Thứ Năm, 6 tháng 5, 2021
Những nhiệm vụ chủ yếu của công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng
Bảo đảm chất lượng đại biểu Quốc hội để nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước
Chất lượng đại biểu Quốc hội quyết định hiệu quả hoạt động của Quốc hội
QUÂN ĐỘI CỦA DÂN
Kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo
Lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam và những cuộc chiến tranh trên thế giới đã chứng minh cho hậu quả nghiêm trọng của xung đột vũ trang. Người dân Việt Nam hơn ai hết mong muốn hòa bình, ổn định và phát triển. Do đó, với vấn đề Biển Đông, ưu tiên hàng đầu của Việt Nam là giải quyết bất đồng bằng các biện pháp hòa bình. Chiến tranh chỉ là giải pháp cuối cùng, bất khả kháng để tự vệ và bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc.
Nhân đây, cũng cần khẳng định lại rằng, bên cạnh việc kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông bằng các biện hòa bình, dựa trên chứng cứ pháp lý, lịch sử và luật pháp quốc tế, lực lượng vũ trang Việt Nam vẫn ngày đêm bám biển, sẵn sàng canh giữ và thực hiện các phương án bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.
Cũng từ vấn đề Biển Đông, các thế lực thù địch rêu rao rằng Việt Nam đi với nước này chống nước kia. Thực tế có phải như vậy?
Tiếc rằng, một số người vẫn dễ dàng sập bẫy bởi những quan điểm xuyên tạc kiểu này trên mạng xã hội hoặc trong lúc trà dư tửu hậu. Hậu quả là tâm lý của một bộ phận dư luận trong nước bất an, thậm chí dẫn tới những hành động gây mất ổn định trật tự xã hội, ít nhiều làm tổn hại đến những nỗ lực của Việt Nam và các nước liên quan trong giải quyết vấn đề Biển Đông.
Suy cho cùng, vấn đề Biển Đông không phải là việc có thể giải quyết trong một sớm một chiều, mà cần sự kiên trì, lâu dài. Để góp phần đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc, mỗi người dân Việt Nam yêu nước rất cần có cái nhìn khách quan về tình hình Biển Đông, về đường lối, chủ trương giải quyết vấn đề này của Đảng và Nhà nước, đồng thời tỉnh táo, cảnh giác, phản bác mạnh mẽ các luận điệu xuyên tạc, kích động mà những phần tử xấu đã và đang rắp tâm tạo ra.
Giải quyết vấn đề Biển Đông - rất cần cái nhìn khách quan
Trước hết, phải tái khẳng định rằng, chủ quyền quốc gia là không thể từ bỏ và đây cũng là nguyên tắc bất biến trong quá trình dựng và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Riêng với vấn đề Biển Đông, những người đứng đầu Đảng, Nhà nước, Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng Việt Nam đã nhiều lần khẳng định, Việt Nam có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển ở Biển Đông được xác định theo đúng các quy định của Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) mà Việt Nam và các nước ở Biển Đông đều là thành viên. Với vấn đề chủ quyền lãnh thổ nói chung và vấn đề Biển Đông nói riêng, lập trường nhất quán của Việt Nam là giải quyết mâu thuẫn thông qua thương lượng hòa bình trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982 và Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).
Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng, Nhà nước luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, cụ thể là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao... Những năm gần đây, khi vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao, chúng ta càng có thêm nhiều cơ hội để đưa ra tiếng nói, khẳng định chủ quyền ở Biển Đông tại các cơ chế, diễn đàn đa phương. Ví dụ điển hình nhất là trong thời gian đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021, Việt Nam đã nhiều lần nêu vấn đề Biển Đông để cộng đồng quốc tế có cái nhìn khách quan, đúng đắn về vấn đề này.Bởi vậy, dù tình hình trên biển nhiều lúc căng thẳng, phức tạp, Việt Nam vẫn đạt được mục tiêu, đó là giữ vững chủ quyền biển, đảo, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, không để xảy ra xung đột. Qua đó càng chứng minh chủ trương, đường lối, chính sách giải quyết bất đồng trên Biển Đông của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế chung của thế giới.
Ấy vậy mà gần đây, trước những thông tin mới về tình hình Biển Đông, dù chưa biết diễn biến ở thực địa "nóng, lạnh" ra sao, một số đối tượng vẫn “cầm đèn chạy trước ô tô”, kích động dư luận bằng những nhận định xuyên tạc, bóp méo sự thật... Những luận điệu đó thực chất là chiêu bài kích động hận thù dân tộc, khiến cho tình hình thêm căng thẳng, nhằm thực hiện chia rẽ nội bộ và làm căng thẳng quan hệ đối ngoại của Việt Nam, mưu đồ tạo ra một cuộc xung đột quân sự với hậu quả khó lường.
Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền chống phá Việt Nam.
Các thế lực thù địch vẫn đang chống phá Việt Nam bằng chiến
lược “diễn biến hòa bình” nhằm lật đổ chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam; chủ trương từng bước diễn biến và tự diễn biến; chúng xác định mũi tiến
công về dân tộc, tôn giáo là “ngòi nổ” của toàn bộ chiến lược; tiến công về dân
chủ, nhân quyền để gây rối, kích động, bóp méo kết hợp với răn đe, uy hiếp về
quân sự. Do đó, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù
địch luôn gắn liền và thống nhất trong quá trình giải quyết vấn đề dân tộc, tôn
giáo, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam hiện nay.
TƯ TƯỞNG, GIỌNG ĐIỆU LẠC LÕNG VỚI SỰ HY SINH TÍNH MẠNG CỦA NHỮNG CÁ NHÂN TIÊN TIẾN TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI!
SÂN SI VỚI ANH HÙNG
Thú thực, là một bộ phận cộng đồng mạng rất tàn nhẫn và vô tâm.
Hôm trước đọc ở đâu đó một bài viết về sự ra đi của bạn sinh viên Nguyễn Văn Nhã sau khi cứu 4 bạn nữ sinh viên khỏi tay của “thần biển”, có một vài bình luận nói rằng, sự ra đi của Nhã là một sự hi sinh đầy bao đồng, để lại một khoảng trống mênh mông trong lòng bố mẹ và gia đình, còn những người được cứu chưa chắc đã biết ơn và họ sẽ nhanh chóng quên đi để sống tiếp. Có một vài người độc mồm hơn, nói Nhã là một người “bất hiếu với gia đình”, chữ “hiếu” là nặng nhất mà bạn Nhã lại không làm tròn được.
Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đề nghị chính quyền cơ sở công nhận bạn là một liệt sĩ. Thì có một vài bình luận, tại một số diễn đàn hóng biến, nói rằng việc công nhận liệt sĩ chỉ dành cho quân nhân khi làm nhiệm vụ, không dành cho dân thường, rồi chính quyền sử dụng danh hiệu ấy tràn lan, dùng để tuyên truyền là chính. Nhưng họ không biết rằng, tại Điều 11, Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng sửa đổi 2012 có ghi rõ, người được phong tặng danh hiệu liệt sĩ nếu họ “dũng cảm cứu người, cứu tài sản của Nhà nước và nhân dân”. Tại một trang báo chí phản động, còn giật một tiêu đề rất bố láo: “Người hùng chết đuối còn chính quyền treo huy chương tuyên truyền”, và một đám người được thế lao vào hạ thấp sự ra đi của bạn Nhã.
Tối qua, ĐH Huế làm lễ tưởng niệm và vinh bạn Nhã ngay tại khuôn viên trường, nơi mà người anh hùng của chúng ta đã gắn bó trong mấy năm học. Cả nhà trường và gia đình đều có nguyện vọng tấm bằng tốt nghiệp sẽ xuất hiện trên ban thờ của bạn ấy. Vậy mà, tự dưng khi đang cảm động và lại bị nghẹn, khi xuất hiện một vài ý kiến cho rằng trường và các bạn sinh viên làm màu, không lo chống dịch mà lại tập trung đông, người mất rồi thì hỗ trợ tiền hay làm gì thiết thực hơn đi (?)
Đã rất nhiều lần, có những sự phán xét rất lạ kỳ, hay đúng hơn là rất dở hơi của một bộ phận cộng đồng mạng lại xảy ra, từ câu chuyện của anh Trần Văn Tròn cứu 3 em học sinh, rồi vụ việc anh Mạnh cứu cháu bé rơi từ trên tầng cao xuống… Họ dường như là luôn muốn hạ thấp những việc mà người khác làm, cho dù những việc đó cao thượng thế nào đi chăng nữa. Điều gì khiến một số người trong cộng động làm vậy? Dân trí kém? Hay vì một điều gì khác?
Xin mượn một đoạn văn từ BEATVN: “Có người hỏi rằng khi quyết định xả thân cứu người, họ có nghĩ gì không? Có biết sẽ nguy hiểm ra sao? Phải đánh đổi nhường nào không? Rất nhiều giả thuyết phức tạp được đặt ra, nhưng câu trả lời đơn giản lắm: Họ chả nghĩ cái gì hết. Thấy người bị nạn, thì cứu, có vậy thôi. Thời gian đâu mà suy tính thiệt hơn….”
Việc chính quyền xét danh hiệu liệt sĩ cho bạn Nhã là một việc rất phù hợp với pháp luật, đạo đức và dư luận. Việc này nhằm hỗ trợ cho gia đình bạn ấy trong cuộc sống sau này, khuyến khích một lối sống tốt đẹp và là một sự ghi nhận lớn lao về những gì mà bạn ấy đã làm cho người khác. Chứ chẳng phải một mục đích quảng bá hay trục lợi gì cả. Cuộc sống của bạn đen tối và hằn học, nhưng với người khác thì không như vậy, đừng có cố gắng phủ bóng đen suy nghĩ chủ quan bản thân vào người khác.
Dám chắc rằng, với cá nhân bạn Nhã, những chiến sĩ cứu hỏa, hay với bất cứ ai xả thân cứu người, họ sẽ không hề nghĩ đến việc được vinh danh như thế nào, nhận tiền hay hiện vật ra sao. Và với tâm thế của những người như chúng ta, cả những người được cứu sống, việc cần làm là phải vinh danh họ và chỉ duy nhất một điều ấy mà thôi, không xét lại, không đánh giá, không hạ thấp, không moi móc đời tư hay bàn luận về cuộc sống nhiều.
Lỗ Tấn viết: “Người ta chỉ chết hẳn khi họ chết trong lòng những người còn sống”.
Các ngôi sao có thể chết nhiều năm trước khi chúng thực sự biến mất giữa vũ trụ. Phải mất nhiều thời gian để ánh sáng của chúng mờ đi, có nhiều ngôi sao vẫn được chúng ta nhìn thấy ngay cả khi chúng đã lụi tàn. Cuộc sống có thể kết thúc, nhưng ký ức về cuộc sống đó vẫn tiếp tục.
Yêu nước.ST
Nêu cao vai trò của lực lượng vũ trang cùng toàn dân giải quyết tốt vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền.
Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của lực lượng vũ trang là làm
nòng cốt cho toàn dân giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nói
chung và nhất là các điểm “nóng”, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền toàn vẹn
lãnh thổ của Tổ quốc. Đây chính là thực hiện quyền thiêng liêng của con người,
của nhân dân các dân tộc Việt Nam là được sống trong độc lập, tự do, tự mình
quyết định vận mệnh của mình.
Cùng với việc phát huy vai trò của lực lượng vũ trang trong
xây dựng các tiềm lực, thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân làm kế
sách lâu dài để giữ nước. Lực lượng vũ trang cần làm tốt vai trò tiên phong
cùng toàn dân giữ vững chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, đồng thời giải quyết tốt
vấn đề dân tộc, tôn giáo trên các địa bàn trọng điểm như Tây Nguyên, Tây Bắc,
Tây Nam Bộ; nhất là đấu tranh phòng chống có hiệu quả âm mưu, thủ đoạn của các
thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá cách mạng, gây
rối an ninh trật tự, tạo cớ can thiệp, xâm lược Việt Nam.
Phát huy vai trò tiên phong của lực lượng vũ trang trong
tuyên truyền, giáo dục đồng bào các dân tộc về quan điểm, chính sách dân tộc,
tôn giáo của Đảng, Nhà nước Việt Nam; âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo
của các thế lực thù địch. Giúp đỡ nhân dân xóa đói, giảm nghèo, xóa các hủ tục
lạc hậu, tốn kém; phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc, nâng cao dân trí. Giúp
đỡ nhân dân xây dựng hệ thống chính trị, đội ngũ cán bộ con em các dân tộc;
phát huy tốt vai trò của già làng, trưởng bản, những người có uy tín trong cộng
đồng dân cư… Xây dựng thế trận lòng dân vững chắc.
Đổi mới chính sách và phương thức giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam hiện nay.
Phải có chính sách cụ thể gắn với từng dân tộc, tôn giáo,
từng vùng miền, phù hợp với đặc điểm tâm lý, nét văn hóa; không nên rập khuôn
máy móc. Việc di dời dân phục vụ cho các công trình của Nhà nước phải được tính
toán kỹ lưỡng, không chỉ là việc chăm lo việc ăn, ở sinh hoạt mà quan trọng hơn
là sản xuất, việc làm, điều kiện học hành, chăm sóc sức khỏe, tín ngưỡng, tôn
giáo của đồng bào.
Phương thức giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ,
nhân quyền ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa cũng cần phải có phương án tổng thể,
cần phối hợp chặt chẽ với các chương trình, các dự án phát triển kinh tế - xã
hội tạo nên sức mạnh tổng hợp và đỡ thất thoát, lãng phí.
Tỷ lệ hộ nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số rất cao so
với bình quân chung của cả nước, khoảng cách chênh lệch giàu nghèo còn khá lớn
và ngày càng gia tăng; trình độ phát triển giữa các vùng có cách biệt lớn và có
xu hướng mở rộng, tỷ lệ tái nghèo cao. Cần phải thay đổi phương thức xóa đói,
giảm nghèo ở miền núi, kết hợp sự nỗ lực của mỗi hộ dựa trên thế mạnh của đồi
rừng là tự cung, tự cấp, tự trang trải với đầu tư của Nhà nước vào những việc
như xóa nhà tạm, cấp nước sinh hoạt và các dịch vụ khác, quan trọng hơn là
đường hướng sản xuất để ổn định lâu dài.
Củng cố và nâng cao chất lượng và hiệu lực hoạt động của hệ thống chính trị các cấp; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức; nhất là ở vùng miền núi, đồng bào dân tộc, tôn giáo.
Hệ thống tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể và đội ngũ cán
bộ các cấp là đại biểu của dân về ý chí, nguyện vọng và lợi ích. Nâng cao chất
lượng và hiệu quả hoạt động của những yếu tố cấu thành hệ thống chính trị các
cấp vừa là nhằm thực hiện dân chủ, quyền con người, quyền của dân tộc, tôn giáo
vừa là công cụ hữu hiệu để giải quyết vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân
quyền.
Đổi mới hệ thống chính trị các cấp thực chất là nâng cao
hiệu lực, hiệu quả của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, không phải đổi mới
bản chất chính trị. Đổi mới hệ thống chính trị phải nắm chắc mục đích và nguyên
tắc của quá trình đổi mới; một tư tưởng bao trùm là thực hiện quyền lực của
nhân dân và mang lại lợi ích cho nhân dân, cán bộ là công bộc của nhân dân.
Đội ngũ cán bộ, đảng viên và công chức nhà nước là người
đại diện cho nhân dân, thực thi quyền lực của nhân dân, mang lại lợi ích cho
nhân dân. Đội ngũ này phải có phẩm chất và năng lực tốt, thực sự tận tụy phục
vụ nhân dân. Trước hết đội ngũ này phải không ngừng tu dưỡng, rèn luyện khắc
phục triệt để chủ nghĩa cá nhân, những biểu hiện quan liêu, cửa quyền, nhũng
nhiễu quần chúng; đề cao phê bình và tự phê bình, chân thành tiếp thu ý kiến
đóng góp của nhân dân, thực sự cầu tiến bộ.
Đội ngũ cán bộ, đảng viên ở các địa phương vùng núi, vùng
đồmg bào dân tộc thiểu số vừa yếu, vừa thiếu. Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ
người dân tộc thiểu số, có tín ngưỡng tôn giáo là nhiệm vụ cấp bách hiện nay;
vừa phải có kế hoạch bổ túc, bồi dưỡng để đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa phải
đào tạo cơ bản để đáp ứng yêu cầu cơ bản, lâu dài. Chăm lo xây dựng cơ quan, đội
ngũ cán bộ chuyên trách về công tác dân tộc, tôn giáo tinh thông về nghiệp vụ,
có trách nhiệm cao, gắn bó với đồng bào để làm hạt nhân tham mưu đắc lực cho
lãnh đạo, chính quyền giải quyết những vấn đề dân tộc, tôn giáo cụ thể.
Phát triển kinh tế - xã hội, kết hợp chặt chẽ với quốc phòng, an ninh ở miền núi, vùng biên giới, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào có đạo ở Việt Nam hiện nay.
Phát triển kinh tế - xã hội kết hợp chặt chẽ với quốc
phòng, an ninh ở vùng núi, biên giới, hải đảo là một đòi hỏi khách quan vì đó
là những địa bàn sung yếu, phên dậu của Tổ quốc. Phát triển kinh tế - xã hội là
giải pháp cơ bản, quyết định nhất, nhưng cũng là một việc làm khó khăn, phức
tạp đòi hỏi phải có sự tích cực vươn lên của chính đồng bào các dân tộc thiểu
số và ưu tiên đặc biệt về vật chất, con người, khoa học công nghệ… của Nhà
nước.
Hoàn thiện và củng cố cơ sở hạ tầng; tạo sự thông thương dễ
dàng miền ngược và miền suôi, giữa các vùng núi với nhau, giữa Việt Nam với các
nước láng giềng, tạo dựng hành lang cho sự phát triển. Phát huy thế mạnh của
kinh tế vùng, đồi, rừng, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, sản xuất hướng ra thi
trường, xuất khẩu; xóa bỏ các hủ tục lạc hậu như du canh, du cư, ổn định đời
sống cho nhân dân; có chính sách ưu đãi để thu hút đầu tư của các thành phần
kinh tế, nhất là kinh tế Nhà nước, kinh tế tư nhân.
Đẩy mạnh phát triển giáo dục và đào tạo là vấn đề có ý
nghĩa hàng đầu cho sự phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, bồi dưỡng
nguồn nhân lực con em các dân tộc thiểu số, xây dựng đội ngũ cán bộ tại chỗ; mở
mang hệ thống các trường tiểu học, gắn với thôn bản, tăng số lượng các trường
dân tộc nội trú, thêm các trường khu vực và cả Trung ương giành tiền cho con em
các dân tộc; xây dựng đội ngũ giáo viên, giảng viên là con em các dân tộc, có
chính sách ưu đãi đặc biệt đối với đội ngũ này và học sinh, sinh viên.
Xây dựng các đồn biên phòng, các đoàn kinh tế quốc phòng
vững mạnh, làm hạt nhân cho việc phát triển kinh tế gắn với củng cố quốc phòng
ở vùng núi, biên giới, hải đảo; thu hút con em các dân tộc thiểu số vào các đơn
vị này; tham gia có hiệu quả các hoạt động phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội
ở địa phương; cùng với địa phương xây dựng khu vực phòng thủ, thế trận lòng dân
vững chắc.
Đấu tranh có hiệu quả với những hiện tượng xâm phạm biên
giới, buôn bán ma túy, phụ nữ, trẻ em, buôn lậu; các hủ tục lạc hậu như mê tín
dị đoan. Ma tang, cưới xin tốn kém tốn không ít tiền bạc của đồng bào; phát
triển mạnh các dịch vụ y tế chăm sóc sức khỏe của nhân dân; mở mang các điểm
văn hóa xã, thôn, bản, các lễ hội văn hóa…thu hút đồng bào nâng cao nhận thức,
giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc.
Nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở Việt nam hiện nay.
Đây là giải pháp cơ bản vừa mang tính cấp bách, vừa phải
kiên trì, bền bỉ, lâu dài. Cần phải tích cực tiến hành bằng nhiều nội dung,
hình thức. phương pháp phong phú làm cho nhân dân hiểu những nội dung cốt lõi
về quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong giải quyết vấn đề dân
tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền; hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn lợi dụng của các
thế lực thù địch về vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền.
Tuyên truyền, giáo dục chung đồng thời, trú trọng đối với
đội ngũ cán bộ, đảng viên; đồng bào vùng núi, biên giới, hải đảo, đồng bào dân
tộc thiểu số có tín ngưỡng, tôn giáo; những nhóm đối tượng đặc thù; những nội
dung phức tạp, nhạy cảm; những thời điểm thu hút sự quan tâm của nhiều người.
Kết hợp nhiều kênh thông tin cả Trung ương, địa phương và
cơ sở; xây dựng đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, hạt nhân nòng cốt,
người có uy tín trước cộng đồng, nhất là ở cơ sở, bám sát diễn biến nhận thức,
tâm lý, tình cảm của nhân dân, tuyên truyền những nội dung thiết thực, hiệu quả
định hướng tư tưởng và hành động của nhân dân.
Kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền giáo dục với đấu tranh
chống những nhận thức tư tưởng lệch lạc; chống mọi biểu hiện vi phạm quyền con
người, quyền, lợi ích của nhân dân, quyền bình đẳng, tự quyết dân tộc, quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo; chống mọi biểu hiện dân chủ hình thức, dân chủ cực
đoan bất chấp kỷ cương, pháp luật; đấu tranh có hiệu quả với mọi âm mưu, thủ
đoạn lợi dụng những vấn đề trên để chống phá cách mạng, gây mất an ninh chính
trị, trật tự an toàn xã hội.
Quan điểm của Việt Nam về nhân quyền
Quyền con người là giá trị
chung của nhân loại. Quyền con người bắt nguồn từ phẩm giá con người. Mỗi quốc gia khi tham gia các công ước
quốc tế về quyền con người đều phải có những cam kết nhất định về nghĩa vụ và
trách nhiệm. Đảng và Nhà nước Việt Nam khẳng định quan
điểm và trách nhiệm của mình khi giải quyết các vấn đề liên quan đến quyền con
người mang tính toàn cầu.
Quyền con người và quyền dân
tộc cơ bản là thống nhất. Đảng và Nhà nước Việt Nam cho rằng, sự nghiệp giải
phóng con người gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp,
giải phóng xã hội; quyền con người chỉ có được trong độc lập dân tộc. Vì vậy,
không thể có cái gọi là "nhân quyền cao hơn chủ quyền", chỉ có sự
thống nhất giữa nhân quyền và chủ quyền quốc gia.
Kết
hợp tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người trong nhận thức và giải
quyết các vấn đề cụ thể. Quyền
con người là một giá trị phổ biến được áp dụng phổ biến ở mọi nơi, mọi đối
tượng nhưng mang tính đặc thù với bản sắc riêng phù hợp với trình độ phát triển
kinh tế - xã hội, mang sắc thái văn hóa, lịch sử và truyền thống của mỗi quốc
gia, vùng lãnh thổ, dân tộc, tôn giáo và những đặc điểm riêng khác. Đảng và Nhà nước Việt
Nam thừa nhận và
tán thành quan điểm về tính phổ biến và tính đặc thù của quyền con người. Việt
Nam là một nước đa tôn giáo, đa dân tộc; có trình độ phát triển kinh tế - xã
hội còn thấp. Những đặc điểm đó quy định những đặc thù riêng trong việc thực
hiện và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam.
Trong
xã hội có đối kháng giai cấp, việc bảo đảm thực hiện quyền con người mang tính
giai cấp sâu sắc. Con người sinh ra vốn dĩ đã có
quyền, quyền đó tồn tại dưới dạng những nhu cầu bức thiết, những yêu sách hợp
lý. Nhưng, để trở thành quyền thực sự cần đến yếu tố pháp
luật. Mà pháp luật bao giờ cũng là pháp luật của các chế độ chính trị khác
nhau, nội dung của nó được ghi nhận trong khuôn khổ bảo đảm trước hết lợi ích
của giai cấp thống trị xã hội. Do vậy, quyền con người mang tính giai cấp sâu
sắc, trong thực tế không thể có một thứ quyền trừu tượng siêu giai cấp.
Quyền con
người thể hiện trong quyền công dân và được pháp luật bảo hộ. Đảm bảo bằng pháp luật là một
trong những điều kiện quan trọng nhất để các quyền con người, quyền công dân
được thực hiện.Quyền con người, quyền công dân khi được hiến pháp, pháp luật
ghi nhận trở thành độc lập đối với bất kỳ quyền uy nào, kể cả các cơ quan, viên
chức nhà nước cao nhất.
Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương sẵn sàng đón tiếp, đối thoại và hợp tác với các nước và các tổ
chức quốc tế nhằm tìm hiểu tình hình thực tế và trao đổi ý kiến về các lĩnh vực
liên quan đến các quyền con người trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ
quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau.
Dân chủ ở Việt Nam là dân chủ xã hội chủ nghĩa
Tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện thể chế
thực hành dân chủ theo tinh thần Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013,
bảo đảm tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân. Thực hiện đúng đắn, hiệu
quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở. Thực hiện
tốt có hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám
sát, dân thụ hưởng”.
Đảng
lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội
làm nòng cốt để nhân dân làm chủ. Cấp ủy, tổ chức đảng, các tổ chức trong hệ
thống chính trị, đội ngũ đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức, nêu gương
thực hành dân chủ, tuân thủ pháp luật, đề cao đạo đức xã hội. Đảng và Nhà nước
ban hành đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật tạo nền tảng chính trị,
pháp lý, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân. Đề cao vai trò
chủ thể, vị trí trung tâm của nhân dân trong chiến lược phát triển đất nước,
trong toàn bộ quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát huy tính tích cực
chính trị - xã hội, trí tuệ, quyền và trách nhiệm của nhân dân tham gia xây
dựng chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Mặt trận Tổ
quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, xây dựng đội ngũ đảng viên, cán bộ,
công chức; động viên nhân dân tham gia phát triển kinh tế; góp phần quản lý xã
hội thông qua các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội nghề nghiệp,
các hoạt động tự quản cộng đồng; xây dựng quản lý thụ hưởng văn hóa; xây dựng
nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, ngoại giao nhân dân gắn với thế trận
quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, thế trận lòng dân. Xử lý kịp
thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân lợi dụng dân chủ, gây rối nội bộ, làm
mất ổn định chính trị - xã hội hoặc vi phạm dân chủ, làm phương hại dến quyền
làm chủ của nhân dân.
Vấn đề theo đạo và truyền đạo trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam phải tuân thủ pháp luật của Nhà nước Việt Nam
Mọi tín đồ đều có quyền tự do hành đạo tại gia
đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp luật. Các tổ chức tôn giáo
được Nhà nước thừa nhận được hoạt động theo pháp luật và được pháp luật bảo hộ,
được hoạt động tôn giáo, mở trường đào tạo chức sắc, nhà tu hành, xuất bản kinh
sách, giữ gìn, sửa chữa, xây dựng cơ sở thờ tự tôn giáo theo đúng quy định của
pháp luật.
Việc theo đạo, truyền đạo cũng như mọi hoạt động
tôn giáo khác đều phải tuân thủ theo hiến pháp và pháp luật; không được lợi
dụng tôn giáo tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, không ép buộc
người dân theo đạo. Nghiêm cấm các tổ chức truyền đạo, người truyền đạo và các
cách thức truyền đạo trái phép, vi phạm các quy định của hiến pháp và pháp luật.
Cần xử lý nghiêm những cá nhân tung tin thất thiệt về dịch Covid-19
Thanh tra Sở TT&TT tỉnh TT-Huế phối hợp với Phòng PA05 (Công an tỉnh TT-Huế) vào cuộc kiểm tra, xác định chủ trang Facebook nói trên là của ông Lê Quang H. (trú tại đường Nguyễn Huệ, TP Huế).
Làm việc với cơ quan chức năng, ông H. thừa nhận trang facebook THỪA THIÊN HUẾ do mình lập và quản trị; đã đăng tải và chia sẻ nội dung thông tin không rõ ràng, cụ thể địa điểm xảy ra dịch bệnh Covid-19.
Căn cứ Nghị định 15 của Chính phủ quy định xử phạt về vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử, Thanh tra sở TT&TT tỉnh TT-Huế đã ra quyết định xử phạt ông H. số tiền 5 triệu đồng.
Công tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị
Đảng luôn có chủ trương, chính sách đúng đắn
về dân tộc, tôn giáo; Nhà nước trên cơ sở chủ trương, chính sách của Đảng ban
hành pháp luật, chính sách cụ thể và tổ chức thực hiện. Trong đó chú trọng phát
triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội đối với đồng bào các dân
tộc, tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa, các vùng đặc biệt khó khăn.
Nhà
nước luôn có những giải pháp thích hợp đáp ứng nhu cầu tự do tín ngưỡng, tôn
giáo của đồng bào các dân tộc. Đồng thời việc giải quyết các vấn đề về hoạt
động hợp pháp của các tổ chức tôn giáo, Nhà nước kiên quyết xử lý đối với mọi
hành vi truyền đạo trái phép, lợi dụng tôn giáo làm ảnh hưởng đến an ninh quốc
gia, làm mất trật tự, an toàn xã hội, gây tổn hại đến đạo đức, lối sống, văn
hoá, thuần phong mỹ tục của các dân tộc; xử lý nghiêm những hành vi ngăn cản
tín đồ, chức sắc các tôn giáo trong thực hiện nghĩa vụ công dân, những hành vi
làm phương hại đến độc lập dân tộc, phá hoại chính sách đại đoàn kết toàn dân,
chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Các
tổ chức chính trị - xã hội như: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng
sản Hồ Chí Minh, Tổng Liên đoàn lao động Viêt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam,
Hội Nông dân Việt nam, Hội Phụ nữ Việt Nam... là những tổ chức có vị trí, vai
trò quan trọng, trực tiếp tổ chức triển khai thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước về dân tộc và
tôn giáo. Đó là lực lượng trực tiếp giáo dục đồng bào dân tộc, các tín đồ tôn
giáo chấp hành tốt chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
Lực
lượng vũ trang nhân dân Việt
Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo ở Việt Nam là công tác vận động quần chúng
Sở
dĩ Việt Nam khẳng định nội dung cốt lõi của chính sách dân tộc, tôn giáo là
công tác vận động quần chúng, bởi lẽ: Các dân tộc, tôn giáo là lực lượng to lớn của cách
mạng, vì vậy nếu làm tốt công tác vận động quần chúng trong cộng đồng các dân
tộc và trong các tín đồ tôn giáo sẽ tạo nên sức mạnh to lớn để thực hiện thành
công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thực tế thời gian qua ở Việt Nam đã thực hiện tốt công tác này. Từ hệ thống chính trị, mọi cán bộ, đảng viên, các cấp các ngành và toàn dân đã thực hiện rất tốt công tác vận động quần chúng, đặc biệt là công tác ở vùng dân tộc thiểu số, vùng đồng bào có đạo.
QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM KIÊN ĐỊNH "CON ĐƯỜNG CHÍNH TRỊ"
Trước những sự kiện chính trị lớn của đất nước, đặc biệt là Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII và bầu cử Quốc hội khóa XV, bầu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kì 2021 - 2026, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chiến lược “Diễn biến hòa bình”, âm mưu “phi chính trị hóa quân đội”. Đây là âm mưu cơ bản, chủ yếu trong chiến lược chống phá của các thế lực thù địch. Những luận điệu như Quân đội phải đứng trung lập, không cần đặt dưới sự lãnh đạo của đảng phái nào, lực lượng chính trị nào hoặc Quân đội ta là quân đội của dân, do dân, vì dân nên không cần sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, hay Quân đội vì Đảng hay vì dân.... Thực chất đây là những luận điệu trong âm mưu “phi chính trị hóa quân đội” nhằm làm cho Quân đội ta tách khỏi vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ đó dẫn đến suy yếu, mà trước hết là suy yếu về chính trị tinh thần, gây nên sự mơ hồ, mất cảnh giác trong cán bộ, chiến sĩ, làm cho quân đội không hoàn thành được nhiệm vụ chính trị của mình. Điều đó thật mơ hồ, ảo tưởng và hết sức vô lý.
Đảng, Nhà nước Việt Nam thực hiện nhất quán chính sách đoàn kết các dân tộc và các tôn giáo
Đồng bào theo tôn giáo trước hết là người Việt nam, sau đó mới là tín đồ
tôn giáo, là người Việt Nam theo tôn giáo chứ không phải là người theo tôn giáo
nhập quốc tịch Việt Nam. Vì vậy, ở đồng bào theo tôn giáo có tình yêu quê
hương, đất nước, lòng tự hào và ý thức dân tộc sâu sắc. Họ đều mong muốn xoá bỏ
áp bức, bóc lột, bất công xã hội, khao khát có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh
phúc. Điều đó phù hợp với mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Sự nghiệp cách mạng là
sự nghiệp của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, là sự nghiệp do nhân dân và
vì nhân dân. Đây chính là cơ sở để tập hợp lực lượng, xây dựng khối đại đoàn
kết toàn dân vì sự nghiệp cách mạng.
Trong quá trình cách mạng, đồng bào các tôn giáo ngày càng nhận thức sâu
sắc lợi ích của bản thân và của dân tộc mình, tôn giáo mình gắn bó với lợi ích
của toàn dân tộc và của cách mạng; tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải gắn liền và
phụ thuộc vào độc lập, tự do của Tổ quốc; Tổ quốc có độc lập, thống nhất thì
tôn giáo mới có tự do. Sự thống nhất lợi ích đó là “điểm tương đồng” căn bản,
tạo động lực để đồng bào các dân tộc, các tôn giáo một lòng, một dạ theo Đảng
làm cách mạng trong đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây, trong xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác
nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo.
Cơ sở của đoàn kết là lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt nam hoà bình, độc
lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,
văn minh làm điểm tương đồng; xoá bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần
giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân
tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung… để tập hợp, đoàn kết mọi
người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội. Đây là lập trường có
tính nguyên tắc trong Chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Chính
sách còn chỉ rõ trong mọi trường hợp, cần phân biệt rõ đâu là vấn đề thuộc dân
tộc, tôn giáo, đâu là vấn đề các thế lực thù địch lợi dụng chống phá để có biện
pháp xử lý đúng đắn.
Kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
Hiện nay có quan điểm cho rằng: “Việt Nam lựa chọn con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sai lầm lịch sử; nhà nước nào, chế độ nào cũng được miễn là dân giàu, nước mạnh”. Đây là 1 trong những luận điểm cơ bản, chủ chốt đã được các thế lực thù địch tuyên truyền rộng rãi, nhằm chống đối lại chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự lãnh đạo của ĐCSVN, gây cản trở cho sự phát triển bền vững của dân tộc Việt Nam trong tình hình phức tạp, đầy biến động khó lường hiện nay.
Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân các dân tộc, còn tồn tại lâu dài trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của
cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức,
pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt
hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và
phát minh đó tức là văn hoá”. Vì vậy, những giá trị của tín ngưỡng, tôn giáo,
nổi lên là giá trị đạo đức chính là di sản để coi trọng kế thừa, phát huy để
phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Phải tôn trọng nhu cầu tinh thần, quyền tự do tín ngưỡng và không tín
ngưỡng của nhân dân các dân tộc nhằm phát huy nhân tố tinh thần trong sự nghiệp
xây dựng bảo vệ Tổ quốc. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo khẳng định:
Thứ nhất, công dân có quyền tự do theo hoặc không theo một tôn
giáo nào. Công dân được quyền thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo nhưng
không cản trở việc thực hiện nghĩa vụ công dân với Tổ quốc. Tự do tín ngưỡng,
tôn giáo không có nghĩa là hoạt động tôn giáo nằm ngoài khuôn khổ pháp luật, đi
ngược lại lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân; không có nghĩa là lợi dụng tôn
giáo để phá hoại cách mạng.
Thứ hai, người có tín ngưỡng, tôn giáo và người không có tín
ngưỡng, tôn giáo phải tôn trọng lẫn nhau; không ai được xâm phạm quyền tự do
tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân... Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp
luật, Nhà nước không phân biệt đối xử với một tôn giáo nào. Người có tín
ngưỡng, tôn giáo và người không tín ngưỡng, tôn giáo đều bình đẳng về quyền và
nghĩa vụ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thứ ba, Nhà nước bảo đảm
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân bằng pháp luật. Vi phạm quyền tự
do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân là vi phạm pháp luật, phải bị xử lý bằng
pháp luật. Lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để gây rối, làm mất an
ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, chống đối Đảng, Nhà nước cũng là vi phạm
quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, phải bị pháp luật xử lý.
LẠI THUA!
Vụ mẹ con Cấn Thêu, Trịnh Tư, anh luật sư bào chữa Đặng Đình Mạnh lại đuối lý!
Anh lại ghi thêm vào bảng vàng thành tích của hợp tác xã luật sư toàn thua một quả thua cay đắng nữa.
Chán thật, trước phiên toà thì các anh hùng hổ, sau phiên toà thì như mèo cụp đuôi. Đã bảo không có lý lẽ, căn cứ thì thôi đừng bào chữa nữa, lần nào cũng thua thế này nhục lắm.
Những video chống phá kia của hai mẹ con sờ sờ ra đấy, cãi làm sao được.
Chẳng biết sau phiên này, các anh có sáng mắt ra được tý nào không?
Hải Đăng ST
Quan điểm, chính sách về tôn giáo ở Việt Nam thời gian qua
Đảng Cộng sản
Việt Nam ngay từ khi mới thành lập đã xác định đường lối tự do tín ngưỡng, đoàn
kết lương giáo để giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Trong cuộc cách mạng
dân tộc, dân chủ nhân dân, chính sách “Tín ngưỡng, tự do, lương giáo đoàn kết”
do Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra đã góp phần to lớn vào thắng lợi của sự nghiệp
đấu tranh giành độc lập dân tộc. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và chống
Đế quốc Mỹ, đường lối đại đoàn kết toàn dân, tự do tín ngưỡng đã động viên hàng
chục vạn tín đồ các tôn giáo tham gia cuộc đấu tranh giành và bảo vệ đất nước,
đã có hàng vạn bộ đội thanh niên xung phong; hàng ngàn liệt sỹ, thương binh,
hàng trăm bà mẹ Việt Nam anh hùng là tín đồ các tôn giáo. Trong sự nghiệp xây
dựng đất nước sau chiến tranh, Đảng ta đã quan tâm đến công tác tôn giáo. Năm
1990 Bộ Chính trị khóa VI đã ra nghị quyết 24 về công tác tôn giáo. Các Đại hội
Đảng VII, VIII tiếp tục khẳng định quan điểm đó. Năm 1998, Bộ Chính trị ban
hành chỉ thị 37 - CT/TW về “Công tác tôn giáo trong tình hình mới”. Trong thời
kỳ đổi mới, Đảng tiếp tục thực hiện quan điểm đó bằng Nghị quyết trung ương 7,
khóa IX, với 5 quan điểm cơ bản. Từ quan điểm của Đảng, Nhà nước đã thể chế hóa
bằng pháp luật đối với các hoạt động tôn giáo. Hướng dẫn giúp đỡ các tôn giáo
xây dựng đường hướng hành đạo tiến bộ, gắn bó với dân tộc và chế độ xã hội chủ
nghĩa, sống “tốt đời, đẹp đạo”. Điều đó, được ghi nhận trong hiến pháp đầu tiên
năm 1946. Trong Điều 10 quy định “Công dân Việt Nam có quyền…tự do tín ngưỡng”;
Hiến pháp năm 1959, Điều 26 quy định “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”; Hiến pháp
1980, Điều 68 quy định “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không
theo một tôn giáo nào không ai được lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật và
chính sách của Nhà nước”; Hiến pháp năm 1992, Điều 70 “Công dân có quyền tự do
tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều
bình đẳng trước pháp luật…không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo để
làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”; Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo
năm 2004, Điều 1 quy định “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo
hoặc không theo một tôn giáo nào. Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo của công dân. Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy. Các tôn giáo đều bình
đẳng trước pháp luật. Công dân có tín ngưỡng tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng
tôn giáo cũng như công dân có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau phải tôn trọng lẫn
nhau”; hiến pháp năm 2013, xác định “tôn giáo là quyền con người” .
Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam là nhiệm vụ của hệ thống chính trị và toàn xã hội.
Đảng ra chủ trương,
Nhà nước xác định chính sách và tổ chức thực hiện, các tổ chức đoàn thể tham
mưu tổ chức thực hiện.
Thực hiện quan điểm trên, quân đội tham gia
thực hiện chính sách dân tộc. Quân đội quán triệt sâu sắc quan điểm, chính sách
dân tộc của Đảng và Nhà nước. Nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, vận động
nhân dân…Tích cực tham gia xây dựng, phát triển vùng dân tộc, miền núi vững
mạnh về mọi mặt. Xây dựng thế trận quốc phòng, an ninh vững mạnh vùng dân tộc
thiểu số. Giáo dục cán bộ, chiến sỹ hiểu và tôn trọng phong tục, tập quán,
truyền thống văn hóa các dân tộc.
PHÁT TRIỂN TOÀN DIỆN CÁC LĨNH VỰC TRONG CÔNG TÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM
Phát triển toàn diện
chính trị, kinh tế, văn hoá, xã
hội và an
ninh - quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh
tế với phát triển văn hoá, xã hội, quốc phòng- an ninh.
Về chính trị, mở rộng,
phát huy dân chủ, nâng cao chất lượng tham kiến về chính trị đối với đồng bào
các dân tộc thiểu số.
Về kinh tế, quy hoạch lại các điểm dân cư phân
tán tại địa bàn miền núi, đồng bào dân tộc. Nghiên cứu cơ chế quản lý liên kết
hợp tác phát triển vùng phù hợp, tạo điều kiện phát triển các khu vực, địa bàn
còn nhiều khó khăn, nhất là miền núi, biên giới hải đảo, Tây Bắc, Tây Nguyên,
Tây Nam Bộ và phía tây các tỉnh Miền Trung.
Về văn hoá - xã hội, quan
tâm phát triển giáo dục dạy nghề trong đồng bào dân tộc thiểu số và các vùng
khó khăn. Đẩy mạnh giảm nghèo bền vững, nhất là các vùng đặc biệt khó khăn và
có chính sách đặc thù để giảm nghèo nhanh hơn trong đồng bào dân tộc thiểu số.
Hoàn thiện mạng lưới cơ sở y tế, nhất là miền núi, biên giới, hải đảo. Tăng
cường nhân lực y tế cho khu vực nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo. Phát
triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, giữ gìn bản sắc tốt đẹp của các dân tộc.
Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai, tăng cường quản
lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Kịp thời di dời đồng bào ra khỏi khu vực
sạt lở, lũ lụt. Tăng cường bảo vệ và phát triển rừng bền vững, nhất là rừng
phòng hộ, ven biển, rừng đầu nguồn, rừng đặc dụng; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng
sinh học, bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thuỷ sản. Xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh và
tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Giữ gìn và phát huy truyền thống,
tập quán tốt đẹp của làng quê Việt Nam.
Về
quốc phòng - An ninh, kết hợp tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với nhiệm vụ
phát triển kinh tế- xã hội trong các khu vực phòng thủ, phải bảo đảm yêu cầu về
quốc phòng, an ninh nhất là ở những vị trí trọng yếu, chiến lược. Xây dựng
đường tuần tra biên giới. Nâng cao hiệu quả hoạt động các khu kinh tế- quốc phòng và phát triển bền vững kinh tế- xã hội
khu vực dọc biên giới và biển đảo.
Ưu tiên đầu tư phát
triển kinh tế, xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết tập trung vào
phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo.
Ưu tiên đầu tư phát
triển kinh tế, xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết tập trung vào
phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo. Ưu tiên bố trí
ngân sách nhà nước, tín dụng ưu đãi và huy động các nguồn lực ngoài nhà nước để
đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế- xã hội. Đẩy mạnh tạo nghề với các hình thức đa
dạng, phù hợp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập và
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn, miền núi. Tập trung giải
quyết tình trạng du canh, du cư, di dân tự do. Khai thác có hiệu quả tiềm năng,
thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái. Phát
huy nội lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan
tâm hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước. Phát
huy nội lực, tự lực, tự cường của đồng bào.
CÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM BÌNG ĐẲNG, ĐOÀN KẾT
Các dân tộc bình đẳng,
đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện
thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ
dân tộc.
Qua các giai đoạn lịch
sử, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán chủ trương, nguyên tắc trong đường
lối, chính sách dân tộc, đó là xây dựng khối đoàn kết, bình đẳng giữa cộng đồng
các tộc người, phát triển toàn diện về kinh tế- chính trị- xã hội, bảo đảm các
quyền và tiếp cận các quyền của đồng bào dân tộc thiểu số trên các lĩnh vực.
Đại hội XIII của Đảng
khẳng định: “Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng
phát triển”
Hà Nội chủ động phát hiện, xử lý người nước ngoài nhập cảnh trái phép
Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam.
Quan điểm nhất quán
của Đảng, Nhà nước Việt Nam là: vấn
đề dân tộc là vấn đề chiến lược của cách mạng Việt Nam; các dân tộc trong cộng
đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển.
Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, Đảng Cộng sản
Việt Nam khẳng định: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các
dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh,
tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc
Việt Nam. Tôn trọng lợi ích, truyền thống, văn hóa, ngôn ngữ, tập quán tín ngưỡng
của các dân tộc. Chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, kỳ thị và chia
rẽ dân tộc”. Mục tiêu cuối cùng của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là:
các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, yêu thương, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng
thành công chủ nghĩa xã hội.
VIỆT NAM THỰC HIỆN TỐT VẤN ĐỀ QUYỀN CON NGƯỜI
Quyền con người là các đặc
quyền tự nhiên, bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của tất cả mọi người được cộng
đồng quốc tế và quốc gia thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm bằng hệ thống
pháp luật quốc gia và quốc tế.
Quyền con người đồng nghĩa với tự do của con
người. Quyền con người bao gồm quyền
tự nhiên và quyền xã hội. Quyền con người được biểu hiện ở nhiều mối
quan hệ như: quan hệ giữa cá nhân
với nhà nước; con người với
quyền lực xã hội. Quyền con người mang tính nhân loại, tính lịch sử và tính
giai cấp sâu sắc. Quyền con người là công cụ để tự bảo vệ quyền của mình
trước bạo lực, cường quyền.
Về
mặt nhận thức
Nhận thức về nhân quyền của Đảng, Nhà nước
và nhân dân ngày càng phát triển.Trong các cương lĩnh chính trị, các văn
kiện các kỳ đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định quyền con người,
quyền công dân và luôn đổi mới để tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền
công dân tốt hơn, phù hợp hơn với các điều ước quốc tế. Trên cơ sở quan điểm
của Đảng, Nhà nước Việt Nam đã thể chế hóa quyền con người trong hiến pháp và
pháp luật và các thể chế. Đặc biệt là đã
tăng cường kiểm soát yêu cầu bảo đảm tính hợp hiến của các dự thảo luật, bộ
luật trước và trong quá trình soạn thảo và thông qua luật theo đúng trình tự,
thủ tục.
Quyền con
người được bảo đảm trên thực tế
Chính sách dân tộc bình đẳng, đoàn
kết, trú trọng quan tâm đến đồng bào
dân tộc ít người, đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, nghiêm cấm các hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc. Hiện nay, ở các tỉnh miền núi, mức sống của
nhân dân không ngừng được cải thiện, đã hạn chế gia tăng khoảng cách giàu
nghèo, chênh lệch phát triển giữa các dân tộc, các vùng dân tộc. Tỷ lệ hộ nghèo
trong vùng dân tộc giảm bình quân từ 3% đến 4%/ năm. Quyền tham gia và quản lý công việc Nhà nước và
xã hội được tăng cường. Được thể hiện rõ ở các cuộc bầu cử Quốc
hội và Hội đồng nhân dân các cấp,
bảo đảm khóa sau chất lượng
hơn khóa trước.
Quyền khiếu nại tố cáo được thực
hiện chất lượng. Ban hành và hướng
dẫn tổ chức thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, yêu cầu thủ trưởng cơ quan phải
công khai chương trình kế hoạch công tác và kinh phí hoạt động; kê khai
tài sản của cán bộ phải được niêm yết ở nơi công cộng của cơ quan, đơn vị…
Các quyền tự do dân chủ được thực hiện tốt. Đến nay, Việt Nam đã có hơn 50 cơ quan báo chí với hơn 650 ấn phẩm báo chí các loại, 47 nhà xuất bản, mỗi năm xuất bản hàng vạn đầu sách, in và phát hành trên 600 triệu bản báo.
Trên
lĩnh vực
kinh tế, quyền con người được
bảo đảm, Nhà nước tôn trọng,
bảo vệ, tạo điều kiện thuận lợi để mọi người, mọi thành phần kinh tế phát triển
bình đẳng với nhau.
Trên lĩnh vực xã hội, bằng những chính sách xã hội thỏa đáng,
thực hiện bình đẳng trong các quan hệ xã hội, thực hiện công bằng trong phân
phối dưới nhiều hình thức, như: xây nhà chung cư cho những người có mức sống
còn thấp, xây hàng vạn ngôi nhà tình nghĩa cho những người có công với cách
mạng, khám chữa bệnh cho người nghèo, giáo dục tiểu học bắt buộc, bảo đảm an
sinh xã hội, chăm sóc những người yếu thế, rủi ro, thiệt thòi; thực hiện chế độ
trợ cấp đầy tính nhân đạo đối với con người như: trợ cấp ốm đau thai sản, trợ cấp cho người cao
tuổi, trợ cấp cho người tàn tật, trợ cấp tai nạn nghề nghiệp...
Trên lĩnh vực văn hóa, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Hiến pháp và các văn bản luật quy định rõ quyền con người trong lĩnh vực văn hóa: Quyền được tiếp cận với văn hóa thông tin; quyền được sáng tạo và thưởng thức văn hóa, nghệ thuật; quyền được giữ gìn bảo tồn các di sản văn hóa dân tộc.