Thứ Sáu, 8 tháng 1, 2021

Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam - thành tựu bác bỏ mọi sự xuyên tạc

Để đạt được mục đích đen tối là làm giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng ta, các thế lực thù địch, phản động, các “nhà dân chủ” đã dùng nhiều thủ đoạn nhằm tung “hỏa mù”, lợi dụng một số hạn chế về quản lý kinh tế đang diễn ra để gán ghép những thông tin khó kiểm chứng, làm cho người đọc khó phân biệt thật hay giả. Chúng vẽ ra những chuyện gây “sốc” như khả năng thực tế về cạnh tranh quốc tế suy yếu, tăng trưởng chậm và bất ổn kinh tế vĩ mô mà nền kinh tế Việt Nam đang phải hứng chịu là do kinh tế thị trường định hướng XHCN mang lại. Hay chính kinh tế thị trường định hướng XHCN sẽ “thải” ra hệ quả là cỗ máy tăng trưởng kinh tế bị trục trặc, nguồn lực xã hội bị sử dụng kém hiệu quả, tạo ra những thua lỗ, nợ nần. Ngoài ra, kinh tế thị trường với nền tảng “lệch lạc”, “méo mó” sẽ khiến cho nền kinh tế trở nên kém cạnh tranh, khu vực tư nhân bị chèn ép, không lớn lên được. Tất cả những yếu tố này còn gây ra nhiều hệ lụy khác như tham nhũng, lãng phí, nợ xấu... Những luận điệu này không chỉ là sự đánh tráo khái niệm, mà còn chứa đầy sự ác ý, thâm hiểm nhằm phủ nhận đường lối, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhất là đối với chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN vốn đã được chứng minh hiệu quả trên thực tế.

Sau gần 35 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, tạo tiền đề quan trọng để tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới. Kinh tế tăng trưởng liên tục, trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh; kinh tế vĩ mô ổn định và từng bước được tăng cường; sức cạnh tranh, tiềm lực và quy mô của nền kinh tế được nâng cao. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, đặc biệt là công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực chuyển biến mạnh mẽ, quyết liệt, có bước đột phá và đạt nhiều kết quả rõ rệt, được nhân dân hoan nghênh, đồng tình, tin tưởng và ủng hộ. Chính trị, xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh không ngừng được củng cố, kiên quyết, kiên trì giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và hiệu quả, góp phần nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Theo đánh giá của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, năm 2019 kinh tế Việt Nam lần đầu tiên vươn lên nửa trên của bảng xếp hạng thế giới, vị trí 67/141 nền kinh tế được xếp hạng (tăng 10 bậc so với năm 2018), xếp thứ 8 trong số các nền kinh tế tốt nhất thế giới để đầu tư (tăng 15 bậc so với năm 2018).

Có những mục tiêu tưởng chừng như rất khó đạt được cùng lúc, thông thường sẽ phải có sự đánh đổi trong tiến trình phát triển, đó là quy mô càng lớn càng khó có thể tăng trưởng nhanh. Tuy nhiên, điều này đã không đúng ở Việt Nam. Năm 2018, quy mô kinh tế Việt Nam đạt gần 250 tỷ USD lớn gấp 9,3 lần so với thời điểm bắt đầu đổi mới năm 1986 và gấp gần 1,3 lần so với năm 2015. Nếu như năm 2016 đầu nhiệm kỳ Đại hội XII, chúng ta chỉ tăng trưởng 6,21% thì năm 2019 chúng ta đạt tăng trưởng lên đến 7,02%, đưa quy mô nền kinh tế năm 2019 đạt hơn 262 tỷ USD.

Để cố tình chứng minh sự không đúng đắn của việc lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, có luận điệu cho rằng, Việt Nam đã phải chấp nhận đánh đổi giữa tăng trưởng nhanh và ổn định vĩ mô. Năm 2010, trong bối cảnh kinh tế toàn cầu phục hồi chậm sau khủng hoảng, kinh tế Việt Nam đã sớm ra khỏi tình trạng suy giảm, từng bước phục hồi và tăng trưởng khá nhanh với 6,4%, lần lượt các năm tiếp theo từ 2011 đến 2019 chúng ta có tốc độ tăng trưởng là 6,2%, 5,2%, 5,4%, 6,0%, 6,7%, 6,2%, 6,8%, 7,08%, 7,02%. Năm 2019, chúng ta không chỉ đạt được tăng trưởng nhanh hàng đầu khu vực cũng như trên thế giới mà còn duy trì được nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát chỉ 2,79%, mặt bằng lãi suất và tỉ giá luôn duy trì ổn định trong bối cảnh các thị trường tài chính toàn cầu đầy biến động. Cán cân ngân sách tính đến ngày 23-12-2019 là thặng dư, tỷ lệ nợ công giảm từ hơn 64% GDP vài năm trước về còn khoảng 56% GDP. Quy mô xuất nhập khẩu hơn 517 tỷ USD, cán cân thương mại hàng hóa đạt thặng dư kỷ lục gần 10 tỷ USD, dự trữ ngoại hối gần 80 tỷ USD - những con số mà 10 năm trước chúng ta không thể hình dung được.

Thành tựu đạt được nói trên không phải là sự đánh đổi giữa số lượng và chất lượng tăng trưởng, giữa tăng trưởng cao và tăng trưởng bền vững. Năm 2019, Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia tăng trưởng kinh tế cao và ổn định hàng đầu châu Á, thì chất lượng tăng trưởng của chúng ta lại có sự cải thiện rất rõ nét thể hiện qua tốc độ tăng năng suất lao động. Một số quan điểm cho rằng các nước đang phát triển ở giai đoạn tiền công nghiệp hóa, để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh thường phải chấp nhận suy giảm yếu tố môi trường và xã hội. Song Chính phủ Việt Nam luôn nhất quán với thông điệp không đánh đổi, hy sinh môi trường để lấy tăng trưởng, xác định công thức ba trong một của sự phát triển là Kinh tế - Xã hội và Môi trường.

Đối với quốc tế, sự phát triển của Việt Nam cũng được ghi nhận một cách khách quan, là điểm sáng về đầu tư và phát triển. Tại Hội nghị Thượng đỉnh Doanh nghiệp APEC 2017, Tổng thống Mỹ Donal Trump khẳng định: “Vào đầu thập niên 1990, gần một nửa người dân Việt Nam sống chỉ với một vài đô la một ngày, và cứ một trên bốn người không có điện. Ngày nay, nền kinh tế Việt Nam mở cửa là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất trên thế giới. Kinh tế tăng gấp 30 lần và học sinh Việt Nam nằm trong số những học sinh giỏi nhất thế giới, điều này rất đáng phục”.

Năm 2019, trong Báo cáo Triển vọng kinh tế thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã dự báo tăng trưởng toàn cầu năm 2019 tiếp tục hạ xuống 3,2%; tuy nhiên với Việt Nam, IMF dự báo tăng trưởng khoảng 6,5% năm 2019; Ngân hàng Thế giới dự báo ở mức 6,6%; Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) thì lạc quan với dự báo tăng trưởng của Việt Nam ở mức 6,8%. Trong khi đó, chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII 2019) mới được Tổ chức Sở hữu Trí tuệ thế giới công bố cho thấy Việt Nam tiếp tục tăng 3 bậc, xếp hạng 42/129 quốc gia và vùng lãnh thổ. Việt Nam được xếp thứ 8 trong số các nền kinh tế tốt nhất thế giới để đầu tư năm 2019, tăng 15 bậc so với năm 2018. Thành tích giảm nghèo của Việt Nam tiếp tục là một điểm sáng, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Việt Nam cũng được bầu là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc với số phiếu 192/193...

Quý I năm 2020, trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu đang bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19, dẫn đến tăng trưởng kinh tế giảm sút bởi cung và cầu đều suy giảm, song theo dự báo mới nhất của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), nền tảng của kinh tế Việt Nam vẫn được duy trì. “Cho dù các hoạt động kinh tế suy giảm và các rủi ro do dịch COVID-19 vẫn còn, Việt Nam vẫn là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất khu vực Đông Nam Á,” Giám đốc Quốc gia ADB tại Việt Nam Eric Sidgwick cho biết. Những động lực tăng trưởng của nền kinh tế trong thời gian tới là khu vực tư nhân phát triển mạnh mẽ, năng động, môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện và tầng lớp trung lưu ngày càng tăng nhanh. Giải ngân đầu tư công được cải thiện đáng kể, tăng gần 18% trong giai đoạn tháng 1-2 năm 2020 so với cùng kỳ năm 2019. Giải ngân sẽ tiếp tục được cải thiện trong năm 2020 vì đây là một trong các biện pháp tài khóa ưu tiên để ứng phó với dịch COVID-19. Số lượng lớn các hiệp định thương mại song phương và đa phương mà Việt Nam tham gia hứa hẹn tăng cường việc tiếp cận thị trường cho Việt Nam, đây là yếu tố thiết yếu cho sự phục hồi kinh tế sau COVID-19.

 Tính đến nay, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ; là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới; 71 nước đã công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường; nước ta cũng đã ký 14 hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với các nước, trong đó 11 hiệp định đã có hiệu lực. Hiện nay, Việt Nam đang cùng các nước tích cực thúc đẩy đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP). Gần đây nhất, ngày 12-2-2020, Nghị viện châu Âu (EP) đã chính thức bỏ phiếu phê chuẩn Hiệp định Thương mại tự do (EVFTA) và Hiệp định Bảo hộ đầu tư (EVIPA) giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu.

Đối với các hoạt động thương mại quốc tế, Việt Nam cũng đã có sự thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng xuất khẩu thô và hoàn toàn phụ thuộc vào nước ngoài. Năm 2018, trong điều kiện co kéo giữa xu hướng “tự do hóa thương mại” và “chủ nghĩa bảo hộ thương mại mới” giữa các cường quốc, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đã đạt 475 tỷ USD, tăng 11,7%; trong đó, xuất khẩu 238 tỷ USD, tăng 11,2%; tiếp tục xuất siêu 6-7 tỷ USD. Năm 2019, tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa cả nước đạt 517,19 tỷ USD, tăng 7,6%; trong đó  xuất khẩu đạt 264,19 tỷ USD, tăng 8,4%, nhập khẩu của Việt Nam đạt 253 tỷ USD, tăng 6,8%; thặng dư thương mại đạt mức 11,19 tỷ USD.

Với những chỉ số tăng trưởng cao, được thống kê đầy đủ, cụ thể như vậy sao lại cho rằng kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là “mơ hồ”? Ngược lại, đây phải chăng là sự nhận thức “mơ hồ” về nền kinh tế nước ta? Nếu không phải, rõ ràng là sự vu cáo vô căn cứ, không có cơ sở, cố tình diễn biến, phá hoại tình hình Việt Nam.

Để “gia tăng” luận điệu chống phá, còn có các ý kiến cho rằng “đường lối phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN là không tưởng, đang đứng ở ngã ba đường, không biết đi theo con đường nào, nếu không hòa nhập vào thời đại, đi theo con đường tư bản chủ nghĩa thì sẽ bị trả giá, tự giác thì đến đích nhanh hơn, không tự giác thì tất yếu cũng phải đi theo con đường đó, nhưng đến đích đau đớn hơn, chậm chạp hơn”.

Thật hết sức nực cười, trái ngược với lời suy diễn thiếu căn cứ đó, không ai có thể phủ nhận rằng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, qua quá trình đổi mới, hội nhập và phát triển hình ảnh đất nước thanh bình, cuộc sống của nhân dân đã từng ngày được “thay da, đổi thịt”.

Nhiều chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc ít người, miền núi, vùng sâu, vùng xa, khu vực được cho là yếu thế, khó khăn đã được triển khai mang lại kết quả rõ rệt. Cho đến nay, các xã, cụm dân cư đã có đủ cơ sở xã hội thiết yếu, như: điện, đường giao thông, trường học, trạm y tế. Tăng trưởng khu vực nông nghiệp luôn theo chiều hướng gia tăng, năm 2018 đạt 3,65%, cao nhất kể từ năm 2012. Xuất khẩu nông sản năm 2018 đạt trên 40,5 tỷ USD. Năm 2019 do ảnh hưởng nặng nề của dịch tả lợn châu Phi tăng trưởng của ngành chỉ đạt 2,2%, song nhiều chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch đề ra. Xuất khẩu nông sản năm 2019 đạt 41,3 tỷ USD, thặng dư thương mại đạt 10,4 tỷ USD. Xây dựng nông thôn mới đạt 54% số xã, 111 huyện đạt chuẩn nông thôn mới...

GDP bình quân đầu người năm 2019 đạt gần 2.800 USD (nếu tính cả quy mô nền kinh tế bị bỏ sót thì đã trên 3.000 USD), tăng hơn 700 USD so với năm 2015. Tỷ lệ hộ đói, nghèo giảm nhanh, luôn đạt và vượt mục tiêu đề ra qua các giai đoạn, hoàn thành và vượt mức mục tiêu thiên niên kỷ về giảm nghèo. Năm 2018, tỷ lệ hộ nghèo còn 5,2-5,7%, giảm 1-1,5% (riêng các huyện nghèo giảm trên 4%).

Theo đánh giá của Liên Hợp quốc, Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ giảm đói nghèo nhanh nhất thế giới. Kết quả đó đã thể hiện tính đúng đắn trong sự lãnh đạo của Đảng, hiệu lực trong quản lý của Nhà nước về mục tiêu kinh tế thị trường định hướng XHCN là phát triển kinh tế gắn với giải quyết các vấn đề xã hội (đói nghèo, việc làm, thu nhập, phân hóa giàu - nghèo, công bằng xã hội), đảm bảo môi trường sinh thái... thể hiện bản chất nhân văn của chế độ xã hội XHCN.

Do vậy, luận điệu cho rằng kinh tế thị trường định hướng XHCN là “không tưởng”, “bị trả giá...” thực chất là phản động, muốn hướng lái cách mạng Việt Nam theo con đường TBCN.

Quan điểm xuyên suốt trong lãnh đạo là tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng, xây dựng hệ thống hành chính liêm chính, hành động, kiến tạo, phục vụ trong chỉ đạo của chính phủ, năm khởi nghiệp, đồng hành của cộng đồng doanh nghiệp, sự nỗ lực của nhân dân; cùng với đó là tình hình chính trị ổn định, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi là những nguyên nhân chính mang tính căn cốt để nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam tiếp tục sẽ vượt qua những khó khăn sẽ có được những chỉ số tăng trưởng cao, tích cực. Đây là minh chứng, câu trả lời rõ nhất phản bác các luận điệu xuyên tạc về kinh tế thị trường định hướng XHCN của thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị trong thời gian qua.

CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN CÙNG VỚI TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LUÔN LÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

Chủ nghĩa Mác do C. Mác và Ph. Ăng-ghen sáng lập vào khoảng giữa những năm 40 của thế kỷ XIX ở Tây Âu, đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong điều kiện lịch sử mới đã được V.I. Lê-nin bổ sung, phát triển thành chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Chủ nghĩa Mác ra đời là một cuộc cách mạng trong lịch sử tư tưởng của nhân loại, mang bản chất khoa học và cách mạng, trở thành vũ khí tư tưởng - lý luận của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản nhằm mục tiêu giải phóng xã hội, giải phóng con người thoát khỏi mọi áp bức, bóc lột, bất công, tha hóa, phát triển toàn diện con người.

Từ khi ra đời đến nay, chủ nghĩa Mác đã tồn tại trên 170 năm và trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử. Mặc dù mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu đã sụp đổ; mặc dù chủ nghĩa đế quốc cùng những thế lực phản động, thù địch dùng nhiều thủ đoạn thâm độc chống phá, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác  - Lê-nin nhưng chủ nghĩa Mác - Lê-nin vẫn tồn tại, phát triển mà chưa có một học thuyết nào có thể thay thế được, nó có giá trị trường tồn, sức sống bền vững. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin vẫn là thế giới quan và phương pháp luận khoa học của hàng triệu triệu người trên trái đất. Đúng như lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã nhận định: “Bây giờ, chủ nghĩa nhiều, học thuyết nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê-nin”.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, (bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng ta, Hiến pháp năm 2013 của Nhà nước ta đều khẳng định chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của Đảng, kim chỉ nam cho hành động. Sự khẳng định đó nói lên ý nghĩa to lớn, giá trị vững bền của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng nước ta. Chủ nghĩa Mác  - Lê-nin đã trở thành ngọn cờ tư tưởng, lý luận và phương pháp luận khoa học để nhận thức thời đại, nhận thức tình hình thế giới và trong nước, là cơ sở khoa học để Đảng ta đề ra đường lối, chính sách đổi mới, phát triển đất nước, nhất là trong bối cảnh tình hình thế giới biến đổi nhanh chóng, phức tạp, khó lường như hiện nay. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin cũng là cơ sở cho sự thống nhất về tư tưởng trong Đảng, cho sự thống nhất và củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân, tạo đoàn kết, đồng thuận trong xã hội.

Trong quá trình xây dựng, phát triển học thuyết khoa học của mình, C.  Mác, Ph.  Ăng-ghen và sau này là V.I. Lê-nin đã phải thường xuyên đấu tranh chống các quan điểm sai trái, như chủ nghĩa duy tâm, siêu hình, giáo điều, xét lại. C.  Mác và Ph.  Ăng-ghen từng phê phán quan điểm của phái Hê-ghen trẻ, của Pru-đông, của Đuy-rinh, của Lát-xan và nhiều quan điểm tư sản khác. Thông qua đấu tranh phê phán quan điểm phản diện, các ông đã trình bày quan điểm chính diện của mình, đã phát triển, hoàn thiện học thuyết của mình. C.  Mác và Ph.  Ăng-ghen đã từng khẳng định rằng, học thuyết của các ông có tính phê phán và cách mạng, nó không đội trời chung với quan điểm giáo điều, bảo thủ, với quan điểm duy tâm, siêu hình, cơ hội và xét lại. Có thể khẳng định rằng, đấu tranh tư tưởng, lý luận để chống quan điểm sai trái nhằm bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác mang tính quy luật trong sự tồn tại, phát triển của chủ nghĩa Mác.

Để bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện lịch sử mới, V.I. Lê-nin đã kiên quyết đấu tranh, kịch liệt phê phán quan điểm duy tâm, siêu hình của chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán của E. Ma-khơ, A-vê-na-ri-út,...; đấu tranh với những quan điểm cơ hội, xét lại của các nhà lãnh đạo Quốc tế II, như Béc-xtanh, Cau-xky,...; đấu tranh với những quan điểm sai lầm của Plê-kha-nốp, Tờ-rốt-xki,  Bu-kha-rin,  Di-nô-vi-ép,... Thông qua đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, V.I. Lê-nin đã bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác lên một giai đoạn mới - giai đoạn Lê-nin trên cả ba bộ phận cấu thành là triết học, kinh tế học chính trị và chủ nghĩa xã hội khoa học phù hợp với điều kiện lịch sử mới và phù hợp với những thành tựu mới nhất trong khoa học tự nhiên ở thời kỳ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. V.I. Lê-nin đã từng gọi chủ nghĩa duy vật mác-xít là “chủ nghĩa duy vật chiến đấu”, nghĩa là nó không ngừng đấu tranh chống lại các quan điểm duy tâm, siêu hình, cơ hội, xét lại, các quan điểm muốn bảo vệ trật tự tư sản. Vận dụng chủ nghĩa Mác một cách sáng tạo vào thực tiễn nước Nga, V.I. Lê-nin và Đảng Bôn-sê-vích đã lãnh đạo giai cấp công nhân và nhân dân Nga tiến hành thắng lợi Cách mạng Tháng Mười vĩ đại, mở ra một thời đại mới trong sự phát triển của xã hội loài người - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga là sự khẳng định tính đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, đường lối của Lê-nin, là sự bác bỏ mạnh mẽ nhất, quyết định nhất, có tính thuyết phục nhất đối với các quan điểm sai trái, thù địch lúc bấy giờ.

Từ khi ra đời cho đến nay, trong hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh không ngừng đi sâu nhận thức chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nắm vững bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam và thời đại. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên phải nắm vững và vận dụng lập trường, quan điểm và phương pháp Mác - Lê-nin vào thực tiễn cách mạng, từ đó đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.


VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÀ KHÔNG THỂ THAY THẾ

Càng gần đến ngày Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, các thế lực thù địch càng đẩy mạnh chống phá bằng rất nhiều thủ đoạn, luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ, hoặc đưa ra những quan điểm chống đối… nhằm phủ nhận, hoặc hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng đối với xã hội. Một trong những luận điệu đó là: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và độc quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam là không thể chấp nhận được; cần phải xóa bỏ Điều 4 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cùng với đó, việc Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam lựa chọn con đường cách mạng đấu tranh giải phóng dân tộc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội từ Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng (năm 1930) đến Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011) là những sai lầm cần phải thay đổi; là căn nguyên của một đất nước Việt Nam kém phát triển về kinh tế, thiếu tự do, dân chủ và nhân dân Việt Nam mãi nghèo, đất nước Việt Nam không biết bao giờ mới đi qua được thời kỳ quá độ chứ đừng nói là chủ nghĩa xã hội…

Theo họ, đất nước Việt Nam chỉ phát triển và nhân dân Việt Nam chỉ được tự do, hạnh phúc khi đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, khi thực hiện đa nguyên, đa đảng, xây dựng xã hội dân sự, v.v.. mà không hề hiểu rằng cuộc khủng hoảng đường lối cứu nước chỉ chấm dứt khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời ngày 3/2/1930. Trong đau thương, chìm nổi của thân phận nô lệ, sống mà không được thụ hưởng một quyền con người nào, mỗi người dân Việt Nam đã nhận thức rõ rằng Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là tất yếu khách quan của lịch sử, đáp ứng yêu cầu nội tại của đất nước và phù hợp xu thế của thời đại.

Việc Đảng Cộng sản Việt Nam lựa chọn con đường đi của dân tộc: "Chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản", mà cụ thể là "đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến; Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập" và "thâu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩa làm của công chia cho dân cày nghèo; bỏ sưu thuế cho dân cày nghèo"… chính là bước ngoặt quan trọng nhất trong lịch sử dân tộc Việt Nam nói chung, lịch sử cách mạng Việt Nam hiện đại nói riêng, nên nhân dân đã tin tưởng và đồng lòng đi theo Đảng.

Thực tế thì, Việt Nam “đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử… Đây là một quá trình cách mạng sâu sắc, triệt để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới nhằm tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước phát triển, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen”. Cho nên mới nói, trong khi bôi nhọ, chống Đảng Cộng sản Việt Nam, chống chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang xây dựng; đồng thời, kêu gào phải thực hiện xã hội dân sự, phải để người dân được thực hiện quyền này, quyền nọ, những người "yêu nước bằng bàn phím" hoặc là không hiểu, hoặc là cố tình không hiểu rằng: Trước khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đất nước chìm đắm trong đêm trường nô lệ, người dân sống trên dải đất hình chữ S này không còn được như "con sâu, cái kiến"… Không có Đảng lãnh đạo, lấy đâu tên đất nước Việt Nam được trả lại trên bản đồ chính trị thế giới; và cũng đâu có những người dân Việt Nam được thụ hưởng ngày càng đầy đủ hơn quyền con người, quyền công dân được chế định trong các Hiến pháp từ 1946 đến 2013!

Sự lựa chọn đúng đắn của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của toàn thể nhân dân Việt Nam từ năm 1930 cho thấy, ngọn cờ độc lập, tự do gắn liền chủ nghĩa xã hội mà Đảng giương cao đã đáp ứng khát vọng của toàn thể dân tộc; đồng thời cũng cho thấy một sự thật là, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam đã thực hiện được một cuộc đổi đời chưa từng thấy trong lịch sử. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, không còn thân phận nô lệ, cũng chẳng còn là thần dân, mỗi người dân Việt Nam từ sau ngày 2/9/1945 cho đến hôm nay và mãi mãi về sau đã, đang và sẽ luôn là người chủ làm chủ cuộc đời mình, làm chủ vận mệnh đất nước mình, nên không cần đa nguyên, đa đảng đối lập. Thành tựu công cuộc đổi mới đất nước hơn 35 năm qua, và năm qua, khi Việt Nam khống chế thành công đại dịch COVID 19 cho thấy vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là không thể thay thế. Đây là lựa chọn của toàn thể nhân dân Việt Nam.

 

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự lựa chọn đúng đắn của Việt Nam

Chưa lúc nào các thế lực thù địch, phản động, các “nhà dân chủ” không tìm cơ hội để tăng cường sự chống phá bằng mọi hình thức. Lợi dụng quyền tự do dân chủ, chúng tung lên các trang mạng xã hội hàng loạt bài viết phê phán quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về kinh tế thị trường định hướng XHCN. Bằng thủ đoạn “lập lờ đánh lận con đen”, chúng cố công biện giải rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi đưa ra khái niệm “Kinh tế thị trường định hướng XHCN”, chưa bao giờ có thể định nghĩa được nó mà không ẩn chứa sự mâu thuẫn bên trong. Những người có quan điểm đối lập với Đảng đã cố tình xuyên tạc sự phát triển tư duy lý luận của Đảng ta, đặc biệt là họ dựa vào các tiêu chí của định hướng XHCN trong phát triển nền kinh tế thị trường để cho rằng Đảng ta đã vay mượn khái niệm hay là đánh tráo khái niệm. Thậm chí, một số kẻ còn lớn tiếng khẳng định, kinh tế thị trường mang giá trị phổ quát của nhân loại thêm các đuôi định hướng XHCN sẽ tạo ra một mô hình kinh tế “quái thai”, hoặc kinh tế thị trường định hướng XHCN chưa có tiền lệ trong lịch sử, nếu áp dụng sẽ tạo ra những lực cản kìm hãm sự phát triển của Việt Nam, tạo ra cản trở cho sản xuất, năng suất lao động, khả năng sáng tạo...

Trước Đại hội VI, chính những người cộng sản Việt Nam trước nhiều bế tắc của đất nước do đói nghèo, khủng hoảng đã nỗ lực tìm ra lối đi, thừa nhận sự tồn tại những hạt nhân hợp lý của kinh tế hàng hóa ngay trong lòng cơ chế kinh tế tập trung bao cấp. Từ những khoán hộ, “khoán chui”, đổi mới cơ chế quản lý tại các xí nghiệp và con đường tìm tòi đầy gian nan để đi đến bước ngoặt Đổi mới từ Đại hội VI, chính thức đề cập sản xuất hàng hóa và xác định “cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa” (Đại hội VI, năm 1986). Đó thực chất cũng là bước ngoặt Đảng Cộng sản Việt Nam chấp nhận kinh tế thị trường để xây dựng CNXH trong thời kỳ quá độ.

Đến Đại hội VII (năm 1991) xác định xây dựng “nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước”. Đại hội VIII (năm 1996) chủ trương xây dựng “nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Đại hội IX (năm 2001), Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Như vậy, phải sau 15 năm thực hiện Đổi mới, khái niệm “kinh tế thị trường định hướng XHCN” mới chính thức được xác định từ Đại hội IX (2011) của Đảng.

Từ đó đến nay, nhận thức của Đảng ta về kinh tế thị trường định hướng XHCN ngày càng được bổ sung, phát triển phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Đại hội XII xác định: “Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(1).

Hội nghị Trung ương 5 khóa XII đã ban hành 3 Nghị quyết: “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN”, “Tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước”, “Phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”. Đây là sự kiện quan trọng, bởi tại các Nghị quyết này, Đảng Cộng sản Việt Nam đã bổ sung, phát triển nhiều nội dung mới, quan trọng về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Theo đó, định nghĩa về “Kinh tế thị trường định hướng XHCN” ở nước ta được thống nhất “là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước, là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”(2).

Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của CNXH, thể hiện trên cả ba mặt: sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối. Nói cách khác, kinh tế thị trường định hướng XHCN chính là nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

So sánh với kinh tế thị trường TBCN, kinh tế thị trường định hướng XHCN vừa có những điểm tương đồng, nhưng cũng có những điểm khác biệt về bản chất. Điểm tương đồng với kinh tế thị trường tư bản hiện đại là: dựa trên nền tảng của chế độ phân chia sở hữu và đa sở hữu; nền kinh tế vận hành chủ yếu thông qua và bằng cơ chế thị trường; có sự quản lý, điều tiết của Nhà nước; đa dạng hóa các hình thức phân phối.

Điểm khác biệt, sự sáng tạo trong triển khai kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là ở chỗ, phát triển kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội. Các chủ thể trong kinh tế thị trường cạnh tranh nhau với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Chính vì vậy, đi liền với tăng trưởng tất yếu là sự phân hóa giàu nghèo, không ít người yếu thế bị bật ra khỏi vòng quay của nền kinh tế, cũng vì vậy nảy sinh các hiện tượng tiêu cực và các tệ nạn xã hội. Trong CNTB, nhân dân lao động là người làm thuê, mục tiêu của CNTB là tăng lợi nhuận, duy trì sự thống trị của giai cấp tư sản. Để đạt tới mục tiêu đó, CNTB đã có nhiều chủ trương, giải pháp về các vấn đề xã hội, trong đó có những mặt tiến bộ như thực hiện giảm nhẹ sự bất bình đẳng trong xã hội cũng như tìm cách giảm căng thẳng trong xã hội. Tuy nhiên, những mặt tiến bộ ấy không bền vững vì mâu thuẫn cơ bản của CNTB là xã hội hóa tư liệu sản xuất và chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất vẫn còn tồn tại. Trong kinh tế thị trường định hướng XHCN, phát triển kinh tế phải đi liền với việc giải quyết tốt các vấn đề xã hội. “Trình độ phát triển kinh tế là điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xã hội, nhưng mục tiêu xã hội lại là mục đích của các hoạt động kinh tế”(3) và “Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và trong suốt quá trình phát triển”(4).

Như vậy, thực hiện mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN không phải là sự gán ghép chủ quan giữa kinh tế thị trường và CNXH, mà là sự nắm bắt và vận dụng xu thế vận động khách quan của kinh tế thị trường trong thời đại ngày nay. Bản thân kinh tế thị trường cho đến nay được xem là phương cách hiệu quả nhất trong phân bổ, khai thác các nguồn lực cho sự phát triển. CNXH là xã hội tương lai, bảo đảm các điều kiện phát triển toàn diện của con người. Do vậy, lựa chọn kinh tế thị trường là sự lựa chọn phù hợp với các quy luật phát triển và các điều kiện lịch sử cụ thể của thời đại và của những nước đi sau, cho phép các nước này rút ngắn được con đường đi của mình tới CNXH trên cơ sở sử dụng được ưu thế cũng như hạn chế những khuyết tật của thị trường.

Tư tưởng Hồ Chí Minh - Dòng chảy tiếp nối chủ nghĩa Mác - Lênin, điều không thể xuyên tạc



Các thế lực chống đối chế độ chính trị hiện nay của Việt Nam tập trung tấn công vào thế chân vạc làm chỗ đứng cho chế độ ta: (1) Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; (2) Chủ nghĩa xã hội; (3) Đảng Cộng sản Việt Nam. Hễ một trong ba điểm đó yếu thì chế độ chính trị sẽ yếu. Và, nếu hai hoặc cả ba điểm đó yếu thì thế chân vạc sẽ bị triệt tiêu.

học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh


 

Bộ Quốc phòng tổ chức Hội nghị trực tuyến sơ kết rút kinh nghiệm công tác phòng, chống dịch Covid-19

 

Sáng 8-1, tại Hà Nội, Bộ Quốc phòng tổ chức Hội nghị trực tuyến sơ kết rút kinh nghiệm một năm công tác phòng, chống dịch Covid-19 trong Quân đội.

Quốc hội Mỹ xác nhận ứng cử viên Joe Biden trở thành Tổng thống

 

Phó tổng thống Mỹ Mike Pence với cương vị Chủ tịch Thượng viện chủ trì phiên họp chung của quốc hội, xác nhận ứng cử viên Joe Biden giành được 306 phiếu đại cử tri, giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống. Tổng thống Donald Trump nhận được 232 phiếu đại cử tri.

Biden gọi 6/1 là 'ngày đen tối nhất lịch sử Mỹ'

 Biden chỉ trích Trump "coi thường nền dân chủ" trong 4 năm cầm quyền và gọi bạo loạn ở quốc hội là "ngày đen tối nhất trong lịch sử Mỹ".

Chuẩn bị tốt nhân sự Đại hội XIII của Đảng, không để lọt vào Trung ương người không xứng đáng

 

Chuẩn bị tốt nhân sự Đại hội XIII của Đảng, không để lọt vào Trung ương người không xứng đáng

Một trong những nhiệm vụ quan trọng chuẩn bị cho Đại hội XIII của Đảng là nhân sự Ban Chấp hành Trung ương (BCH T.Ư), Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước nhiệm kỳ 2021-2026. Đây là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến vận mệnh của Đảng và sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước trong những năm tới.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng sẽ diễn ra từ 25/1- 2/2/2021. Để chuẩn bị thật tốt các nội dung của Đại hội, tại Hội nghị lần thứ 8, BCH T.Ư quyết định thành lập 5 Tiểu ban, gồm: Tiểu ban Văn kiện, Tiểu ban Nhân sự, Tiểu ban Kinh tế - xã hội, Tiểu ban Điều lệ Đảng, Tiểu ban Tổ chức và phục vụ Đại hội, trong đó Tiểu ban Văn kiện và Tiểu ban Nhân sự do Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng làm Trưởng Tiểu ban.

Với phương châm dân chủ, khoa học, ngay sau khi được thành lập, các tiểu ban đã làm việc khẩn trương, nghiêm túc, với tinh thần trách nhiệm cao; vừa coi trọng tổng kết thực tiễn, nhất là những mô hình mới, cách làm sáng tạo, có hiệu quả trên các lĩnh vực; vừa đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển lý luận, làm rõ và sâu sắc hơn con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội ở nước ta và những vấn đề mới thực tiễn đặt ra. Quá trình chuẩn bị các văn kiện, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các tiểu ban đã phát huy dân chủ, tổ chức nhiều cuộc hội thảo, lấy ý kiến của các cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ lão thành; của các chuyên gia, nhà khoa học và lắng nghe ý kiến của nhân dân…

Theo ông Nguyễn Đức Hà, Nguyên Vụ trưởng Vụ cơ sở Đảng, Ban Tổ chức T.Ư, Đảng đã nhìn thẳng vào sự thật về “một bộ phận không nhỏ”; thể hiện sự quyết liệt trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng và đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, qua đó góp phần quan trọng làm cho Đảng ta đoàn kết thống nhất hơn; trong sạch, vững mạnh hơn và củng cố, tăng cường hơn niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Chuẩn bị nhân sự BCH T.Ư, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước nhiệm kỳ 2021-2026 là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng. Bởi vậy, ngay sau khi Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị 35-CT/TW về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã có bài viết: “Chuẩn bị và tổ chức thật tốt đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”.

Tại Hội nghị cán bộ toàn quốc và Hội nghị T.Ư 12, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã có bài phát biểu quan trọng về những vấn đề cần đặc biệt quan tâm trong công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIII của Đảng. Những bài viết và ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước không chỉ là sự quan tâm sâu sắc, tinh thần trách nhiệm cao trước Đảng, trước nhân dân của người đứng đầu Đảng, Nhà nước, mà đó cũng là quan điểm xuyên suốt, nhất quán của BCH T.Ư, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; đồng thời, phản ánh đúng tâm tư, nguyện vọng, ý chí của cán bộ, đảng viên và nhân dân về Đại hội XIII của Đảng.

Nhìn lại quá trình chuẩn bị nhân sự Đại hội XIII của Đảng, có thể thấy nhiều nội dung và cách làm mới so với Đại hội XII. Cụ thể là, sau khi BCH T.Ư quyết định thành lập Tiểu ban nhân sự Đại hội XIII, Bộ Chính trị đã thành lập Ban Chỉ đạo quy hoạch cán bộ cấp chiến lược do Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng làm Trưởng ban. Việc quy hoạch cán bộ cấp chiến lược lần này được chỉ đạo chặt chẽ, tiến hành từng bước, từng việc, thận trọng, kỹ lưỡng, bảo đảm dân chủ, khách quan, công khai, minh bạch. Trên cơ sở giới thiệu quy hoạch của các cấp ủy, tổ chức đảng, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị trực thuộc T.Ư, các cơ quan chức năng của Đảng, Ban Chỉ đạo quy hoạch cán bộ cấp chiến lược, Tiểu ban nhân sự, Bộ Chính trị, Ban Bí thư rà soát, thẩm định kỹ lưỡng, chặt chẽ từng trường hợp cụ thể trước khi trình BCH T.Ư xem xét, quyết định. Thực hiện quy hoạch Trung ương trước, lãnh đạo chủ chốt sau.

Với quyết tâm chính trị cao và sự chuẩn bị kỹ lưỡng, công phu, bài bản, dân chủ, khoa học của BCH T.Ư, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và sự tham gia tích cực, trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng nhất định sẽ thành công tốt đẹp, đáp ứng niềm tin yêu và lòng mong đợi của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Qua nhiều lần quy hoạch và xem xét, điều chỉnh, bổ sung, BCH T.Ư đã thông qua danh sách quy hoạch hơn 220 đồng chí. Việc tổ chức các lớp bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ dự nguồn cũng được đổi mới, hiệu quả hơn. Trên cơ sở danh sách quy hoạch, Bộ Chính trị tổ chức thành 5 lớp, mỗi lớp học 2,5 tháng và tiến hành hai lớp học song song nên chỉ trong 7,5 tháng đã hoàn thành, tiết kiệm được nhiều thời gian, kinh phí so với nhiệm kỳ trước (Nhiệm kỳ trước tổ chức thành 6 lớp, mỗi lớp học 4 tháng theo hình thức cuốn chiếu nên phải mất 24 tháng mới xong).

Đặc biệt, việc quy hoạch BCH T.Ư, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước, nhiệm kỳ 2021-2026 được đặc biệt coi trọng về chất lượng và tiến hành theo quy trình chặt chẽ; trước hết tập trung vào quy hoạch nhân sự BCH T.Ư khóa XIII, gắn với nhân sự lãnh đạo Quốc hội khóa XV, nhiệm kỳ 2021 - 2026. Quá trình quy hoạch nhân sự Đại hội XIII thì tiến hành quy hoạch BCH T.Ư trước; quy hoạch Bộ Chính trị, Ban Bí thư sau; cuối cùng là quy hoạch các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước.

Một trong những yêu cầu nữa được đề ra là phải xây dựng BCH T.Ư khóa XIII thật sự là một tập thể đoàn kết thống nhất, trong sạch, vững mạnh; có tư duy đổi mới và tầm nhìn chiến lược; tiêu biểu cho toàn Đảng về trí tuệ, tính chiến đấu, tính kỷ luật, gắn bó mật thiết với nhân dân và bảo đảm tỷ lệ trẻ, nữ, người dân tộc thiểu số cao hơn nhiệm kỳ Đại hội XII.

Việc chuẩn bị, giới thiệu và bầu cử BCH T.Ư phải đặt lợi ích của Quốc gia - dân tộc lên trên hết, trước hết. Trung ương khẳng định quyết tâm chính trị rất cao trong cuộc chiến chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “lợi ích nhóm”; kiên quyết không để lọt vào BCH T.Ư những người không xứng đáng; đồng thời, không bỏ sót những cán bộ có đức, có tài, có triển vọng phát triển, có tín nhiệm cao trong Đảng và nhân dân, như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nhiều lần nhấn mạnh.

Kế thừa và phát huy những kinh nghiệm quý, phù hợp trong công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XII và bổ sung cách làm mới theo quy trình 5 bước, bảo đảm dân chủ, khách quan hơn. Quy trình công tác nhân sự tiến hành theo trình tự: chuẩn bị nhân sự tái cử trước, nhân sự mới tham gia sau và cuối cùng là trường hợp “đặc biệt”. Những trường hợp “đặc biệt” cần tham gia BCH T.Ư, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa XIII, Bộ Chính trị sẽ xem xét nhiều mặt, cân nhắc kỹ lưỡng và thông qua quy trình chặt chẽ, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch trước khi trình Trung ương xem xét, quyết định việc giới thiệu với Đại hội và BCH T.Ư khóa XIII tại Hội nghị lần thứ nhất.

Công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIII của Đảng được T.Ư xác định không chỉ là trách nhiệm của Tiểu ban nhân sự và BCH T.Ư, mà là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Trong quá trình chuẩn bị nhân sự, Trung ương đã xác định rõ trách nhiệm của tập thể và từng Ủy viên BCH T.Ư; của các cấp ủy, tổ chức đảng và cơ quan chức năng. Đặc biệt, Trung ương đã quy định cụ thể tiêu chuẩn của đại biểu dự Đại hội XIII và xác định trách nhiệm của đại biểu trong việc ứng cử, đề cử và bầu cử tại Đại hội.

 

Đấu tranh chống các quan điểm sai trai, thù địch trên không gian mạng

 


Hiện nay, các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng Internet, các trang mạng xã hội để đăng tải thông tin xấu độc, bịa đặt, sai sự thật, bóp méo, xuyên tạc, làm lẫn lộn đúng - sai, thật - giả; hoặc có một phần sự thật nhưng được đưa tin với dụng ý xấu, phân tích và định hướng dư luận bằng luận điệu sai trái, thù địch; bôi nhọ, vu khống lãnh tụ, kích động bạo lực, lừa đảo trên mạng, đánh

cắp thông tin …

Song do nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên về âm mưu, hoạt động “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa cũng như tác hại của quan điểm sai trái, thù địch đối với xã hội còn hạn chế; sự phối hợp giữa các cơ quan ban, ngành trong tuyên truyền và đấu tranh, phản bác còn mang tính hình thức, thụ động, chưa đa dạng, phong phú về nội dung, có nơi, có lúc còn thiếu sắc bén, tính thuyết phục chưa cao; việc thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tại một số địa phương còn sơ hở, thiếu sót; việc giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện ở một số nơi còn chậm, kéo dài, vượt cấp, gây bức xúc trong nhân dân… là những yếu tố để kẻ địch triệt để lợi dụng tuyên truyền các luận điệu sai trái, thù địch với nước ta.

Thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng 2 trang mạng xã hội là Facebook và Youtube để đăng, chia sẻ những thông tin sai trái, cơ hội chính trị lên không gian mạng Internet. Thủ đoạn thường được chúng sử dụng đó là dùng những tin, bài, những hình ảnh trên các báo chí chính thống của ta ở trong nước, sau đó viết lại, chỉnh sửa thành những nội dung bịa đặt hoặc định hướng sai lệch để đăng tải. Điều này thu hút sự quan tâm của người xem, người đọc trước những thông tin có nội dung giống với các thông tin chính thống, tạo cảm giác nửa tin, nửa ngờ và nếu không tìm hiểu, nghiên cứu kỹ sẽ bị tác động xấu bởi những thông tin xuyên tạc này. Ngoài ra, các đối tượng sử dụng trang Blog để nói xấu, chống phá Đảng, Nhà nước, khi nó kết hợp với mạng xã hội, các bài viết trên Blog được chia sẻ lên mạng xã hội tạo sức lan tỏa lớn.

Để  đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên Internet, mạng xã hội hiện nay cần phải đổi mới, nâng cao chất lượng nội dung thông tin chính thống, đảm bảo phong phú, đa dạng, nhiều cấp độ, tùy theo đối tượng để cung cấp, phổ biến, truyền tải. Đồng thời luôn xây dựng bản lĩnh vững vàng, có nhận thức đúng đắn, có sự suy xét khi tiếp cận những thông tin nhạy cảm, ở những thời điểm diễn ra các sự kiện mà các thế lực thù địch có thể lợi dụng để xuyên tạc, chống phá. Loại bỏ những thông tin xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch ra khỏi không gian mạng bằng cách tạo môi trường trong sạch về thông tin. Đặc biệt, các cơ quan báo chí, truyền thông, các tổ chức đoàn thể và toàn thể nhân dân cần phối hợp chặt chẽ, tạo nên sức mạnh tổng hợp chỉ rõ các quan điểm sai trái, vạch trần các âm mưu phản động thù địch, từng bước cô lập chúng trên mạng xã hội. Chủ động chia sẻ, lan tỏa những tin, bài, ảnh có nội dung tích cực, gương người tốt việc tốt trong học tập, công tác, lao động sản xuất, trong cuộc sống, sinh hoạt thường ngày... “lấy cái đẹp để dẹp cái xấu”. Nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, không tin theo, không truy cập và tán phát, chia sẻ những thông tin xấu độc, cũng là góp phần đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng.

                                                                                                                                           NTC ST

Thứ Năm, 7 tháng 1, 2021

TRƯỚC THỀM ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG, CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG CÀNG RA SỨC RÁO RIẾT CHỐNG PHÁ TOÀN DIỆN TRÊN TẤT CẢ CÁC LĨNH VỰC, TRONG ĐÓ CÓ ĐẠO ĐỨC


Âm mưu “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, nhất là trong tình hình hiện nay diễn ra hết sức phức tạp, vẫn là một trong những nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra. Âm mưu, thủ đoạn của chúng thực hiện ở tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong lĩnh vực đạo đức cũng vậy, tính chất cũng hết sức tinh vi, xảo quyệt và nguy hiểm.

Thứ nhất, các thế lực thù địch bằng nhiều thủ đoạn ra sức phá hoại nền tảng tư tưởng đạo đức của Đảng và mục tiêu lý tưởng của Đảng. Thứ hai, các thế lực thù địch đã khuếch trương những hạn chế, khuyết điểm trong bộ máy Đảng, Nhà nước làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên dao động, thiếu tin tưởng, tha hóa về đạo đức, lối sống. Thứ ba, các thế lực thù địch cổ súy, du nhập lối sống tư sản vào một bộ phận cán bộ, đảng viên làm cho họ tha hóa về đạo đức, lối sống. Thứ tư, các thế lực thù địch thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ làm tha hóa đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Thứ năm, các thế lực thù địch thúc đẩy suy thoái về tư tưởng chính trị làm cho suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên trầm trọng hơn. Thứ sáu, các thế lực thù địch bóp méo, xuyên tạc các mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, với quân đội để làm suy thoái các quan hệ đạo đức của cán bộ, đảng viên. Mục đích của chúng nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng với xã hội và thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam.

Những âm mưu, thủ đoạn nêu trên của các thế lực thù địch tạo ra những mối nguy hiểm khôn lường, đồng thời khiến cho chúng ta gặp nhiều khó khăn trong quá trình nhận diện và đưa ra các giải pháp đấu tranh phòng, chống. Chúng ta khó “nhận mặt chỉ tên” cụ thể đâu là “diễn biến hòa bình”, đâu là suy thoái đạo đức, lối sống và đâu là hạn chế, khuyết điểm của cán bộ, đảng viên. Sự khó khăn này dễ dẫn đến lúng túng trong xác định quan điểm, nội dung, biện pháp đấu tranh, sao cho đúng và trúng, cũng như trong thực tiễn tổ chức đấu tranh, ngăn ngừa. Vì vậy hãy nêu cao tinh thần cảnh giác, nắm chắc đường lối, quan điểm của Đảng để nhận diện và đấu tranh với các hành động, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch hiện nay.

 

Xử lý nghiêm nạn "chạy chức, chạy quyền" để ngăn chặn tận gốc tham nhũng

 Tại Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2013-2020, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã có bài phát biểu chỉ đạo quan trọng, qua đó có thể thấy việc xử lý nghiêm nạn "chạy chức, chạy quyền" để ngăn chặn tận gốc tham nhũng là một trong những nhiệm vụ cấp thiết.

Trên thực tế, đã có nhiều vụ việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để kết bè kết cánh, đưa người thân vào các vị trí thuận lợi trong cơ quan công quyền, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc và các quy định của Đảng, Nhà nước về công tác cán bộ. "Chạy chức, chạy quyền" là một trong những căn nguyên gốc rễ dẫn đến những "lỗ hổng" nghiêm trọng trong công tác cán bộ, triệt tiêu động lực phấn đấu của những người có phẩm chất, năng lực, cũng như gây mất đoàn kết trong nội bộ. "Chạy chức, chạy quyền" diễn biến tinh vi ở nhiều cấp, nhiều bộ, ngành, địa phương đã dẫn đến tha hóa quyền lực trong mỗi cá nhân và xa hơn là sự tha hóa đối với cả tổ chức đảng và hệ thống chính trị. Trước thực trạng đó, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23-9-2019 về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống "chạy chức, chạy quyền". Đây là nội dung rất quan trọng trong công tác xây dựng Đảng; kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ nhằm ngăn ngừa tình trạng lạm dụng, thao túng quyền lực, lấp "lỗ hổng" trong công tác cán bộ. Đồng thời, góp phần lựa chọn, bổ nhiệm, sử dụng cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực, trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ.

Thời gian tới, cần tiếp tục thực hiện tốt Quy định số 205-QĐ/TW; hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng chống tham nhũng, đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh tinh giản biên chế, cải cách chính sách tiền lương, nâng cao thu nhập và có chính sách nhà ở, bảo đảm cuộc sống để cán bộ, công chức, viên chức yên tâm công tác..

ĐẤU TRANH, VẠCH TRẦN NHỮNG BIỂU HIỆN MỚI CỦA CHỦ NGHĨA CƠ HỘI

 Chủ nghĩa cơ hội  không còn xa lạ đối với chúng ta. Nó thường che giấu bộ mặt thật của mình. Bản chất của những kẻ theo chủ nghĩa cơ hội là khi cách mạng gặp thuận lợi, phát triển thì luôn tỏ ra cấp tiến, nhưng khi đất nước gặp khó khăn thì dao động, ngả nghiêng, sẵn sàng thỏa hiệp với các đối tượng phản động và phần tử xấu để chống phá cách mạng hoặc lợi dụng những kẽ hở của chính sách, pháp luật để làm nhiều điều mờ ám, gây tổn hại đến sự nghiệp chung. Thời gian gần đây, chủ nghĩa cơ hội đã xuất hiện những biểu hiện mới không thể xem thường.

Một số ít người từng giữ cương vị lãnh đạo, quản lý lâu năm trong hệ thống chính trị các cấp, nhưng ít nhiều có biểu hiện “trở cờ” sau khi về hưu. Một số người lợi dụng các đợt đóng góp ý kiến vào các dự thảo chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước để đưa ra những quan niệm “mập mờ đánh lận con đen”. Một số người từng là cán bộ, đảng viên lâu năm đã mắc bệnh công thần chủ nghĩa, tuyệt đối hóa vai trò, cống hiến của mình trong quá khứ để phê phán quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và đề xuất những ý kiến lệch lạc. Một số ít trí thức, văn nghệ sĩ vốn là đảng viên cộng sản có những đóng góp nhất định trong lịch sử và có những công trình nghiên cứu, tác phẩm văn học nghệ thuật được khá nhiều công chúng biết đến, nhưng nay lại bày tỏ sự sám hối của mình. Một bộ phận cán bộ, đảng viên cố tình lợi dụng những kẽ hở trong hệ thống chính sách, luật pháp để làm những việc sai pháp luật, trái đạo lý…

Trong những biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội nêu trên, tuy mỗi loại có tính chất, mức độ nguy hiểm khác nhau, nhưng có đặc điểm chung là đều chĩa mũi nhọn trực tiếp hoặc gián tiếp vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta, thách thức sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, là lực cản con đường đưa nước ta hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Chính vì vậy, nhận diện, đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội, “vạch mặt, chỉ tên” những thứ cơ hội đội lốt “yêu nước thương dân”, không để chủ nghĩa cơ hội len lỏi vào các tổ chức tổ đảng, bộ máy công quyền các cấp là trách nhiệm của mỗi chúng ta mà trước hết là đội ngũ cán bộ đảng viên, là một trong những nhiệm vụ cấp bách, quan trọng của công tác tư tưởng chính trị hiện nay.

LUÔN ĐỀ CAO CẢNH GIÁC VỚI THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG


Các thế lực thù địch luôn cho rằng, để thực hiện được mưu đồ “chuyển hóa” chế độ chính trị ở Việt Nam thì vấn đề trước tiên là phải xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa; phải xây dựng ý thức hệ, hệ thống lý luận có khả năng triệt tiêu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và làm nền tảng tư tưởng cho việc xây dựng một giai cấp - xã hội mới kiểu tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam. Bên cạnh đó, còn phải tăng cường hợp tác toàn diện, tiến tới “lộ trình dân chủ toàn diện” ở Việt Nam.

Để thực hiện mưu đồ trên, trước hết chúng lấy tiến công trên lĩnh vực kinh tế làm mũi nhọn, thông qua đầu tư thiết lập hệ thống và cơ cấu kinh tế thị trường tư bản tại Việt Nam, từ đó làm cho nền kinh tế Việt Nam chệch hướng xã hội chủ nghĩa; tạo môi trường, điều kiện để hình thành “chính trị dân chủ”, “xã hội dân sự”, tạo ra môi trường và cơ hội cho các tổ chức chính trị đối lập xuất hiện công khai chống Đảng, Nhà nước và chế độ, làm cho Đảng ta không kiểm soát được tình hình; tạo tình thế không thể không thay đổi, buộc Đảng hoặc phải chấp nhận “dân chủ”, hoặc tan vỡ do bạo động, đột biến chính trị, xã hội.

Bên cạnh đó thông qua hoạt động ngoại giao chính thức, một mặt chúng tăng cường tiếp cận với mọi đối tượng để mua chuộc, lôi kéo, tác động làm “chuyển hóa” và “tự chuyển hóa” nội bộ ta ngay từ bên trên, bên trong; chú trọng việc hỗ trợ cho những phần tử được chúng cho là “có tư tưởng dân chủ, thân phương Tây”. Mặt khác, chúng tăng cường tổ chức các hoạt động giao lưu, trao đổi, đối ngoại với Việt Nam trên nhiều lĩnh vực để tăng cường quảng bá hình ảnh, giá trị tư bản chủ nghĩa thông qua các thủ đoạn “ngoại giao thân thiện”; đồng thời tạo kênh và cơ hội tiếp cận sâu hơn với cán bộ, đảng viên để thúc đẩy “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa”; tăng cường xâm nhập, tiến công “chuyển hóa” ngầm bằng các thủ đoạn hết sức tinh vi, để phá hoạt nội bộ ta.

Trước những thủ đoạn “mềm” của các thế lực thù địch, mỗi chúng ta, trước hết là mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, không ngừng trau dồi phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của người đảng viên; kiên định, nhất quán quan điểm của Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hoạt động. Tích cực đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, phản động, thù địch để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng./.

 

 NHẬP GIA TÙY TỤC

SỐNG TẠI VIỆT NAM CẦN TUÂN THỦ VÀ TÔN TRỌNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Đến hẹn lại lên, mỗi lần Tòa án Việt Nam tuyên phạt tù một đối tượng phản động vi phạm pháp luật, có ý đồ hoạt động nhằm lật đổ chính quyền Nhân dân, chống phá Nhà nước thì Phái đoàn ngoại giao EU lại "có tiếng nói yêu cầu thả người".
Hôm vừa rồi, đối tượng phản động đội mác Nhà báo là Phạm Chí Dũng hoạt động trong cái gọi là "Hiệp hội Nhà báo Việt Nam độc lập" bị Tòa án Nhân dân TP.HCM thưởng nóng 15 năm tù về tội "Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống phá nhà nước CHXHCN Việt Nam", hôm nay phái đoàn ngoại giao EU tại Việt Nam lập tức đăng thông báo bày tỏ "quan ngại" về vấn đề nhân quyền, dân chủ tại Việt Nam, cho rằng mấy tên phản động này là hoạt động nghề tự do và không vi phạm pháp luật, phái đoàn EU cũng nhấn mạnh cũng như thúc giục Việt Nam nhanh chóng thả người, VN tỏ ra không quan tâm lắm vì đơn giản nhập gia tùy tục, ở trên đất này thì phải sống theo luật trên này".