhiều điều kiện thuận lợi để bảo đảm thực sự đầy đủ các quyền con người.


Từ khi tiến hành công cuộc đổi mới đến nay, Việt Nam ngày càng nhận thức sâu sắc và bảo đảm tốt hơn quyền con người trên tất cả các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội.

Thành tựu về quyền con người ở Việt Nam trong hơn 70 năm qua thể hiện trên mọi lĩnh vực, nhất là những bước tiến vượt bậc về phát triển kinh tế trong gần 35 năm đổi mới (1986-2020). Từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, quy mô nền kinh tế năm 1985 mới có 14 tỷ USD, thì đến năm 2019 đạt 262 tỷ USD, tăng gấp hơn 18,7 lần. Mới đây, Tạp chí The Economist tháng 8-2020 đã xếp Việt Nam trong tốp 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới. Mặc dù chịu ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch Covid-19 trên toàn cầu, trong khi phần lớn các nền kinh tế trên thế giới rơi vào suy thoái, nhưng nhờ sự chỉ đạo đồng bộ, quyết liệt thực hiện “mục tiêu kép” của Chính phủ, năm 2020, Việt Nam vẫn duy trì được tăng trưởng dương ở mức khá. Nhìn theo tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới (WB) so sánh mức sống với các nước trên thế giới, thu nhập của người dân Việt Nam năm 2020 tương đương gần 9.000USD (tính theo ngang bằng sức mua).

Sự tăng trưởng kinh tế là cơ sở, tiền đề để Nhà nước chăm lo thực hiện tốt các chính sách an sinh, văn hóa xã hội. Điều đó được thể hiện ở “Chỉ số phát triển con người” (HDI). Theo Báo cáo “Phát triển con người năm 2019” được Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) công bố ngày 9-12-2019, với chỉ số HDI là 0,63, Việt Nam xếp thứ 118 trong tổng số 189 nước. Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam tăng 4,8 năm, số năm đi học trung bình tăng 4,3 năm, thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng trên 354%. Điều này giúp Việt Nam nằm trong nhóm các nước có tốc độ tăng trưởng chỉ số HDI cao nhất trên thế giới. Theo nhận định của bà Caitlin Wiesen, Trưởng đại diện thường trú UNDP ở Việt Nam: “Việt Nam đã đạt được tăng trưởng đáng kể trong phát triển con người kể từ năm 1990 đến nay. Điều đó chứng tỏ Việt Nam đã có những bước tiến bộ trong thực hiện chính sách chăm lo phát triển con người toàn diện”.

Một trong những thành tựu về nhân quyền đáng kể là Việt Nam đã quan tâm thúc đẩy, bảo vệ, bảo đảm các quyền cơ bản cho nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội. Đến nay, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã ban hành 118 chính sách liên quan đến việc xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế-xã hội, cải thiện đời sống và bảo đảm an sinh cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Nhờ thực hiện đồng bộ các chính sách đó, tỷ lệ nghèo đa chiều ở Việt Nam giảm từ 9,88% (năm 2015) xuống còn 3,73% (năm 2019). Cả nước hiện có gần 3 triệu người nghèo, người yếu thế được cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí. Đặc biệt, Phong trào “Cả nước chung tay vì người nghèo-Không để ai bị bỏ lại phía sau” trong những năm qua đã nhận được sự hưởng ứng sâu rộng, hiệu quả của toàn xã hội. Chỉ tính trong dịp “Ngày vì người nghèo” 17-10-2020 vừa qua, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã kêu gọi, huy động được gần 2.400 tỷ đồng ủng hộ Quỹ Vì người nghèo và an sinh xã hội.


*Từ một nước lạc hậu, không có tên trên bản đồ thế giới, sau hơn 70 năm huy động sức dân, đồng lòng thực hiện sự nghiệp kháng chiến, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Việt Nam đã trở thành một quốc gia hòa bình, độc lập, được cộng đồng quốc tế ghi nhận là một trong những nước tiên phong và là điểm sáng về thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ về xóa đói, giảm nghèo, thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội. Đặc biệt, năm 2020, Việt Nam được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và nhiều cơ quan truyền thông uy tín của quốc tế đánh giá là một trong số ít quốc gia đã kiểm soát, khống chế thành công đại dịch Covid-19, do vậy, Việt Nam nằm trong nhóm nước có tỷ lệ người bị lây nhiễm và tử vong vì dịch Covid-19 thấp nhất trên thế giới. Kết quả này thêm một lần chứng tỏ Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn ưu tiên cao nhất để bảo đảm quyền được sống an toàn, khỏe mạnh cho mọi người dân-một trong những giá trị cao cả của quyền con người.


*Là một quốc gia đang phát triển, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, hiện nay Việt Nam cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, thử thách. Nhưng với bản chất của một chế độ xã hội ưu việt mà cả dân tộc đã tự nguyện lựa chọn và kiên trì thực hiện, thông qua chủ trương, đường lối phát triển kinh tế-xã hội đúng đắn và hợp xu hướng thời đại, Việt Nam ngày càng có điều kiện tạo ra những tiền đề cơ sở vật chất, văn hóa để bảo đảm tốt hơn các quyền cơ bản của con người.

Việc Đảng Cộng sản Việt Nam xác định mục tiêu xây dựng đất nước theo định hướng XHCN “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” với hàm ý nhấn mạnh Việt Nam luôn kiên trì, nỗ lực bảo đảm “quyền sung sướng” (dân giàu) và “quyền tự do” (dân chủ) mà Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nêu ra trong bản Tuyên ngôn Độc lập. Khi quốc gia giàu có về vật chất, văn hóa, tinh thần và bảo đảm tự do, dân chủ về mọi mặt, đó chính là cam kết chính trị của Việt Nam cùng các quốc gia và cộng đồng quốc tế thực hiện hiệu quả những giá trị phổ quát về nhân quyền đã được xác định trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người

QĐND

NGĂN CHẶN THÔNG TIN XẤU ĐỘC

 Thời gian qua, liên tục xuất hiện một số cá nhân đăng tải, chia sẻ, bình luận trên mạng xã hội những thông tin phiến diện, thiếu chính xác, chưa được kiểm chứng hoặc thông tin về những vụ việc đang trong quá trình điều tra, chưa có kết luận chính thức… dẫn đến tâm lý hoang mang, phản ứng trái chiều trong dư luận xã hội, tạo cơ hội cho các thế lực thù địch và các đối tượng phản động, cực đoan chính trị tuyên truyền xuyên tạc, chống phá gây mất ổn định chính trị, kinh tế, xã hội.

Chủ động phòng, chống các thông tin sai trái, thù địch

 Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự kiện chính trị trọng đại, có ý nghĩa lớn lao đối với sự phát triển vững bền của đất nước nên thu hút sự quan tâm, kỳ vọng, niềm tin của cả hệ thống chính trị, của đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.

XÂY DỰNG ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG CON NGƯỜI VIỆT NAM

 “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa là sự chuyển hóa văn hóa, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa theo quỹ đạo và các giá trị không phù hợp, từ đó làm biến đổi theo chiều hướng tiêu cực, làm tha hóa con người, dẫn tới biến chất xã hội.

ĐẬP TAN ÂM MƯU THÚC ĐẨY "TỰ DIỄN BIẾN", "TỰ CHUYỂN HÓA" CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 Vu cáo, đặt điều, xuyên tạc, lợi dụng, kích động bạo loạn… là những chiêu trò phổ biến mà các thế lực thù địch tích cức lợi dụng để thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, nhất là khi đất nước có các sự kiện chính trị quan trọng, thời điểm nhạy cảm. Trong đó, Đại hội XIII của Đảng là một trọng điểm.

HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ PHẢI VÀO CUỘC

 “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhất là trong tình hình hiện nay diễn ra hết sức phức tạp, vẫn là một trong những nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra. Âm mưu, thủ đoạn của chúng thực hiện ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong lĩnh vực đạo đức cũng vậy, tính chất cũng hết sức tinh vi, xảo quyệt và nguy hiểm.

Nhận diện các website mạo danh lãnh đạo Đảng, Nhà nước trước thềm Đại hội XIII

 Theo quy định pháp luật, báo điện tử, trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của các cơ quan Đảng, Nhà nước phải sử dụng ít nhất 01 tên miền “.vn”

Mầm mống của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”

 Sau đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020-2025, thực tế đã và đang có một bộ phận cán bộ sợ sai không dám làm, sợ trách nhiệm, không dám đổi mới, sáng tạo, có tư tưởng chỉ làm “tròn vai”, “đứng yên một chỗ”, “mũ ni che tai”...

Đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc trước thềm Đại hội XIII của Đảng

 Gần đến ngày Đại Hội Đảng toàn Quốc lần thứ XIII, các thế lực thù địch đã lợi dụng việc chuẩn bị nhân sự cho Đại hội để đẩy mạnh chống phá bằng nhiều thủ đoạn, hình thức tinh vi, xảo quyệt; trong đó, chúng đặc biệt chú trọng sử dụng các phương tiện thông tin truyền thông, mạng xã hội để kích động, bôi nhọ, hạ thấp uy tín cán bộ lãnh đạo, nhằm gây chia rẽ nội bộ, nghi kỵ lẫn nhau trong cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Cơ chế “xin - cho” - một nguồn gốc của thoái hóa, biến chất!

 Một vấn đề nhức nhối chúng ta đã đề cập, phê phán rất nhiều lần và muốn ngăn chặn, xóa bỏ tận gốc nhưng đến nay nó vẫn còn “đất sống”, đó chính là cơ chế “xin - cho” - “con đẻ" của chế độ phong kiến và tàn dư từ thời bao cấp.

Chủ động tìm cơ hội mở ra trong cơn nguy nan đại dịch Covid-19

Năm 2020 sắp đi qua để lại dấu ấn nổi bật là đại dịch Covid-19 đã trở thành thảm họa toàn cầu, làm đảo lộn mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội con người trong năm qua. Cùng với sự lây lan dịch bệnh, tác động kinh tế của đại dịch là hết sức nghiêm trọng, nền kinh tế thế giới, vốn đã giảm tốc từ năm 2019, đã bước vào cơn suy thoái nặng nề trong năm 2020. Nhiều đánh giá cho thấy GDP toàn cầu 2020 giảm tới khoảng 4-5%. Thất nghiệp, thu hẹp giờ làm và giảm thu nhập đeo bám hàng trăm triệu lao động. Nhiều nước đã phải dùng các gói hỗ trợ kinh tế chưa từng có tiền lệ, cả về qui mô, diện bao phủ, biện pháp, và trao quyền. Phía trước, rủi ro, bất định còn nhiều.

Việt Nam là một nền kinh tế hội nhập rất sâu rộng, đặc biệt với nhiều đối tác đầu tư, thương mại, du lịch chủ chốt (như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU, Hoa Kỳ…) đang hứng chịu dịch bệnh rất nặng nề, tăng trưởng giảm sâu. Bản thân Việt Nam cũng phải gồng mình chống dịch, chấp nhận “cách ly địa giới” và “giãn cách xã hội” ở những thời điểm dịch bùng phát (tháng 4 trên phạm vi cả nước, cuối tháng 7 và 8 ở một số tỉnh thành). Kinh tế Việt Nam chỉ tăng trưởng 1,81% nửa đầu năm nay, mức thấp nhất trong suốt tiến trình Đổi mới. Do dịch bùng phát trở lại cuối tháng 7 và tháng 8, tăng trưởng dự báo có thể chỉ đạt 2-3% cho cả năm nay. Sáu tháng đẩu năm, gần 31 triệu lao động chịu ảnh hưởng tiêu cực; con số đó trong tháng 8 là khoảng 5 triệu. Dịch Covid-19 tác động xấu tới gần như tất cả các ngành, lĩnh vực kinh tế như du lịch, lưu trú ăn uống, giải trí, vận tải, logistic, phân phối, công nghiệp chế tác, công nghiệp khai khoáng, và cả nông nghiệp. Đây là giai đoạn vô cùng khó khăn đối với cả nền kinh tế và doanh nghiệp. Nhưng càng khó khăn, càng phải cầm cự, duy trì “năng lượng” để khi cơn bão dịch đi qua, chúng ta có thể lại vươn lên mạnh mẽ.

Phản ứng của Chính phủ  kịp thời với những chính sách kích thích kinh tế mới

Trong điều kiện nguồn lực không dư giả, ngân sách còn eo hẹp, nhưng chính sách hỗ trợ lần thứ nhất của Chính phủ về cơ bản vẫn đảm bảo được 3 mục tiêu: thiết thực; cách thức hỗ trợ như giãn hoãn khoanh nợ, giãn hoàn thuế, cắt giảm nhiều loại phí; trao tiền mặt cho khoảng 20 triệu người cơ bản thuộc các nhóm dễ tổn thương là chưa từng có tiền lệ song vẫn đảm bảo được ổn định kinh tế vĩ mô. Chính phủ đã ban hành gói hỗ trợ kinh tế lần thứ nhất khá kịp thời, ngay trong tháng 3-4. Mặc dù việc thực thi chính sách nói chung còn chậm, đến tháng 9, theo điều tra diện rộng của Tổng cục Thống kê, chỉ chưa tới 18% doanh nghiệp tiếp cận được gói hỗ trợ. Bối cảnh khó khăn chung cộng việc dịch Covid-19 tái bùng phát càng cho thấy phải tiếp tục có những chính sách kích thích kinh tế mới (gói hỗ trợ lần thứ hai). Quan trọng nhất là cần đảm bảo thực thi nhanh, đúng và minh bạch các gói hỗ trợ này. 

Thời điểm tư duy lại, nâng cấp quản trị  

Trước cú sốc lớn như đại dịch Covid-19, vai trò hỗ trợ của Nhà nước là rất quan trọng. Song dù như thế nào, nỗ lực của bản thân doanh nghiệp vẫn có ý nghĩa quyết định. Vấn đề không chỉ là cách ứng phó với khủng hoảng mà còn là phục hồi và bứt phá khi dịch qua đi.

Thảm họa Covid-19 là biến cố không ai mong đợi. Song, đây chính là dịp thử thách bản lĩnh Việt Nam và doanh nghiệp. Trên thực tế, rất nhiều doanh nghiệp đã đương đầu thử thách, vượt qua khó khăn bằng ý chí, sự linh hoạt và sáng tạo như:

Cắt giảm chi phí là việc rất “truyền thống” nhiều doanh nghiệp tính toán và làm ngay, tùy theo nguồn lực của mỗi doanh nghiệp. Tính toán bước đi tiếp và việc chỉ giữ lại phần cốt yếu nhất (hoạt động, nhân sự) cũng có thể là việc “cực chẳng đã” nhưng là một lựa chọn. Ngay trong khó khăn, việc duy trì quan hệ hoặc tìm hiểu đối tác cũng là khía cạnh đáng lưu tâm.

Thời dịch bệnh, giãn cách xã hội, hạn chế tiếp xúc trực tiếp được khuyến khích. Kinh tế số, không chỉ thương mại điện tử mà cả trong giáo dục, làm việc văn phòng… có cơ phát triển. Không ít doanh nghiệp đã bổ sung, chuyển đổi mô hình kinh doanh, cách thức tương tác khách hàng thành công nhờ công nghệ số.

Thị trường có nhu cầu cao hơn đối với các mặt hàng thiết yếu, dù tình hình có khó khăn đến mấy vẫn phải dùng hàng ngày. Nhiều doanh nghiệp nắm bắt nhanh nhu cầu và chuyển đổi mặt hàng sản xuất kinh doanh. Thiết bị y tế, khẩu trang, nước rửa tay kháng khuẩn… là những sản phẩm rõ nhất cho câu chuyện này. Sản phẩm bánh mì Thanh long của một doanh nghiệp còn cho thấy chất sáng tạo rất nhân văn, lại phù hợp đòi hỏi thị trường.

Do dịch bệnh diễn ra và khống chế khác nhau giữa các quốc gia, nên rất cần sự nhanh nhạy xử lý thông tin và tiếp cận thị trường ngay khi có điều kiện. Ví dụ, khi một thị trường khống chế được dịch, nới lỏng các biện pháp chống dịch, doanh nghiệp rất nên “nhắm tới/quay lại” để tranh thủ cơ hội này.

Tìm hiểu thông tin, tận dụng có hiệu quả các gói hỗ trợ của Chính phủ cũng là cách giúp vượt khó. Không nên chỉ chú ý đến chính sách uu đãi mà quên nhìn cả việc thúc đẩy đầu tư công, như vào kết cấu hạ tầng, để có thể trực tiếp hay gián tiếp tham gia.

Quan trọng không kém là doanh nghiệp cần xem cú sốc đại dịch Covid-19 là cơ trong nguy để xoay chuyển tình thế và cải tổ chính mình. Có thể nói đây chính là thời điểm tư duy lại, thiết kế lại, xây dựng lại gắn với việc nhận diện xu thế; định vị thị trường, đối tác; xác định cách thức chuyển đổi số; nâng cấp quản trị (cả quản trị rủi ro); sáng tạo sản phẩm; đào tạo kỹ năng mới cho người lao động.

(Theo vietnamnet.vn)


Ngày mai xét xử sơ thẩm cựu Giám đốc CDC Hà Nội Nguyễn Nhật Cảm

Ông Nguyễn Nhật Cảm (cựu Giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật - CDC Hà Nội) bị cáo buộc vì động cơ vụ lợi đã ký mua thiết bị phòng chống dịch COVID-19 cao gấp 3 lần. Theo dự kiến, trong 3 ngày (10-12.12), TAND TP Hà Nội mở phiên sơ thẩm xét xử 10 bị cáo, trong đó có ông Nguyễn Nhật Cảm cùng về tội "Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” theo khoản 3, Điều 222, Bộ Luật hình sự 2015. Theo cáo trạng, từ đầu năm 2020, CDC Hà Nội đã mua một số hệ thống Realtime PCR tự động nhằm đáp ứng nhu cầu xét nghiệm phòng chống dịch COVID-19. Do thời gian gấp nên việc mua sắm này được CDC Hà Nội thực hiện theo phương thức chỉ định thầu. Từ các tài liệu thu thập được, cơ quan điều tra xác định hệ thống máy xét nghiệm Realtime PCR phòng chống COVID-19 khi nhập về Việt Nam giá khoảng hơn 2 tỉ đồng. Tuy nhiên các doanh nghiệp nhập khẩu, phân phối mua bán lòng vòng với nhau và CDC Hà Nội đã mua với giá hơn 7 tỉ đồng, gấp 3 lần giá nhập. Cơ quan điều tra xác định, tổng số các thiết bị y tế mua là hơn 4 tỉ đồng, được nâng khống thành hơn 9 tỉ đồng. Theo đó, số tiền Nhà nước bị thiệt hại là hơn 5 tỉ đồng. Trong quá trình điều tra, toàn bộ số tiền thiệt hại đã được thu hồi cho Nhà nước. Các bị can cũng đã khắc phục toàn bộ hậu quả của vụ án. Cơ quan công tố cáo buộc, bị can Nguyễn Nhật Cảm có trách nhiệm chính trong việc mua sắm hàng hoá, thực hiện đấu thầu theo hình thức chỉ định thầu thông thường đối với gói thấu 15 theo quy địnhcủa pháp luật. Tuy nhiên, bị can Cảm đã lợi dụng dịch bệnh, vì động cơ vụ lợi, trực tiếp thoả thuận, thống nhất giá mua sắm các máy, thiết bị y tế gói thầu 15, ấn định giá là 9,54 tỉ đồng trước khi thực hiện quy trình chỉ định thầu thông thường; Trực tiếp ký hợp đồng cung cấp dịch vụ thẩm định giá với bị can Nguyễn Trần Duy (Tổng giám đốc Công ty CP định giá và bán đấu giá Nhân Thành) để Duy giả mạo hồ sơ, ký ban hành chứng thư thẩm định giá theo mức do CDC Hà Nội yêu cầu; Ghi lùi ngày ký để hợp thức hoá các thủ tục chỉ định thầu... (Nguồn Báo Lao động)

Sẽ triển khai nghiên cứu đa trung tâm, 10 nghìn người thử vaccine COVID-19

Ở giai đoạn 3 của quá trình thử nghiệm lâm sàng vaccine COVID-19, Việt Nam sẽ cần ít nhất 10 nghìn người thuộc nhóm đối tượng có nguy cơ cao hoặc dương tính với SARS-CoV-2. Vậy làm thế nào để đạt đủ số mẫu? Sẽ cần 10 nghìn người có nguy cơ mắc COVID-19 cao hoặc dương tính Trước những thông tin Việt Nam sẽ chính thức khởi động chương trình thử nghiệm lâm sàng vaccine COVID-19 đầu tiên, người dân đang quan tâm đến những tình nguyện viên sẽ đăng ký thử nghiệm vaccine COVID-19 ra sao, những mũi vaccine đầu tiên sẽ được tiêm như thế nào? TS Nguyễn Ngô Quang - Phó Cục trưởng Cục Khoa học Công nghệ và Đào tạo, Bộ Y tế, Chánh Văn phòng Chương trình Quốc gia nghiên cứu phát triển vaccine cho hay, sau khi rà soát lại hồ sơ nghiên cứu tiền lâm sàng và các nghiên cứu tương tự trên thế giới, dự kiến vaccine Nano Covax sẽ được thử nghiệm lâm sàng với 2 khoảng liều chính là 50 mcg (microgam) và 75 mcg. Nếu được Hội đồng Đạo đức thông qua như vậy thì dự kiến giai đoạn 1, chúng ta sẽ có khoảng 40 đối tượng tham gia vào giai đoạn 1. "Đây là số lượng tối thiểu chứ không áp dụng số lượng tối đa, vì đây là giai đoạn rất nhạy cảm và rất quan trọng, khi chuyển nghiên cứu từ động vật sang người. Việc xác định tính an toàn là quan trọng nhất trong giai đoạn này. Chính vì vậy, dự kiến giai đoạn 1 sẽ có 40 đối tượng, chia cho 2 khoảng liều là 50 mcg và 75 mcg"- ông Quang nói. Dự kiến từ tháng 1- 4.2021, khi có kết quả ban đầu giai đoạn 1, đặc biệt đánh giá về tính an toàn của 2 khoảng liều thì Hội đồng Đạo đức sẽ chuyển sang giai đoạn 2. Dự kiến giai đoạn 2 sẽ tiến hành từ tháng 3-4.2021 và giai đoạn 2, số lượng cỡ mẫu tối thiểu là 400. Giai đoạn 2 bắt buộc phải thiết kế nghiên cứu có nhóm chứng, nghĩa là chúng ta sẽ sử dụng các đối tượng có nguy cơ, liên quan đến vùng dịch tễ và đối tượng thứ 2 là nhóm placebo (nhóm sử dụng thuốc đối chứng). Trên cơ sở kết quả giai đoạn 1, cơ quan quản lý và Hội đồng Đạo đức mới cho phép triển khai kết quả giai đoạn 2, trên cơ sở kết quả giai đoạn 2 thì cơ quan quản lý và Hội đồng Đạo đức sẽ cho phép chuyển sang giai đoạn 3. Giai đoạn 3 dự kiến số lượng tối thiểu là 10.000 người. Theo TS Quang, đối với thử nghiệm vaccine giai đoạn 3 thì số mẫu tối thiểu là mười nghìn đến vài chục nghìn. Đặc biệt, giai đoạn 3 lại rất cần việc triển khai, đánh giá vaccine trên đối tượng có nguy cơ cao hoặc dương tính đối với SARS-CoV-2 để đánh giá tính sinh miễn dịch. Triển khai nghiên cứu đa trung tâm Vậy làm sao để Việt Nam có thể đảm bảo đủ số lượng 10.000 người có nguy cơ cao để thử nghiệm vaccine? Trả lời câu hỏi này, TS Nguyễn Ngô Quang cho biết: "Trong giai đoạn vừa qua, Việt Nam đã thực phòng chống dịch COVID-19 rất tốt. Vì vậy, khi nói đến vấn đề số lượng mẫu để thử nghiệm lâm sàng vaccine giai đoạn 3, chúng ta cần đối tượng nghiên cứu thuộc nhóm nguy cơ cao hoặc dương tính với COVID-19 thì chúng tôi rất quan ngại vì ở Việt Nam không đủ số lượng. Do vậy sau khi xin ý kiến của Bộ trưởng và vừa qua, trong cuộc họp Thường trực Chính phủ thì Bộ trưởng cũng đã công bố là Việt Nam sẽ chính thức phối hợp cùng với 3 quốc gia trong đó có Indonesia, Ấn Độ, Bangladesh để triển khai nghiên cứu đa trung tâm". Theo ông Quang, với mục tiêu làm sao có được số lượng đảm bảo cỡ mẫu tối thiểu là 10.000 người, đảm bảo tính có yếu tố dịch tễ và tỉ lệ nguy cơ cao, từ đó, chúng ta có thể so sánh làm sao cho khoa học và ra kết quả cuối cùng. "Như vậy, dự kiến thời gian nghiên cứu sẽ kéo dài từ tháng 1.2021 và chúng tôi hy vọng là đến tháng 12.2021, chúng ta có các dữ liệu ban đầu về an toàn tính sinh miễn dịch. Còn lại, để đánh giá khả năng bảo vệ hay hiệu lực bảo vệ của vaccine, chúng ta còn phải thêm thời gian theo dõi tiếp theo vì trong 12 tháng, thậm chí 16 tháng, chúng ta vẫn chưa đủ thời gian để đánh giá được hiệu lực bảo vệ"- TS Quang khẳng định. (Nguồn Báo Lao động)

Thứ Ba, 8 tháng 12, 2020

HĐND TP bầu chức danh phó chủ tịch UBND TP và một số Ủy viên UBND nhiệm kỳ 2016-2021

 

Chủ tịch UBND TP Hà Nội Chu Ngọc Anh cho biết những ứng viên được giới thiệu bầu chức danh phó chủ tịch UBND TP đều có năng lực, uy tín, ông cũng đề nghị các đại biểu công tâm, khách quan, lựa chọn người thực sự xứng đáng.

Chiều 8-12, phát biểu giải trình một số nội dung tại phiên chất vấn, kỳ họp thứ 18, HĐND TP Hà Nội, chủ tịch UBND TP Chu Ngọc Anh đã dành thời gian nói thêm về những ứng viên được giới thiệu bầu chức danh phó chủ tịch UBND TP và một số ủy viên UBND nhiệm kỳ 2016-2021.

"Tại kỳ họp này, HĐND TP bầu chức danh phó chủ tịch UBND TP và một số Ủy viên UBND nhiệm kỳ 2016-2021. UBND TP giới thiệu để HĐND TP bầu lần này đều là các đồng chí cán bộ có năng lực, uy tín, kinh qua nhiều vị trí công tác tại các sở, ngành, quận, huyện, được lựa chọn thông qua quy trình công tác cán bộ nghiêm túc, chặt chẽ, dân chủ, công khai" - ông Ngọc Anh cho biết.

"UBND TP mong muốn các vị đại biểu HĐND TP công tâm, khách quan, lựa chọn những đồng chí thực sự xứng đáng, giúp cho UBND TP sớm kiện toàn tổ chức bộ máy, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thông suốt để tăng cường hiệu quả" - chủ tịch Chu Ngọc Anh nói tiếp.

Tại kỳ họp này, chiều ngày 9-12, HĐND TP sẽ bầu 5 phó chủ tịch UBND, dự kiến phân công trong các lĩnh vực: kinh tế tổng hợp; kinh tế ngành; quy hoạch, kiến trúc, xây dựng, quản lý đô thị; văn hóa - xã hội và tài nguyên, môi trường, giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Đề cập về công tác phòng chống dịch bệnh COVID-19, theo ông Chu Ngọc Anh, dịch bệnh COVID-19 đã tác động tiêu cực đến nhiều mặt, tuy nhiên, về cơ bản thành phố vẫn đạt được những mực tiêu kép, kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá, GRDP ước đạt 3,98%, gấp 1,5 lần bình quân chung của cả nước.

Chủ tịch UBND TP Hà Nội cũng khẳng định một trong những nhiệm vụ trong giai đoạn tới là tập trung phục hồi, lấy lại đà phát triển kinh tế, tiếp tục thực hiện "mục tiêu kép" vừa phòng chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế.

Tuy nhiên, ông Ngọc Anh nhấn mạnh trong phòng chống dịch COVID-19 giai đoạn tới, cần tập trung quyết liệt, đồng bộ và hiệu quả các biện pháp để kiểm soát, phòng chống dịch COVID-19. Đồng thời duy trì vững chắc thành quả phòng chống dịch, bảo vệ sức khỏe của nhân dân Thủ đô. 

Ông Chu Ngọc Anh cũng nhấn mạnh nhiệm vụ việc đảm bảo tuyệt đối an toàn cho các sự kiện chính trị của Đất nước, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII trên địa bàn.

 

ĐÁNG TIẾC THAY CHO MỘT NHÀ KHOA HỌC LẦM ĐƯỜNG

Nguyễn Đình Cống là một giáo sư, tiến sĩ, nhà giáo nhân dân tại Đại học Xây dựng. Ông là một trong những kỹ sư đầu tiên ở Việt Nam chuyên về nghiên cứu Bê tông và các lĩnh vực khác trong Xây dựng. Ông đã có nhiều đóng góp cho công tác nghiên cứu giảng dạy đào tạo trong lĩnh vực Xây dựng.

Ngoài ra ông cũng đi sâu vào nghiên cứu Phong thuỷ cũng như các môn huyền học mệnh lý khác ứng dụng vào thực tế. Ông cũng có mở các lớp dạy phong thuỷ sau khi về hưu.

Tuy nhiều năm công tác trong Nhà nước nhưng sau khi về hưu, trong những năm gần đây, ông gây tranh cãi khi có nhiều bài viết trên trang cá nhân phản biện các chính sách của Đảng Cộng sản. Ông có nhiều bài chỉ trích những điều mà ông cho là sai lầm của Chủ nghĩa Mác- Lênin. Gần đây, ông còn kêu gọi thực hiện đa nguyên, dân chủ trên trang mạng Bauxite.

Giáo sư Nguyễn Đình Cống được sinh ra và lớn lên dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, những năm đất nước còn khó khăn, trong khi lớp lớp thanh niên đều ra chiến trường, với biết bao hy sinh xương máu, không tiếc thân mình vì sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, thì Giáo sư được Đảng, Nhà nước ưu ái tạo điều kiện cho đi ăn học ở Liên Xô. Bao nhiêu năm đứng trên bục giảng trường Đại học Xây dựng, bao thế hệ sinh viên đã học Giáo sư ra trường và trở thành những người thành đạt. Còn đối với Giáo sư, ở tuổi đã xế chiều, được Đảng và Nhà nước cho nghỉ chế độ, học vấn đủ đầy, công danh, sự nghiệp khó ai sánh bằng. Tại sao Giáo sư không an phận với những gì Đảng và Nhà nước đã ưu ái mà lại quay ra phản bội lại lý tưởng một thời ông theo đuổi, phản bội lại chính tổ chức đã nuôi dưỡng và cho Giáo sư tất cả vinh quang trong cuộc đời. Việc Giáo sư cố tình “công khai tuyên bố” rời bỏ lý tưởng mà mấy chục năm phấn đấu là việc riêng của cá nhân Giáo sư, tôi không quan tâm nhiều. Nhưng Giáo sư lại ngang nhiên công khai đưa ra những quan điểm sai trái, xuyên tạc, phản động, chống đối Đảng, chống đối cách mạng. Đó là một tội lỗi còn trên cả sự tha hóa, suy thoái của cá nhân. Thái độ vong ơn, bội nghĩa đối với đất nước, dân tộc, với chế độ xã hội chủ nghĩa của Giáo sư hoàn toàn trái với đạo lý, truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”.

Vừa qua, trên trang blog baotiengdan đã đăng tải bức “thư ngỏ” của Nguyễn Đình Cống gửi các đại biểu Đại hội Đảng lần thứ XIII. Trong thư, ông ta tha thiết đề nghị các đại biểu dự Đại hội XIII của Đảng “công khai phát biểu ở Đại hội những điều bức thiết của dân tộc, các vị thể hiện rõ lòng yêu nước, yêu dân, trọng công lý, có trí tuệ và dũng cảm, dám bảo vệ sự thật…”

Tuy nhiên, nội dung thực chất “thư ngỏ” của Nguyễn Đình Cống nhằm tuyên truyền, kích động, chia rẽ các đại biểu dự Đại hội XIII của Đảng.

Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII trình Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã được ban soạn thảo chuẩn bị hết sức công phu, khoa học và lấy ý kiến đóng góp của đại hội đảng các cấp, thể hiện tập trung trí tuệ của toàn Đảng. Song Nguyễn Đình Cống cho rằng: “Đọc toàn bộ thấy tổ hợp một đống ngôn từ và khẩu hiệu, bóng bẩy, hùng hồn, nhiều ý trùng lặp, nhiều rác rưởi, chủ yếu là để tuyên truyền và tự ca ngợi. Nhiều kế hoạch, nhiều số liệu thuộc dạng tầm phào”.

Nhằm kích động, lôi kéo các đại biểu dự Đại hội XIII của Đảng đồng tình, ủng hộ quan điểm sai trái, phản động trên, Nguyễn Đình Cống viết: “Tôi nhận thấy có nhiều điều phản dân chủ, phản tiến bộ, phản khoa học và nghĩ rằng nhiều vị cũng nhận thấy như thế, nhưng chưa dám nói, vì sợ. Sợ quá hóa hèn. Xin hãy nghĩ đến lương tri mà khắc phục nỗi sợ này. Đã có rất nhiều người vượt qua được nỗi sợ như thế”.

Để phủ nhận vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đất nước và xã hội, Nguyễn Đình Cống đã cố tình bịa đặt, xuyên tạc tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước và phủ nhận những thành tựu to lớn, toàn diện của đất nước sau gần 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới; đồng thời phủ nhận các chủ trương phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh đã được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định trong Dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII trình Đại hội XIII của Đảng.

Có thể khẳng định rằng, nội dung bức “Thư ngỏ” này là hoàn toàn sai trái, thù địch nhằm tuyên truyền, kích động chống Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, hiểm họa từ “Thư ngỏ” này của Nguyễn Đình Cống thật là khôn lường, bởi lẽ, nó được che đậy dưới những ngôn từ của một con người dối trá, tự cho mình “có lòng yêu nước, yêu dân, trọng công lý, có trí tuệ và dũng cảm, dám bảo vệ sự thật”. Song, Nguyễn Đình Cống không thể nào che đậy được bản chất của một phần tử cơ hội bất mãn chính trị, chống Đảng, Nhà nước Việt Nam.

CHúng ta tin tưởng rằng các vị đại biểu dự Đại hội XIII của Đảng đều là những cán bộ, đảng viên thực sự ưu tú, tiêu biểu về bản lĩnh và trí tuệ, Nguyễn Đình Cống sẽ không bao giờ có thể lừa gạt được họ. Song tôi mong mọi người hãy nêu cao tinh thần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh phản bác những luận điệu sai trái trong “Thư ngỏ” của Nguyễn Đình Cống.

 

 

ĐẤU TRANH CHỐNG CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN

THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

  Tại buổi nói chuyện với giáo viên và học sinh Trường Phổ thông Chu Văn An - Hà Nội ngày 31 tháng 12 năm 1958 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra: “Cá nhân chủ nghĩa đẻ ra hàng trăm tính xấu như siêng ăn, biếng làm, kèn cựa, nghĩ đến mình không nghĩ đến đồng bào, tham danh lợi, địa vị.v.v...”. Chủ nghĩa cá nhân được Hồ Chí Minh ví như “giặc nội xâm”, “giặc trong lòng” và nó như một thứ vi trùng độc hại, là rác rưởi làm tha hóa các mối quan hệ vốn có của mỗi cán bộ, đảng viên. Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng. Tóm lại, do cá nhân chủ nghĩa mà cán bộ, đảng viên phạm nhiều sai lầm, cần phải kiên quyết đấu tranh, sửa chữa, quét sạch.

Nghị quyết Trung ương 4 của Đảng về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” đã chỉ ra tội ác của chủ nghĩa cá nhân; đó là: Sống ích kỷ, sống thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, tham nhũng, ham quyền lực; bè phái cục bộ, mất đoàn kết, quan liêu, xa dân, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của nhân dân. Từ sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện; là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng và Nhà nước; đặt ra yêu cầu cao về tính tập thể, về mối quan hệ gắn bó đồng chí, đồng đội, quan hệ quân - dân... đã trở thành lời thề danh dự của người quân nhân, tạo nên sức mạnh chiến đấu, chiến thắng của Quân đội ta, được nhân dân yêu mến, tin tưởng vinh danh cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”.

Vì vậy, muốn quét sạch chủ nghĩa cá nhân, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên nói chung, cán bộ đảng viên trong Quân đội nói riêng phải luôn học tập để nâng cao và thấm nhuần đạo đức cách mạng, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, trình độ lý luận; nâng cao dân trí, thực hiện và phát huy quyền dân chủ thực sự và rộng rãi, tăng cường mối liên hệ mật thiết, chặt chẽ giữa Đảng với quần chúng nhân dân; nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, đề cao tự phê bình và phê bình và tích cực xây dựng cái đúng, cái tốt, cái đẹp, để dẹp cái xấu, lấy xây là chính... nhằm phòng tránh, đấu tranh hiệu quả chống chủ nghĩa cá nhân trong Đảng, góp phần xây dựng quân đội nhân dân “cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” đáp ứng tốt với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

 

 

VẠCH TRẦN THỦ ĐOẠN MỚI

CỦA TỔ CHỨC KHỦNG BỐ "VIỆT TÂN"

 

  Sau khi Bộ Công an công bố “Việt tân” là tổ chức khủng bố đồng thời xử lý nghiêm những người có hành vi tham gia, tuyên truyền, lôi kéo, xúi giục người khác tham gia, tài trợ, nhận tài trợ của “Việt Tân”; tham gia các khóa đào tạo, huấn luyện do “Việt Tân” tổ chức; hoạt động theo sự chỉ đạo của “Việt Tân”... một số đối tượng cầm đầu, cốt cán trong tổ chức đã tuyên bố rút ra khỏi tổ chức để thực hiện các dự án riêng. Một trong số đó là việc sử dụng danh nghĩa Tổ chức NGO nước ngoài, lợi dụng các vấn đề liên quan “dân sinh”, “dân chủ”, dễ dàng tiếp cận với người dân. Đây là thủ đoạn nguy hiểm của “Việt Tân” nhằm tránh cáo buộc liên quan khủng bố. Một trong số đó là tổ chức Rise (gọi tắt là RISE). Tổ chức RISE hoạt động dưới vỏ bọc tổ chức phí chính phủ (NGO) theo mô hình tổ chức “xã hội dân sự”, bảo vệ môi trường, nhu cầu dân sinh, là những vấn đề thu hút được sự chú ý của người dân để tập hợp lực lượng, kích động bạo loạn, biểu tình trong nước; huấn luyện đào tạo cho các cá nhân, hội nhóm người Việt trong và ngoài nước nhằm gây dựng các tổ chức chính trị đối lập.

* Ngày 02/3/2020, ba thành viên cốt cán của “Việt tân” gồm Trinnitry Phạm Hồng Thuận, Angelina Trang Huỳnh và Nguyễn Quốc Trinh “công khai” xin ra khỏi tổ chức “Việt tân”, tuyên bố thành lập tổ chức “RISE” với khẩu hiệu hoạt động là “RISE: Thay đổi trong tầm tay” được đăng ký dưới danh nghĩa tổ chức phi lợi nhuận hoạt động về môi trường, thành lập tại Mỹ. Angelina Trang Huỳnh là giám đốc điều hành; nhóm cố vấn có Nguyễn Mạnh Hùng, Cựu phó ban Việt ngữ Đài BBC, hiện là cộng tác viên đài VOA; Nguyễn Khoa Diệu Quyên (vợ của Trúc Hồ, phát ngôn viên đài SBTN). Các đối tượng đang xúc tiến lập “Văn phòng” tại Singapore và móc nối, lôi kéo số đối tượng trốn truy nã như Thái Văn Dung, Lê Văn Sơn... tham gia.

Đây là những đối tượng cầm đầu, cốt cán trong “Việt tân” có nhiều hành vi xâm phạm an ninh quốc gia của Việt Nam trong nhiều năm qua.

* Angelina Trang Huỳnh, có tên đầy đủ là Huỳnh Phạm Phương Trang (SN 1973, trú tại Mỹ). Từ năm 2002, đối tượng đã có nhiều hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia của Việt Nam. Cụ thể, từ năm 2002-2004, làm phân hội phó “Hội chuyên gia Việt Nam tại Đan Mạch”. Đến năm 2005, tham gia tổ chức “Việt tân” tại Đan Mạch sau đó sang Mỹ du học và sinh hoạt tại Mỹ. Năm 2010, Angelina Trang Huỳnh nhập cảnh Việt Nam cùng với Huỳnh Châu, tổ chức các khóa huấn luyện tại TP Hồ Chí Minh và hiện đang là Ủy viên Trung ương “Việt tân”, Ủy viên Tổng bộ chính trị, trưởng ban Internet.

Trinnitry Phạm Hồng Thuận (SN 1988, quốc tịch Mỹ) đã được kết nạp vào tổ chức “Việt tân” vào năm 2007. Từ khi tham gia đến nay, Phạm Hồng Thuận đã có rất nhiều hoạt động chống phá Việt Nam. Ngày 22/7/2007, Thuận đã đọc “Bản tuyên bố phản đối Việt Nam trở thành thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc” tại buổi sinh hoạt Cộng đồng người Việt Nam tại Nam California. Không lâu sau đó, vào ngày 25/9/2007, Thuận đại diện cho Cộng đồng người Việt Nam tại California tiếp xúc với Đại sứ Mỹ tại Liên hợp quốc vu cáo Việt Nam vi phạm “dân chủ, nhân quyền”. Phạm Hồng Thuận đồng thời là thành viên “Đoàn thanh niên Phan Bội Châu” và “Mạng lưới tuổi trẻ Việt Nam lên đường” (tổ chức ngoại vi của Việt tân), trưởng ban tuyên truyền của “Đại hội thanh niên, sinh viên thế giới Việt Nam kỳ 5”, do Việt tân tổ chức tại Philippines năm 2008 và là thành viên ban tổ chức “Đại hội thanh niên, sinh viên thế giới Việt Nam kỳ 6” tại Philippines từ ngày 4 đến 07/8/2011 và tham gia biểu tình đòi trả tự do cho Nguyễn Quốc Quân (SN 1953, quốc tịch Mỹ, nguyên Ủy viên TW “Việt tân” phản đối Trung Quốc chiếm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Với những hoạt động trên, “Việt tân” âm mưu đẩy mạnh tập hợp lực lượng móc nối với các nhóm xã hội dân sự trong nước; tăng cường đưa lực lượng, phương tiện về địa bàn kề cận, triển khai các kế hoạch chống phá trong nước, tìm kiếm thêm nguồn tài trợ cho hoạt động thúc đẩy xã hội dân sự tại Việt Nam, sau khi các tổ chức ngoại vi như NGO “Sáng kiến thể hiện lương tâm người Việt hải ngoại”, VOICE bị các cơ quan chức năng Mỹ, Canada và các nước khác theo dõi... RISE xác định mục tiêu hoạt động là xây dựng phong trào và hình thành các nhóm xã hội dân sự trong lĩnh vực dân sinh, thúc đấy sáng kiến xã hội thông qua hỗ trợ kiến thức, tài chính; hình thành một số nhóm cộng đồng hoạt động độc lập nhằm thúc đấy các hoạt động xã hội dân sự vì môi trường và sức khỏe tại Việt Nam. Đồng thời sử dụng danh nghĩa của tổ chức NGO hoạt động trong các lĩnh vực “dân sinh”, “dân quyền”, đặt trọng tâm vào Việt Nam nhằm vào các vấn đề liên quan trực tiếp đến cuộc sống của người dân (môi trường, dịch bệnh...) với mục đích là để tập hợp lực lượng, lồng ghép các hoạt động chống phá Nhà nước ta. Vì thế chúng ta cần nâng cao cảnh giác trước các thủ đoạn mới của tổ chức phản động "Việt tân"./.