Thứ Năm, 7 tháng 1, 2021

 

Thời điểm đại hội cận kề, các thế lực thù địch càng tăng cường các hoạt động chống phá, tung ra luận điệu xuyên tạc, sai trái nhằm làm suy giảm niềm tin, phá hoại Đại hội XIII của Đảng.

Ngụy biện đổi mới chính trị là thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam

Trong mấy chục năm qua, công cuộc đổi mới đã giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, thay đổi một cách căn bản, toàn diện bộ mặt của đời sống, xã hội đất nước ta. 

Nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển; từ đó đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa để sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp phát triển theo hướng hiện đại. 

Cũng như đổi mới nói chung, đổi mới kinh tế luôn đứng trước thời cơ và thách thức, thuận lợi và khó khăn, có lúc khó khăn, thách thức còn lớn hơn cả thuận lợi, thời cơ. 

Nhưng rồi bằng sự phấn đấu quyết liệt của Đảng, Nhà nước và nhân dân, kinh tế vĩ mô được ổn định, nhịp độ tăng trưởng đạt mức cao, đời sống được nâng lên; dịch bệnh COVID-19 đặt thế giới vào khủng hoảng nghiêm trọng, đất nước ta đã phát huy được tinh thần đoàn kết, chung sức, đồng lòng; tính ưu việt của chế độ, vai trò Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và sự làm chủ của nhân dân tạo ra sức mạnh để vượt qua đại dịch. 

Vẫn biết khó khăn, thách thức còn nhiều, nhưng không thể vì thế mà nói kinh tế đất nước đang chìm trong “khủng hoảng trầm trọng”, “đất nước lâm nguy”, “tình thế hiểm nghèo”… như các đối tượng rêu rao.

Cũng trong mấy chục năm qua, ở Việt Nam, đổi mới chính trị luôn gắn liền với đổi mới kinh tế, hơn thế nữa còn giữ vai trò dẫn dắt, chỉ đường cho đổi mới kinh tế. 

Đổi mới chính trị, Đảng, Nhà nước và nhân dân đã có nhiều cố gắng đạt được kết quả đáng ghi nhận trong xây dựng nền dân chủ XHCN, khối đại đoàn kết dân tộc, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực và sức chiến đấu… 

Đổi mới chính trị là đổi mới, tập trung vào những nội dung cụ thể như vậy chứ không thể đổi mới chính trị là thay đổi thể chế chính trị, mục tiêu, con đường đi lên CNXH, vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước.

Mục tiêu, con đường cách mạng vô sản, thể chế chính trị là sự lựa chọn của lịch sử, dân tộc và nhân dân. Vai trò lãnh đạo của Đảng là bài học xuyên suốt chiều dài lịch sử, là nhân tố tổ chức và quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là bài học lịch sử được đúc kết từ thực tiễn cách mạng dân tộc. 

Đa nguyên chính trị, đa đảng không phải là giá trị phổ quát của nhân loại, đồng thời không phải là thực tế hiện hữu trong tất cả mọi thời kỳ của một quốc gia dân tộc. Nó có thể đúng và phù hợp với quốc gia – dân tộc này, nhưng cũng có thể không đúng và không phù hợp với quốc gia – dân tộc khác. 

Sự lãnh đạo, vai trò cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam không tự nhiên mà có và không phải cứ tự nhận mà được. Đây là kết quả của một quá trình đấu tranh lâu dài của toàn Đảng. Đảng đã tập hợp và xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc đứng lên giành chính quyền, lập nên chế độ chính trị mới, vừa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà mục tiêu là chủ nghĩa cộng sản.

 

“Nội công, ngoại kích”, thủ đoạn chống phá Đại hội XIII của Đảng.

Gia tăng “chiến dịch” tuyên truyền, xuyên tạc

Dịp này, các thế lực thù địch tung ra nhiều bài viết, video clip với lập luận, tuyên truyền, cổ vũ cho việc từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin hòng làm lung lay, phủ nhận nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng. Để phủ định học thuyết Mác-Lênin, trên đài BBC, RFA, VOA, các trang phản động, mạng xã hội Facebook, YouTube…; không ít ý kiến cho rằng, chủ nghĩa Mác-Lênin là phản dân chủ, việc kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin là một sai lầm từ lý luận đến thực tiễn.

Lợi dụng thời điểm Đảng lấy ý kiến góp ý toàn dân vào dự thảo Báo cáo Chính trị, họ đưa ra các kiến nghị bằng nhiều hình thức, như “trao đổi”,“gửi thư”,“góp ý cho Đại hội XIII”… rằng, Đại hội XIII là thời cơ để đổi mới chính trị theo hình thức đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xây dựng nhà nước dựa trên nền tảng “xã hội dân sự”.

Lợi dụng những hiện tượng tiêu cực, hạn chế trong đời sống xã hội như sự cố môi trường biển miền Trung, tình hình phức tạp trên Biển Đông, một số dự án chậm tiến độ, sự việc Đồng Tâm, vụ án hình sự Hồ Duy Hải…, họ xuyên tạc vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, quy kết “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tạo khủng hoảng toàn diện”, “đất nước lâm nguy”, “tình thế hiểm nghèo”, dẫn đến “Sự thất bại nghiêm trọng xây dựng CNXH, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”… 

Từ đó dùng các lời lẽ “khẩn thiết”, “thiết tha” kiến nghị, rằng: Chừng nào ở Việt Nam chỉ có độc tài, độc đảng lãnh đạo thì chừng đó không thể nói tới một nền dân chủ chân chính được; ở Việt Nam muốn phát triển, muốn có dân chủ thực sự thì phải hội nhập vào xu thế đa đảng, dân chủ như nước ngoài.

Xét về bản chất, đây là những quan điểm sai trái, phi lịch sử, phản khoa học. Họ chống phá Đại hội XIII, tấn công trên nhiều lĩnh vực, phương diện khác nhau, song chung quy lại, mục đích mà họ hướng tới: Hướng lái đất nước đi theo con đường tư bản chủ nghĩa.  

Vai trò của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

 

Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị Ban Chấp hành (BCH) Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam), ngày 15-2-1961, Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam (QGPMNVN) chính thức được thành lập, đáp ứng yêu cầu cần có lực lượng vũ trang (LLVT) làm nòng cốt cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Bộ Công an ra thông báo về tổ chức khủng bố “Triều đại Việt”

 

Ngày 5-1, Bộ Công an ra thông báo về tổ chức khủng bố “Triều đại Việt”.

Căn cứ pháp luật Việt Nam và quốc tế, Bộ Công an thông báo về tổ chức đã và đang tiến hành hoạt động khủng bố. Tổ chức khủng bố “Triều đại Việt” do các đối tượng nguyên là thành viên Tổ chức khủng bố “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời” thành lập tháng 1-2018. Trụ sở đặt tại Canada; trang web và các kênh truyền thông: “Triều đại Việt”, “Free Bibet”, “Hoàng Kỳ”, “Giải độc chính trị”, “Việt Nam today”, “Việt tự do”, “Radio tiếng nói quốc dân”, “Phung Nguyen”, “Scott Huynh”, “Jeffrey Thai”, “Tin tức hàng ngày TV24”.

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH VÀO HỌC TẬP CÔNG TÁC HÀNG NGÀY

 


Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành”.

Trên tinh thần đó, mỗi người đều giữ một vị trí, vai trò nhất định ở cơ quan, đơn vị, tổ chức mà mình tham gia và là thành viên.  Do vậy, phải có trách nhiệm đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức đó. Trách nhiệm chính là phần việc được giao, là điều phải làm, phải gánh vác hoặc nhận lấy về mình theo cương vị, chức trách. Nó được hình thành trên cơ sở những quy định của luật pháp, quy định, quy chế, thỏa thuận, điều lệ của tổ chức, đơn vị mà mình là thành viên. Bên cạnh đó, mỗi người đều là công dân của một quốc gia, dân tộc; do vậy, phải có trách nhiệm, nghĩa vụ đóng góp, xây dựng, phát triển quê hương, đất nước.

Đối với người cán bộ, đảng viên, yêu cầu, đòi hỏi về tinh thần trách nhiệm, bổn phận, nghĩa vụ còn cao hơn nhiều. Cùng với trách nhiệm, nghĩa vụ với tư cách là công dân, người cán bộ, đảng viên còn phải tiên phong, gương mẫu đi đầu về tinh thần, thái độ, trách nhiệm với công việc, trong rèn luyện và thực hành đạo đức, lối sống, nêu gương, cũng như tuân thủ nghiêm Điều lệ Đảng, quy định về những điều đảng viên không được làm.

Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta - thực sự mẫu mực về tinh thần làm việc trách nhiệm, hết lòng, hết sức cống hiến, hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Người định nghĩa về tinh thần trách nhiệm bằng những từ ngữ rất giản dị, dễ hiểu:

“Tinh thần trách nhiệm là: nắm vững chính sách, đi đúng đường lối quần chúng, làm tròn nhiệm vụ”, là “khi Đảng, Chính phủ, hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công. Làm một cách cẩu thả, làm cho có chuyện, dễ làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao làm vậy, v.v., là không có tinh thần trách nhiệm”.

Người yêu cầu, nhắc nhở, bất kỳ ai, dù ở địa vị nào, làm công tác gì, gặp hoàn cảnh nào, đều phải có tinh thần trách nhiệm; “đã phụ trách việc gì, thì quyết làm cho kỳ được, cho đến nơi đến chốn, không sợ khó nhọc, không sợ nguy hiểm”.

Nhận thức sâu sắc trách nhiệm, bổn phận của mình trước dân tộc, nhân dân và trước Đảng, trong suốt quá trình hoạt động cách mạng sôi nổi, đầy cam go, thử thách, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Người đã tự mình đi khắp năm châu, bốn biển khảo sát, nghiên cứu, lao động, học tập để tìm đường cứu nước, cứu dân, giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi ách áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến. Người xác định mục đích rất rõ ràng là tranh đấu cho quyền lợi của Tổ quốc và vì hạnh phúc của nhân dân. Người chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Và cũng chính bởi mục đích, ham muốn tột bậc này, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phải trải qua rất nhiều khó khăn, gian khổ, có lúc bị hiểu lầm hoặc phải “ẩn nấp nơi núi non, ra vào chốn tù tội, xông pha sự hiểm nghèo”.

Ngay sau khi nước nhà giành được độc lập, từ thực tiễn đội ngũ cán bộ, đảng viên; đồng thời, dự báo được chiều hướng phát triển của tình hình, Người rất chú ý đến việc giáo dục ý thức, tinh thần trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trong nhiều bài viết gửi các cấp chính quyền, Người yêu cầu xây dựng các cơ quan từ Chính phủ cho đến các làng, xã phải là “công bộc” của dân, Chính phủ vì nhân dân  phục vụ, việc gì có lợi cho dân thì phải hết sức làm, việc gì có hại đến dân thì phải hết sức tránh; phải đặt quyền lợi của nhân dân lên trên hết, phải chú ý giải quyết các vấn đề liên quan đến đời sống của nhân dân; đồng thời, nghiêm khắc phê phán, lên án những căn bệnh như cậy thế, cậy quyền, tư túng, bè phái, kiêu ngạo của không ít cán bộ, đảng viên.

Khát vọng cháy bỏng về một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ, giàu mạnh, nhân dân được ấm no, hạnh phúc đã thôi thúc, trở thành động lực để Chủ tịch Hồ Chí Minh dấn thân, hành động, làm việc một cách tự giác, tự nhiên, không vì danh lợi, thành tích hay sự ca ngợi nào. Được cống hiến, phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân đối với Người là nguồn vui, niềm hạnh phúc vô bờ bến. Tinh thần trách nhiệm đó xuất phát từ lòng yêu nước sâu sắc, tâm trong sáng, tình thương yêu con người vô hạn.

Trong Di chúc, Người viết: “Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”.

Trong công việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt lợi ích của đất nước, của nhân dân, của Đảng lên trên hết, gương mẫu trong mọi việc. Phương châm xử lý, giải quyết công việc của Người là “chí công vô tư”, “dĩ công vi thượng”, không để cảm xúc, tình cảm cá nhân xen vào công việc. Muốn thực hiện được được điều này, theo Người, phải kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, vì chủ nghĩa cá nhân là nguyên nhân của mọi thói hư tật xấu, làm cho con người không giữ được mình, không vì lợi ích chung để giải quyết công việc, kém tinh thần trách nhiệm, chỉ nghĩ đến lợi ích của cá nhân, của gia đình, phe nhóm mình. Chủ nghĩa cá nhân là kẻ địch hung ác của đạo đức cách mạng. Muốn đánh thắng chủ nghĩa đế quốc, muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, trước hết phải chiến đấu và chiến thắng kẻ thù bên trong của mỗi con người là chủ nghĩa cá nhân.

Tấm gương, tinh thần làm việc trách nhiệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thể hiện ở việc thống nhất giữa lời nói và việc làm. Đó là nói gắn liền với làm, không nói nhiều làm ít, nói mà không làm, làm không như nói. Đây là một đặc điểm nổi bật trong phẩm chất con người Hồ Chí Minh. Quần chúng nhân dân, cán bộ, đảng viên nhìn thấy ở Người phẩm chất, phong cách của một lãnh tụ hành động, một tấm gương có sức cảm hóa, thuyết phục đối với tất cả mọi người. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm đúng như những gì Người nói: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” và chính Người đã trở thành một tấm gương sống mẫu mực, sáng ngời về đạo đức, nhân cách, tài năng, kết tinh những giá trị, phẩm chất tốt đẹp nhất, tiêu biểu cho phẩm giá, lương tâm, trí tuệ của con người Việt Nam.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải coi việc tự học tập, rèn luyện là nhiệm vụ bắt buộc, là chế độ, quy định bắt buộc, tự giác nghiêm minh. Học tập là con đường duy nhất để tiến bộ và phát triển. Học tập phải được coi là nghĩa vụ, là khát vọng, niềm say mê, nguồn vui để làm việc và làm người cán bộ, đảng viên tốt.  Nói tóm lại, phải thực sự thấm nhuần lời dạy của V.I.Lê-nin được Hồ Chí Minh nhắc đi nhắc lại nhiều lần: “Học, học nữa, học mãi”!./.

Sự nguy hại không thể xem thường của tình trạng số đông im lặng

 

Người Việt Nam có đặc trưng tâm lý duy tình, trọng nghĩa. Tính cách dĩ hòa vi quý có ưu điểm là góp phần xây dựng môi trường giao tiếp ứng xử thân thiện. Tuy nhiên, mặt trái của tâm lý này cũng làm cho con người dễ rơi vào trạng thái tự chấp nhận hoàn cảnh, bằng lòng với số phận, từ đó thiếu ý thức phản tỉnh, dũng khí phê phán những biểu hiện, hành vi sai trái, tiêu cực.

Âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc công tác bầu cử trong Đảng

 Nhận diện luận điệu xuyên tạc

Đại hội Đảng các cấp, Đại hội lần thứ XIII của Đảng là đợt sinh hoạt chính trị rộng lớn, sâu sắc; qua đó tổ chức đảng từ cơ sở đến Trung ương đánh giá kết quả lãnh đạo trong nhiệm kỳ, đề ra chủ trương, đường lối, nghị quyết lãnh đạo mọi mặt cho nhiệm kỳ, thời gian tiếp theo...

Lợi dụng thời điểm này, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động tung ra các luận điệu xuyên tạc, sai trái hòng thực hiện mục tiêu “diễn biến hoà bình” đối với cách mạng Việt Nam.

Các đối tượng tập trung chống phá, hạ thấp vai trò, ý nghĩa của đại hội đảng các cấp, Đại hội XIII của Đảng; tấn công, xuyên tạc công tác cán bộ, công tác bầu cử trong Đảng. Một số trung tâm truyền thông lớn “hà hơi, tiếp sức” tổ chức các chương trình “Hội luận”, “Hội nghị bàn tròn”… tập hợp các phần tử phản động, “trí thức bất mãn”, các nhà “dân chủ cuội” bàn luận, tuyên truyền xuyên tạc công tác bầu cử trong Đảng ở Việt Nam. Các tổ chức phản động cũng thừa cơ tung lên, dẫn lại bài viết, tuyên truyền, tung tin giả, thất thiệt.

Đài BBC tổ chức cái gọi là “Hội nghị bàn tròn” tập hợp nhiều đối tượng vốn có tư tưởng bất mãn, thậm chí có đối tượng thể hiện quan điểm, hành động thù địch với thể chế chính trị ở Việt Nam để xuyên tạc công tác bầu cử trong Đảng.

Họ dẫn kết quả bầu cử một vài Bí thư Tỉnh uỷ có số phiếu bầu với mức tín nhiệm 100%, cho rằng: “Tổ chức bầu cử hình thức để làm gì cho tốn thời gian và tiền bạc”, rồi “Nhìn vào dàn nhân sự mà Bộ Chính trị đã duyệt vào các chức vụ Bí thư tỉnh, Chủ tịch tỉnh và các bộ, ban, ngành ở Trung ương, thì không trông chờ gì ở Đại hội XIII”.

Hay “Đảng Cộng sản Việt Nam sợ hãi tranh cử trong Đảng. Quản trị quốc gia mà không có tranh cử công khai thì không chọn được người tài. Không có tranh cử công khai là kìm hãm sự phát triển của đất nước”. Liên hệ cuộc bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ vừa qua, các đối tượng này cũng xuyên tạc “Bầu cử tổng thống Mỹ giúp bổ túc kiến thức chính trị dân chủ cho Việt Nam” để xuyên tạc công tác bầu cử ở Việt Nam và bầu cử trong Đảng là không dân chủ, công tác nhân sự được áp đặt từ trên xuống dưới.

Trên trang mạng của nhiều tổ chức phản động lưu vong ra sức suy diễn, xuyên tạc công tác nhân sự, bầu cử trong Đảng theo kiểu là thủ tục để “hợp lý hoá” hình thức tranh giành quyền lực, phân chia quyền lực trong hệ thống chính trị, trong Đảng.

Tổ chức khủng bố Việt Tân xuyên tạc: “Đúng là một màn trình diễn tuyệt vời của vở kịch “mị dân” do Đảng Cộng sản Việt Nam dựng lên mà thôi. Bầu cử kiểu Việt Nam là kiểu bầu cử dân chủ cuội, bịp bợm, dối trá, gian lận. Ai ai cũng biết...”? Có thể thấy, đằng sau “dòng chảy” tuyên truyền này, thực chất là những luận điệu suy diễn, xuyên tạc với mục đích hạ thấp, tầm thường, phủ định công tác cán bộ, công tác lựa chọn cán bộ thông qua ứng cử, đề cử, bầu cử trong Đảng.

Công tác bầu cử, lựa chọn cán bộ trong Đảng là dân chủ, khách quan

Trái ngược với luận điệu suy diễn, xuyên tạc trên, Hội nghị cán bộ toàn quốc Tổng kết công tác tổ chức đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 – 2025 đánh giá: Trong bối cảnh tình hình chung trên thế giới, khu vực và của nước ta trong năm 2020 và đặc biệt là ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, thiên tai, biến đổi khí hậu, hạn hán, xâm nhập mặn và bão, lũ ở miền Trung, nhưng với quyết tâm chính trị rất cao, nỗ lực rất lớn, hành động quyết liệt, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, chúng ta đã chuẩn bị và tổ chức thành công đại hội đảng bộ các cấp theo đúng tiến độ, kế hoạch, mục đích, yêu cầu đề ra; bảo đảm tuyệt đối an toàn, tiết kiệm và để lại nhiều dấu ấn, tình cảm sâu sắc, tốt đẹp trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Quyết định số 244-QĐ/TW, ngày 9/6/2014 của BCH Trung ương Đảng quy định quy chế bầu cử trong Đảng, chỉ rõ: “Bầu cử trong Đảng thực hiện theo nguyên tắc tập trung dân chủ; bình đẳng, trực tiếp, đa số quá bán. Kết quả bầu cử từ chi bộ đến đảng bộ trực thuộc Trung ương phải được chuẩn y của cấp uỷ có thẩm quyền theo quy định” (Điều 2). Hay Luật số 85/2015/QH13, ngày 25/6/2015 của Quốc hội quy định nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp quy định: “Việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín” (Điều 1).

Mặt khác, các đảng viên của Đảng đều có quyền ứng cử, đề cử vào các cơ quan lãnh đạo theo quy định của Đảng, hay công dân có quyền ứng cử, bầu cử vào cơ quan nhà nước theo luật định. Với quy định chặt chẽ dựa trên nguyên tắc cụ thể, rõ ràng như vậy thì bầu cử ở Việt Nam và bầu cử trong Đảng, đảm bảo thể hiện đầy đủ ý chí, nguyện vọng của đa số để lựa chọn đội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra.

Bên cạnh đó, trong đại hội đảng các cấp, đại biểu dân chủ trong thảo luận, giới thiệu nhân sự tại đại hội được quy định rõ tại Điều 12, khoản 3, Điều lệ Đảng: “Đại biểu có quyền nhận xét, chất vấn về người ứng cử và người được đề cử”. Rồi bầu cử có số dư cũng là một trong những nội dung quan trọng để thực hiện dân chủ trong bầu cử. Cung cấp danh sách trích ngang của các ứng cử viên để đại biểu nghiên cứu trước là việc làm thiết thực, để thực hiện bầu cử có hiệu quả chất lượng nhất… Với những quy định như vậy thì không thể suy diễn, xuyên tạc công tác bầu cử trong Đảng là không dân chủ, “xóa bỏ quyền của các đại biểu dự đại hội” như họ rêu rao, suy diễn, xuyên tạc.

Cũng cần nói thêm, không thể lấy bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ để liên hệ, làm tiêu chuẩn, từ đó suy diễn, hạ thấp quy trình bầu cử, lựa chọn cán bộ ở Việt Nam. Mọi sự so sánh đều là khập khiễng. Mỗi nước có đặc điểm, hoàn cảnh lịch sử cụ thể khác nhau, có quy trình, quy định riêng. Không có mô hình chung là chìa khoá vạn năng để áp dụng cho mọi quốc gia, dân tộc trong điều kiện thể chế chính trị, mô hình nhà nước khác nhau.

Bên cạnh đó, ngay bản thân nhiều chính trị gia, học giả Hoa Kỳ cũng cho rằng mô hình bầu cử Tổng thống ở Hoa Kỳ cũng còn tồn tại nhiều tranh cãi, chưa hẳn là hoàn hảo như người ta tưởng. Những tranh chấp pháp lý, cáo buộc gian lận kết quả bầu cử vừa qua, đến nay vẫn chưa có hồi kết là một minh chứng sinh động cho nhận định trên.

Thủ đoạn diễn biến, chống phá

Chống phá công tác cán bộ của Đảng nói chung và hoạt động bầu cử trong Đảng nói riêng, mưu đồ của các đối tượng là gây chia rẽ nội bộ, làm cho Đảng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong. Họ ra sức tuyên truyền, bịa đặt về các phe phái trong Đảng, nhất là lợi dụng việc giới thiệu nhận sự, công tác bầu cử để xuyên tạc là “sắp xếp”, “thanh trừng”, “mất dân chủ”, “bè cánh”, là “chuẩn bị ghế nhân sự” cho Đại hội Đảng...

Không những thế, họ cũng thường xuyên dựng chuyện, thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên, qua đó gây hoang mang, dao động, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động người dân gây mất an ninh, trật tự...; hạ bệ niềm tin, uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, của cán bộ, phá vỡ khối đoàn kết trong Đảng, sự đồng thuận của xã hội, chia rẽ Đảng với nhân dân, nhất là trước thềm Đại hội XIII của Đảng.

Công cụ được họ triệt để lợi dụng là truyền thông hải ngoại, mạng xã hội để lan truyền trên không gian mạng. Họ “giật tít - câu khách” kính thích, đánh vào sự tò mò của nhiều người, từ đó đưa ra phân tích nhận định, thông tin lệch lạc, hòng tạo nhận thức sai trái công tác cán bộ, nhân sự là có sự “an bài”, “sắp xếp”, “thỏa hiệp”; cuối cùng là rêu rao, xuyên tạc bầu cử trong Đảng, chế độ là mất dân chủ, độc đảng, độc đoán, chuyên quyền, toàn trị. Ngoài ra, họ còn xuyên tạc, nói xấu, vu cáo, rêu rao, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước. Họ thường phát tán các thông tin, hình ảnh, clip giả tạo, sai lệch, biến không thành có, thật giả lẫn lộn, gây hoài nghi, hoang mang trong dư luận xã hội.

Thực tế cho thấy, công tác lựa chọn nhân sự, cán bộ, bầu cử của Đảng được thực hiện trên một quy trình chặt chẽ, công phu, tỉ mỉ, trách nhiệm, được thực hiện trên nguyên tắc vốn là sức mạnh, tiến bộ của chế độ, phát huy được nguyện vọng, ý chí tập thể là nguyên tắc tập trung dân chủ.

Kết quả công tác nhân sự, bầu cử tại đại hội các cấp, tiến tới Đại hội XIII vừa qua của Đảng diễn ra tốt đẹp, đúng như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Công tác nhân sự đại hội có nhiều đổi mới, đã phát huy dân chủ, công tâm, khách quan, công khai, minh bạch, chặt chẽ, đúng nguyên tắc, quy trình, quy định, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng. Nhân sự được chuẩn bị kỹ lưỡng ở tất cả các khâu, góp phần nâng cao chất lượng nhân sự cấp ủy các cấp và chuẩn bị cho nhân sự Trung ương”. Thực tế đó là minh chứng sinh động phản bác các luận điệu xuyên tạc, sai trái nói trên.

Rèn luyện, nâng cao đạo đức cán bộ, phòng chống có hiệu quả những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống

 

Rèn luyện, nâng cao đạo đức cán bộ, phòng chống có hiệu quả những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống

Thời gian qua, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng. Tình trạng này đã gây ra hậu quả xấu trên nhiều mặt: thất thoát tài sản, tiền của của Nhà nước và nhân dân; làm tha hóa cán bộ, đảng viên; ảnh hưởng đến vai trò lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước; làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ.

Vì vậy, một trong những mối quan tâm hàng đầu của Đảng ta hiện nay chính là việc rèn luyện, nâng cao đạo đức cán bộ. Đây cũng là một điểm nhấn trong công tác cán bộ nhiệm kỳ Đại hội 12, với nhiều biện pháp cụ thể, thiết thực và quyết liệt. Có thể nói, chưa nhiệm kỳ nào vấn đề "Đạo đức cán bộ" lại được quan tâm và cụ thể hóa như nhiệm kỳ 2016 – 2020 qua một loạt các văn bản liên quan đến vấn đề này đã được ban hành.

Hai văn bản được coi là xuyên suốt trong vấn đề đạo đức của cán bộ, đã được ban hành ngay từ năm đầu tiên của nhiệm kỳ. Đó là Nghị quyết Trung ương 4 Khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Cùng với đó là Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Có thể khẳng định, trong nhiệm kỳ Đại hội XII, công tác cán bộ đã có nhiều đổi mới, tiến bộ. Các quy trình ngày càng chặt chẽ, đồng bộ, công khai, minh bạch, khoa học và dân chủ hơn. Nhờ đó, chất lượng của đội ngũ cán bộ ngày càng được nâng lên.

Tuy nhiên, sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức. Thời gian tới cũng là giai đoạn chuyển giao thế hệ từ lớp cán bộ sinh ra, lớn lên, được rèn luyện, trưởng thành trong chiến tranh sang lớp cán bộ sinh ra, lớn lên, trưởng thành trong hòa bình và được đào tạo từ nhiều nguồn, nhiều nước có thể chế chính trị khác nhau. Những điều đó tác động mạnh mẽ, toàn diện, sâu sắc đến công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng.

Vì vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành thận trọng, khoa học, chặt chẽ và hiệu quả. Điều mà cán bộ, đảng viên và nhân dân mong mỏi nhất là làm sao Đảng sáng suốt lựa chọn cho được những cán bộ vừa có phẩm chất đạo đức tốt, trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, vừa có trí tuệ, tầm nhìn, có cả đức và tài.

 

Mối quan hệ và tác động của “diễn biến hòa bình” với “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ

 Thuật ngữ “diễn biến hòa bình” xuất hiện lần đầu trong đời sống chính trị thế giới vào năm 1949. Ngoại trưởng Mỹ lúc đó là Dean Akison, trong một bức thư gửi Tổng thống Truman đã sử dụng khái niệm “diễn biến hòa bình” để chỉ sự chuyển hóa các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) thành tư bản chủ nghĩa. “Diễn biến hòa bình” do các nhà hoạch định chiến lược phương Tây soạn thảo từ cuối những năm 40 của thế kỷ 20, sau đó tiếp tục được bổ sung và hoàn chỉnh thành chiến lược vào cuối thập niên 80 của thế kỷ 20.

“Diễn biến hòa bình” là chiến lược của chủ nghĩa đế quốc (CNĐQ) và các thế lực phản động quốc tế thực hiện dưới một phương thức mới, thủ đoạn mới, phi quân sự để chống phá, đẩy lùi và đi tới xóa bỏ chủ nghĩa xã hội.

“Diễn biến hòa bình” gần đây có những biến thái mới (*):

Chủ thể của “diễn biến hòa bình” không chỉ là các thế lực thù địch (TLTĐ), các nước đế quốc chủ nghĩa mà còn cả các nước theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, bành trướng và bá quyền. Theo đó, động cơ chính trị của “diễn biến hòa bình” đã chuyển từ đấu tranh ý thức hệ là chính sang đấu tranh vì lợi ích dân tộc cục bộ là chính. Phương thức hoạt động của “diễn biến hòa bình” tập trung vào gây sức ép về kinh tế - tài chính và tấn công mạng thông tin; chuyển trọng tâm từ bên ngoài tác động vào trong các nước sang thúc đẩy các hoạt động chống đối ngay bên trong nội địa, trong nội bộ và tại chỗ là chính. “Diễn biến hòa bình” đã phát triển đến đỉnh cao, đến mức có thể coi là một “công nghệ”, đó là “công nghệ lật đổ”. Triệt để sử dụng các trang mạng xã hội trên internet và vai trò của các tổ chức phi chính phủ để gieo mầm, thúc đẩy “xã hội dân sự”, khởi động sự phản kháng của các phần tử chống đối ở trong nước biểu tình phản đối để lật đổ chế độ. Mục tiêu chủ yếu của “diễn biến hòa bình” là làm thay đổi tính chất quốc gia, dân tộc của chế độ chính trị của các nước theo hướng có lợi cho CNĐQ và cường quyền về lợi ích địa - chính trị và địa - kinh tế thay vì mục tiêu chính trị cực đoan.

“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” xuất hiện lần đầu trong Văn kiện Đại hội XI của Đảng (năm 2011): “Trong nội bộ, những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có những diễn biến phức tạp”. Đại hội XII, Đảng ta nhận định: “những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí diễn biến phức tạp”.

“Tự diễn biến” được hiểu theo nghĩa là sự suy đồi ngay từ nội bộ, sự thay đổi theo chiều hướng xấu, chiều hướng tiêu cực. “Tự diễn biến” xảy ra ở hai phạm vi: đối với cá nhân và tổ chức. “Tự diễn biến” đối với cá nhân là sự thay đổi về nhận thức chính trị - xã hội, thay đổi về quan điểm, tư tưởng theo chiều hướng tiêu cực, xấu đi, nhận thức và hành động xa rời, nhận thức đi ngược lại chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. “Tự diễn biến” đối với tổ chức là có những thay đổi ở tầm vĩ mô về đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật, làm thay đổi bản chất chính trị, thậm chí làm suy yếu và tan rã tổ chức đó. “Tự diễn biến” của cá nhân có thể dẫn đến sự thay đổi của tập thể, tổ chức. “Tự diễn biến” của tổ chức chi phối, áp đặt, điều khiển đối với cá nhân trong tổ chức đó.

“Tự chuyển hóa” là hậu quả tất yếu của quá trình “tự diễn biến”, nếu không được phát hiện và ngăn chặn kịp thời. Nghị quyết T.Ư 4 khóa XII đã chỉ ra những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, trong đó đáng chú ý nhất là các biểu hiện sau: (1) Phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”. (2) Phản bác, phủ nhận nền dân chủ XHCN, Nhà nước pháp quyền XHCN; đòi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập”, phát triển “xã hội dân sự”. Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. (3) Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước. (4) Kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ. Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. (5) Phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; đòi “phi chính trị hóa” quân đội và công an; xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; chia rẽ quân đội với công an; chia rẽ nhân dân với quân đội và công an. (6) Móc nối, cấu kết với các TLTĐ, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập; vận động, tổ chức, tập hợp lực lượng để chống phá Đảng và Nhà nước.

“Diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”có mối quan hệ khăng khít, không thể tách rời và tác động lẫn nhau. Đó là mối quan hệ giữa khách quan và chủ quan, giữa nhân tố bên ngoài và bên trong. “Diễn biến hòa bình” thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đến lượt nó “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thúc đẩy “diễn biến hòa bình”, trong đó “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là nhân tố bên trong quan trọng nhất.

Sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu đã khẳng định điều đó. Các TLTĐ thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với Liên Xô và các nước XHCN. Sau khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai, giới hiếu chiến trong ban lãnh đạo Mỹ đã có kế hoạch chống phá toàn diện Liên Xô. Nhiều trung tâm Xô Viết học ra đời tại Mỹ và các nước Tây Âu khác về thực chất là những cơ quan tình báo nghiên cứu, soạn thảo chính sách chống Liên Xô và các nước XHCN khác. Các Chính phủ Mỹ thời Rigân, Bush, Clintơn đã ra nhiều chỉ lệnh chống phá Liên Xô và các nước XHCN trên tất cả các lĩnh vực. Thông qua các chiêu bài viện trợ nhân đạo để cung cấp tài chính cho các tổ chức đối lập: Công đoàn đoàn kết của Ba Lan, Luận bàn dân chủ của Hungary, Luận đàm mới của Cộng hòa dân chủ Đức, Luận đàm công dân ở Tiệp Khắc, Tính công khai của Bungary, v.v. Nhưng quan trọng nhất là sự suy thoái của Đảng Cộng sản Liên Xô diễn ra trước hết và chủ yếu ở các đảng viên giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt các cấp. Goócbachốp sau đó đã từng thừa nhận: mục tiêu của toàn bộ cuộc đời tôi là tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản. Đây là nguyên nhân chủ quan chủ yếu dẫn đến sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu.

Sau khi thua Việt Nam bằng súng đạn, Mỹ đã thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam. Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng đã xác định “diễn biến hòa bình” của các TLTĐ là một trong bốn nguy cơ. Từ Đại hội VIII đến nay, nghị quyết các đại hội và nhiều nghị quyết Trung ương đã nhấn mạnh phải kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, trong đó đề cao ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch”.

Nói tóm lại “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau, đó là mối quan hệ giữa nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan, trong đó nhân tố chủ quan là quan trọng nhất. Phải tăng cường đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đồng thời phải đẩy mạnh đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”. Làm tốt cuộc đấu tranh này, chúng ta sẽ bảo vệ được Đảng, được chế độ, đưa đất nước vững bước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

HẬU QUẢ CỦA NỀN DÂN CHỦ MỊ DÂN

Trong lịch sử nhân loại, một bài toán phức tạp luôn được đặt ra trước giai cấp thống trị là làm sao để kiểm soát dân chúng. Xã hội nào cũng có người giàu và người nghèo. Dĩ nhiên không thể để người nghèo nắm quyền lực, vì họ sẽ kéo cả đất nước xuống. Nhưng nếu để quyền lực trong tay người giàu thì cái gì ngăn cản người nghèo không nổi loạn khi họ chẳng có gì để mất ngoài xiềng xích?

Giai cấp thống trị đã thử rất nhiều mô hình, kết hợp cả triết học và tôn giáo (theo lời Napoleon thì cái duy nhất ngăn người nghèo không giết người giàu là tôn giáo; theo Lênin thì tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân) nhưng đều có điểm yếu và đều thất bại ở một giai đoạn nhất định.
Mỗi cuộc cách mạng nổ ra đều do người nghèo nhận thức được thân phận của mình, chứ tuyệt nhiên không phải do giai cấp thống trị có gì thay đổi. Lúc nào chăng nữa, người giàu cũng vô cảm, thực dụng và tìm cách duy trì vị trí thống trị của mình.
Cuộc cách mạng Pháp nổ ra khi người dân nhận ra được rằng các ý niệm (idea) về Tự do, Bình đẳng, Bác ái không phải từ trên trời rơi xuống mà do chính con người sáng tạo ra. Họ đã cướp phá và giết giai cấp thống trị, đưa nước Pháp thành nền cộng hòa.
Dĩ nhiên giai cấp thống trị không ngồi yên để người nghèo nổi loạn. Nên giới tinh hoa Mỹ đã sáng tác ra một kiệt tác mị dân vĩ đại còn được gọi là Hiến pháp Mỹ, đưa ra quy trình chuyển giao quyền lực tượng trưng bằng cách cho dân lựa chọn giữa 2 đại diện mà giới chủ đã chọn trước.
Thực tế, giới tinh hoa Mỹ thừa biết giao quyền bầu cử cho người nghèo là tự sát, nên họ đã cẩn thận bảo vệ nhà nước bằng 2 biện pháp chính: (1) Người giàu vẫn nắm FED, tức là nắm toàn bộ tiền của nước Mỹ, mà thực ra quyền lực lớn nhất của nhà nước là in và quản lý tiền. (2) Bầu cử tượng trưng, với các phiếu đại cử tri thuộc về giới chủ.
Những cái đầu lớn nhất của nước Mỹ đã tính toán không hề sai, và cộng với tài nguyên khoáng sản sẵn có sau khi cướp được của người da đỏ và vị trí địa lý an toàn, cách xa Nga và Châu Âu, nên nước Mỹ đã phát triển vũ bão trong hai trăm năm để thành một siêu cường có lúc đã chiếm đến 40% kinh tế thế giới.
Nhưng mạng xã hội ra đời làm lộ hết các điểm mị dân của Hiến pháp Mỹ. Lần đầu tiên giới chủ không thể kiểm soát được dư luận thông qua báo chí - quyền lực thứ 4 của giới chủ Mỹ (ngoài Tư pháp, Hành pháp và Lập pháp).
Trump, một ngôi sao truyền hình, đã tận dụng được điểm yếu của Hiến pháp, đã tận dụng được kinh nghiệm làm Game show của mình, và chiến thắng trong cuộc bầu cử năm 2016. Ông ấy kết hợp được cả tiền và các phẩm chất của một gã hề, ngoài ra còn sự tàn nhẫn, kiên định và cao ngạo của một công tử con nhà giàu từ nhỏ.
Khi nghĩ ra Hiến pháp, những bộ óc hàng đầu nước Mỹ không hình dung ra ngày nay, khi bất cứ ai cũng có thể trở thành một tờ báo, một kênh truyền hình.
Vậy nên bất chấp những hỗn loạn thảm họa hiện nay, Trump vẫn sẽ được lịch sử ghi công như một người đã vạch ra toàn bộ các điểm thiếu sót của Hiến pháp Mỹ, và cho thấy quy trình bầu cử Mỹ thật sự phải thay đổi, mô hình chính trị mị dân của Mỹ thật sự phải thay đổi. Nền Cộng hòa phải thực sự tôn trọng người dân của mình và cho họ quyền tự quyết.
Vấn đề chỉ là... có nên trao cho đa số quyền tự quyết hay không, vì giống như đàn bà, thường đám đông không biết cái gì tốt cho mình!

 

“Quân đội nhân dân Việt Nam trung với Ðảng, hiếu với dân”

QĐND - Vừa qua, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân (QĐND) ấn hành cuốn sách “Quân đội nhân dân Việt Nam trung với Ðảng, hiếu với dân” của Đại tướng Ngô Xuân Lịch, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Cuốn sách dày hơn 400 trang với rất nhiều thông tin, tư liệu quý về sự phát triển, trưởng thành của QĐND Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử 76 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Trung với Đảng, hiếu với dân - phẩm chất hàng đầu của mỗi quân nhân

Cuốn sách gồm 3 phần chính: Phần thứ nhất “Quân đội nhân dân Việt Nam trung với Đảng, hiếu với dân-những vấn đề lý luận cơ bản”; phần thứ hai “Quân đội nhân dân Việt Nam trung với Đảng, hiếu với dân-biểu hiện trong thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và bài học kinh nghiệm”; phần thứ ba “Quân đội nhân dân Việt Nam trung với Đảng, hiếu với dân trong tình hình mới”.

Trong phần thứ nhất, từ những vấn đề lý luận cơ bản, tác giả đã chứng minh rằng QĐND Việt Nam được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, luôn vững vàng trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, hy sinh phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xứng đáng với vai trò là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị đặc biệt tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Tác giả khẳng định: Trung với Đảng, trung với nước, hiếu với dân trở thành phẩm chất hàng đầu của người cách mạng và mỗi quân nhân trong QĐND Việt Nam. Phẩm chất đó là cơ sở vững chắc của sức mạnh đoàn kết, thống nhất về tư tưởng và hành động; là động lực mạnh mẽ thúc đẩy cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn nêu cao ý chí quyết tâm, huy động mọi sức lực và trí tuệ, phấn đấu vươn lên hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

“Quân đội nhân dân Việt Nam trung với Ðảng, hiếu với dân”
Bìa cuốn sách.

Từ những luận giải nêu trên, trong phần thứ hai, cuốn sách đề cập đến những chiến công, thành tích của QĐND dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng hành cùng dân tộc làm nên những chiến công vĩ đại. Theo đó, ngay sau ngày thành lập, dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã ra quân, đánh thắng trận Phai Khắt, Nà Ngần, mở đầu cho truyền thống “Quyết chiến, Quyết thắng” của QĐND Việt Nam. Chưa đầy một năm sau, Quân đội ta đã cùng toàn dân tiến hành Tổng khởi nghĩa, làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành độc lập dân tộc, tạo tiền đề cho sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa-nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, dưới sự lãnh đạo của Đảng, thường xuyên, trực tiếp là Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quân đội ta có bước phát triển toàn diện, vượt bậc về mọi mặt. Cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam luôn nêu cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội; đoàn kết, gắn bó mật thiết với nhân dân, lập nhiều chiến công vang dội mà đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 và thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, mở ra kỷ nguyên hòa bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội cho dân tộc Việt Nam.

Đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất

Thông qua thực tiễn đấu tranh giải phóng dân tộc, cuốn sách đã đưa ra những bài học kinh nghiệm của QĐND Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

Trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Quân đội ta luôn quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm chủ trương, đường lối quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc của Đảng; tiếp tục phát huy bản chất, truyền thống Bộ đội Cụ Hồ; thực hiện tốt chức năng “đội quân chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao động sản xuất”, là lực lượng nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, củng cố quốc phòng, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, nhân dân và chế độ XHCN, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước. Đó là những nội dung cơ bản được đề cập trong phần thứ ba của cuốn sách “Quân đội nhân dân Việt Nam trung với Ðảng, hiếu với dân” của Đại tướng Ngô Xuân Lịch.

QĐND Việt Nam luôn phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp, nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội cách mạng, dù trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, đi bất cứ nơi đâu, thực hiện bất cứ nhiệm vụ gì, Quân đội ta đều giữ vững và phát huy phẩm chất trung với Đảng, hiếu với dân, được Đảng, Nhà nước và nhân dân tin tưởng, yêu thương, đùm bọc, che chở và giúp đỡ. Đó là nguồn động viên, cổ vũ to lớn, bảo đảm cho Quân đội ta luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó: Từ việc giúp dân khắc phục hậu quả, phòng chống bão, lũ, sạt lở đất; chăm sóc người dân bị cách ly trong dịch Covid-19; giúp đỡ dân làm kinh tế, khám chữa bệnh miễn phí cho người dân...

Giữ vững truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam

Đọc cuốn “Quân đội nhân dân Việt Nam trung với Ðảng, hiếu với dân” của Đại tướng Ngô Xuân Lịch, chúng ta hiểu thêm rằng để giữ vững phẩm chất cao quý Bộ đội Cụ Hồ, thể hiện tình cảm, lòng yêu mến và sự tin tưởng đối với quân đội của nhân dân; mỗi cán bộ, chiến sĩ và toàn quân phải hiểu rõ và thực hiện cho kỳ được truyền thống vẻ vang của QĐND Việt Nam, đó là "trung với Ðảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng"; gắn với thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 855-CT/QUTW ngày 12-8-2019 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ mới”.

Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện phai nhạt lý tưởng cách mạng, giảm sút niềm tin, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; kịp thời phát hiện và giải quyết những vấn đề tư tưởng tiêu cực nảy sinh, không để đột biến về tư tưởng. Qua đó, xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức cách mạng trong sáng, ý thức tổ chức kỷ luật tự giác, nghiêm minh... Mọi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ cần nhận thức rõ, Quân đội ta là quân đội cách mạng, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, là quân đội của nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Mục tiêu chiến đấu của quân đội chính là mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Giữ vững niềm tin với Đảng là mục tiêu phấn đấu, là cơ sở để Quân đội ta “khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

NGUYỄN THÚY CÚC

Thứ Tư, 6 tháng 1, 2021

PHÁT HUY TINH THẦN YÊU NƯỚC, ĐƯA ĐẤT NƯỚC TIẾN LÊN

Sáng 6/5, chủ trì cuộc họp nghe các bộ, ngành báo cáo về công tác chuẩn bị cho Hội nghị giữa Thủ tướng với các doanh nghiệp, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nêu rõ, đây không phải dịp “than nghèo, kể khổ” mà là cần phát huy tinh thần yêu nước, nỗ lực khắc phục khó khăn, đưa đất nước tiến lên.

  • Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng cho biết dự kiến, Hội nghị được truyền hình trực tuyến với 63 điểm cầu địa phương, 30 điểm cầu các bộ, ngành và truyền hình trực tiếp trên Đài Truyền hình Việt Nam.

Do đó, chương trình Hội nghị cần chặt chẽ, bảo đảm về thời gian. Tổng số lượng đại biểu dự kiến khoảng 6.000 người tại các điểm cầu và với truyền hình trực tiếp thì khoảng 800.000 doanh nghiệp, trên 5 triệu hộ kinh doanh và nhân dân cả nước có thể theo dõi. Theo Bộ trưởng, Chủ nhiệm Mai Tiến Dũng, các phát biểu tại sự kiện được xem như “Hội nghị Diên Hồng” này cần đi thẳng vào vấn đề, đề xuất, hiến kế cho Thủ tướng.

Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Vũ Tiến Lộc cho rằng Hội nghị diễn ra trong bối cảnh chúng ta có thời cơ vàng của người đi trước vì đã đẩy lùi được dịch bệnh khi mà nhiều nền kinh tế đang lúng túng, chưa thoát ra được. Như vậy, Hội nghị sẽ là dịp để khơi dậy tinh thần, truyền đi thông điệp, chung sức đồng lòng để vươn lên bứt phá.


Phát biểu kết luận cuộc họp, nhấn mạnh ý nghĩa thiết thực của Hội nghị, Thủ tướng nêu rõ đây không phải dịp “than nghèo, kể khổ” mà phát huy tinh thần yêu nước, nỗ lực khắc phục khó khăn, một quyết tâm tái cơ cấu để tăng tốc phát triển, đạt mục tiêu tăng trưởng.Các ý kiến nhất trí cho rằng, cần có một sản phẩm cụ thể sau Hội nghị, đó có thể là một nghị quyết về tháo gỡ khó khăn vướng mắc cho doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất kinh doanh. Chuẩn bị cho Hội nghị, một số bộ, ngành đã tập hợp các kiến nghị, đề xuất của các doanh nghiệp, hiệp hội thuộc ngành mình để xử lý.

Hội nghị cũng tháo gỡ khó khăn để tăng tốc phát triển, nên ngoài sự phấn đấu quyết liệt, chủ động của bản thân doanh nghiệp và người dân thì trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước, các cấp, các ngành rất quan trọng. Phải tạo khí thế mới để đóng góp cho sự phát triển trong bối cảnh cả nước kỷ niệm các sự kiện lớn, là 45 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Ngày Quốc tế Lao động 1-5, kỷ niệm 130 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thủ tướng nhấn mạnh Hội nghị phải thể hiện tinh thần yêu nước, quyết tâm trong điều kiện mới, như lò xo bị nén lại trong mấy tháng qua, giờ bật lên để phát triển, “có chí thì nên” chứ không bàn lùi, than nghèo, kể khổ.

Yêu cầu đặt ra là tổ chức Hội nghị khoa học, chặt chẽ, nội dung thiết thực, tôn trọng người nghe. Do đó, phải chuẩn bị công phu. Hội nghị cũng cần tranh thủ “từng phút, từng giây”.

Về kết quả Hội nghị, Thủ tướng cho rằng sẽ có sản phẩm cụ thể với hình thức phù hợp, có thể là nghị quyết hoặc chương trình hành động…

Ngoài các gói hỗ trợ đã ban hành, Thủ tướng đặt vấn đề Hội nghị này có thể đưa ra thêm được vấn đề gì để hỗ trợ doanh nghiệp, ví dụ như thị trường mới là gì, lao động, tín dụng mới là gì, thuế phí thế nào…

Nhấn mạnh công tác thông tin truyền thông về Hội nghị, Thủ tướng lưu ý cần tiếp tục tuyên truyền về các tấm gương vượt khó để phát triển khi mà “có những doanh nghiệp của thương binh, của người khuyết tật còn cố gắng giữ lao động”.

Tại các đầu cầu, mời các doanh nghiệp tiêu biểu đến dự, “những người có ý chí tiến thủ, làm ăn thành công”.

Đây là hội nghị có quy mô lớn chưa từng có, các cơ quan liên quan có trách nhiệm tổ chức một cách tốt nhất./.

Nguồn: Báo mới.