Thứ Năm, 6 tháng 5, 2021

Những nhiệm vụ chủ yếu của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng

Kiểm tra, giám sát là công việc hệ trọng, phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, kiên quyết, kiên trì, không tự thỏa mãn, bằng lòng với những kết quả đạt được. Bước sang nhiệm kỳ khóa XIII, trong bối cảnh “tình hình thế giới và trong nước có cả thuận lợi, thời cơ và khó khăn, thách thức đan xen; đặt ra nhiều vấn đề mới, yêu cầu mới nặng nề, phức tạp hơn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(3), để góp phần tích cực hơn nữa vào việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng Đảng và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, cần nhận thức đúng, đầy đủ và thực hiện đồng bộ một số nhiệm vụ chủ yếu sau đây: Một là, tiếp tục tạo sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa về nhận thức, trách nhiệm và quyết tâm chính trị của cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên các cấp về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng Ngay sau Đại hội, công tác KTGSKL của Đảng phải được triển khai thực hiện trên cơ sở bám sát nhiệm vụ chính trị và thực tiễn của từng địa phương, đơn vị; tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên của các cấp ủy đảng đối với công tác này. Tiếp tục khẳng định KTGSKL là những chức năng, phương thức lãnh đạo của Đảng, như đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nói: “là thanh bảo kiếm của Đảng”, là bộ phận quan trọng trong chỉnh thể công tác xây dựng Đảng; là nhiệm vụ của toàn Đảng, trước hết là của cấp ủy và trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động của cấp ủy, UBKT các cấp. Đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nhằm nâng cao hơn nữa nhận thức và trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, các ngành, của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu về vị trí, vai trò, mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác KTGSKL đảng. Mọi cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu, phải gương mẫu, đi đầu, tự giác, thống nhất cao về ý chí và hành động trong công tác kiểm tra, giám sát để giữ gìn uy tín, củng cố niềm tin của nhân dân và phải công khai để nhân dân biết, ủng hộ và tham gia giám sát. Phải kiên định, kiên quyết, kiên trì trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, không lùi bước trước bất cứ khó khăn nào. Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến công tác KTGSKL của Đảng trên các phương tiện thông tin đại chúng bằng nhiều hình thức, biện pháp thích hợp; chú trọng nhân rộng các nhân tố điển hình, kinh nghiệm hay, cách làm sáng tạo, hiệu quả; rà soát, tiếp tục mở các chuyên trang, chuyên mục, xuất bản, phát hành sách, báo, các tác phẩm văn học, nghệ thuật về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng. Thực hiện tốt cơ chế phối hợp trao đổi thông tin và tuyên truyền, phổ biến về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật giữa UBKT với các cơ quan tư pháp, thanh tra, kiểm toán và các cơ quan báo chí. Xây dựng và tổ chức thực hiện Quy định về chế độ tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cấp ủy viên các cấp về công tác KTGSKL đảng để đội ngũ này nâng cao nhận thức và thực hiện đúng vai trò, trách nhiệm được giao phó. Hai là, tiếp tục chỉ đạo nghiên cứu xây dựng hoàn thiện hệ thống các quy định về công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng; xây dựng hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng Đảng đoàn Quốc hội, Ban Cán sự đảng Chính phủ và các ban đảng ở Trung ương chỉ đạo sửa đổi, bổ sung, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến công tác KTGSKL đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất trong thực hiện giữa quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Cấp ủy các cấp quan tâm chỉ đạo nghiên cứu xây dựng hoàn chỉnh các nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định về công tác xây dựng Đảng, công tác KTGSKL đảng đồng bộ, thống nhất với quy định của Trung ương; cải tiến, đổi mới phương pháp, kỹ năng, quy trình công tác KTGSKL đảng bảo đảm khoa học, dân chủ, đồng bộ, thống nhất, khả thi; trong đó, tập trung vào các cơ chế, biện pháp chủ động phát hiện sớm để phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm, khuyết điểm của tổ chức đảng và đảng viên. Đồng thời, xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và các quy định về phòng, chống tham nhũng, lãng phí gắn với cơ chế kiểm soát quyền lực và thi hành kỷ luật của Đảng; kỷ luật hành chính, xử lý bằng pháp luật gắn với việc xây dựng hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với cán bộ, công chức, viên chức để cán bộ, đảng viên “không thể tham nhũng”, “không dám tham nhũng” và “không cần tham nhũng”. Cùng với các quy định, chính sách, pháp luật để xử lý nghiêm minh đối với những vi phạm, cần có cơ chế để bảo vệ, khuyến khích những cán bộ, đảng viên, người đứng đầu dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, mạnh dạn đi đầu trong đổi mới vì sự phát triển của đất nước; việc đánh giá về các sai phạm cần đặt trong những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể để có quan điểm xử lý khách quan, đúng đắn, phù hợp. Đồng thời, kiên quyết đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phần tử xấu lợi dụng cuộc đấu tranh phòng, chống suy thoái, tham nhũng, “lợi ích nhóm”, tiêu cực để chia rẽ nội bộ, nói xấu lãnh đạo, bôi nhọ Đảng, Nhà nước và chế độ. Ba là, tăng cường sự phối hợp chặt chẽ và đồng bộ giữa các cơ quan kiểm tra, thanh tra, điều tra, kiểm toán và các cơ quan quản lý nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội trong hoạt động kiểm tra, giám sát Ủy ban kiểm tra các cấp tiếp tục tham mưu cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy cùng cấp sửa đổi, bổ sung, xây dựng ban hành mới quy chế phối hợp giữa UBKT với cơ quan điều tra, thanh tra, kiểm toán, kiểm sát, tòa án; tổ chức thực hiện có chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác KTGSKL đảng đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan theo hướng có cơ quan được giao chủ trì điều phối, phối hợp. Tăng cường sự phối hợp giữa công tác giám sát trong Đảng với công tác giám sát của Nhà nước (Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp) và giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội để tăng cường sức mạnh tổng hợp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát, kiểm tra, tránh chồng chéo, trùng lặp, lúng túng trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát. Coi trọng sơ kết, tổng kết việc phối hợp thực hiện công tác kiểm tra, giám sát giữa UBKT với các cơ quan, tổ chức liên quan để rút kinh nghiệm và đề ra chủ trương, biện pháp thực hiện đạt kết quả trong từng thời gian cụ thể. Bốn là, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng Cấp ủy các cấp đổi mới sự lãnh đạo, chỉ đạo thông qua việc ban hành đầy đủ, kịp thời các quy định của Đảng về xây dựng Đảng, công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức nghiên cứu, quán triệt triển khai thực hiện; thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện trong thực tế. Các cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT các cấp phải chủ động xây dựng phương hướng, nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát nhiệm kỳ, hằng năm có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp điều kiện, hoàn cảnh và thực hiện có kết quả. Phân công thành viên cấp ủy, tổ chức đảng phụ trách và tiến hành công tác kiểm tra, giám sát theo chức trách, nhiệm vụ, huy động các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát; khắc phục tình trạng chồng chéo trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng với các cơ quan nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội. Tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những lĩnh vực, địa bàn, vị trí công tác dễ xảy ra tiêu cực. Cấp ủy các cấp phải thường xuyên tự kiểm tra, nhất là đối với cấp ủy viên và cán bộ diện cấp ủy cấp mình quản lý, kịp thời chỉ ra những ưu điểm để phát huy, phát hiện những hạn chế, khuyết điểm để chủ động khắc phục, chấn chỉnh; tăng cường giám sát chuyên đề trên tất cả các địa bàn, lĩnh vực; trong đó, tập trung vào những nơi có biểu hiện mất đoàn kết nội bộ, có vấn đề phức tạp mới nảy sinh, dư luận xã hội quan tâm để chủ động nhắc nhở, cảnh báo, phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm từ sớm, từ xa. Cán bộ Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Hòa Bình tham mưu cho cấp ủy xây dựng, triển khai chương trình kiểm tra, giám sát năm 2021_Nguồn: baohoabinh.com.vn Các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy tăng cường phối hợp với UBKT cùng cấp tham mưu giúp cấp ủy tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách. Chi bộ tăng cường kiểm tra, giám sát đảng viên, kịp thời phát hiện, uốn nắn, khắc phục thiếu sót, khuyết điểm của đảng viên từ khi mới manh nha để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn xảy ra vi phạm trong nội bộ, ngay từ cơ sở. Ủy ban kiểm tra các cấp phải thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm theo Điều lệ Đảng và các quy định của Đảng; chủ động, tích cực tham mưu, giúp cấp ủy về công tác KTGSKL đảng. Ủy ban kiểm tra cấp trên tăng cường chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát cấp ủy, tổ chức đảng, UBKT cấp dưới trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát. Thực hiện tốt quy chế phối hợp giữa UBKT với các tổ chức đảng có liên quan; phối hợp chặt chẽ giữa công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với công tác thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử. Ủy ban kiểm tra các cấp tổ chức thực hiện toàn diện các nhiệm vụ theo quy định của Điều lệ Đảng và nhiệm vụ cấp ủy giao; trọng tâm là kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm với tinh thần chủ động hơn, nỗ lực quyết tâm cao hơn, hành động quyết liệt hơn, tập trung vào những nơi có vấn đề phức tạp, điểm “nóng”, những địa bàn, lĩnh vực dễ nảy sinh vi phạm, chú trọng những dấu hiệu suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, những vấn đề nổi cộm, gây bức xúc trong xã hội, như về các lĩnh vực kinh tế - tài chính, hành chính, tư pháp, y tế, giáo dục, quản lý báo chí, sử dụng nguồn viện trợ của nước ngoài, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo và đặc biệt là công tác cán bộ. Tăng cường giám sát để giúp cho tổ chức đảng, đảng viên kịp thời chấn chỉnh, khắc phục, sửa chữa khuyết điểm, vi phạm, không để khuyết điểm kéo dài trở thành vi phạm, vi phạm nhỏ trở thành vi phạm lớn, vi phạm của một người trở thành vi phạm của cả tập thể. Việc xử lý kỷ luật phải nghiêm minh, kịp thời, không có vùng cấm, không có ngoại lệ; song, phải trên tinh thần nhân văn, “trị bệnh cứu người”, mục đích là làm cho tổ chức đảng, đảng viên tiến bộ hơn, thực hiện tốt hơn nhiệm vụ chính trị. Việc đánh giá, xử lý các sai phạm cần đặt trong những điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể để có quan điểm xử lý khách quan, đúng đắn, phù hợp. Công khai kết quả xử lý các vụ, việc trên các phương tiện thông tin đại chúng để phát huy tối đa hiệu quả, tác dụng trong phòng ngừa, giáo dục, răn đe, cảnh tỉnh các vi phạm có thể xảy ra, tạo đồng thuận và hiệu ứng tốt trong xã hội, không để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước. Đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả đối với việc tổ chức triển khai thực hiện các thông báo kết luận, kiến nghị qua công tác kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật của Đảng; bảo đảm các nội dung kết luận, kiến nghị được thực hiện đầy đủ, kịp thời. Năm là, đổi mới, kiện toàn ủy ban kiểm tra, tổ chức bộ máy và cơ quan ủy ban kiểm tra đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới Thống nhất mô hình tổ chức bộ máy cơ quan UBKT từ Trung ương đến cấp huyện, bảo đảm tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đánh giá hiệu quả của việc sáp nhập cơ quan UBKT với cơ quan thanh tra cùng cấp tại một số địa phương, đơn vị đã thực hiện. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ kiểm tra các cấp theo hướng chuyên nghiệp hóa, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Cán bộ kiểm tra phải có phẩm chất đạo đức cách mạng, có bản lĩnh chính trị, tính chiến đấu cao, có kinh nghiệm công tác xây dựng Đảng, kỹ năng nghiệp vụ thuần thục, phương pháp công tác khoa học, dân chủ, thận trọng, chặt chẽ; nắm vững và thực hiện đúng các nguyên tắc, thẩm quyền, quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, cần đổi mới công tác tuyển dụng, bố trí, phân công, đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng đối với cán bộ kiểm tra; có chế độ, chính sách đãi ngộ phù hợp đối với cán bộ kiểm tra và chế độ, chính sách thu hút cán bộ có chuyên môn giỏi và phẩm chất chính trị tốt về làm công tác kiểm tra. Tiếp tục hoàn thiện, đổi mới nội dung chương trình, hình thức, phương pháp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kiểm tra theo hướng chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa về công tác KTGSKL đảng bằng giáo trình đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh, ngạch bậc và đội ngũ giảng viên, báo cáo viên bảo đảm điều kiện, tiêu chuẩn. Sáu là, đổi mới công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng Quan tâm đầu tư nghiên cứu nâng cao khả năng dự báo về tình hình vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên, nhất là những vi phạm mới do tác động bởi những mặt trái của toàn cầu hóa, cơ chế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển nhanh chóng của khoa học  - công nghệ mới,... để đề ra các chủ trương, biện pháp phát hiện, phòng ngừa, ngăn chặn khuyết điểm, vi phạm từ xa, từ sớm. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ tham mưu chiến lược và cán bộ, chuyên gia theo hướng nghiên cứu lý luận gắn với tổng kết thực tiễn về công tác kiểm tra, giám sát; liên kết với các học viện, trường đại học, viện nghiên cứu để xây dựng đội ngũ cán bộ nghiên cứu vừa có kiến thức lý luận, vừa am hiểu thực tiễn; hoàn thiện hệ thống lý luận về kiểm tra, giám sát gắn với kiểm soát quyền lực trong điều kiện một đảng cầm quyền. Tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, học tập, trao đổi kinh nghiệm về công tác KTGSKL đảng với các đảng cộng sản và với các nước trên thế giới trong việc giám sát, kiểm soát quyền lực và phản biện xã hội./.

Bảo đảm chất lượng đại biểu Quốc hội để nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội ngày 23-5-2021 sắp tới sẽ lựa chọn những đại biểu Quốc hội bảo đảm đầy đủ tiêu chuẩn và chất lượng, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho việc kiến tạo, xây dựng bộ máy nhà nước hoạt động hiệu lực, hiệu quả của nhiệm kỳ mới. Đây cũng là điều kiện tiên quyết bảo đảm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của Quốc hội khóa XV. Theo luật định thì nhiều chức danh cao cấp trong bộ máy nhà nước ở Trung ương phải là đại biểu Quốc hội. Điều 8, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2020 quy định: - Quốc hội bầu Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội và các Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong số các đại biểu Quốc hội theo danh sách đề cử chức vụ từng người của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội bầu Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo đề nghị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa trước. - Quốc hội bầu Chủ tịch nước trong số các đại biểu Quốc hội theo đề nghị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Quốc hội bầu Phó Chủ tịch nước trong số các đại biểu Quốc hội theo đề nghị của Chủ tịch nước. - Quốc hội bầu Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội trong số các đại biểu Quốc hội theo đề nghị của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. - Quốc hội bầu Thủ tướng Chính phủ trong số các đại biểu Quốc hội theo đề nghị của Chủ tịch nước. Điều 67 của Luật này còn quy định: Các Phó Chủ tịch, Ủy viên thường trực, Ủy viên chuyên trách và các Ủy viên khác của Hội đồng Dân tộc; các Phó Chủ nhiệm, Ủy viên thường trực, Ủy viên chuyên trách và các Ủy viên khác của Ủy ban do Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn. Đương nhiên những người nắm giữ các chức danh nói trên phải là đại biểu Quốc hội, ngoài ra, trong nhiều khóa, các chức danh Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao thường là đại biểu Quốc hội. Đại biểu Quốc hội đạt được chất lượng cao tối ưu là những đại biểu đạt 5 tiêu chuẩn ở cấp độ cao nhất, có phẩm chất đạo đức, năng lực, trình độ, trí tuệ, tinh thần trách nhiệm cao, luôn luôn tận tâm, nhiệt huyết với công việc và có bản lĩnh. Những đại biểu như thế khi được Quốc hội bầu, phê chuẩn nắm giữ các chức danh trong bộ máy nhà nước sẽ hành động quyết liệt, sẽ làm cho bộ máy hoạt động có hiệu lực và hiệu quả cao nhất trong khả năng có thể. Lần bầu cử này, trong khoảng 66 triệu người ở độ tuổi ứng cử (21 tuổi trở lên), lựa chọn lấy 500 người vào “cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” như Điều 69, Hiến pháp năm 2013 đã quy định là việc không đơn giản. Trong Quốc hội lại có nhiều đại biểu là đảng viên, do đó rất cần tham khảo và vận dụng đúng đắn, hợp lý khung tiêu chuẩn chức danh về mặt chính trị để bảo đảm lựa chọn được những đại biểu tiêu biểu nhất. Đó là những người: “Mẫu mực về phẩm chất đạo đức; cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư; không tham vọng quyền lực, có nhiệt huyết và trách nhiệm cao với công việc; là trung tâm đoàn kết, gương mẫu về mọi mặt; không tham nhũng, lãng phí, cơ hội, vụ lợi; kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, cửa quyền và lợi ích nhóm; tuyệt đối không trục lợi và cũng không để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi”(1). … Đến những tiêu chuẩn cụ thể Theo tinh thần chỉ đạo chung về bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV, phải áp dụng đồng bộ, đầy đủ một hệ thống các cách thức, biện pháp cụ thể mà các văn bản của Hội đồng Bầu cử quốc gia, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã ban hành; mặt khác, phải có thông tin đầy đủ, cụ thể của các ứng cử viên để cử tri thuận đường lựa chọn. Ở một vài cuộc bầu cử trước đây, không ít cử tri đã nói, chúng tôi không biết gì nhiều về các ứng cử viên, bởi vì trong lý lịch trích ngang của ứng cử viên (cung cấp cho cử tri) chỉ có các thông tin họ tên, tuổi, quê quán, trú quán; trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ, quá trình học tập và công tác... Khi tiếp xúc cử tri vận động bầu cử, ứng cử viên cũng chỉ trình bày chương trình hành động của mình nếu trúng cử... Như vậy, qua thực tế các cuộc bầu cử, cử tri rất mong muốn được biết cụ thể, thực chất “con người bên trong” của ứng cử viên. Ví dụ, tiêu chuẩn 1, “Trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp... Có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam”. Cử tri rất muốn biết ứng cử viên đã và đang làm gì để tỏ ra là trung thành. Nếu ứng cử viên là đảng viên thì cử tri còn muốn biết rõ có suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” không? Và các ứng cử viên nói chung có quốc tịch khác không? Có một thực tế khác là, những người có tài mà thiếu đức thì họ rất khéo léo, tinh vi trong việc che đậy thiếu sót, khuyết điểm, họ nói năng khéo léo, hoạt bát, linh lợi tới mức mà các cụ bảo rằng, lời nói làm “con rắn trong lỗ cũng phải bò ra”. Thực tế cũng đã có vị nguyên lãnh đạo cấp cao mắc tội tham nhũng, một lần nhận hối lộ tới 200.000 USD, vậy mà đã viết sách dạy thiên hạ chống “tự diễn biến”... Vì vậy, phải minh bạch, phải làm sáng rõ sự thật bên trong của mỗi con người. Về quốc tịch, thực tế đã từng có ứng cử viên không khai mình có hai quốc tịch nên đã bị Hội đồng Bầu cử quốc gia phát hiện và không công nhận trúng cử. Hay là tiêu chuẩn 2: “... có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền và các hành vi vi phạm pháp luật khác”. Cử tri rất muốn biết từng hành vi cụ thể của mỗi ứng cử viên trong tiêu chuẩn này. Ứng cử viên có cam đoan và chứng minh được rằng, mình hoàn toàn trong sạch, không tham nhũng, bản thân và gia đình không liên quan gì đến tham nhũng không? Tài sản của ứng cử viên có “sạch sẽ”, có tương xứng với khả năng lao động, năng lực làm việc không? Trong lúc này, đây là những vấn đề cực kỳ quan trọng; nếu phát hiện được trước, loại bỏ ngay sẽ tốt hơn là để họ lọt vào bộ máy nhà nước, sau đó mới phát hiện, xử lý. Các tiêu chuẩn số 3, 4 và 5 cũng như vậy. Cử tri muốn biết tường tận uy tín, sự tín nhiệm và quan hệ của ứng cử viên với nhân dân như thế nào? Nói một cách tổng quát là, thông qua các tiêu chuẩn của đại biểu dân cử, cử tri muốn nắm bắt, hiểu biết được một cách sâu sắc, cụ thể, tường tận những quy định thuộc tiêu chuẩn mà ứng cử viên đã thể hiện trong thực tế cuộc sống để yên tâm lựa chọn chính xác trước khi quyết định, khắc phục tình trạng so đo bầu theo tuổi tác, vị trí, chức vụ, theo trình độ học vấn từ cao đến thấp. Nguyện vọng mong muốn thấu hiểu ứng cử viên của cử tri nhằm lựa chọn cho được những người nổi trội nhất là hoàn toàn chính xác và chính đáng. Hiện nay theo quy định, trong tiếp xúc cử tri vận động bầu cử, cử tri đã được biết hai tài liệu về ửng cử viên, đó là tiểu sử tóm tắt (lý lịch trích ngang) và chương trình hành động. Song những tài liệu đó chưa đủ thông tin để cử tri nắm được thực chất bên trong của mỗi ứng cử viên. Thực ra, những nội dung của ứng cử viên mà cử tri muốn biết rõ hơn cũng đã có trong 4 loại văn bản của ứng cử viên (đơn ứng cử; sơ yếu lý lịch; tiểu sử tóm tắt và bản kê khai tài sản). Khi ứng cử viên được giới thiệu về ứng cử ở địa phương, được phân chia về các đơn vị bầu cử có nghĩa là những nội dung đó đã được các cấp có thẩm quyền xác nhận là đã được bảo đảm (Khoản 3, Điều 57, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân hiện hành đã nói rõ: “Căn cứ vào danh sách những người đủ tiêu chuẩn ứng cử đại biểu Quốc hội được Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu, Hội đồng Bầu cử quốc gia gửi đến Ủy ban bầu cử ở tỉnh danh sách và hồ sơ những người được giới thiệu về ứng cử tại địa phương”). Vấn đề là, cử tri phải được thông báo những xác nhận, những kết luận đó. Do đó, rất cần thông báo trong các buổi tiếp xúc cử tri vận động bầu cử văn bản đánh giá cụ thể mức độ đạt được các tiêu chuẩn của luật định đối với mỗi ứng cử viên mà các cấp có thẩm quyền cấp trên đã xác nhận. Trong đó, có phần tự nhận xét, đánh giá của bản thân ứng cử viên; xác nhận của nơi giới thiệu người làm ứng cử viên, có nhận xét của nơi làm việc về quan hệ với quần chúng lao động, nhận xét của nơi cư trú về quan hệ với nhân dân, ở cả hai nơi về mức độ uy tín, tín nhiệm; đánh giá của cơ quan có thẩm quyền về sự trung thực trong kê khai tài sản và về kỷ luật Đảng, chính quyền, đoàn thể (nếu có). Đây vừa là giải pháp giúp cử tri lựa chọn đúng người xứng tầm, vừa là giải pháp tiếp tục phát huy dân chủ, công khai đầy đủ thông tin về ứng cử viên và thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân - cử tri.

Chất lượng đại biểu Quốc hội quyết định hiệu quả hoạt động của Quốc hội

Cùng với 3 chức năng hoạt động của Quốc hội là lập pháp, giám sát tối cao đối với hoạt động nhà nước và quyết định các vấn đề quan trọng của quốc gia, nhưng ở mỗi thời kỳ, khi trình độ phát triển của khoa học - kỹ thuật khác nhau thì nội dung và yêu cầu của việc thực hiện các chức năng đó cũng khác nhau theo hướng ngày càng cao hơn, tiến bộ hơn, ngang tầm với tiến bộ khoa học - kỹ thuật của thời đại. Điều đó lý giải vì sao ngày càng phải nâng tầm chất lượng đại biểu Quốc hội. Song song với tiêu chuẩn về phẩm chất, đạo đức, lối sống thì trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực, trí tuệ cao là điều kiện tiên quyết để đại biểu có thể đóng góp tích cực, có hiệu quả vào các hoạt động của Quốc hội. Lấy công tác xây dựng pháp luật làm ví dụ. Từ thập niên 90 của thế kỷ XX trở về trước, khi xây dựng một đạo luật, về cơ bản là căn cứ vào tình hình đất nước, yêu cầu của thực tiễn mà Quốc hội quyết định nội dung của một đạo luật. Ngày nay, khi Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, toàn diện và ký kết khá nhiều điều ước quốc tế, thì luật pháp Việt Nam phải chịu một “áp lực” mới, đó là nhiều quy định vừa phải xử lý được thực tiễn của công cuộc đổi mới ở trong nước, vừa phải phù hợp với thông lệ quốc tế trong khi thể chế chính trị của nước ta về căn bản là khác so với nhiều nước phương Tây. Một “áp lực” khác có thể còn nặng nề hơn, đó là chúng ta đã ký kết, tham gia và thực hiện một loạt hiệp định thương mại tự do (FTA), đặc biệt là các FTA thế hệ mới có tiêu chuẩn cao và toàn diện hơn, như Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) không chỉ đem lại cơ hội mà còn có nhiều rủi ro và thách thức, trước hết là việc hoàn thiện khuôn khổ pháp luật và thể chế; tiếp đến là thách thức trong việc thực thi pháp luật lao động, công đoàn, môi trường..., thách thức về bảo đảm ổn định chính trị, xã hội... Tất cả những vấn đề đó đòi hỏi đại biểu Quốc hội phải có tư duy chính trị vững vàng, có tầm hiểu biết sâu rộng mới có thể có ý kiến xác đáng góp phần hoàn thiện được từng đạo luật và toàn bộ hệ thống pháp luật trong điều kiện mới. Tương tự như vậy, đối với hoạt động giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của quốc gia. Nếu trong điều kiện cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ ba (ứng dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa nhiều công việc) mà hoạt động giám sát và quyết định nhiều vấn đề đã gặp rất nhiều khó khăn thì cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (kết hợp tất cả các công nghệ lại với nhau, làm lu mờ, xóa nhòa ranh giới giữa nhiều lĩnh vực) thì hoạt động giám sát và quyết đáp nhiều việc lớn chắc chắn sẽ còn gặp nhiều khó khăn hơn nữa. Để hiểu rõ vấn đề trên, xin mở ngoặc nói thêm: Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất là sử dụng năng lượng nước và hơi nước để cơ giới hóa các công việc. Cách mạng công nghiệp lần thứ hai diễn ra nhờ ứng dụng điện năng để sản xuất hàng loạt. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ ba là ứng dụng điện tử và công nghệ thông tin để tự động hóa nhiều công việc. Còn cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư được nảy nở từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ ba, kết hợp các công nghệ lại với nhau, làm lu mờ ranh giới giữa vật lý, kỹ thuật số và sinh học. Công nghiệp 4.0 tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các nhà máy, các công sở thông minh, sự phát triển của in-tơ-nét vạn vật, giúp tạo ra các bản sao ảo của thế giới vật lý cho phép mọi người ở khắp nơi trên trái đất kết nối với nhau thông qua mạng in-tơ-nét dịch vụ bằng các thiết bị di động ở mọi lúc, mọi nơi. Hiện nay giám sát hoạt động của Chính phủ điện tử đã rất khó khăn, nay mai giám sát hoạt động của Chính phủ số, nền kinh tế số, xã hội số..., có lẽ sẽ còn khó khăn hơn nhiều. Bởi vậy, nhiều đại biểu Quốc hội đã rất quan tâm đến vấn đề này. Tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIV (tháng 11-2020), trong một phiên chất vấn, một số đại biểu đã chất vấn về nội dung này, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông đã trả lời sự khác nhau giữa Chính phủ điện tử và Chính phủ số, có thể tóm tắt như sau: Chính phủ điện tử là tin học hóa các quy trình đã có, còn Chính phủ số là cung cấp các dịch vụ mới theo nhu cầu của người dân và doanh nghiệp. Chính phủ điện tử tập trung vào dịch vụ công trực tuyến, Chính phủ số thì chuyển mọi hoạt động của Chính phủ lên môi trường số, hoạt động dựa trên dữ liệu và cung cấp thêm các dịch vụ mới. Chính phủ điện tử chủ yếu dùng công nghệ thông tin, Chính phủ số dùng công nghệ số, nhất là công nghệ của công nghiệp 4.0... Từ đó cho thấy, đại biểu Quốc hội khóa mới phải là những đại biểu có ý thức cập nhật được những thông tin mới về tiến bộ khoa học - kỹ thuật; theo dõi, nắm bắt được hoạt động thực tiễn của các cơ quan nhà nước, các hoạt động của doanh nghiệp, của xã hội trong điều kiện công nghiệp 4.0 để phục vụ cho hoạt động của đại biểu, trong đó có hoạt động giám sát và góp phần quyết sách những vấn đề có tầm cỡ quốc gia. Chất lượng hoạt động của Quốc hội còn phụ thuộc với mức độ lớn vào năng lực, trình độ khoa học - kỹ thuật của đại biểu, trong điều kiện Quốc hội có phạm vi hoạt động rất rộng, bao gồm toàn bộ nền kinh tế - xã hội, toàn bộ các hoạt động của một xã hội. Trong khi đó, các đại biểu Quốc hội phần lớn chỉ được đào tạo và hoạt động trong một hoặc hai lĩnh vực chuyên ngành, chỉ có một số rất ít đại biểu có hai, ba chuyên ngành. Đại biểu không thể “ngồi yên” chờ đến khi thảo luận đến lĩnh vực hoạt động của mình rồi mới tham gia phát biểu, mà trách nhiệm là phải tỏ rõ chính kiến trong mỗi vấn đề. Bởi vậy, trong nhiệm kỳ 5 năm, thì ngay từ năm đầu tiên đại biểu đã phải tự đào tạo, truy cập thông tin, cập nhật kiến thức một cách “thần tốc” mới làm tốt được nhiệm vụ đại biểu theo luật định. Chức năng lập hiến, lập pháp cũng cho ta thấy, ngoài việc xây dựng Hiến pháp và những đạo luật chung, như Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự. Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự... thì nói chung, các luật chuyên ngành, ngành nào cũng phải có luật điều chỉnh hoạt động. Nói cách khác, Quốc hội phải lần lượt xây dựng, sửa đổi, bổ sung tất cả các luật chuyên ngành. Bởi vậy, trong cơ cấu đại biểu Quốc hội phải có các đại biểu làm công tác khoa học - kỹ thuật thực thụ, trong đó, các lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội đều phải có các nhà khoa học của lĩnh vực đó. Nhân lực làm luật chuyên ngành thường gồm ba loại chuyên gia: chuyên gia pháp luật, chuyên gia chuyên môn, nghiệp vụ của lĩnh vực và chuyên gia ngôn ngữ học, trong đó, chuyên gia chuyên môn, nghiệp vụ của lĩnh vực chuyên ngành là vô cùng quan trọng. Do vậy, trong cuộc bầu cử lần này, cần chú ý chỉ đạo để bảo đảm cơ cấu, số lượng đại biểu thích đáng là các nhà khoa học của các lĩnh vực chủ yếu, để góp phần khắc phục những khó khăn, bất cập nói trên. Cử tri tìm hiểu kỹ tiểu sử của từng ứng cử viên để bầu ra những người xứng đáng nhất làm đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp _Ảnh: Tư liệu Cuối cùng, nói đến phẩm chất đạo đức, năng lực, trí tuệ... không thể không nói đến bản lĩnh của đại biểu. Thực tế không phải không có những đại biểu có đạo đức phẩm chất tốt, năng lực, trí tuệ cao nhưng bản lĩnh lại không cao (nếu không muốn nói là thấp kém). Thực tế trong các kỳ họp của Quốc hội, khi thảo luận về các vấn đề kinh tế - xã hội, có đại biểu biết tường tận những hạn chế, khuyết điểm của các cơ quan trong bộ máy hành pháp và tư pháp, nhưng vì “lợi ích” cá nhân, lợi ích cục bộ địa phương nên họ thường im lặng, hoặc không nói đúng hiện trạng, mà chỉ nói theo kiểu đổ lỗi cho khách quan, thậm chí “bào chữa hộ”. Vì thế, có đại biểu đã than thở “ông ấy nói rất nhiều nhưng rốt cuộc chẳng nói gì cả!”. Trong các buổi thảo luận thông qua các dự án luật, có đại biểu biết chắc chắn, nếu thông qua dự thảo điều luật đó thì chỉ đem lại lợi ích riêng cho ngành trình dự án luật, còn xã hội chẳng có tác động gì nhiều (thậm chí còn có hại), nhưng đại biểu thuộc ngành đó không hề phát biểu làm rõ sự thật... Từ đó, có lẽ trong cuộc bầu cử tới cũng không nên để những người có trình độ văn hóa, có vị trí, chức tước cao, nhưng lại thiếu bản lĩnh “lọt vào” Quốc hội, trong khi Quốc hội rất cần những đại biểu dám nghĩ, dám làm, thực hiện đến cùng những vấn đề mình cho là đúng; dám đối diện với sự thật, luôn có trách nhiệm với mọi công việc và không ngần ngại thử thách chính mình. Với sự chỉ đạo chặt chẽ, sát sao của các tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở, cùng với việc tổ chức thực thi có hiệu quả các văn bản quy phạm pháp luật về bầu cử và các hướng dẫn của Hội đồng Bầu cử quốc gia, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng sự nỗ lực của các tổ chức chính trị - xã hội, nhất định cử tri cả nước sẽ chọn lựa được những đại biểu tiêu biểu nhất về phẩm chất đạo đức, có năng lực, trí tuệ cao và giàu bản lĩnh vào Quốc hội khóa XV./.

QUÂN ĐỘI CỦA DÂN

Quân đội Nhân dân Việt Nam chưa phải là một đội quân mạnh nhất trên thế giới - nhưng chưa có một đội quân mạnh nhất nào trên thế giới đánh bại được Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Vì sao ư? Vì Quân đội Nhân dân Việt Nam từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu, với khẩu hiệu: Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì Chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.
Sưu tầm

Kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo

     Lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam và những cuộc chiến tranh trên thế giới đã chứng minh cho hậu quả nghiêm trọng của xung đột vũ trang. Người dân Việt Nam hơn ai hết mong muốn hòa bình, ổn định và phát triển. Do đó, với vấn đề Biển Đông, ưu tiên hàng đầu của Việt Nam là giải quyết bất đồng bằng các biện pháp hòa bình. Chiến tranh chỉ là giải pháp cuối cùng, bất khả kháng để tự vệ và bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc.

    Nhân đây, cũng cần khẳng định lại rằng, bên cạnh việc kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông bằng các biện hòa bình, dựa trên chứng cứ pháp lý, lịch sử và luật pháp quốc tế, lực lượng vũ trang Việt Nam vẫn ngày đêm bám biển, sẵn sàng canh giữ và thực hiện các phương án bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.

    Cũng từ vấn đề Biển Đông, các thế lực thù địch rêu rao rằng Việt Nam đi với nước này chống nước kia. Thực tế có phải như vậy?

    Nên nhớ rằng, trong xu thế hợp tác và phát triển của thế giới, Việt Nam ngày càng mở rộng quan hệ, tăng cường hợp tác với nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế, song tuyệt nhiên không có tư tưởng và hành động dựa dẫm, ỷ lại hoặc "lôi bè kéo cánh" để giải quyết bất đồng về chủ quyền lãnh thổ. Chính sách không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế của Việt Nam, là những quan điểm, chính sách nhất quán, đến nay vẫn giữ nguyên giá trị. Bởi vậy, cái gọi là Việt Nam đi với nước này chống lại nước kia là luận điệu xuyên tạc, tuyệt nhiên không có trong đường lối đối ngoại, hoặc trong chủ trương giải quyết vấn đề Biển Đông mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xác định.

    Tiếc rằng, một số người vẫn dễ dàng sập bẫy bởi những quan điểm xuyên tạc kiểu này trên mạng xã hội hoặc trong lúc trà dư tửu hậu. Hậu quả là tâm lý của một bộ phận dư luận trong nước bất an, thậm chí dẫn tới những hành động gây mất ổn định trật tự xã hội, ít nhiều làm tổn hại đến những nỗ lực của Việt Nam và các nước liên quan trong giải quyết vấn đề Biển Đông.

    Suy cho cùng, vấn đề Biển Đông không phải là việc có thể giải quyết trong một sớm một chiều, mà cần sự kiên trì, lâu dài. Để góp phần đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc, mỗi người dân Việt Nam yêu nước rất cần có cái nhìn khách quan về tình hình Biển Đông, về đường lối, chủ trương giải quyết vấn đề này của Đảng và Nhà nước, đồng thời tỉnh táo, cảnh giác, phản bác mạnh mẽ các luận điệu xuyên tạc, kích động mà những phần tử xấu đã và đang rắp tâm tạo ra.

Giải quyết vấn đề Biển Đông - rất cần cái nhìn khách quan

 

    Trước hết, phải tái khẳng định rằng, chủ quyền quốc gia là không thể từ bỏ và đây cũng là nguyên tắc bất biến trong quá trình dựng và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Riêng với vấn đề Biển Đông, những người đứng đầu Đảng, Nhà nước, Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng Việt Nam đã nhiều lần khẳng định, Việt Nam có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển ở Biển Đông được xác định theo đúng các quy định của Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) mà Việt Nam và các nước ở Biển Đông đều là thành viên. Với vấn đề chủ quyền lãnh thổ nói chung và vấn đề Biển Đông nói riêng, lập trường nhất quán của Việt Nam là giải quyết mâu thuẫn thông qua thương lượng hòa bình trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982 và Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).

    Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng, Nhà nước luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, cụ thể là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao... Những năm gần đây, khi vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao, chúng ta càng có thêm nhiều cơ hội để đưa ra tiếng nói, khẳng định chủ quyền ở Biển Đông tại các cơ chế, diễn đàn đa phương. Ví dụ điển hình nhất là trong thời gian đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021, Việt Nam đã nhiều lần nêu vấn đề Biển Đông để cộng đồng quốc tế có cái nhìn khách quan, đúng đắn về vấn đề này.Bởi vậy, dù tình hình trên biển nhiều lúc căng thẳng, phức tạp, Việt Nam vẫn đạt được mục tiêu, đó là giữ vững chủ quyền biển, đảo, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, không để xảy ra xung đột. Qua đó càng chứng minh chủ trương, đường lối, chính sách giải quyết bất đồng trên Biển Đông của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế chung của thế giới.

    Ấy vậy mà gần đây, trước những thông tin mới về tình hình Biển Đông, dù chưa biết diễn biến ở thực địa "nóng, lạnh" ra sao, một số đối tượng vẫn “cầm đèn chạy trước ô tô”, kích động dư luận bằng những nhận định xuyên tạc, bóp méo sự thật... Những luận điệu đó thực chất là chiêu bài kích động hận thù dân tộc, khiến cho tình hình thêm căng thẳng, nhằm thực hiện chia rẽ nội bộ và làm căng thẳng quan hệ đối ngoại của Việt Nam, mưu đồ tạo ra một cuộc xung đột quân sự với hậu quả khó lường.

    


Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền chống phá Việt Nam.

 


Các thế lực thù địch vẫn đang chống phá Việt Nam bằng chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm lật đổ chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; chủ trương từng bước diễn biến và tự diễn biến; chúng xác định mũi tiến công về dân tộc, tôn giáo là “ngòi nổ” của toàn bộ chiến lược; tiến công về dân chủ, nhân quyền để gây rối, kích động, bóp méo kết hợp với răn đe, uy hiếp về quân sự. Do đó, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch luôn gắn liền và thống nhất trong quá trình giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam hiện nay.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TƯ TƯỞNG, GIỌNG ĐIỆU LẠC LÕNG VỚI SỰ HY SINH TÍNH MẠNG CỦA NHỮNG CÁ NHÂN TIÊN TIẾN TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI!

 SÂN SI VỚI ANH HÙNG


Thú thực, là một bộ phận cộng đồng mạng rất tàn nhẫn và vô tâm.

Hôm trước đọc ở đâu đó một bài viết về sự ra đi của bạn sinh viên Nguyễn Văn Nhã sau khi cứu 4 bạn nữ sinh viên khỏi tay của “thần biển”, có một vài bình luận nói rằng, sự ra đi của Nhã là một sự hi sinh đầy bao đồng, để lại một khoảng trống mênh mông trong lòng bố mẹ và gia đình, còn những người được cứu chưa chắc đã biết ơn và họ sẽ nhanh chóng quên đi để sống tiếp. Có một vài người độc mồm hơn, nói Nhã là một người “bất hiếu với gia đình”, chữ “hiếu” là nặng nhất mà bạn Nhã lại không làm tròn được.

Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đề nghị chính quyền cơ sở công nhận bạn là một liệt sĩ. Thì có một vài bình luận, tại một số diễn đàn hóng biến, nói rằng việc công nhận liệt sĩ chỉ dành cho quân nhân khi làm nhiệm vụ, không dành cho dân thường, rồi chính quyền sử dụng danh hiệu ấy tràn lan, dùng để tuyên truyền là chính. Nhưng họ không biết rằng, tại Điều 11, Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng sửa đổi 2012 có ghi rõ, người được phong tặng danh hiệu liệt sĩ nếu họ “dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân”. Tại một trang báo chí phản động, còn giật một tiêu đề rất bố láo: “Người hùng chết đuối còn chính quyền treo huy chương tuyên truyền”, và một đám người được thế lao vào hạ thấp sự ra đi của bạn Nhã.

Tối qua, ĐH Huế làm lễ tưởng niệm và vinh bạn Nhã ngay tại khuôn viên trường, nơi mà người anh hùng của chúng ta đã gắn bó trong mấy năm học. Cả nhà trường và gia đình đều có nguyện vọng tấm bằng tốt nghiệp sẽ xuất hiện trên ban thờ của bạn ấy. Vậy mà, tự dưng khi đang cảm động và lại bị nghẹn, khi xuất hiện một vài ý kiến cho rằng trường và các bạn sinh viên làm màu, không lo chống dịch mà lại tập trung đông, người mất rồi thì hỗ trợ tiền hay làm gì thiết thực hơn đi (?)

Đã rất nhiều lần, có những sự phán xét rất lạ kỳ, hay đúng hơn là rất dở hơi của một bộ phận cộng đồng mạng lại xảy ra, từ câu chuyện của anh Trần Văn Tròn cứu 3 em học sinh, rồi vụ việc anh Mạnh cứu cháu bé rơi từ trên tầng cao xuống… Họ dường như là luôn muốn hạ thấp những việc mà người khác làm, cho dù những việc đó cao thượng thế nào đi chăng nữa. Điều gì khiến một số người trong cộng động làm vậy? Dân trí kém? Hay vì một điều gì khác?

Xin mượn một đoạn văn từ BEATVN: “Có người hỏi rằng khi quyết định xả thân cứu người, họ có nghĩ gì không? Có biết sẽ nguy hiểm ra sao? Phải đánh đổi nhường nào không? Rất nhiều giả thuyết phức tạp được đặt ra, nhưng câu trả lời đơn giản lắm: Họ chả nghĩ cái gì hết. Thấy người bị nạn, thì cứu, có vậy thôi. Thời gian đâu mà suy tính thiệt hơn….”

Việc chính quyền xét danh hiệu liệt sĩ cho bạn Nhã là một việc rất phù hợp với pháp luật, đạo đức và dư luận. Việc này nhằm hỗ trợ cho gia đình bạn ấy trong cuộc sống sau này, khuyến khích một lối sống tốt đẹp và là một sự ghi nhận lớn lao về những gì mà bạn ấy đã làm cho người khác. Chứ chẳng phải một mục đích quảng bá hay trục lợi gì cả. Cuộc sống của bạn đen tối và hằn học, nhưng với người khác thì không như vậy, đừng có cố gắng phủ bóng đen suy nghĩ chủ quan bản thân vào người khác.

Dám chắc rằng, với cá nhân bạn Nhã, những chiến sĩ cứu hỏa, hay với bất cứ ai xả thân cứu người, họ sẽ không hề nghĩ đến việc được vinh danh như thế nào, nhận tiền hay hiện vật ra sao. Và với tâm thế của những người như chúng ta, cả những người được cứu sống, việc cần làm là phải vinh danh họ và chỉ duy nhất một điều ấy mà thôi, không xét lại, không đánh giá, không hạ thấp, không moi móc đời tư hay bàn luận về cuộc sống nhiều.

Lỗ Tấn viết: “Người ta chỉ chết hẳn khi họ chết trong lòng những người còn sống”.

Các ngôi sao có thể chết nhiều năm trước khi chúng thực sự biến mất giữa vũ trụ. Phải mất nhiều thời gian để ánh sáng của chúng mờ đi, có nhiều ngôi sao vẫn được chúng ta nhìn thấy ngay cả khi chúng đã lụi tàn. Cuộc sống có thể kết thúc, nhưng ký ức về cuộc sống đó vẫn tiếp tục.

Yêu nước.ST

Nêu cao vai trò của lực lượng vũ trang cùng toàn dân giải quyết tốt vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền.

 


Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của lực lượng vũ trang là làm nòng cốt cho toàn dân giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nói chung và nhất là các điểm “nóng”, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Đây chính là thực hiện quyền thiêng liêng của con người, của nhân dân các dân tộc Việt Nam là được sống trong độc lập, tự do, tự mình quyết định vận mệnh của mình.

Cùng với việc phát huy vai trò của lực lượng vũ trang trong xây dựng các tiềm lực, thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân làm kế sách lâu dài để giữ nước. Lực lượng vũ trang cần làm tốt vai trò tiên phong cùng toàn dân giữ vững chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, đồng thời giải quyết tốt vấn đề dân tộc, tôn giáo trên các địa bàn trọng điểm như Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam Bộ; nhất là đấu tranh phòng chống có hiệu quả âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá cách mạng, gây rối an ninh trật tự, tạo cớ can thiệp, xâm lược Việt Nam.

Phát huy vai trò tiên phong của lực lượng vũ trang trong tuyên truyền, giáo dục đồng bào các dân tộc về quan điểm, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam; âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo của các thế lực thù địch. Giúp đỡ nhân dân xóa đói, giảm nghèo, xóa các hủ tục lạc hậu, tốn kém; phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, nâng cao dân trí. Giúp đỡ nhân dân xây dựng hệ thống chính trị, đội ngũ cán bộ con em các dân tộc; phát huy tốt vai trò của già làng, trưởng bản, những người có uy tín trong cộng đồng dân cư… Xây dựng thế trận lòng dân vững chắc.

Đổi mới chính sách và phương thức giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam hiện nay.

 


Phải có chính sách cụ thể gắn với từng dân tộc, tôn giáo, từng vùng miền, phù hợp với đặc điểm tâm lý, nét văn hóa; không nên rập khuôn máy móc. Việc di dời dân phục vụ cho các công trình của Nhà nước phải được tính toán kỹ lưỡng, không chỉ là việc chăm lo việc ăn, ở sinh hoạt mà quan trọng hơn là sản xuất, việc làm, điều kiện học hành, chăm sóc sức khỏe, tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào.

Phương thức giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa cũng cần phải có phương án tổng thể, cần phối hợp chặt chẽ với các chương trình, các dự án phát triển kinh tế - xã hội tạo nên sức mạnh tổng hợp và đỡ thất thoát, lãng phí.

Tỷ lệ hộ nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số rất cao so với bình quân chung của cả nước, khoảng cách chênh lệch giàu nghèo còn khá lớn và ngày càng gia tăng; trình độ phát triển giữa các vùng có cách biệt lớn và có xu hướng mở rộng, tỷ lệ tái nghèo cao. Cần phải thay đổi phương thức xóa đói, giảm nghèo ở miền núi, kết hợp sự nỗ lực của mỗi hộ dựa trên thế mạnh của đồi rừng là tự cung, tự cấp, tự trang trải với đầu tư của Nhà nước vào những việc như xóa nhà tạm, cấp nước sinh hoạt và các dịch vụ khác, quan trọng hơn là đường hướng sản xuất để ổn định lâu dài.

Củng cố và nâng cao chất lượng và hiệu lực hoạt động của hệ thống chính trị các cấp; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức; nhất là ở vùng miền núi, đồng bào dân tộc, tôn giáo.

 


Hệ thống tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể và đội ngũ cán bộ các cấp là đại biểu của dân về ý chí, nguyện vọng và lợi ích. Nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của những yếu tố cấu thành hệ thống chính trị các cấp vừa là nhằm thực hiện dân chủ, quyền con người, quyền của dân tộc, tôn giáo vừa là công cụ hữu hiệu để giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền.

Đổi mới hệ thống chính trị các cấp thực chất là nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, không phải đổi mới bản chất chính trị. Đổi mới hệ thống chính trị phải nắm chắc mục đích và nguyên tắc của quá trình đổi mới; một tư tưởng bao trùm là thực hiện quyền lực của nhân dân và mang lại lợi ích cho nhân dân, cán bộ là công bộc của nhân dân.

Đội ngũ cán bộ, đảng viên và công chức nhà nước là người đại diện cho nhân dân, thực thi quyền lực của nhân dân, mang lại lợi ích cho nhân dân. Đội ngũ này phải có phẩm chất và năng lực tốt, thực sự tận tụy phục vụ nhân dân. Trước hết đội ngũ này phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện khắc phục triệt để chủ nghĩa cá nhân, những biểu hiện quan liêu, cửa quyền, nhũng nhiễu quần chúng; đề cao phê bình và tự phê bình, chân thành tiếp thu ý kiến đóng góp của nhân dân, thực sự cầu tiến bộ.

Đội ngũ cán bộ, đảng viên ở các địa phương vùng núi, vùng đồmg bào dân tộc thiểu số vừa yếu, vừa thiếu. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, có tín ngưỡng tôn giáo là nhiệm vụ cấp bách hiện nay; vừa phải có kế hoạch bổ túc, bồi dưỡng để đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa phải đào tạo cơ bản để đáp ứng yêu cầu cơ bản, lâu dài. Chăm lo xây dựng cơ quan, đội ngũ cán bộ chuyên trách về công tác dân tộc, tôn giáo tinh thông về nghiệp vụ, có trách nhiệm cao, gắn bó với đồng bào để làm hạt nhân tham mưu đắc lực cho lãnh đạo, chính quyền giải quyết những vấn đề dân tộc, tôn giáo cụ thể.

Phát triển kinh tế - xã hội, kết hợp chặt chẽ với quốc phòng, an ninh ở miền núi, vùng biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo ở Việt Nam hiện nay.

 


Phát triển kinh tế - xã hội kết hợp chặt chẽ với quốc phòng, an ninh ở vùng núi, biên giới, hải đảo là một đòi hỏi khách quan vì đó là những địa bàn sung yếu, phên dậu của Tổ quốc. Phát triển kinh tế - xã hội là giải pháp cơ bản, quyết định nhất, nhưng cũng là một việc làm khó khăn, phức tạp đòi hỏi phải có sự tích cực vươn lên của chính đồng bào các dân tộc thiểu số và ưu tiên đặc biệt về vật chất, con người, khoa học công nghệ… của Nhà nước.

Hoàn thiện và củng cố cơ sở hạ tầng; tạo sự thông thương dễ dàng miền ngược và miền suôi, giữa các vùng núi với nhau, giữa Việt Nam với các nước láng giềng, tạo dựng hành lang cho sự phát triển. Phát huy thế mạnh của kinh tế vùng, đồi, rừng, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, sản xuất hướng ra thi trường, xuất khẩu; xóa bỏ các hủ tục lạc hậu như du canh, du cư, ổn định đời sống cho nhân dân; có chính sách ưu đãi để thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế Nhà nước, kinh tế tư nhân.

Đẩy mạnh phát triển giáo dục và đào tạo là vấn đề có ý nghĩa hàng đầu cho sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nguồn nhân lực con em các dân tộc thiểu số, xây dựng đội ngũ cán bộ tại chỗ; mở mang hệ thống các trường tiểu học, gắn với thôn bản, tăng số lượng các trường dân tộc nội trú, thêm các trường khu vực và cả Trung ương giành tiền cho con em các dân tộc; xây dựng đội ngũ giáo viên, giảng viên là con em các dân tộc, có chính sách ưu đãi đặc biệt đối với đội ngũ này và học sinh, sinh viên.

Xây dựng các đồn biên phòng, các đoàn kinh tế quốc phòng vững mạnh, làm hạt nhân cho việc phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng ở vùng núi, biên giới, hải đảo; thu hút con em các dân tộc thiểu số vào các đơn vị này; tham gia có hiệu quả các hoạt động phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở địa phương; cùng với địa phương xây dựng khu vực phòng thủ, thế trận lòng dân vững chắc.

Đấu tranh có hiệu quả với những hiện tượng xâm phạm biên giới, buôn bán ma túy, phụ nữ, trẻ em, buôn lậu; các hủ tục lạc hậu như mê tín dị đoan. Ma tang, cưới xin tốn kém tốn không ít tiền bạc của đồng bào; phát triển mạnh các dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe của nhân dân; mở mang các điểm văn hóa xã, thôn, bản, các lễ hội văn hóa…thu hút đồng bào nâng cao nhận thức, giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc.

Nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở Việt nam hiện nay.

 


Đây là giải pháp cơ bản vừa mang tính cấp bách, vừa phải kiên trì, bền bỉ, lâu dài. Cần phải tích cực tiến hành bằng nhiều nội dung, hình thức. phương pháp phong phú làm cho nhân dân hiểu những nội dung cốt lõi về quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền; hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn lợi dụng của các thế lực thù địch về vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền.

Tuyên truyền, giáo dục chung đồng thời, trú trọng đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên; đồng bào vùng núi, biên giới, hải đảo, đồng bào dân tộc thiểu số có tín ngưỡng, tôn giáo; những nhóm đối tượng đặc thù; những nội dung phức tạp, nhạy cảm; những thời điểm thu hút sự quan tâm của nhiều người.

Kết hợp nhiều kênh thông tin cả Trung ương, địa phương và cơ sở; xây dựng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, hạt nhân nòng cốt, người có uy tín trước cộng đồng, nhất là ở cơ sở, bám sát diễn biến nhận thức, tâm lý, tình cảm của nhân dân, tuyên truyền những nội dung thiết thực, hiệu quả định hướng tư tưởng và hành động của nhân dân.

Kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền giáo dục với đấu tranh chống những nhận thức tư tưởng lệch lạc; chống mọi biểu hiện vi phạm quyền con người, quyền, lợi ích của nhân dân, quyền bình đẳng, tự quyết dân tộc, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; chống mọi biểu hiện dân chủ hình thức, dân chủ cực đoan bất chấp kỷ cương, pháp luật; đấu tranh có hiệu quả với mọi âm mưu, thủ đoạn lợi dụng những vấn đề trên để chống phá cách mạng, gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Quan điểm của Việt Nam về nhân quyền

 


 Quyền con người là giá trị chung của nhân loại. Quyền con người bắt nguồn từ phẩm giá con người. Mỗi quốc gia khi tham gia các công ước quốc tế về quyền con người đều phải có những cam kết nhất định về nghĩa vụ và trách nhiệm. Đảng và Nhà nước Việt Nam khẳng định quan điểm và trách nhiệm của mình khi giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền con người mang tính toàn cầu.

 Quyền con người và quyền dân tộc cơ bản là thống nhất. Đảng và Nhà nước Việt Nam cho rằng, sự nghiệp giải phóng con người gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội; quyền con người chỉ có được trong độc lập dân tộc. Vì vậy, không thể có cái gọi là "nhân quyền cao hơn chủ quyền", chỉ có sự thống nhất giữa nhân quyền và chủ quyền quốc gia.

Kết hợp tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người trong nhận thức và giải quyết các vấn đề cụ thể. Quyền con người là một giá trị phổ biến được áp dụng phổ biến ở mọi nơi, mọi đối tượng nhưng mang tính đặc thù với bản sắc riêng phù hợp với trình độ phát triển kinh tế - xã hội, mang sắc thái văn hóa, lịch sử và truyền thống của mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ, dân tộc, tôn giáo và những đặc điểm riêng khác. Đảng và Nhà nước Việt Nam thừa nhận và tán thành quan điểm về tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người. Việt Nam là một nước đa tôn giáo, đa dân tộc; có trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn thấp. Những đặc điểm đó quy định những đặc thù riêng trong việc thực hiện và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam.

Trong xã hội có đối kháng giai cấp, việc bảo đảm thực hiện quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc. Con người sinh ra vốn dĩ đã có quyền, quyền đó tồn tại dưới dạng những nhu cầu bức thiết, những yêu sách hợp lý. Nhưng, để trở thành quyền thực sự cần đến yếu tố pháp luật. Mà pháp luật bao giờ cũng là pháp luật của các chế độ chính trị khác nhau, nội dung của nó được ghi nhận trong khuôn khổ bảo đảm trước hết lợi ích của giai cấp thống trị xã hội. Do vậy, quyền con người mang tính giai cấp sâu sắc, trong thực tế không thể có một thứ quyền trừu tượng siêu giai cấp.

 Quyền con người thể hiện trong quyền công dân và được pháp luật bảo hộ. Đảm bảo bằng pháp luật là một trong những điều kiện quan trọng nhất để các quyền con người, quyền công dân được thực hiện.Quyền con người, quyền công dân khi được hiến pháp, pháp luật ghi nhận trở thành độc lập đối với bất kỳ quyền uy nào, kể cả các cơ quan, viên chức nhà nước cao nhất.

Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương sẵn sàng đón tiếp, đối thoại và hợp tác với các nước và các tổ chức quốc tế nhằm tìm hiểu tình hình thực tế và trao đổi ý kiến về các lĩnh vực liên quan đến các quyền con người trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.

Dân chủ ở Việt Nam là dân chủ xã hội chủ nghĩa

 


 Tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện thể chế thực hành dân chủ theo tinh thần Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân. Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở. Thực hiện tốt có hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội làm nòng cốt để nhân dân làm chủ. Cấp ủy, tổ chức đảng, các tổ chức trong hệ thống chính trị, đội ngũ đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, nêu gương thực hành dân chủ, tuân thủ pháp luật, đề cao đạo đức xã hội. Đảng và Nhà nước ban hành đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật tạo nền tảng chính trị, pháp lý, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân. Đề cao vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước, trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát huy tính tích cực chính trị - xã hội, trí tuệ, quyền và trách nhiệm của nhân dân tham gia xây dựng chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, xây dựng đội ngũ đảng viên, cán bộ, công chức; động viên nhân dân tham gia phát triển kinh tế; góp phần quản lý xã hội thông qua các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp, các hoạt động tự quản cộng đồng; xây dựng quản lý thụ hưởng văn hóa; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, ngoại giao nhân dân gắn với thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, thế trận lòng dân. Xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân lợi dụng dân chủ, gây rối nội bộ, làm mất ổn định chính trị - xã hội hoặc vi phạm dân chủ, làm phương hại dến quyền làm chủ của nhân dân.

 

Vấn đề theo đạo và truyền đạo trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam phải tuân thủ pháp luật của Nhà nước Việt Nam

 


Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật. Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước thừa nhận được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ, được hoạt động tôn giáo, mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành, xuất bản kinh sách, giữ gìn, sửa chữa, xây dựng cơ sở thờ tự tôn giáo theo đúng quy định của pháp luật.

Việc theo đạo, truyền đạo cũng như mọi hoạt động tôn giáo khác đều phải tuân thủ theo hiến pháp và pháp luật; không được lợi dụng tôn giáo tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, không ép buộc người dân theo đạo. Nghiêm cấm các tổ chức truyền đạo, người truyền đạo và các cách thức truyền đạo trái phép, vi phạm các quy định của hiến pháp và pháp luật.

Cần xử lý nghiêm những cá nhân tung tin thất thiệt về dịch Covid-19

    Trước tình hình dịch bệnh phức tạp hiện nay, cả nước đang chung tay phòng chống và tiến tới đẩy lùi dịch bệnh. Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một số cá nhân đăng tải thông tin sai sự thật về dịch Covid-19 khiến người dân, cộng đồng hoang mang, lo lắng. Điển hình là một chủ tài khoản Facebook có hàng hàng trăm ngàn người theo dõi ở Huế. Trước đó, trên trang tương tác Hue-S, người dân phản ánh tài khoản Facebook THỪA THIÊN HUẾ đã đăng thông tin các cá lây nhiễm Covid-19 không có địa điểm, địa chỉ cụ thể, rõ ràng gây hoang mang cho cộng đồng.
    Cụ thể, ngày 19/4, trang này đăng nội dung: “Chiều nay: 45 ca mắc mới, trong đó có 5 ca lây nhiễm từ 1 ca đã hoàn thành cách ly sau nhập cảnh và 39 ca được cách ly ngay khi nhập cảnh”.  
    Thanh tra Sở TT&TT tỉnh TT-Huế phối hợp với Phòng PA05 (Công an tỉnh TT-Huế) vào cuộc kiểm tra, xác định chủ trang Facebook nói trên là của ông Lê Quang H. (trú tại đường Nguyễn Huệ, TP Huế).
    Làm việc với cơ quan chức năng, ông H. thừa nhận trang facebook THỪA THIÊN HUẾ do mình lập và quản trị; đã đăng tải và chia sẻ nội dung thông tin không rõ ràng, cụ thể địa điểm xảy ra dịch bệnh Covid-19.
    Căn cứ Nghị định 15 của Chính phủ quy định xử phạt về vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử, Thanh tra sở TT&TT tỉnh TT-Huế đã ra quyết định xử phạt ông H. số tiền 5 triệu đồng.

Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị

 


 Đảng luôn có chủ trương, chính sách đúng đắn về dân tộc, tôn giáo; Nhà nước trên cơ sở chủ trương, chính sách của Đảng ban hành pháp luật, chính sách cụ thể và tổ chức thực hiện. Trong đó chú trọng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội đối với đồng bào các dân tộc, tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa, các vùng đặc biệt khó khăn.

Nhà nước luôn có những giải pháp thích hợp đáp ứng nhu cầu tự do tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào các dân tộc. Đồng thời việc giải quyết các vấn đề về hoạt động hợp pháp của các tổ chức tôn giáo, Nhà nước kiên quyết xử lý đối với mọi hành vi truyền đạo trái phép, lợi dụng tôn giáo làm ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, làm mất trật tự, an toàn xã hội, gây tổn hại đến đạo đức, lối sống, văn hoá, thuần phong mỹ tục của các dân tộc; xử lý nghiêm những hành vi ngăn cản tín đồ, chức sắc các tôn giáo trong thực hiện nghĩa vụ công dân, những hành vi làm phương hại đến độc lập dân tộc, phá hoại chính sách đại đoàn kết toàn dân, chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Các tổ chức chính trị - xã hội như: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Tổng Liên đoàn lao động Viêt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội Nông dân Việt nam, Hội Phụ nữ Việt Nam... là những tổ chức có vị trí, vai trò quan trọng, trực tiếp tổ chức triển khai thực hiện  chính sách của Đảng và Nhà nước về dân tộc và tôn giáo. Đó là lực lượng trực tiếp giáo dục đồng bào dân tộc, các tín đồ tôn giáo chấp hành tốt chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.

Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam là lực lượng nòng cốt trong thực hiện Chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đây là lực lượng đi đầu và là lực lượng chủ yếu thực hiện tuyên truyền, giáo dục cho mọi người dân hiểu rõ và chấp hành tốt chủ trương, chính sách, pháp luật về dân tộc, tôn giáo; đồng thời là lực lượng chủ yếu nắm bắt tình hình dân tộc, tôn giáo để  tham mưu với Đảng và Nhà nước về Chính sách dân tộc, tôn giáo và trực tiếp chịu trách nhiệm xử lý các vấn đề phức tạp của dân tộc và tôn giáo, xử lý các hành động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng của các thế lực thù địch với Việt Nam.

Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo ở Việt Nam là công tác vận động quần chúng

 


Sở dĩ Việt Nam khẳng định nội dung cốt lõi của chính sách dân tộc, tôn giáo là công tác vận động quần chúng, bởi lẽ: Các dân tộc, tôn giáo là lực lượng to lớn của cách mạng, vì vậy nếu làm tốt công tác vận động quần chúng trong cộng đồng các dân tộc và trong các tín đồ tôn giáo sẽ tạo nên sức mạnh to lớn để thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực tế thời gian qua ở Việt Nam đã thực hiện tốt công tác này. Từ hệ thống chính trị, mọi cán bộ, đảng viên, các cấp các ngành và toàn dân đã thực hiện rất tốt công tác vận động quần chúng, đặc biệt là công tác ở vùng dân tộc thiểu số, vùng đồng bào có đạo.

QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM KIÊN ĐỊNH "CON ĐƯỜNG CHÍNH TRỊ"

 Trước những sự kiện chính trị lớn của đất nước, đặc biệt là Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII và bầu cử Quốc hội khóa XV, bầu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kì 2021 - 2026, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược Diễn biến hòa bình, âm m­ưu phi chính trị hóa quân đội. Đây là âm m­ưu cơ bản, chủ yếu trong chiến l­ược chống phá của các thế lực thù địch. Những luận điệu nh­ư Quân đội phải đứng trung lập, không cần đặt d­ưới sự lãnh đạo của đảng phái nào, lực lượng chính trị nào hoặc Quân đội ta là quân đội của dân, do dân, vì dân nên không cần sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, hay Quân đội vì Đảng hay vì dân.... Thực chất đây là những luận điệu trong âm m­ưu phi chính trị hóa quân đội nhằm làm cho Quân đội ta tách khỏi vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ đó dẫn đến suy yếu, mà tr­ước hết là suy yếu về chính trị tinh thần, gây nên sự mơ hồ, mất cảnh giác trong cán bộ, chiến sĩ, làm cho quân đội không hoàn thành đ­ược nhiệm vụ chính trị của mình. Điều đó thật mơ hồ, ảo t­ưởng và hết sức vô lý.

Đảng, Nhà nước Việt Nam thực hiện nhất quán chính sách đoàn kết các dân tộc và các tôn giáo

 


Đồng bào theo tôn giáo trước hết là người Việt nam, sau đó mới là tín đồ tôn giáo, là người Việt Nam theo tôn giáo chứ không phải là người theo tôn giáo nhập quốc tịch Việt Nam. Vì vậy, ở đồng bào theo tôn giáo có tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào và ý thức dân tộc sâu sắc. Họ đều mong muốn xoá bỏ áp bức, bóc lột, bất công xã hội, khao khát có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc. Điều đó phù hợp với mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, là sự nghiệp do nhân dân và vì nhân dân. Đây chính là cơ sở để tập hợp lực lượng, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp cách mạng.

Trong quá trình cách mạng, đồng bào các tôn giáo ngày càng nhận thức sâu sắc lợi ích của bản thân và của dân tộc mình, tôn giáo mình gắn bó với lợi ích của toàn dân tộc và của cách mạng; tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải gắn liền và phụ thuộc vào độc lập, tự do của Tổ quốc; Tổ quốc có độc lập, thống nhất thì tôn giáo mới có tự do. Sự thống nhất lợi ích đó là “điểm tương đồng” căn bản, tạo động lực để đồng bào các dân tộc, các tôn giáo một lòng, một dạ theo Đảng làm cách mạng trong đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay.

  Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo. Cơ sở của đoàn kết là lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; xoá bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội. Đây là lập trường có tính nguyên tắc trong Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chính sách còn chỉ rõ trong mọi trường hợp, cần phân biệt rõ đâu là vấn đề thuộc dân tộc, tôn giáo, đâu là vấn đề các thế lực thù địch lợi dụng chống phá để có biện pháp xử lý đúng đắn.

Kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

Hiện nay có quan điểm cho rằng: “Việt Nam lựa chọn con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sai lầm lịch sử; nhà nước nào, chế độ nào cũng được miễn là dân giàu, nước mạnh”. Đây là 1 trong những luận điểm cơ bản, chủ chốt đã được các thế lực thù địch tuyên truyền rộng rãi, nhằm chống đối lại chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo của ĐCSVN, gây cản trở cho sự phát triển bền vững của dân tộc Việt Nam trong tình hình phức tạp, đầy biến động khó lường hiện nay.

Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân các dân tộc, còn tồn tại lâu dài trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.

 


Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá”. Vì vậy, những giá trị của tín ngưỡng, tôn giáo, nổi lên là giá trị đạo đức chính là di sản để coi trọng kế thừa, phát huy để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Phải tôn trọng nhu cầu tinh thần, quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân các dân tộc nhằm phát huy nhân tố tinh thần trong sự nghiệp xây dựng bảo vệ Tổ quốc. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo khẳng định:

Thứ nhất, công dân có quyền tự do theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Công dân được quyền thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo nhưng không cản trở việc thực hiện nghĩa vụ công dân với Tổ quốc. Tự do tín ngưỡng, tôn giáo không có nghĩa là hoạt động tôn giáo nằm ngoài khuôn khổ pháp luật, đi ngược lại lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân; không có nghĩa là lợi dụng tôn giáo để phá hoại cách mạng.

Thứ hai, người có tín ngưỡng, tôn giáo và người không có tín ngưỡng, tôn giáo phải tôn trọng lẫn nhau; không ai được xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân... Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, Nhà nước không phân biệt đối xử với một tôn giáo nào. Người có tín ngưỡng, tôn giáo và người không tín ngưỡng, tôn giáo đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 Thứ ba, Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân bằng pháp luật. Vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân là vi phạm pháp luật, phải bị xử lý bằng pháp luật. Lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để gây rối, làm mất an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, chống đối Đảng, Nhà nước cũng là vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, phải bị pháp luật xử lý.

LẠI THUA!

 Vụ mẹ con Cấn Thêu, Trịnh Tư, anh luật sư bào chữa Đặng Đình Mạnh lại đuối lý!

Anh lại ghi thêm vào bảng vàng thành tích của hợp tác xã luật sư toàn thua một quả thua cay đắng nữa.

Chán thật, trước phiên toà thì các anh hùng hổ, sau phiên toà thì như mèo cụp đuôi. Đã bảo không có lý lẽ, căn cứ thì thôi đừng bào chữa nữa, lần nào cũng thua thế này nhục lắm.

Những video  chống phá kia của hai mẹ con sờ sờ ra đấy, cãi làm sao được.

Chẳng biết sau phiên này, các anh có sáng mắt ra được tý nào không?

Hải Đăng ST

Quan điểm, chính sách về tôn giáo ở Việt Nam thời gian qua

 


Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ khi mới thành lập đã xác định đường lối tự do tín ngưỡng, đoàn kết lương giáo để giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Trong cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, chính sách “Tín ngưỡng, tự do, lương giáo đoàn kết” do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra đã góp phần to lớn vào thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Đế quốc Mỹ, đường lối đại đoàn kết toàn dân, tự do tín ngưỡng đã động viên hàng chục vạn tín đồ các tôn giáo tham gia cuộc đấu tranh giành và bảo vệ đất nước, đã có hàng vạn bộ đội thanh niên xung phong; hàng ngàn liệt sỹ, thương binh, hàng trăm bà mẹ Việt Nam anh hùng là tín đồ các tôn giáo. Trong sự nghiệp xây dựng đất nước sau chiến tranh, Đảng ta đã quan tâm đến công tác tôn giáo. Năm 1990 Bộ Chính trị khóa VI đã ra nghị quyết 24 về công tác tôn giáo. Các Đại hội Đảng VII, VIII tiếp tục khẳng định quan điểm đó. Năm 1998, Bộ Chính trị ban hành chỉ thị 37 - CT/TW về “Công tác tôn giáo trong tình hình mới”. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng tiếp tục thực hiện quan điểm đó bằng Nghị quyết trung ương 7, khóa IX, với 5 quan điểm cơ bản. Từ quan điểm của Đảng, Nhà nước đã thể chế hóa bằng pháp luật đối với các hoạt động tôn giáo. Hướng dẫn giúp đỡ các tôn giáo xây dựng đường hướng hành đạo tiến bộ, gắn bó với dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa, sống “tốt đời, đẹp đạo”. Điều đó, được ghi nhận trong hiến pháp đầu tiên năm 1946. Trong Điều 10 quy định “Công dân Việt Nam có quyền…tự do tín ngưỡng”; Hiến pháp năm 1959, Điều 26 quy định “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”; Hiến pháp 1980, Điều 68 quy định “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào không ai được lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”; Hiến pháp năm 1992, Điều 70 “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật…không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”; Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo năm 2004, Điều 1 quy định “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Công dân có tín ngưỡng tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng tôn giáo cũng như công dân có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau phải tôn trọng lẫn nhau”; hiến pháp năm 2013, xác định “tôn giáo là quyền con người” .

Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam là nhiệm vụ của hệ thống chính trị và toàn xã hội.

 


Đảng ra chủ trương, Nhà nước xác định chính sách và tổ chức thực hiện, các tổ chức đoàn thể tham mưu tổ chức thực hiện.

Thực hiện quan điểm trên, quân đội tham gia thực hiện chính sách dân tộc. Quân đội quán triệt sâu sắc quan điểm, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động nhân dân…Tích cực tham gia xây dựng, phát triển vùng dân tộc, miền núi vững mạnh về mọi mặt. Xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh vững mạnh vùng dân tộc thiểu số. Giáo dục cán bộ, chiến sỹ hiểu và tôn trọng phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa các dân tộc.

PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN CÁC LĨNH VỰC TRONG CÔNG TÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM

 


Phát triển toàn diện chính trị,  kinh tế, văn hoá, xã hội và an ninh - quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, quốc phòng- an ninh.

Về chính trị, mở rộng, phát huy dân chủ, nâng cao chất lượng tham kiến về chính trị đối với đồng bào các dân tộc thiểu số.

Về kinh tế, quy hoạch lại các điểm dân cư phân tán tại địa bàn miền núi, đồng bào dân tộc. Nghiên cứu cơ chế quản lý liên kết hợp tác phát triển vùng phù hợp, tạo điều kiện phát triển các khu vực, địa bàn còn nhiều khó khăn, nhất là miền núi, biên giới hải đảo, Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và  phía tây các tỉnh Miền Trung.

Về văn hoá - xã hội, quan tâm phát triển giáo dục dạy nghề trong đồng bào dân tộc thiểu số và các vùng khó khăn. Đẩy mạnh giảm nghèo bền vững, nhất là các vùng đặc biệt khó khăn và có chính sách đặc thù để giảm nghèo nhanh hơn trong đồng bào dân tộc thiểu số. Hoàn thiện mạng lưới cơ sở y tế, nhất là miền núi, biên giới, hải đảo. Tăng cường nhân lực y tế cho khu vực nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo. Phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, giữ gìn bản sắc tốt đẹp của các dân tộc. Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Kịp thời di dời đồng bào ra khỏi khu vực sạt lở, lũ lụt. Tăng cường bảo vệ và phát triển rừng bền vững, nhất là rừng phòng hộ, ven biển, rừng đầu nguồn, rừng đặc dụng; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thuỷ sản. Xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Giữ gìn và phát huy truyền thống, tập quán tốt đẹp của làng quê Việt Nam.

Về quốc phòng - An ninh, kết hợp tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội trong các khu vực phòng thủ, phải bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh nhất là ở những vị trí trọng yếu, chiến lược. Xây dựng đường tuần tra biên giới. Nâng cao hiệu quả hoạt động các khu kinh tế- quốc phòng và phát triển bền vững kinh tế- xã hội khu vực dọc biên giới và biển đảo.

Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế, xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo.

Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế, xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo. Ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước, tín dụng ưu đãi và huy động các nguồn lực ngoài nhà nước để đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế- xã hội. Đẩy mạnh tạo nghề với các hình thức đa dạng, phù hợp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn, miền núi. Tập trung giải quyết tình trạng du canh, du cư, di dân tự do. Khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái. Phát huy nội lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước. Phát huy nội lực, tự lực, tự cường của đồng bào.

CÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM BÌNG ĐẲNG, ĐOÀN KẾT

 


Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc.

Qua các giai đoạn lịch sử, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán chủ trương, nguyên tắc trong đường lối, chính sách dân tộc, đó là xây dựng khối đoàn kết, bình đẳng giữa cộng đồng các tộc người, phát triển toàn diện về kinh tế- chính trị- xã hội, bảo đảm các quyền và tiếp cận các quyền của đồng bào dân tộc thiểu số trên các lĩnh vực.

Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”

 

Hà Nội chủ động phát hiện, xử lý người nước ngoài nhập cảnh trái phép

Công an xác định thủ đoạn của các đối tượng là đưa một người vào trước theo diện doanh nghiệp đề xuất nhập cảnh và xin visa tương đối dài, sau đó thuê nhà và lần lượt đưa từng người vào Việt Nam. Xác định hoạt động nhập cảnh trái phép là một trong những nguy cơ lớn lây lan dịch bệnh và ảnh hưởng đến an ninh trật tự trên địa bàn Thủ đô, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Công an, Thành ủy, Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội, Đảng ủy, Ban Giám đốc Công an thành phố Hà Nội đã quyết liệt chỉ đạo, triển khai các chủ trương, biện pháp nhằm phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện và xử lý hoạt động này. Theo Đại tá Trần Ngọc Dương - Phó Giám đốc Công an thành phố Hà Nội, lực lượng Công an Thủ đô quyết liệt thực hiện chỉ đạo của thành phố trong ngăn chặn, phát hiện, xử lý nghiêm các trường hợp người nước ngoài nhập cảnh trái phép. Từ năm 2020 đến nay, Công an thành phố đã ban hành 5 kế hoạch, 23 công văn chỉ đạo trực tiếp công tác phòng, chống người nước ngoài nhập cảnh trái phép; 13 báo cáo chuyên đề có các nội dung chỉ đạo liên quan đến nội dung này. Căn cứ tài liệu thu thập được và lời khai của các đối tượng, bước đầu Công an thành phố Hà Nội xác định thủ đoạn của các đối tượng là đưa một người vào trước theo diện doanh nghiệp đề xuất nhập cảnh và xin visa tương đối dài, sau đó thuê nhà và lần lượt đưa từng người ở nước ngoài nhập cảnh sang Việt Nam. Các đối tượng thường chọn thuê các chung cư mới đưa vào hoạt động, vì chưa có ban quản trị hoặc có nhưng còn yếu, đồng thời chỉ tập trung ở trong căn hộ, ít ra ngoài nên rất khó phát hiện. Trước tình hình đó, Ban Giám đốc Công an thành phố Hà Nội đã chỉ đạo Phòng Quản lý xuất nhập cảnh phối hợp với các phòng nghiệp vụ và Công an các quận, huyện thị xã triển khai thực hiện các biện pháp nghiệp vụ nắm tình hình, tăng cường công tác rà soát với tinh thần "đi từng ngõ, gõ từng nhà, rà từng người" để kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các vụ việc người nước ngoài nhập cảnh trái phép. Công an thành phố Hà Nội đã chỉ đạo Công an cấp quận, huyện, thị xã tổng rà soát toàn bộ các chung cư, tập trung vào các chung cư mới để kịp thời phát hiện và xử lý các trường hợp người nước ngoài nhập cảnh trái phép. Điển hình vào tối 4/5, trên địa bàn quận Hà Đông, lực lượng chức năng phát hiện 12 đối tượng người Trung Quốc nhập cảnh trái phép. Nhờ công tác nắm địa bàn và các biện pháp nghiệp vụ, Phòng Quản lý xuất nhập cảnh phối hợp cùng Công an phường Yết Kiêu (Công an quận Hà Đông) đã phát hiện tại phòng số 3017 tòa A chung cư Samsora (số 105 đường Chu Văn An, phường Yết Kiêu, quận Hà Đông) có nhiều dấu hiệu nghi vấn về việc có người nước ngoài nhập cảnh trái phép đang ở tại đây. Tiến hành kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện trong phòng có 11 đối tượng quốc tịch Trung Quốc, không có giấy tờ nhập cảnh hợp lệ và một đối tượng đang ở sảnh chung cư cũng không có giấy tờ nhập cảnh hợp lệ. Tổng số đối tượng bị phát hiện là 12 người (7 nam, 5 nữ). Đáng chú ý, khi được yêu cầu phối hợp làm việc, các đối tượng đã "cố thủ" ở trong phòng, buộc lực lượng chức năng phải phá khóa căn phòng. Cơ quan công an đang tiếp tục đấu tranh, xác minh, xử lý số đối tượng này theo quy định pháp luật. Trước đó, trong đêm 2/5 và rạng sáng 3/5, lực lượng chức năng quận Nam Từ Liêm bắt quả tang 46 người (quốc tịch Trung Quốc) thuê 9 phòng tại chung cư Florence có địa chỉ tại 28 Trần Hữu Dực (phường Cầu Diễn, quận Nam Từ Liêm. Cùng ngày 2/5, Công an quận Cầu Giấy phối hợp Ủy ban Nhân dân phường Trung Hòa và các đơn vị liên quan điều tra, phát hiện 4 trường hợp nhập cảnh trái phép lưu trú trên địa bàn. Hiện tất cả các trường hợp người nước ngoài nhập cảnh trái phép đều đã được đưa đi thực hiện quy định về phòng, chống dịch COVID-19 và lấy lời khai để điều tra, làm rõ, xử lý nghiêm theo đúng quy định. Theo đại diện Phòng Quản lý xuất nhập cảnh (Công an thành phố Hà Nội), thời gian tới, dự báo số lượng người nước ngoài nhập cảnh trái phép để tìm kiếm việc làm, hoạt động kinh doanh trên địa bàn Hà Nội sẽ tiếp tục gia tăng. Điều này đặt ra thách thức không nhỏ đối với các lực lượng chức năng trong bối cảnh dịch COVID-19 diễn biến phức tạp. Công an thành phố Hà Nội đề nghị người dân, nhất là khu vực quanh các nhà nghỉ, khách sạn chủ động phát giác các trường hợp nhập cảnh trái phép, thông báo với lực lượng chức năng để chung tay phòng, chống dịch COVID-19 hiệu quả. Tăng cường kiểm tra phòng, chống dịch COVID-19 trên các tuyến đường sông Ngày 5/5, thực hiện nghiêm chỉ đạo của Ban Giám đốc Công an thành phố Hà Nội về việc tổ chức tuyên truyền, triển khai các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19, các Đội Cảnh sát giao thông đường thủy thuộc Phòng Cảnh sát giao thông (Công an thành phố Hà Nội) đã tăng cường tuần tra, kiểm soát, tuyên truyền, hướng dẫn, phát khẩu trang miễn phí cho người dân lưu thông trên các tuyến đường sông và tại các bến đò trên địa bàn thành phố. Bên cạnh việc đảm bảo an toàn giao thông trên sông, lực lượng cảnh sát giao thông đường thủy còn tuyên truyền nhắc nhở người dân sinh sống trên sông nước tuân thủ các quy định phòng, chống dịch COVID-19. Thiếu tá Hà Trọng Hoan, Đội trưởng Đội Cảnh sát giao thông đường thủy số 1 cho biết, do điều kiện người sinh sống trên sông nước nay đây mai đó nên việc nắm bắt thông tin về dịch bệnh rất sơ sài. Lực lượng Cảnh sát giao thông đường thủy đã thường xuyên phổ biến tin tức về tình hình dịch bệnh hiện tại để người dân cập nhật, nắm rõ để chủ động phòng tránh; đồng thời phát khẩu trang miễn phí cho người dân tại một số bến đò, nhằm đảm bảo hiệu quả công tác phòng, chống dịch COVID-19. Đồng quan điểm, Trung tá Đỗ Trọng Tuân, Đội trưởng Đội Cảnh sát giao thông đường thủy số 2 cho biết, đơn vị đã thành lập các tổ công tác, thường xuyên tuần tra, kiểm soát, tuyên truyền và xử lý nghiêm các hành vi, phương tiện cố tình vi phạm quy định an toàn giao thông đường thủy. Song song với việc đảm bảo tuyệt đối an toàn về tính mạng, tài sản của người dân tại các bến thủy nội địa còn phải tuân thủ các quy định về phòng, chống dịch COVID-19. Trước đó, ngày 4/5, trong diễn biến liên quan đến việc đảm bảo trật tự, an toàn giao thông đường thủy nội địa khi mùa mưa bão đang tới gần, Đội Cảnh sát giao thông đường thủy số 2 đã lập biên bản xử lý 7 chủ bến tập kết vật liệu xây dựng tại xã Thống Nhất (Thường Tín, Hà Nội) hoạt động không phép ven sông Hồng. Qua xác minh bước đầu, các bến trên chỉ được phép hoạt động từ 2-3 tháng (theo thời vụ) trong năm, tuy nhiên tại thời điểm kiểm tra, lực lượng Cảnh sát giao thông đường thủy phát hiện các bến tập kết trên đều không có giấy phép hoạt động trong khoảng thời gian này. Ngay sau đó, Đội Cảnh sát đường thủy số 2 đã lập biên bản xử lý vi phạm và yêu cầu các chủ bến hoàn thiện thủ tục pháp lý mới được hoạt động. Những chủ bến này phải hoàn thiện hồ sơ, bổ sung các thủ tục pháp lý, trước khi tiếp tục hoạt động theo quy định. Trong trường hợp, các bến tập kết vật liệu không đủ các thủ tục pháp lý, Đội Cảnh sát đường thủy số 2 đề nghị Ủy ban Nhân dân xã Thống Nhất, Công an huyện và phòng, ban chức năng liên quan của Ủy ban Nhân dân huyện Thường Tín đình chỉ, rút giấy phép hoạt động của các bãi tập kết vật liệu nêu trên theo đúng quy định pháp luật./.

Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam.

 


Quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là: vấn đề dân tộc là vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Tôn trọng lợi ích, truyền thống, văn hóa, ngôn ngữ, tập quán tín ngưỡng của các dân tộc. Chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, kỳ thị và chia rẽ dân tộc”. Mục tiêu cuối cùng của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là: các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

VIỆT NAM THỰC HIỆN TỐT VẤN ĐỀ QUYỀN CON NGƯỜI


Quyền con người là các đặc quyền tự nhiên, bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của tất cả mọi người được cộng đồng quốc tế và quốc gia thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm bằng hệ thống pháp luật quốc gia và quốc tế.

 Quyền con người đồng nghĩa với tự do của con người. Quyền con người bao gồm quyền tự nhiên và quyền xã hội. Quyền con người được biểu hiện ở nhiều mối quan hệ như: quan hệ giữa cá nhân với nhà nước; con người với quyền lực xã hội. Quyền con người mang tính nhân loại, tính lịch sử và tính giai cấp sâu sắc. Quyền con người là công cụ để tự bảo vệ quyền của mình trước bạo lực, cường quyền.

Về mặt nhận thức

Nhận thức về nhân quyền của Đảng, Nhà nước và nhân dân ngày càng phát triển.Trong các cương lĩnh chính trị, các văn kiện các kỳ đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định quyền con người, quyền công dân và luôn đổi mới để tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân tốt hơn, phù hợp hơn với các điều ước quốc tế. Trên cơ sở quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam đã thể chế hóa quyền con người trong hiến pháp và pháp luật và các thể chế.  Đặc biệt là đã tăng cường kiểm soát yêu cầu bảo đảm tính hợp hiến của các dự thảo luật, bộ luật trước và trong quá trình soạn thảo và thông qua luật theo đúng trình tự, thủ tục.

Quyền con người được bảo đảm trên thực tế

Chính sách dân tộc bình đẳng, đoàn kết, trú trọng quan tâm đến đồng bào dân tộc ít người, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, nghiêm cấm các hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Hiện nay, ở các tỉnh miền núi, mức sống của nhân dân không ngừng được cải thiện, đã hạn chế gia tăng khoảng cách giàu nghèo, chênh lệch phát triển giữa các dân tộc, các vùng dân tộc. Tỷ lệ hộ nghèo trong vùng dân tộc giảm bình quân từ 3% đến 4%/ năm. Quyền tham gia và quản lý công việc Nhà nước và xã hội được tăng cường. Được thể hiện rõ ở các cuộc bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, bảo đảm khóa sau chất lượng hơn khóa trước.

Quyền khiếu nại tố cáo được thực hiện chất lượng. Ban hành và hướng dẫn tổ chức thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, yêu cầu thủ trưởng cơ quan phải công khai chương trình kế hoạch công tác và kinh phí hoạt động; kê khai tài sản của cán bộ phải được niêm yết ở nơi công cộng của cơ quan, đơn vị…

Các quyền tự do dân chủ được thực hiện tốt. Đến nay, Việt Nam đã có hơn 50 cơ quan báo chí với hơn 650 ấn phẩm báo chí các loại, 47 nhà xuất bản, mỗi năm xuất bản hàng vạn đầu sách, in và phát hành trên 600 triệu bản báo.

  Trên lĩnh vực kinh tế, quyền con người được bảo đảm, Nhà nước tôn trọng, bảo vệ, tạo điều kiện thuận lợi để mọi người, mọi thành phần kinh tế phát triển bình đẳng với nhau.

Trên lĩnh vực xã hội, bằng những chính sách xã hội thỏa đáng, thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội, thực hiện công bằng trong phân phối dưới nhiều hình thức, như: xây nhà chung cư cho những người có mức sống còn thấp, xây hàng vạn ngôi nhà tình nghĩa cho những người có công với cách mạng, khám chữa bệnh cho người nghèo, giáo dục tiểu học bắt buộc, bảo đảm an sinh xã hội, chăm sóc những người yếu thế, rủi ro, thiệt thòi; thực hiện chế độ trợ cấp đầy tính nhân đạo đối với con người như: trợ cấp ốm đau thai sản, trợ cấp cho người cao tuổi, trợ cấp cho người tàn tật, trợ cấp tai nạn nghề nghiệp...

Trên lĩnh vực văn hóa, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Hiến pháp và các văn bản luật quy định rõ quyền con người trong lĩnh vực văn hóa: Quyền được tiếp cận với văn hóa thông tin; quyền được sáng tạo và  thưởng thức văn hóa, nghệ thuật; quyền được giữ gìn bảo tồn các di sản văn hóa dân tộc.