Thứ Sáu, 7 tháng 5, 2021
Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp - phương thức nhân dân giao quyền, ủy quyền quyền lực Nhà nước của mình cho đại biểu
Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 đang được tiến hành ở nước ta. Nhận thức đúng đắn bản chất của chế độ bầu cử ở nước ta, để chẳng những ngày bầu cử sẽ trở thành ngày hội của toàn dân, mà còn là vũ khí tư tưởng để đấu tranh phòng, chống những nhận thức không đúng đắn của một số người và hơn thế nữa là tăng sức đề kháng trước các luận điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch thường diễn ra trước mỗi cuộc bầu cử.
Ở nước ta, bầu cử là phương thức cử tri trực tiếp bầu ra các đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp, là phương thức để nhân dân trao quyền lực nhà nước của mình cho Nhà nước (trao quyền lực nhà nước của mình cho người mình lựa chọn). Trong nhà nước dân chủ và pháp quyền thì bầu cử là quyền làm chủ trực tiếp, cơ bản được Hiến pháp quy định và được cụ thể trong một đạo luật về bầu cử. Do đó, có thể nói hành vi bỏ phiếu của cử tri vào thùng phiếu cùng một lúc thực hiện hai chức năng: vừa lựa chọn, vừa trao quyền. Vì vậy, hành vi bầu cử của cử tri đồng nghĩa với việc cử tri trao quyền lực nhà nước của mình cho người mình chọn. Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp ở nước ta có vai trò và ý nghĩa như thế nào? Chế độ bầu cử ở nước ta quy định ra sao? Là những vấn đề cần phải nắm vững trong mỗi cuộc bầu cử.
Vai trò và ý nghĩa của bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp
Trước hết, bằng bầu cử để hợp pháp hóa chính quyền thuộc về nhân dân. Ở nước ta, bầu cử là việc nhân dân lựa chọn, thành lập ra cơ quan đại diện là Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp và ủy thác quyền lực nhà nước của mình cho họ. Như vậy, ý chí của nhân dân thông qua bầu cử là nền tảng của quyền lực nhà nước. Chính vì thế, chính quyền được thành lập thông qua các cuộc bầu cử hợp pháp, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, bên trong thì nhân dân tin tưởng vào chế độ mình, trước thế giới Quốc hội do dân bầu ra sẽ có một giá trị pháp lý không ai có thể phủ nhận được; để “ngày mai là ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình”(1). Nhận thức sâu sắc vai trò, ý nghĩa quan trọng của bầu cử, mặc dù trong điều kiện thù trong, giặc ngoài, chính quyền non trẻ, ngàn cân treo sợi tóc, tình hình kinh tế - xã hội vô cùng khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương: “dân ta sẽ tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình, và gánh vác việc nước”(2) và tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3-9-1945, Người nói: “Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai, gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử, bầu cử, không phân biệt giàu, nghèo, tôn giáo, dòng giống, v.v..”(3). Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên đánh dấu bước trưởng thành của Nhà nước cách mạng Việt Nam, mở ra một thời kỳ mới, thời kỳ đất nước ta có một Quốc hội, một Chính phủ thống nhất, một bản hiến pháp tiến bộ và một hệ thống chính quyền hoàn toàn đầy đủ danh nghĩa về mặt pháp lý để đại diện cho nhân dân Việt Nam về đối nội và đối ngoại.
Hai là, bầu cử là phương thức quan trọng mang tính nền tảng tạo lập nên cơ sở chính trị - pháp lý vững chắc của đất nước. Bằng bầu cử, không những nhân dân chính thức thừa nhận những người đại diện của mình là lực lượng lãnh đạo xã hội mà còn thông qua bầu cử thể hiện sự đa dạng về giai cấp, tầng lớp, dân tộc, địa phương, tín ngưỡng, tôn giáo. Bởi pháp luật về bầu cử ở nước ta được thiết kế phù hợp với kết cấu xã hội mà nó tồn tại. Bầu cử có vai trò là sự “chuyển hóa” những lá phiếu của cử tri thành các “đại biểu” trong các cơ quan đại diện, là “bức tranh hội tụ” tổng thể hình ảnh của các giai tầng, dân tộc, nhân dân trong cả nước và từng địa phương. Vì vậy, Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp sau các cuộc bầu cử là hình ảnh thu nhỏ của đất nước và địa phương - cơ sở chính trị - pháp lý vững chắc của đất nước. Ở nước ta cũng như các nước xã hội chủ nghĩa, nhân dân ủy quyền cho các đại biểu dân cử thực hiện quyền lập pháp, lập quy, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và từng địa phương; đồng thời, các đại biểu thực hiện các quyền đó phải phù hợp với ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Với tính đại diện đa dạng cho những bộ phận người dân trong xã hội, cơ quan dân cử có sứ mệnh hòa giải những nhóm và những cộng đồng khác nhau thông qua bàn luận, đối thoại, thậm chí thỏa hiệp(4). Cơ quan đại diện - sản phẩm của bầu cử là hình ảnh thu nhỏ của cơ cấu xã hội trong phạm vi quốc gia hoặc từng địa phương(5). Những quyết định của cơ quan đại diện là sự đồng thuận của những giai tầng trong xã hội, là sự thừa nhận tuyệt đối của nhân dân đối với cơ quan đại diện do mình lập nên. Khi đề cập đến dân chủ nói chung, pháp luật về bầu cử nói riêng, có thể nói rằng, niềm tin về sự đồng thuận xã hội là trái tim của nền dân chủ, đó là niềm tin của các cá nhân đặt vào Nhà nước và hệ thống chính trị. Niềm tin về sự đồng thuận xã hội được hình thành, phát triển trên cơ sở mối quan hệ qua lại giữa hệ thống chính trị thông qua các thiết chế, trong đó có thiết chế là các cơ quan đại điện của nhân dân. Đây là yếu tố rất quan trọng mang tính gốc rễ cho sự thành công hay thất bại của một cuộc bầu cử. Trong bầu cử, thông qua lá phiếu của cử tri, nhân dân trao quyền và đặt niềm tin vào người đại diện để thực hiện quyền lực nhà nước. Chính vì vậy, bầu cử được ví như là một cuộc trưng cầu dân ý về quan điểm, đường lối chính trị của Đảng, năng lực chính trị của các ứng viên. Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 ở nước ta là một biểu hiện điển hình, một bức tranh sinh động về một cuộc Tổng tuyển cử của lòng dân và “đánh dấu mốc phát triển nhảy vọt đầu tiên về thể chế dân chủ của nước Việt Nam”(6). Ngày nay, niềm tin với nhau giữa Nhà nước nói chung, các thiết chế dân cử nói riêng với nhân dân để cùng nhau gánh vác, sẻ chia, cộng đồng trách nhiệm, sự đồng thuận, đoàn kết các lực lượng trong xã hội là nhân tố cực kỳ quan trọng, tạo nên tính bền vững, ổn định giữa nhân dân và Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.
Ba là, bầu cử là một phương tiện quan trọng để nhân dân giám sát, kiểm soát quyền lực nhà nước, hạn chế sự tha hóa của quyền lực nhà nước. Bầu cử thực chất là sự chuyển giao quyền lực nhà nước của nhân dân cho Nhà nước. Tuy nhiên, cũng chính trong việc chuyển giao quyền lực ấy lại phát sinh một hệ lụy mà nhân dân không hề mong muốn rằng, tuy thoát thai từ nhân dân, từ xã hội, nhưng quyền lực nhà nước lại có xu hướng tách ra khỏi xã hội và “tựa hồ như đứng trên xã hội”. Do vậy, quyền lực nhà nước cần phải được kiểm soát và giới hạn nhằm loại trừ một nghịch lý là quyền lực nhà nước của nhân dân nhưng nó lại có thể đi ngược lại chính nhân dân. Do vậy, việc nhân dân phải giám sát, kiểm soát quyền lực nhà nước của mình để hạn chế sự tha hóa quyền lực nhà nước là cần thiết. Bầu cử chính là một trong những phương tiện để nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước của mình. Sẽ không sai khi cho rằng: “không chỉ đơn thuần là việc lựa chọn người đại diện mà bầu cử đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát và chế ngự quyền lực nhà nước”(7). Sự giám sát, kiểm tra quyền lực nhà nước thông qua bầu cử thể hiện trên hai nội dung là tính định kỳ của các cuộc bầu cử do Hiến pháp và Luật Bầu cử quy định và bãi nhiệm đại biểu nếu họ không xứng đáng với tín nhiệm của nhân dân.
Kết thúc mỗi nhiệm kỳ Quốc hội, Hội đồng nhân dân, quyền lực nhà nước lại trở về với nhân dân. Quyền lực nhà nước không bị chiếm giữ lâu dài hay vĩnh viễn bởi những người được trao quyền. Trong cuộc bầu cử nhiệm kỳ mới, cử tri lại có quyền đánh giá, bày tỏ sự tín nhiệm về người đại diện và quyết định sự tái cử của họ thông qua phiếu bầu. Nếu quyền lực được trao không được sử dụng đúng đắn hoặc lợi dụng quyền lực vì lợi ích cá nhân thì quyền lực sẽ bị nhân dân thu lại bằng việc lựa chọn và trao lại cho người khác xứng đáng hơn. Quyền bãi nhiệm đại biểu là một nội dung của quyền bầu cử là đặc trưng của dân chủ xã hội chủ nghĩa, thể hiện bản chất nhà nước và tính ưu việt của xã hội. Đó là chế tài mang tính chính trị nghiêm khắc nhất đối với đại biểu.
Bốn là, bầu cử phản ánh sự quan tâm của nhân dân đối với đời sống chính trị của đất nước và là phương thức thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động. Sự tham gia của nhân dân, của xã hội vào cuộc bầu cử không chỉ đơn giản và đơn thuần là việc đi bỏ phiếu mà là sự tham gia vào đời sống chính trị của nhân dân từ các công đoạn khác nhau của quy trình bầu cử, như tự ứng cử và giới thiệu người xứng đáng thay mặt mình, ứng cử, nhận xét, đánh giá các ứng viên tại các cuộc họp lấy ý kiến của cử tri nơi cư trú và nơi công tác; thực hiện quyền khiếu nại và tố cáo theo quy định của Luật Bầu cử ... Sự quan tâm của cử tri đối với bầu cử phải được hình thành trên cơ sở nhận thức sâu sắc về lợi ích của bầu cử, từ ý thức chính trị của người dân đối với Nhà nước. Đây chính là yếu tố rất quan trọng, cơ bản cho sự thành công của một cuộc bầu cử.
Chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp ở nước ta là tổng thể các mối quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức bầu cử được điều chỉnh bởi các quy định của pháp luật, các quy tắc do tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội đặt ra và được Nhà nước thừa nhận để cử tri thực hiện quyền ứng cử, bầu cử những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân tham gia Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp. Chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 được quy định bởi Hiến pháp năm 2013, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp (sau đây gọi là Luật Bầu cử) năm 2015, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2020, Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2019.
Thứ nhất, chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp ở nước ta gồm các nội dung cơ bản sau:
Một là, các nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân. Nguyên tắc bầu cử là những quan điểm cơ bản, có tính nền tảng của chế độ bầu cử, được thể hiện ở các quy định của pháp luật về bầu cử, có tính bắt buộc phải tuân thủ trong suốt quá trình tổ chức bầu cử. Các nguyên tắc bầu cử cơ bản bao gồm: Nguyên tắc bầu cử phổ thông thể hiện tính toàn dân và toàn diện trong bầu cử, bảo đảm để mỗi công dân không phân biệt dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, đủ 18 tuổi trở lên đều có quyền tham gia bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên đều có quyền ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật. Nguyên tắc bầu cử bình đẳng bảo đảm cho mọi cử tri đều có khả năng như nhau trong việc tác động đến kết quả bầu cử. Đối với quyền bầu cử, công thức chung là “một người, một phiếu, một giá trị”. Nguyên tắc này cũng đòi hỏi sự bình đẳng về tỷ lệ đại diện giữa các nhóm dân cư trong xã hội, giữa các đơn vị bầu cử và giữa các ứng cử viên trong cuộc bầu cử. Nguyên tắc bầu cử trực tiếp: Đại biểu là do dân trực tiếp bầu ra mà không qua bất kỳ một khâu trung gian nào, bảo đảm cho cử tri thể hiện trung thực, khách quan ý chí và sự tín nhiệm đối với người được bầu. Theo đó, bảo đảm bản chất dân chủ của bầu cử, tạo mối quan hệ gắn bó, trách nhiệm giữa đại biểu và cử tri. Nguyên tắc bỏ phiếu kín là nguyên tắc mang tính kỹ thuật, bảo đảm cho cử tri tự do thể hiện ý chí, nguyện vọng của mình khi bỏ phiếu, ngăn ngừa mọi sự tác động, áp đặt từ bên ngoài.
Mặc dù các nguyên tắc bầu cử vẫn giữ như trước đây, nhưng nội dung và tinh thần các nguyên tắc bầu cử có sự bổ sung thể hiện qua các quy định cụ thể của pháp luật và thực tiễn tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp. Nguyên tắc phổ thông được mở rộng, Nhà nước tạo điều kiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử và tham gia các hoạt động bầu cử, phạm vi đối tượng không được bầu cử thu hẹp, việc hạn chế quyền bầu cử phải trên nguyên tắc pháp quyền. Nguyên tắc bình đẳng bảo đảm tỷ lệ tham gia ứng cử của người dân tộc thiểu số, phụ nữ; bình đẳng trong vận động bầu cử. Quyền tự ứng cử của công dân được pháp luật ghi nhận.
Hai là, quyền bầu cử, ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân. Bầu cử và ứng cử là quyền chính trị cơ bản của công dân ở nước ta được ghi nhận trong Hiến pháp và Luật Bầu cử. Đây là quyền còn được ghi nhận trong các điều ước quốc tế về nhân quyền mang tính toàn cầu và khu vực. Liên hợp quốc đã khẳng định: Ý nguyện của quốc dân phải được coi là căn bản của mọi quyền lực quốc gia(8); mọi công dân không có bất kỳ sự phân biệt và không có bất kỳ sự hạn chế bất hợp lý nào, đều có quyền và có cơ hội để bầu cử và ứng cử(9). Ở nước ta, việc thực hiện quyền bầu cử, ứng cử rộng rãi đã được thể hiện ngay từ cuộc Tổng tuyển cử năm 1946. Ngày nay, quyền bầu cử ngày càng được mở rộng theo nguyên tắc phổ thông cả về phương diện pháp lý lẫn thực tiễn triển khai. Việc thực thi các quyền bầu cử đã xóa bỏ sự hạn chế do phân biệt về thành phần, giai cấp, thái độ chính trị. Các trường hợp bị tước quyền bầu cử, hạn chế quyền bầu cử được quy định cụ thể, chặt chẽ trong Luật Bầu cử. Thực hiện Luật Bầu cử năm 2015, những người bị tạm giam, tạm giữ, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở cai nghiện bắt buộc đã được tham gia bầu cử là điểm mới theo Luật Bầu cử năm 2015.
Ba là, đơn vị bầu cử và hệ thống bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân. Đơn vị bầu cử là khu vực địa lý có số dân nhất định được bầu một số lượng đại biểu nhất định. Nguyên tắc cơ bản của việc phân chia đơn vị bầu cử là bảo đảm sự bình đẳng về tỷ lệ đại diện và giá trị phiếu bầu. Sự chênh lệch chỉ cho phép trong phạm vi tỷ lệ dung sai nhất định. Hệ thống bỏ phiếu đa số tuyệt đối hay vòng tiếp tục được kế thừa và áp dụng, nhưng cách thức phân chia, tổ chức đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội có sự thay đổi mạnh mẽ thể hiện sự đổi mới nhằm tăng tính cạnh tranh, khắc phục tính hình thức trong bầu cử. Các đơn vị bầu cử được thu hẹp phạm vi, chỉ bầu ba đại biểu, nhằm đề cao trách nhiệm đại biểu, tăng cường mối liên hệ giữa đại biểu và cử tri. Từ 79 đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VI (năm 1976), 93 đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VII (năm 1981) tăng gần gấp đôi thành 167 đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VIII và 158 đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa IX (năm 1992). Luật Bầu cử năm 2015 đã kế thừa và quy định cụ thể hơn về số đại biểu Quốc hội được bầu, số dư người ứng cử ở mỗi đơn vị bầu cử đã góp phần làm cho bầu cử thực chất hơn (khóa XIV có 870 ứng viên, bầu 500 đại biểu (gấp 1,74 lần).
Bốn là, quy trình thủ tục bầu cử. Quy trình thủ tục bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân là các bước triển khai tổ chức cuộc bầu cử từ khi công bố ngày bầu cử đến khi xác định kết quả bầu cử. Pháp luật về bầu cử ở nước ta quy định quy trình, thủ tục gồm các bước sau:
- Giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân bao gồm các công việc: Dự kiến cơ cấu thành phần, số lượng người ứng cử và hiệp thương bầu cử. Cơ cấu thành phần và số lượng là vấn đề trọng tâm của bầu cử, nhằm bảo đảm tỷ lệ đại diện hợp lý của các tầng lớp nhân dân. Về mặt pháp lý, nội dung này được định hướng thông qua công tác dự kiến và được quyết định tại các hội nghị hiệp thương do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp chủ trì.
- Vận động bầu cử: Là giai đoạn quan trọng để các ứng viên quảng bá chương trình hành động của mình đến với công chúng, từ đó xây dựng hình ảnh và uy tín chính trị nhằm nhận được sự ủng hộ của cử tri. Pháp luật bầu cử nước ta quy định hai hình thức vận động bầu cử là gặp gỡ tiếp xúc cử tri và trả lời phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng.
- Bỏ phiếu, kiểm phiếu và giám sát bầu cử: Quy trình bỏ phiếu, kiểm phiếu được thực hiện theo quy định của Luật Bầu cử. Trong các cuộc bầu cử, giám sát bầu cử có tác dụng phát hiện, hạn chế những tùy tiện, sai sót, vi phạm, gian lận trong bầu cử, bảo đảm tính trung thực, công khai, minh bạch của bầu cử.
- Quản lý bầu cử: Tổ chức bầu cử là công việc nhạy cảm về chính trị và phức tạp về kỹ thuật nên công tác tổ chức và quản lý bầu cử đóng vai trò hết sức quan trọng. Ở nước ta, công tác tổ chức và quản lý bầu cử là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở.
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo về bầu cử: Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo về bầu cử có vai trò ngăn ngừa, khắc phục kịp thời các vi phạm, bảo đảm cho cuộc bầu cử diễn ra theo đúng các nguyên tắc và tiêu chí dân chủ, phù hợp với Hiến pháp và Luật Bầu cử. Ở nước ta, các tổ chức phụ trách bầu cử có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo về bầu cử theo cơ chế hành chính. Cơ chế tư pháp (thông qua tòa án nhân dân cấp huyện) chỉ áp dụng đối với khiếu kiện của công dân về việc đăng ký cử tri. Quy trình thủ tục bầu cử đã được cải tiến, đổi mới từng bước qua việc ban hành mới, sửa đổi, bổ sung Luật Bầu cử và cải tiến cách thức tổ chức triển khai bầu cử. Hiệp thương bầu cử được cải tiến theo hướng dân chủ dựa trên quan điểm đề cao vai trò của cử tri tham gia vào bầu cử, tôn trọng ý kiến của cử tri nơi công tác và nơi cư trú. Các quy định cụ thể, các bước hiệp thương bầu cử tiếp tục được quy định cụ thể và thực chất hơn. Về mặt pháp lý, vai trò chủ trì của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hiệp thương bầu cử được đề cao. Nội dung hiệp thương không chỉ giới hạn trong việc giới thiệu nhân sự ứng cử mà còn thỏa thuận về cơ cấu, thành phần và số lượng đại biểu được bầu trên cơ sở số đủ dự kiến và có quyền biểu quyết lựa chọn người để giới thiệu ứng cử. Quy trình hiệp thương 5 bước đã góp phần nâng cao chất lượng người ứng cử. Đồng thời, bảo đảm tỷ lệ người tham gia ứng cử và tỷ lệ thích đáng đại biểu đại diện cho các dân tộc thiểu số, đại biểu là nữ,...
Thứ hai, Đảng lãnh đạo công tác bầu cử.
Bầu cử và đảng chính trị gắn bó chặt chẽ với nhau. Ở các nước, các đảng chính trị chỉ có thể trở thành đảng cầm quyền khi giành được thắng lợi trong cuộc bầu cử. Do vậy, các đảng chính trị đã chuyển hóa bầu cử, ứng cử thành công cụ để tranh cử và thắng cử đóng vai trò then chốt trong bầu cử. Ở các nước này “Hoạt động tranh cử... về hình thức là cuộc ganh đua giữa các cá nhân, song thực chất là cuộc chạy đua giữa các đảng phái”(10). Ở nước ta, khi chưa giành được chính quyền, Đảng đã tham gia vận động bầu cử, tranh cử trong cuộc đấu tranh vì các quyền dân sinh, dân chủ (1936 - 1939). Năm 1945, mặc dù tuyên bố “tự giải tán”, thực chất là rút vào hoạt động bí mật, Đảng vẫn giới thiệu được các đảng viên tham gia tranh cử và lãnh đạo thành công công cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên. Sau khi giành được chính quyền, Đảng giữ vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Vị thế đó được Hiến pháp ghi nhận. Sự lãnh đạo của Đảng đối với cuộc bầu cử thể hiện qua việc đề ra chủ trương và lãnh đạo Nhà nước xây dựng, đổi mới, hoàn thiện chế độ bầu cử; định ra chủ trương lớn có tính định hướng để tổ chức các cuộc bầu cử; lãnh đạo Nhà nước và các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị tham gia tổ chức bầu cử; lãnh đạo khuyến khích các tầng lớp nhân dân tham gia bầu cử; xây dựng chính quyền. Đảng tham gia cuộc bầu cử qua việc bồi dưỡng, giới thiệu đảng viên ứng cử; tham gia công tác hiệp thương, tuyên truyền, vận động bầu cử. Giới thiệu đảng viên ứng cử là con đường duy nhất của đảng chính trị nắm giữ quyền lực nhà nước một cách chính đáng và hợp pháp, hiện thực hóa sự lãnh đạo qua Nhà nước, duy trì, củng cố vị thế lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội. Sự lãnh đạo của Đảng là yếu tố quyết định đến thành công của cuộc bầu cử. Đảng lãnh đạo bầu cử và tham gia bầu cử trên cơ sở pháp luật. Các hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên trong bầu cử phải bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, công khai, minh bạch theo các trình tự, thủ tục do luật định về bầu cử là đòi hỏi trước tiên về việc phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng đối với bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp ở nước ta./.
Diễn biến đại dịch COVID-19 và ảnh hưởng đến toàn cầu
Hiện nay, cả thế giới đang dồn tâm, dồn lực vào chống đại dịch viêm phổi cấp do virus corona chủng mới gây ra. Dịch bệnh này bùng phát vào tháng 12-2019, nay đã nhanh chóng lan rộng ra toàn cầu với 215 quốc gia có nguời nhiễm bệnh và số nạn nhân của COVID-19 tăng từng ngày. Trước mức độ nguy hiểm của đại dịch, ngày 31-1-2020, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã tuyên bố tình trạng khẩn cấp toàn cầu. Đến ngày 11-3-2020, WHO chính thức công bố COVID-19 là “đại dịch toàn cầu”.
Tính đến ngày 23-9-2020, số ca nhiễm trên toàn thế giới là gần 32 triệu người, số ca tử vong là gần 1 triệu người. Nhưng số ca nhiễm chưa có dấu hiệu dừng lại mà vẫn tăng nhanh. Theo các nhà nghiên cứu dự báo, số ca bệnh vẫn tăng khó lường và số người thiệt mạng không chỉ dừng lại ở con số gần 1 triệu người.
Lấy mẫu xét nghiệm nhanh COVID-19 tại Los Angeles, ngày 20-7-2020_Ảnh: Tư liệu
Các chuyên gia kinh tế của Oxford Economics ước tính, dịch COVID-19 có thể khiến nền kinh tế toàn cầu thiệt hại hơn 1.000 tỷ USD do năng suất lao động giảm, sản xuất đình đốn, chuỗi cung ứng bị gián đoạn, thương mại và đầu tư giảm, ngành du lịch bị thiệt hại nặng nề…
Một số nguyên nhân dẫn đến dịch bệnh lây lan nhanh:
Một là, sự vào cuộc chưa quyết liệt của chính phủ nhiều nước trong việc dập dịch, chưa coi dịch COVID-19 là mối đe dọa nghiêm trọng, dẫn tới các biện pháp chưa đủ mạnh. Nhiều nhà khoa học đã nhận định, Mỹ và các nước châu Âu chưa có sự chuẩn bị tốt để ứng phó với COVID-19, ở cả lĩnh vực xét nghiệm, thực hiện giãn cách xã hội và xử lý tình trạng lây nhiễm. Ngoài ra, Mỹ và các nước châu Âu lo ngại, nếu mạnh tay chống dịch sẽ làm tổn thương đến kinh tế và động chạm đến các vấn đề chính trị nhạy cảm.
Hai là, sự thờ ơ, chủ quan, thiếu hợp tác của người dân trong phòng, chống dịch COVID-19. Do đề cao quyền riêng tư và tự do cá nhân, nên khi các biện pháp chống dịch được thực hiện, nhiều người dân ở các nước phương Tây đã không cộng tác, thậm chí còn chống đối, kêu gọi đòi biểu tình. Vì vậy, những biện pháp, như giãn cách xã hội, đeo khẩu trang đến nơi cộng cộng, vệ sinh cá nhân… không phát huy tác dụng…
Hiệu quả của việc sử dụng “sức mạnh mềm” trong phòng, chống dịch bệnh COVID-19 ở Việt Nam
Với những tổn thất về con người, kinh tế, chính trị mà COVID-19 đang gây ra cho toàn thế giới đã cho thấy, không phải lúc nào sức mạnh quân sự, sức mạnh kinh tế cũng giải quyết được mọi vấn đề của cuộc sống đang đặt ra. Những vũ khí tối tân nhất của nhân loại cũng không thể loại bỏ được một virus vô hình. Cơn dịch bệnh gây chết người hàng loạt đang cho thấy nền tảng tôn thờ “sức mạnh cứng”, tôn thờ quyền lực, lợi lộc, danh vọng, sức mạnh của đồng tiền,… không phải là triết lý sống của nhân loại. Virus không phải là một “loài siêu thông minh”, cũng không có bất cứ “mưu lược tính toán” nào để lây lan, hãm hại loài người, vì thế, mức độ phát tán của nó phụ thuộc chính vào cách ứng xử của con người. Nếu loài người nắm chặt tay nhau, đồng thuận cùng nhau hướng đến triết lý nhân sinh, chính phủ các nước đặt giá trị sinh mạng con người ở mức tối thượng thì hoàn toàn có thể vượt qua đại nạn này. Nói cách khác, tác hại nhiều hay ít của COVID-19 đến con người phụ thuộc rất nhiều vào thể chế chính trị, vào sự đồng thuận của người dân và vào việc sử dụng “sức mạnh mềm” của mỗi quốc gia.
Ở Việt Nam, Anh hùng dân tộc, Danh nhân văn hóa Nguyễn Trãi đã từng khẳng định, chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân, sức dân như nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng cho rằng: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”(1). Mọi việc đều bắt nguồn từ dân, lấy dân làm gốc, sinh mạng của người dân là quan trọng nhất, là bài học lớn được đúc kết suốt chiều dài lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Điều này cũng đã được Đảng ta vận dụng thành công trong hơn 90 năm qua. Vì thế, một trong năm bài học mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đúc kết là: “Đổi mới phải luôn luôn quán triệt quan điểm “dân là gốc”, vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò làm chủ, tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của nhân dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc”(2). Bài học lịch sử đó một lần nữa đã được chứng minh, được phát huy trong phòng, chống đại dịch COVID-19 của Việt Nam hôm nay. Đây là giá trị văn hóa và “sức mạnh mềm” vô cùng quý báu, là đường lối chiến lược mang tính lâu dài, là quy luật sinh tồn và phát triển của toàn dân tộc Việt Nam.
Bộ đội Biên phòng Đồn Biên phòng Cửa khẩu Trà Lĩnh phát khẩu trang miễn phí và hướng dẫn cho người dân các sử dụng _Ảnh: TTXVN)
Với dân số gần 100 triệu người, có đường biên giới dài với Trung Quốc (quốc gia đầu tiên xuất hiện dịch bệnh), Việt Nam là nước có nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh rất cao. Nhưng với sự vào cuộc quyết liệt và sự đồng thuận của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, hiện nay về cơ bản chúng ta đã kiểm soát và dập dịch tốt, được các nước trên thế giới và khu vực ca ngợi, thừa nhận, lấy làm gương trong phòng, chống đại dịch. Để có thành công đó là do chúng ta biết khai thác “sức mạnh mềm” Việt Nam. Điều đó được thể hiện:
Thứ nhất, công tác ứng phó và chủ động phòng, chống dịch của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị Việt Nam.
Khi có thông tin về ca bệnh ở đầu tiên ở Vũ Hán và nguy cơ lây lan của COVID-19, ngày 16-1-2020, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Y tế (phối hợp với Tổ chức Y tế thế giới - WHO) khẩn trương xây dựng các kịch bản, phương án phòng, chống dịch; chuẩn bị cơ sở vật chất phục vụ công tác cách ly, xét nghiệm, khám, điều trị. Đến ngày 23-1-2020 khi phát hiện ca nhiễm bệnh đầu tiên ở Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ ban hành Công điện số 121/CĐ-TTg và liên tiếp các ngày 28 và 31-1-2020, Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 05/CT-TTg, ngày 28-1-2020 “Về việc phòng, chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona gây ra”, Chỉ thị số 06/CT-TTg, ngày 31-1-2020 “Về việc tăng cường các biện pháp phòng, chống trước các diễn biến phức tạp mới của dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của vi rút Corona gây ra”, trong đó quán triệt tinh thần “chống dịch như chống giặc”, huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc để phòng, chống dịch. Ban chỉ đạo Quốc gia phòng, chống dịch được thành lập.
Ngày 30-1-2020, Ban Bí thư Trung ương Đảng có Công văn số 79-CV/TW “Về việc phòng, chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do vi rút Corona gây ra”, yêu cầu cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân khẩn trương vào cuộc. Xác định phòng, chống dịch là một nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, huy động toàn hệ thống chính trị, lực lượng vũ trang, toàn dân khẩn trương, quyết liệt thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch. Trước diễn biến nhanh, phức tạp của tình hình dịch bệnh, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành Chỉ thị số 13/CT-TTg, ngày 11-3-2020, “Về việc tiếp tục đẩy mạnh phòng, chống dịch COVID-19 trong tình hình mới” tập trung thực hiện nghiêm chỉ đạo của Ban Bí thư, tăng cường các biện pháp kiểm soát chặt chẽ dịch bệnh, bố trí nguồn lực cho các hoạt động y tế, bảo đảm môi trường, hỗ trợ kiểm soát phòng, chống dịch.
Ngày 21-3-2020, Bộ Chính trị ban hành Thông báo kết luận số 172-TB/TW “Về công tác phòng, chống dịch bệnh COVID-19”, yêu cầu các cấp ủy đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể cần tiếp tục tập trung phòng, chống dịch bệnh với tinh thần trách nhiệm cao nhất, kiên quyết không để dịch bệnh bùng phát, đồng thời, thực hiện các nhiệm vụ cấp bách, hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp, duy trì sản xuất, kinh doanh, chăm lo cho người dân, chủ động chuẩn bị các phương án phục hồi nền kinh tế. Động viên nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp phát huy tinh thần yêu nước, lòng nhân ái, trách nhiệm xã hội, cùng tham gia phòng, chống dịch. Đặc biệt, ngày 30-3-2020, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng ra Lời kêu gọi đồng bào, đồng chí, chiến sĩ cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài đoàn kết một lòng, thống nhất ý chí và hành động, thực hiện quyết liệt, hiệu quả những chủ trương của Đảng và Nhà nước, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, để bảo đảm chiến thắng đại dịch COVID-19. Toàn hệ thống chính trị tập trung cao độ để tiếp tục chủ động ngăn chặn và kiểm soát có hiệu quả dịch bệnh; không quá hốt hoảng nhưng tuyệt đối không được chủ quan, lơi lỏng; nắm chắc tình hình, dự báo khả năng xấu nhất, kịp thời đề ra các biện pháp hữu hiệu để kiểm soát, ngăn chặn bằng được sự lan rộng lây nhiễm. Mỗi cơ quan, đơn vị, tổ chức, mỗi địa phương cần bám sát sự chỉ đạo của cấp trên, chủ động và phối hợp chặt chẽ hơn nữa để thực hiện các công việc phòng, chống dịch; ưu tiên nguồn lực, thời gian và công sức cho công tác chống dịch… Nhờ thực hiện nghiêm các chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bằng nhiều giải pháp cụ thể, đến nay, về cơ bản, Việt Nam đã kiểm soát tốt dịch bệnh.
Hai là, sự đồng thuận của người dân Việt Nam.
Quyết tâm chính trị cao của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong chống dịch COVID-19 đã nhận được sự đồng lòng, chung sức, đồng thuận cao của người dân, thực sự là “ý Đảng - lòng dân”, đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân. Mọi người dân Việt Nam đa số đều nghiêm túc thực hiện việc phòng, chống dịch, đeo khẩu trang khi ra đường, đến nơi công cộng; thực hiện các biện pháp theo dõi lịch trình, khai báo y tế; vệ sinh cá nhân cẩn thận; cách ly tập trung và thực hiện cách ly toàn xã hội. Các cửa hàng, cửa hiệu kinh doanh hàng hóa không thiết yếu đều đóng cửa, người dân hạn chế ra khỏi nhà… Theo điều tra của Viện Dư luận và Xã hội, Ban Tuyên giáo Trung ương với 21.277 lượt người tham gia trả lời, có 85% người dân hoàn toàn tin tưởng Việt Nam sẽ khống chế, dập tắt dịch COVID-19(3). Bởi, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn đặt sức khỏe của người dân lên trên hết, sẵn sàng hy sinh lợi ích kinh tế trước mắt để bảo vệ sức khỏe, tính mạng của người dân.
Người dân đoàn kết một lòng, mỗi người dân đều là chiến sĩ chống dịch, tạo nên sức mạnh tập thể, cùng nhau đẩy lùi dịch bệnh COVID-19 (Trong ảnh: Người dân nhận gạo miễn phí tại một cây ATM gạo dành cho người nghèo)_Ảnh: Tư liệu
“Sức mạnh mềm” được phát huy trong cuộc chiến chống dịch COVID-19 đã và đang diễn ra, để mọi người đoàn kết một lòng, mỗi người dân đều là chiến sĩ chống dịch, tạo nên sức mạnh tập thể, cùng nhau đẩy lùi dịch bệnh. Chính phủ đã ký Nghị quyết số 42/NQ-CP, ngày 9-4-2020, của Chính phủ “Về các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch COVID-19” chi 62 nghìn tỷ đồng để hỗ trợ người dân khó khăn do đại dịch COVID-19. Đồng thời, với truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái của dân tộc, thời gian qua, nhiều tổ chức, cá nhân đã tự nguyện góp tiền, góp gạo hỗ trợ người nghèo, nhiều câu chuyện đẹp và cảm động, như ATM gạo, tin nhắn điện thoại, các doanh nhân ủng hộ hàng trăm triệu đồng đến cụ già đạp xe cả chục cây số đến ủng hộ 20.000 đồng,… đã được lan tỏa không chỉ trong nước mà cả cộng đồng quốc tế.
Những thành công lớn bước đầu trong cuộc chiến chống đại dịch COVID-19 là tổng hợp sức mạnh của cả dân tộc ta, trong đó cần nhấn mạnh “sức mạnh mềm” của cả đất nước đã được phát huy đúng mức và đúng lúc. “Sức mạnh mềm” lúc này là một thứ tài sản vô cùng quý báu. Kết quả của sự đồng thuận xã hội, đoàn kết dân tộc, đồng lòng, chung sức trong cuộc chiến chống đại dịch cũng minh chứng cho sức mạnh mềm Việt Nam. Với bài học này, chúng ta càng thấy ý nghĩa sâu sắc và giá trị nhân văn lớn lao từ những quyết sách của Đảng, Chính phủ, từ sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, quân đội, công an đến các bộ, ngành chức năng và nhân dân. Trong khó khăn, thử thách, “sức mạnh mềm” của người Việt càng tỏa sáng./.
Không thể xuyên tạc Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ
Khi cả nước đang tưng bừng tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm 67 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (7-5-1954/7-5-2021) thì trên Internet và một số trang mạng xã hội lại lạc lõng xuất hiện một số bài viết có nội dung phán xét, xuyên tạc, phủ nhận tầm vóc, giá trị lịch sử to lớn này của nhân dân Việt Nam. Bên cạnh tập trung xuyên tạc bản chất, tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta; chúng còn xuyên tạc, hạ bệ thần tượng lịch sử. Đây là những luận điệu, hành động không mới về thủ đoạn nhưng hết sức thâm độc, qua đó gieo rắc sự nghi ngờ, làm phân tâm niềm tin trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, nhất là giới trẻ hiện nay. Các thế lực, phản động xuyên tạc rằng, cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc ta chỉ là cuộc đụng độ giữa hai thế lực hiếu chiến; hay đáng nói hơn, chúng tráo trở cho rằng, thực chất Quân đội Pháp dưới sự hậu thuẫn của Mỹ có mặt ở Việt Nam là để ngăn Việt Nam xâm lược một nước khác.
Phải khẳng định rằng, trong thời gian ấy, Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng mọi biện pháp giành lấy hoà bình bằng giải pháp đàm phán với Pháp mà cả thế giới đều biết. Nhưng với dã tâm xâm lược nước ta một lần nữa, chúng đã đưa hàng chục vạn sĩ quan, binh lính của quân đội nhà nghề, với hàng triệu tấn bom đạn, vũ khí, phương tiện chiến tranh tối tân nhất để giáng lên đầu hàng chục triệu người dân vô tội. Tuy nhiên, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân tộc ta đã nhất tề đứng lên, vượt qua hi sinh, gian khổ để giành chiến thắng cuối cùng tại Chiến dịch Điện Biên Phủ (tháng 5-1954), buộc Chính phủ Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, đồng thời phải công nhận độc lập của Lào, Campuchia, rút quân khỏi 3 nước Đông Dương. Điều đó khẳng định, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân Việt Nam là cuộc chiến tranh chính nghĩa. Thắng lợi vĩ đại của Chiến dịch Điện Biên Phủ, của nhân dân Việt Nam là kết quả của cả một quá trình đấu tranh cách mạng anh dũng, kiên cường, bất khuất; là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, đỉnh cao của khí phách, bản lĩnh và trí tuệ của toàn dân tộc; là thắng lợi của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; thắng lợi của sự kiên trì đường lối tiến hành chiến tranh nhân dân và của nghệ thuật quân sự tài tình. Trong cuộc chiến tranh này, chiến thắng đã thuộc về Đảng quang vinh, Bác Hồ vĩ đại, nhân dân và Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, thắng lợi của bạn bè, các lực lượng tiến bộ và yêu chuộng hòa bình trên thế giới, chứ đâu phải như những ý kiến lạc lõng, phản động trên.
Với sự kiện và nhân vật lịch sử rõ như ban ngày trong Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ 67 năm về trước, thế nhưng các thế lực thù địch, phản động và một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí vẫn xuyên tạc, bóp méo sự thật quả là không thể chấp nhận được. Để đấu tranh với những hành động trên, cấp ủy, chỉ huy và cán bộ đảng viên các cấp trong Quân đội cần làm tốt hơn nữa công tác tuyên truyền, giáo dục lịch sử truyền thống, tinh thần yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc bằng mọi hình thức, nhất là đối với sĩ quan trẻ, chiến sĩ mới. Từ đó khẳng định giá trị lịch sử to lớn của Chiến thắng Điện Biên Phủ. Bên cạnh đó, cần chủ động, sáng tạo tăng cường mọi biện pháp rèn luyện, nâng cao bản lĩnh, lập trường tư tưởng, chính trị để cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn có đủ kiến thức, nhãn quan chính trị, nhậy bén nhận biết những thông tin sai trái, xuyên tạc, bôi nhọ lịch sử của kẻ xấu để lên án, đấu tranh hiệu quả.
Cần có cái nhìn khách quan về tình hình Biển Đông
Thời gian gần đây, khi tình hình Biển Đông xuất hiện những biến động phức tạp, các thế lực thù địch một lần nữa lại lợi dụng vấn đề này để bóp méo sự thật, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam, từ đó khuấy động lòng dân, hòng gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự trong nước và làm tổn hại đến quan hệ của Việt Nam với các nước liên quan.
Thực tế, vấn đề Biển Đông, chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông là không thể từ bỏ và đây cũng là nguyên tắc bất biến trong quá trình dựng và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Riêng với vấn đề Biển Đông, những người đứng đầu Đảng, Nhà nước, Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng Việt Nam đã nhiều lần khẳng định, Việt Nam có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển ở Biển Đông được xác định theo đúng các quy định của Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) mà Việt Nam và các nước ở Biển Đông đều là thành viên. Với vấn đề chủ quyền lãnh thổ nói chung và vấn đề Biển Đông nói riêng, lập trường nhất quán của Việt Nam là giải quyết mâu thuẫn thông qua thương lượng hòa bình trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982 và Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC). Lãnh đạo Đảng, Nhà nước luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, cụ thể là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao... Những năm gần đây, khi vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao, chúng ta càng có thêm nhiều cơ hội để đưa ra tiếng nói, khẳng định chủ quyền ở Biển Đông tại các cơ chế, diễn đàn đa phương. Ví dụ điển hình nhất là trong thời gian đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021, Việt Nam đã nhiều lần nêu vấn đề Biển Đông để cộng đồng quốc tế có cái nhìn khách quan, đúng đắn về vấn đề này.
Bởi vậy, giải quyết vấn đề Biển Đông - rất cần cái nhìn khách quan, tỉnh táo. Dù tình hình trên biển nhiều lúc căng thẳng, phức tạp, Việt Nam vẫn đạt được mục tiêu, đó là giữ vững chủ quyền biển, đảo, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, không để xảy ra xung đột. Qua đó càng chứng minh chủ trương, đường lối, chính sách giải quyết bất đồng trên Biển Đông của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế chung của thế giới. Vậy mà gần đây, trước những thông tin mới về tình hình Biển Đông, dù chưa biết diễn biến ở thực địa "nóng, lạnh" ra sao, một số đối tượng vẫn “cầm đèn chạy trước ô tô”, kích động dư luận bằng những nhận định xuyên tạc, bóp méo sự thật... Những luận điệu đó thực chất là chiêu bài kích động hận thù dân tộc, khiến cho tình hình thêm căng thẳng, nhằm thực hiện chia rẽ nội bộ và làm căng thẳng quan hệ đối ngoại của Việt Nam, mưu đồ tạo ra một cuộc xung đột quân sự với hậu quả khó lường.
Lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam đã chứng minh. Người dân Việt Nam hơn ai hết mong muốn hòa bình, ổn định và phát triển, trong xu thế hợp tác và phát triển của thế giới, Việt Nam ngày càng mở rộng quan hệ, tăng cường hợp tác với nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế, song tuyệt nhiên không có tư tưởng và hành động dựa dẫm, ỷ lại hoặc "lôi bè kéo cánh" để giải quyết bất đồng về chủ quyền lãnh thổ. Chính sách không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế của Việt Nam, là những quan điểm, chính sách nhất quán, đến nay vẫn giữ nguyên giá trị. Bởi vậy, cái gọi là Việt Nam đi với nước này chống lại nước kia là luận điệu xuyên tạc, tuyệt nhiên không có trong đường lối đối ngoại, hoặc trong chủ trương giải quyết vấn đề Biển Đông mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xác định. Do đó, với vấn đề Biển Đông, ưu tiên hàng đầu của Việt Nam là giải quyết bất đồng bằng các biện pháp hòa bình. Chiến tranh chỉ là giải pháp cuối cùng, bất khả kháng để tự vệ và bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc.
Chúng ta càng khẳng định lại rằng vấn đề Biển Đông không phải là việc có thể giải quyết trong một sớm một chiều, mà cần sự kiên trì, lâu dài. Để góp phần đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc, mỗi người dân Việt Nam yêu nước rất cần có cái nhìn khách quan về tình hình Biển Đông, về đường lối, chủ trương giải quyết vấn đề này của Đảng và Nhà nước, đồng thời tỉnh táo, cảnh giác, phản bác mạnh mẽ các luận điệu xuyên tạc, kích động mà những phần tử xấu đã và đang rắp tâm tạo ra.
Tác động của đại dịch COVID-19 đến kinh tế thế giới
Tính đến sáng ngày 23-9-2020, cả thế giới có gần 32 triệu ca nhiễm, trong đó có hơn 23,4 triệu ca đã được chữa trị khỏi, gần 1 triệu người tử vong(1). Mỹ là quốc gia có số ca nhiễm vi-rút SARS-CoV-2 lớn nhất, hơn 7,1 triệu người, tiếp đến là Ấn Độ, Brazil, Nga, Colombia, Peru… Số ca nhiễm và tử vong do vi-rút SARS-CoV-2 gây ra chưa có dấu hiệu dừng lại mà vẫn tiếp tục tăng từng ngày trên thế giới. Tại Việt Nam, sau hơn 3 tháng không phát hiện thêm ca lây nhiễm trong cộng đồng, thì những ngày cuối tháng 7-2020, những ca bệnh mới đã được phát hiện mà chưa tìm được nguồn lây bệnh. Tính cho đến ngày 23-9-2020, Việt Nam ghi nhận 1.069 ca mắc COVID-19.
Sự bùng phát của dịch bệnh COVID-19 trên thế giới và quay trở lại tại Việt Nam mà chưa có vắc-xin điều trị được sản xuất hàng loạt buộc các quốc gia phải sử dụng các biện pháp như giãn cách xã hội, đeo khẩu trang nơi công cộng, rửa tay thường xuyên, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân để hạn chế sự lây lan của dịch bệnh.
Đại dịch COVID-19 đang tác động mạnh mẽ lên chuỗi giá trị toàn cầu thông qua các trung tâm của chuỗi. Trong đại dịch COVID-19, các quốc gia chịu tác động nặng nề cũng là các trung tâm của mạng sản xuất toàn cầu như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ. Khi đại dịch bùng nổ, các biện pháp giãn cách xã hội được thực hiện, nhiều hoạt động sản xuất tạm dừng lại. Chuỗi cung ứng bị đứt đoạn ảnh hưởng đến các hoạt động đầu tư, thương mại toàn cầu, từ đó làm suy giảm tăng trưởng nền kinh tế thế giới nói chung và nhiều quốc gia, khu vực nói riêng.
Do tác động của COVID-19, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) toàn cầu năm 2020 được Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển (UNCTAD) đánh giá sẽ thu hẹp “từ mức 1.540 tỷ USD năm 2019 xuống dưới 1.000 tỷ USD”. Theo dự báo của UNCTAD, năm 2021, dòng FDI sẽ giảm thêm từ 5% - 10% và có thể bắt đầu phục hồi từ năm 2022(2). Cho đến nay, dịch bệnh vẫn đang diễn biến phức tạp tại nhiều quốc gia trên thế giới, khả năng dòng vốn FDI phục hồi là rất mịt mờ.
Thương mại toàn cầu - gắn kết chặt chẽ với chuỗi cung ứng và dòng vốn FDI toàn cầu - cũng đang chịu tác động tiêu cực từ đại dịch COVID-19. Vào ngày 4-8-2020, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) dự báo thương mại toàn cầu giảm 13% trong năm 2020. Cấu trúc sản xuất toàn cầu mang tính tập trung cao độ, một số trung tâm lớn trên thế giới cung ứng đầu vào, đóng vai trò quan trọng trong chuỗi giá trị và mạng sản xuất toàn cầu. Vì thế, cú sốc COVID-19 tác động đến các trung tâm sản xuất sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất và thương mại toàn cầu. Bên cạnh đó, một số quốc gia chuyển sang “tự cung tự cấp” trong thời kỳ dịch bệnh như một biện pháp phản ứng trước đại dịch COVID-19 sẽ càng làm cho thương mại toàn cầu thêm tồi tệ(3).
Đại dịch COVID-19 tác động đến hai trụ cột trong tăng trưởng kinh tế toàn cầu là thương mại và đầu tư, do đó cũng sẽ tác động làm suy giảm tăng trưởng sản lượng toàn cầu. Theo dự báo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), ngày 24-6-2020, tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong năm ước giảm 4,9%. Dự báo của IMF cũng phản ánh tình hình kinh tế thế giới ngày càng tồi tệ hơn khi vào tháng 4-2020, IMF dự báo tăng trưởng thế giới giảm 3%. Dự báo của Ngân hàng Thế giới cho thấy, nền kinh tế toàn cầu thậm chí còn tồi tệ hơn, suy giảm ở mức 5,2% năm 2020. Tăng trưởng kinh tế Mỹ được IMF dự báo giảm 8%, tăng trưởng của khu vực đồng tiền chung châu Âu giảm 10,5%, Nhật Bản giảm 5,8% và Trung Quốc tăng trưởng ở mức thấp 1%. Tăng trưởng kinh tế thế giới và tại một số quốc gia, vùng lãnh thổ là bạn hàng thương mại lớn của Việt Nam suy giảm sẽ tác động trực tiếp đến thương mại, đầu tư của nền kinh tế nước ta.
Tác động của COVID-19 đến việc làm toàn cầu cũng rất mạnh mẽ. Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (ILO), trong quý II năm 2020, tổng số giờ làm việc toàn cầu giảm 14%, tương đương 400 triệu lao động toàn thời gian. Mức giảm việc làm toàn cầu còn mạnh hơn so với dự báo trước đó của ILO. Suy giảm việc làm bên cạnh nguyên nhân sản xuất đi xuống, còn do việc nhiều quốc gia thực hiện các biện pháp giãn cách xã hội để chống sự bùng phát của vi-rút SARS-CoV-2.
Tuy nhiên, đại dịch COVID-19 cũng đem đến những nhìn nhận mới, rõ nét hơn về cơ hội phát triển. Chẳng hạn, trong thời kỳ dịch bệnh COVID-19 và thực hiện giãn cách xã hội, các cuộc họp, học tập, hội thảo trực tuyến nở rộ ở các quy mô và cấp độ khác nhau cho thấy tiềm năng của mạng internet chưa được khai thác một cách đầy đủ từ trước đến nay. Chẳng hạn, Quốc hội Việt Nam đã có những phiên họp trực tuyến mang tính tiên phong; Đại hội đồng Liên hợp quốc tổ chức họp trực tuyến lần đầu tiên trong lịch sử vào những ngày tháng 6-2020 - thời điểm dịch bệnh vẫn đang diễn biến phức tạp khó lường; hay Đại hội đồng liên Nghị viện ASEAN họp trực tuyến trong tháng 9-2020. Nhiều trường học các cấp, nhiều cuộc họp trong và ngoài nước tiến hành trực tuyến. Điều này giúp tiết kiệm chi phí, giảm thiểu thời gian đi lại cho mọi người. Tuy nhiên, đi liền với đó, thể chế cũng cần có sự thay đổi để đáp ứng trước quá trình chuyển đổi số đó.
Tóm lại, đại dịch COVID-19 là cú sốc y tế mạnh mẽ, tác động đến mọi mặt lên nền kinh tế thế giới. Tăng trưởng toàn cầu và của nhiều quốc gia, khu vực ở mức âm; đầu tư và thương mại toàn cầu suy giảm; người lao động mất việc làm, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao. Trong khó khăn do dịch bệnh mang lại, cũng có những cơ hội xuất hiện, nhất là các hoạt động kinh tế - xã hội trực tuyến như bán hàng trực tuyến, học trực tuyến, họp trực tuyến và thậm chí có những doanh nghiệp có kế hoạch dài hạn cho nhân viên làm việc trực tuyến tại nhà. COVID-19 đang đẩy nhanh quá trình ứng dụng và cho ra đời những sản phẩm mới từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Đại dịch đem đến cho thế giới những khó khăn, thách thức; nhưng đồng thời cũng đem đến cơ hội. Quốc gia nào biết tận dụng cơ hội sẽ có khả năng vươn lên mạnh mẽ sau đại dịch. Và ngược lại, quốc gia nào không tận dụng tốt cơ hội sẽ gặp nhiều khó khăn trong thời kỳ “hậu COVID-19”.
Tác động của Đại dịch COVID-19 đến nền kinh tế Việt Nam
Qua 35 năm đổi mới (1986 - 2020), nền kinh tế Việt Nam đạt được nhiều thành tựu to lớn. Tăng trưởng kinh tế luôn ở mức dương, có nhiều năm tăng trưởng đạt mức cao trên dưới 8%; tỷ lệ nghèo giảm mạnh từ 58% năm 1993 xuống 11,3% năm 2009 và chưa đến 4% vào năm 2019; thu nhập người dân được cải thiện rõ rệt, đời sống người dân nâng cao. Tuy nhiên, trong hơn 3 thập niên đổi mới, nền kinh tế Việt Nam nhiều lần chịu tác động bởi các cú sốc bên ngoài như cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, cuộc khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008 và cú sốc dịch tễ vào năm 2020. Khác với 2 cú sốc trước là về tài chính - tiền tệ, cú sốc COVID-19 lần này chưa từng có tiền lệ, tác động mạnh mẽ lên nhiều nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.
Mặc dù đại dịch COVID-19 tác động lên nhiều lĩnh vực của nền kinh tế nước ta, nhưng thể hiện tập trung ở hai yếu tố chính là cung và cầu. Đối với yếu tố cầu, dịch bệnh COVID-19 cùng với việc thực hiện biện pháp giãn cách xã hội cần thiết, bắt buộc theo Chỉ thị số 16/CT-TTg, ngày 31-3-2020, của Thủ tướng Chính phủ, “Về thực hiện các biện pháp cấp bách phòng, chống dịch COVID-19” làm tiêu dùng trong nước sụt giảm mạnh. Trong khi đó, các nền kinh tế lớn (Mỹ, Trung Quốc, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc) cũng chịu ảnh hưởng lớn bởi dịch bệnh và thực hiện các biện pháp giãn cách xã hội dẫn đến tăng trưởng kinh tế suy giảm, kéo theo sự sụt giảm về cầu nhập khẩu, trong đó có hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng giảm 0,8% so với cùng kỳ năm 2019 và nếu loại trừ yếu tố giá thì còn giảm mạnh hơn, ở mức 5,3% (cùng kỳ năm 2019 tăng 8,5%). Trong đó, doanh thu bán lẻ hàng hóa 6 tháng đầu năm 2020 tăng 3,4% so với cùng kỳ năm 2019. Những mặt hàng thiết yếu đối với cuộc sống như lương thực, thực phẩm, đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng; nhưng những mặt hàng như may mặc, phương tiện đi lại, văn hóa phẩm, giáo dục… chịu ảnh hưởng nặng nề bởi các biện pháp giãn cách xã hội có tốc độ giảm.
Cũng trong 6 tháng đầu năm 2020, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống giảm tới 18,1% so với cùng kỳ năm 2019; doanh thu du lịch lữ hành giảm tới 53,2% - đây là lĩnh vực chịu tác động nghiêm trọng nhất bởi dịch bệnh COVID-19 và từ việc thực hiện các biện pháp giãn cách xã hội.
Đối với cầu đầu tư, 6 tháng đầu năm 2020, vốn đầu tư toàn xã hội tăng 3,4% so với cùng kỳ năm trước - mức tăng thấp nhất trong giai đoạn 2016 - 2020, trong đó khu vực nhà nước tăng 7,4%; khu vực ngoài nhà nước tăng 4,6% và khu vực FDI giảm 3,8%. Trong 6 tháng đầu năm 2019, vốn đầu tư toàn xã hội tăng 10,3% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, khu vực nhà nước tăng 3%, khu vực ngoài nhà nước tăng 16,4% và khu vực FDI tăng 9,7%. Như vậy, nhu cầu đầu tư của 2 khu vực: khu vực ngoài nhà nước và khu vực FDI sụt giảm trong 6 tháng đầu năm 2020 so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư khu vực FDI giảm mạnh nhất, từ tăng trưởng 9,7% 6 tháng đầu năm 2019 xuống tăng trưởng âm 3,8% so với cùng kỳ năm 2020; tăng trưởng vốn đầu tư từ khu vực ngoài nhà nước sụt giảm từ 16,4% 6 tháng đầu năm 2019 xuống còn 7,4% năm so với cùng kỳ năm 2020. Tuy nhiên, điểm sáng duy nhất là vốn đầu tư của khu vực nhà nước tăng từ 3% 6 tháng đầu năm 2019 lên 7,4% so với cùng kỳ năm 2020. Trong thời điểm nền kinh tế gặp khó khăn và tổng cầu suy giảm, Nhà nước đã đóng vai trò quan trọng nhằm hạn chế sự suy giảm của tổng cầu.
Đối với nhu cầu bên ngoài cũng có sự suy giảm, trong 6 tháng đầu năm 2020, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu giảm 1,1% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó khu vực kinh tế trong nước có kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tăng 11,7%; khu vực FDI (kể cả dầu thô) giảm 6,7%. Điểm đáng lưu ý, trong 6 tháng đầu năm 2020, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước; khu vực kinh tế trong nước tăng 10,8% và khu vực FDI (kể cả dầu thô) tăng 5,9%. Như vậy, khu vực kinh tế trong nước vẫn duy trì được kim ngạch xuất khẩu tăng trên 10%; khu vực FDI có kim ngạch xuất khẩu hàng hóa năm 2020 giảm và năm 2019 tăng, do đó làm cho kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tế tăng vào năm 2019 và giảm vào năm 2020. Thực trạng này cho thấy kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tế nước ta phụ thuộc rất lớn vào khu vực FDI và đại dịch COVID-19 tác động tiêu cực đến đầu tư và chuỗi giá trị toàn cầu cũng đang tác động đến xuất khẩu của nền kinh tế nước ta.
Nhìn chung, do ảnh hưởng đại dịch COVID-19, cầu của nền kinh tế (tiêu dùng, đầu tư, xuất khẩu) bị sụt giảm, từ đó làm suy giảm hoạt động sản xuất và tăng trưởng của nền kinh tế. Các biện pháp của Chính phủ đang triển khai hiện nay chủ yếu hướng tới kích thích tổng cầu và phục hồi sản xuất.
Đối với yếu tố cung, đại dịch COVID-19 làm đứt gãy chuỗi cung ứng đầu vào và lao động. Chẳng hạn, trong ngành công nghiệp ô-tô, do linh kiện đầu vào khan hiếm cùng với thực hiện giãn cách xã hội nên các doanh nghiệp sản xuất ô-tô trong nước như Honda, Nissan, Toyota, Ford, Hyundai… phải tuyên bố tạm dừng sản xuất, chỉ đến khi thời kỳ giãn cách xã hội kết thúc và chuỗi cung ứng được kết nối trở lại, các doanh nghiệp sản xuất ô-tô mới quay trở lại hoạt động.
Nhiều doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp có chuyên gia người nước ngoài và người lao động nước ngoài chịu tác động nặng nề từ COVID-19 khi nguồn cung lao động bị thiếu. Chi phí sử dụng lao động trong thời kỳ này cũng cao hơn khi các doanh nghiệp phải đầu tư thêm khẩu trang, nước sát khuẩn, thực hiện các biện pháp an toàn trong lao động để tránh lây nhiễm vi-rút.
Ở góc độ xã hội, COVID-19 tác động làm tăng tỷ lệ nghèo và cận nghèo về thu nhập và làm sụt giảm thu nhập tạm thời của hộ gia đình và người lao động. Theo kết quả khảo sát của UNDP và UN WOMEN (2020), “trong tháng 12-2019, trung bình tỷ lệ hộ nghèo là 11,3%. Tỷ lệ này tăng lên tới 50,7% trong tháng 4-2020. Tỷ lệ hộ cận nghèo tăng từ 3,8% vào tháng 12-2019 lên 6,5% vào tháng 4-2020”. Quan trọng hơn, những hộ gia đình thuộc nhóm dân tộc thiểu số và hộ gia đình có lao động phi chính thức và gia đình những người nhập cư chịu tác động từ dịch bệnh lớn hơn. Cũng theo kết quả điều tra của UNDP và UN WOMEN (2020), “thu nhập trung bình của các hộ gia đình dân tộc thiểu số trong tháng 4 và tháng 5-2020 lần lượt chỉ tương ứng 25,0% và 35,7% so với mức tháng 12-2019. Trong khi đó, những con số này cao hơn, lần lượt ước tính khoảng 30,3% và 52% đối với nhóm hộ gia đình người Kinh và người Hoa. Trong tháng 4 và tháng 5-2020, thu nhập trung bình của hộ di cư được ước tính chỉ tương đương 25,1% và 43,2% so với mức của tháng 12-2019. Những con số này lần lượt là 30,8% và 52,5% đối với nhóm hộ gia đình không di cư”.
COVID-19 tác động lên mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội, ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, hoạt động thương mại, lao động, việc làm và thu nhập của người lao động. Tuy nhiên, đứng trước cú sốc này, Nhà nước nhanh chóng thực hiện các giải pháp mạnh, trước hết là để hạn chế sự lây lan của dịch bệnh, sau đó là để phát triển kinh tế. Các giải pháp đã chứng tỏ thành công bước đầu khi khống chế được dịch bệnh, không để lây lan trong cộng đồng trong thời gian dài (trên 3 tháng) và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội, nhất là hoạt động du lịch cũng đang bắt đầu trên con đường khởi sắc trở lại trước khi dịch bệnh bùng phát lần nữa vào cuối tháng 7-2020.
Bầu cử đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026: Cuộc vận động chính trị quan trọng và đợt sinh hoạt dân chủ sâu rộng trong nhân dân*
Chúng ta đều biết, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 diễn ra vào thời điểm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng: Cả nước ta ra sức thi đua lập thành tích chào mừng thành công của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng - một sự kiện chính trị trọng đại của Đảng ta, đất nước ta và dân tộc ta, có ý nghĩa chiến lược đối với sự nghiệp tiếp tục đổi mới toàn diện và đồng bộ, phát triển đất nước nhanh và bền vững hơn trong thời kỳ mới. Các hoạt động tổ chức kỷ niệm 75 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên vừa qua đã để lại ấn tượng tốt đẹp, đánh giá sâu sắc những thành tựu, kết quả nổi bật của Quốc hội Việt Nam trong suốt 14 nhiệm kỳ qua, rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quý báu để tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của đất nước.
Cùng với sự kiện có ý nghĩa chính trị quan trọng của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 là cuộc vận động chính trị quan trọng và là đợt sinh hoạt dân chủ sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân. Đây là cơ hội để nhân dân ta thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua việc lựa chọn, bầu ra những đại biểu tiêu biểu, thật sự có đức, có tài, xứng đáng đại diện cho nhân dân tại Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp. Đây cũng là dịp để tiếp tục xây dựng, củng cố và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Nhận thức đầy đủ tầm quan trọng cũng như ý nghĩa to lớn của cuộc bầu cử lần này, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ và Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã xác định đây là một trong những nhiệm vụ chính trị trọng tâm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong năm 2021. Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 45-CT/TW, ngày 20-6-2020, trong đó yêu cầu cả hệ thống chính trị phải đoàn kết, thống nhất, tăng cường phối hợp, tập trung dốc sức chuẩn bị các điều kiện cần thiết để tổ chức thắng lợi cuộc bầu cử, bảo đảm cuộc bầu cử được tiến hành một cách thật sự dân chủ, bình đẳng, đúng pháp luật, an toàn và tiết kiệm. Tiếp đó, Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Bầu cử quốc gia, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các ngành, các cấp và các địa phương đã khẩn trương ban hành các chỉ thị, nghị quyết, quyết định, kế hoạch, hướng dẫn, tổ chức triển khai công tác bầu cử theo đúng yêu cầu quy định và tiến độ đề ra
Hôm nay, trong không khí phấn khởi đón chào năm mới 2021 và chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị toàn quốc nhằm quán triệt và triển khai thi hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, kế hoạch triển khai, các thông báo, hướng dẫn về công tác bầu cử. Đề nghị các đồng chí tập trung nghiên cứu tài liệu, thảo luận sôi nổi, tích cực tham gia đóng góp nhiều ý kiến, góp phần vào thành công của Hội nghị. Ngay sau Hội nghị này, các cấp uỷ, các tổ chức đảng, các cơ quan, tổ chức và đơn vị có liên quan cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện thật tốt phương hướng, nhiệm vụ của cuộc bầu cử, để cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV, bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 đạt kết quả cao nhất và thật sự trở thành ngày hội của toàn dân.
Trong quá trình này, chúng ta cần chú trọng quán triệt thật tốt những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và những chủ trương, chính sách lớn mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã đề ra về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, trong đó có Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp trong sạch, vững mạnh; nhất là về công tác cán bộ, để lựa chọn bầu ra những đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp thật sự xứng đáng, có đủ trình độ, phẩm chất và năng lực ngang tầm nhiệm vụ, góp phần tích cực vào việc thực hiện Nghị quyết Đại hội của Đảng, trong đó có Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025, kỷ niệm 50 năm giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc; Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021 - 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng và tầm nhìn đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam).
Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2021 - 2026: Một số lưu ý để tránh xảy ra thiếu sót
Qua các lần bầu cử, nhất là bầu một lần toàn bộ đại biểu dân cử, khối lượng công việc vô cùng lớn, vận hành trong một khoảng thời gian hạn hẹp, dù đã rất cố gắng nhưng vẫn còn những khiếm khuyết nhất định. Rút kinh nghiệm các lần bầu cử trước, lần bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 năm nay đang vào thời gian “nước rút”, phải nỗ lực hạn chế tới mức thấp nhất các thiếu sót đã vấp phải, mà trước hết là những thiếu sót “thường bị lặp lại”.
Từ đầu thế kỷ XXI đến nay, đất nước ta đã tiến hành bầu cử 4 nhiệm kỳ đại biểu dân cử và tới đây là nhiệm kỳ thứ 5. Trong 5 nhiệm kỳ thì có 3 nhiệm kỳ bầu một lần cả đại biểu Quốc hội (ĐBQH) và đại biểu hội đồng nhân dân (HĐND). Có thể nhìn lại một vài thiếu sót ở những lần trước để phòng, tránh cho lần này.
Một là, ở một vài địa phương, tới “phút chót” mới phát hiện ra những sai sót trong bản kê khai lý lịch của một, hai ứng cử viên. Thiếu sót này trước hết là ứng cử viên thiếu trung thực, tiếp đó là trách nhiệm chưa cao của cơ quan, tổ chức, đơn vị giới thiệu người ứng cử. Trong hội nghị lấy ý kiến cử tri, có người biết, nhưng lo sợ “rắc rối” về sau nên sau đó mới thầm lặng viết đơn tố cáo, đơn vị mới kiểm tra làm rõ. Sát ngày bầu cử, không thể bổ sung ứng cử viên khác được nên đành thực hiện theo phương án rút bớt một đại biểu được bầu ở đơn vị bầu cử đó để bảo đảm nguyên tắc đủ số dư theo luật định. Lần bầu cử này, còn hơn một tháng nữa, trong hiệp thương lần thứ ba (lần cuối), cần chỉ đạo hết sức sâu sát, chặt chẽ, tỉ mỉ để không tái diễn sự việc đáng tiếc.
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Đồng Tháp tổ chức hội nghị hiệp thương lần thứ hai, lập danh sách sơ bộ những người ứng cử
Hai là, ở các đơn vị bầu cử, tổ bầu cử, nơi trực tiếp tác nghiệp đã từng xảy ra một số thiếu sót về chuyên môn, nghiệp vụ làm ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình bầu cử. Có thể ví dụ một tình huống cụ thể, đó là việc in sai tên người ứng cử đại biểu HĐND cấp xã, tình trạng này đã xảy ra ở một số đơn vị bầu cử của một số tỉnh, thành phố; có người ứng cử bị in sai họ; có người ứng cử bị in sai tên; có người ứng cử bị in sai tên đệm... Đáng lưu ý là, có tỉnh thiếu sót này xảy ra ở ba, bốn tổ bầu cử. Từ một nửa đến hai phần ba số cử tri đã bỏ phiếu rồi mới phát hiện ra. Ủy ban bầu cử tỉnh đã chỉ đạo lập biên bản, buộc phải dừng bỏ phiếu, in lại phiếu bầu (danh sách người ứng cử) và bỏ phiếu lại. Một tình huống khác, ở cả hai lần bầu cử trước, một số khu vực bỏ phiếu có sơ suất trong việc kiểm soát số phiếu phát ra, số phiếu thu về không chặt chẽ và có những cử tri bỏ phiếu xong, nhưng thẻ cử tri không đóng dấu “Đã bỏ phiếu”. Các khu vực đó đều phải tổ chức bầu cử lại... Những thiếu sót này đã gây ra nhiều phức tạp, phiền toái, tốn kém chi phí vật chất, gián đoạn bầu cử, bầu cử lại bị dồn ép thời gian... Nguyên nhân chủ yếu là thiếu tinh thần trách nhiệm và sự chủ quan của các thành viên các tổ bầu cử đó khi làm phiếu bầu, kiểm soát, quản lý phiếu. Tiếp đó là sự chỉ đạo thiếu sâu sát của ban bầu cử và sự giám sát của các cấp theo quy định của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp... Tuy là thiếu sót cũ nhưng là bài học còn nguyên giá trị cho những cuộc bầu cử lần sau. Người trực tiếp làm phiếu bầu phải hết sức cẩn trọng; các thành viên tổ bầu cử phải hết sức tập trung vào nhiệm vụ được phân công trong suốt cả ngày bầu cử, trong đó có việc kiểm soát phiếu bầu, đóng dấu đã bỏ phiếu; các cấp chỉ đạo, kiểm tra, giám sát phải thật sự sâu sát, tỉ mỉ, kỹ càng.
Ba là, ở địa phương, ủy ban bầu cử và ban bầu cử biết rất rõ, không nên bố trí các ứng cử viên có sự chênh lệch quá xa về vị thế, chức vụ, trình độ... vào cùng một đơn vị bầu cử (mà cử tri nói dân dã là bố trí kiểu “quân xanh”, “quân đỏ”). Nhưng ở một số địa phương vẫn xảy ra tình trạng này. Trong cuộc bầu cử ĐBQH khóa XII, vẫn có đơn vị bầu cử có biểu hiện này. Ở một đơn vị bầu cử của một tỉnh miền núi phía Bắc đã sắp xếp bí thư, chủ tịch HĐND tỉnh, chủ tịch hội nông dân tỉnh, chủ tịch ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh cùng bảng với một nữ giáo viên và một nữ là cán bộ văn phòng cấp xã; 5 người, chọn lấy 3, kết quả là 3 lãnh đạo cấp tỉnh trúng cử, 2 ứng cử viên là nữ thì rớt. Hay là, ở một đơn vị bầu cử của một tỉnh Nam Bộ đã sắp xếp phó bí thư thường trực tỉnh ủy, chủ tịch liên đoàn lao động tỉnh, một ứng cử viên Trung ương được phân bổ về, cùng bảng với nữ chủ tịch liên đoàn lao động huyện và một nữ giáo viên; 5 người, bầu chọn lấy 3, kết quả là 2 ứng cử viên là nữ không trúng cử... Trong các đơn vị bầu cử nói trên, tất cả những ứng cử viên bị bố trí kiểu “quân xanh”, phần lớn nữ đều không trúng cử. Cần lưu ý rằng, đây có thể cũng là một trong những lý do vì sao số ứng cử viên ĐBQH là nữ thì cao mà tỷ lệ nữ trúng cử lại vẫn thấp.
Bốn là, có những thiếu sót từ phía cử tri. Theo quy định tại Điều 71, Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND hiện hành thì việc bỏ phiếu được bắt đầu từ 7 giờ sáng đến 7 giờ tối cùng ngày. Tùy tình hình địa phương, tổ bầu cử có thể quyết định cho bắt đầu bỏ phiếu sớm hơn nhưng không được trước 5 giờ sáng, hoặc kết thúc muộn hơn nhưng không được quá 9 giờ tối cùng ngày. Để thực thi quyền lợi và nghĩa vụ này, ở khu vực nông thôn, bà con cử tri thường bàn bạc, mạn đàm hai phương án: một là, tranh thủ làm tròn nghĩa vụ công dân, đi bầu trước, sau đó về, yên tâm ra đồng làm việc; hai là, sáng ra đi làm cho “trọn ngày, đày buổi”, để cuối ngày về mới làm nghĩa vụ công dân. Thực tế cho thấy, tất cả những nơi thực thi theo phương án một đều đạt kết quả tốt về tỷ lệ cử tri tham gia bầu cử. Những nơi theo phương án hai, có những nơi xảy ra những sự cố bất thường trong công việc đồng áng nên không ít tổ bầu cử phải kéo dài thời gian bỏ phiếu. Cá biệt sắp tới giờ kết thúc, có những tổ bầu cử mới có hơn một nửa số cử tri đi bầu, làm cho những công việc cuối ngày bỏ phiếu vô cùng gấp gáp, dễ phát sinh những sơ suất... Trong các nguyên nhân của thiếu sót này có thiếu sót của công tác thông tin, tuyên truyền ở cơ sở chưa thật tốt theo Điều 70 của Luật Bầu cử ĐBQH và đại biểu HĐND, “trong thời hạn 10 ngày trước ngày bầu cử, tổ bầu cử phải thường xuyên thông báo cho cử tri biết ngày bầu cử, nơi bỏ phiếu, thời gian bỏ phiếu bằng hình thức niêm yết, phát thanh và các phương tiện thông tin đại chúng khác của địa phương”.
Năm là, có những thiếu sót do “cộng hưởng” từ thiếu sót của nhiều công đoạn dồn lại. Trong một cuộc bầu cử ĐBQH, ở 6 đơn vị bầu cử trong cả nước, có 37 ứng cử viên đạt trên 50% phiếu bầu, trong đó có 8 ứng cử viên đạt trên 55% và 3 ứng cử viên khác đạt trên 58% số phiếu bầu mà không trúng cử, trong khi bầu thiếu 7 ĐBQH. “Kết cục” này có phần do sắp xếp ứng cử viên vào đơn vị bầu cử có số dư lớn (ứng cử viên “ngang tài, ngang sức” là tốt, nhưng số dư lớn, 4 ứng cử viên, chỉ bầu lấy 2 thì phiếu bầu sẽ bị phân tán, “chia đều”); có phần do chỉ đạo chưa sát của ủy ban bầu cử địa phương; có phần do vận động bầu cử của các ứng cử viên và có phần thiên kiến lựa chọn cụ thể của cử tri. Trong cuộc bầu cử tới, các chủ thể có liên quan nói trên đều phải lưu ý khắc phục và bộ máy thông tin, tuyên truyên phải hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn, góp phần giúp cử tri chọn lựa hợp lý, chính xác hơn...
Để không lặp lại những thiếu sót, hạn chế nói trên, giải pháp hàng đầu là phải tiếp tục quán triệt sâu sắc, triệt để và thực thi đúng đắn Chỉ thị số 45-CT/TW, ngày 20-6-2020, của Bộ Chính trị “Về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026” và Nghị quyết liên tịch số 09/2021/NQLT-UBTVQH14-CP-ĐCTUBTWMTTQVN, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn quy trình hiệp thương, giới thiệu người ứng cử ĐBQH khóa XV, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026. Trong đó, nhiệm vụ thứ 5 và thứ 6 của Chỉ thị số 45-CT/TW nhấn mạnh, đề cao trách nhiệm, quyền hạn và sự phối hợp của các cơ quan, đơn vị phụ trách bầu cử, nhất là trong các nhiệm vụ thẩm định hồ sơ người ứng cử; tuyên truyền vận động bầu cử để cử tri tự giác, tích cực và chủ động tham gia bầu cử; khắc phục có hiệu quả những hạn chế, khuyết điểm trong tổ chức bầu cử ĐBQH, đại biểu HĐND các khóa gần đây./.
Chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp ở nước ta
Chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp ở nước ta là tổng thể các mối quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức bầu cử được điều chỉnh bởi các quy định của pháp luật, các quy tắc do tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội đặt ra và được Nhà nước thừa nhận để cử tri thực hiện quyền ứng cử, bầu cử những người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân tham gia Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp. Chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 được quy định bởi Hiến pháp năm 2013, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp (sau đây gọi là Luật Bầu cử) năm 2015, Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2020, Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2019.
Thứ nhất, chế độ bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp ở nước ta gồm các nội dung cơ bản sau:
Một là, các nguyên tắc bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân. Nguyên tắc bầu cử là những quan điểm cơ bản, có tính nền tảng của chế độ bầu cử, được thể hiện ở các quy định của pháp luật về bầu cử, có tính bắt buộc phải tuân thủ trong suốt quá trình tổ chức bầu cử. Các nguyên tắc bầu cử cơ bản bao gồm: Nguyên tắc bầu cử phổ thông thể hiện tính toàn dân và toàn diện trong bầu cử, bảo đảm để mỗi công dân không phân biệt dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, đủ 18 tuổi trở lên đều có quyền tham gia bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên đều có quyền ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật. Nguyên tắc bầu cử bình đẳng bảo đảm cho mọi cử tri đều có khả năng như nhau trong việc tác động đến kết quả bầu cử. Đối với quyền bầu cử, công thức chung là “một người, một phiếu, một giá trị”. Nguyên tắc này cũng đòi hỏi sự bình đẳng về tỷ lệ đại diện giữa các nhóm dân cư trong xã hội, giữa các đơn vị bầu cử và giữa các ứng cử viên trong cuộc bầu cử. Nguyên tắc bầu cử trực tiếp: Đại biểu là do dân trực tiếp bầu ra mà không qua bất kỳ một khâu trung gian nào, bảo đảm cho cử tri thể hiện trung thực, khách quan ý chí và sự tín nhiệm đối với người được bầu. Theo đó, bảo đảm bản chất dân chủ của bầu cử, tạo mối quan hệ gắn bó, trách nhiệm giữa đại biểu và cử tri. Nguyên tắc bỏ phiếu kín là nguyên tắc mang tính kỹ thuật, bảo đảm cho cử tri tự do thể hiện ý chí, nguyện vọng của mình khi bỏ phiếu, ngăn ngừa mọi sự tác động, áp đặt từ bên ngoài.
Mặc dù các nguyên tắc bầu cử vẫn giữ như trước đây, nhưng nội dung và tinh thần các nguyên tắc bầu cử có sự bổ sung thể hiện qua các quy định cụ thể của pháp luật và thực tiễn tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp. Nguyên tắc phổ thông được mở rộng, Nhà nước tạo điều kiện cho cử tri thực hiện quyền bầu cử và tham gia các hoạt động bầu cử, phạm vi đối tượng không được bầu cử thu hẹp, việc hạn chế quyền bầu cử phải trên nguyên tắc pháp quyền. Nguyên tắc bình đẳng bảo đảm tỷ lệ tham gia ứng cử của người dân tộc thiểu số, phụ nữ; bình đẳng trong vận động bầu cử. Quyền tự ứng cử của công dân được pháp luật ghi nhận.
Hai là, quyền bầu cử, ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân. Bầu cử và ứng cử là quyền chính trị cơ bản của công dân ở nước ta được ghi nhận trong Hiến pháp và Luật Bầu cử. Đây là quyền còn được ghi nhận trong các điều ước quốc tế về nhân quyền mang tính toàn cầu và khu vực. Liên hợp quốc đã khẳng định: Ý nguyện của quốc dân phải được coi là căn bản của mọi quyền lực quốc gia(8); mọi công dân không có bất kỳ sự phân biệt và không có bất kỳ sự hạn chế bất hợp lý nào, đều có quyền và có cơ hội để bầu cử và ứng cử(9). Ở nước ta, việc thực hiện quyền bầu cử, ứng cử rộng rãi đã được thể hiện ngay từ cuộc Tổng tuyển cử năm 1946. Ngày nay, quyền bầu cử ngày càng được mở rộng theo nguyên tắc phổ thông cả về phương diện pháp lý lẫn thực tiễn triển khai. Việc thực thi các quyền bầu cử đã xóa bỏ sự hạn chế do phân biệt về thành phần, giai cấp, thái độ chính trị. Các trường hợp bị tước quyền bầu cử, hạn chế quyền bầu cử được quy định cụ thể, chặt chẽ trong Luật Bầu cử. Thực hiện Luật Bầu cử năm 2015, những người bị tạm giam, tạm giữ, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở cai nghiện bắt buộc đã được tham gia bầu cử là điểm mới theo Luật Bầu cử năm 2015.
Ba là, đơn vị bầu cử và hệ thống bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân. Đơn vị bầu cử là khu vực địa lý có số dân nhất định được bầu một số lượng đại biểu nhất định. Nguyên tắc cơ bản của việc phân chia đơn vị bầu cử là bảo đảm sự bình đẳng về tỷ lệ đại diện và giá trị phiếu bầu. Sự chênh lệch chỉ cho phép trong phạm vi tỷ lệ dung sai nhất định. Hệ thống bỏ phiếu đa số tuyệt đối hay vòng tiếp tục được kế thừa và áp dụng, nhưng cách thức phân chia, tổ chức đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội có sự thay đổi mạnh mẽ thể hiện sự đổi mới nhằm tăng tính cạnh tranh, khắc phục tính hình thức trong bầu cử. Các đơn vị bầu cử được thu hẹp phạm vi, chỉ bầu ba đại biểu, nhằm đề cao trách nhiệm đại biểu, tăng cường mối liên hệ giữa đại biểu và cử tri. Từ 79 đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VI (năm 1976), 93 đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VII (năm 1981) tăng gần gấp đôi thành 167 đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa VIII và 158 đơn vị bầu cử đại biểu Quốc hội khóa IX (năm 1992). Luật Bầu cử năm 2015 đã kế thừa và quy định cụ thể hơn về số đại biểu Quốc hội được bầu, số dư người ứng cử ở mỗi đơn vị bầu cử đã góp phần làm cho bầu cử thực chất hơn (khóa XIV có 870 ứng viên, bầu 500 đại biểu (gấp 1,74 lần).
Bốn là, quy trình thủ tục bầu cử. Quy trình thủ tục bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân là các bước triển khai tổ chức cuộc bầu cử từ khi công bố ngày bầu cử đến khi xác định kết quả bầu cử. Pháp luật về bầu cử ở nước ta quy định quy trình, thủ tục gồm các bước sau:
- Giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân bao gồm các công việc: Dự kiến cơ cấu thành phần, số lượng người ứng cử và hiệp thương bầu cử. Cơ cấu thành phần và số lượng là vấn đề trọng tâm của bầu cử, nhằm bảo đảm tỷ lệ đại diện hợp lý của các tầng lớp nhân dân. Về mặt pháp lý, nội dung này được định hướng thông qua công tác dự kiến và được quyết định tại các hội nghị hiệp thương do Ủy ban Mặt trận Tổ quốc các cấp chủ trì.
- Vận động bầu cử: Là giai đoạn quan trọng để các ứng viên quảng bá chương trình hành động của mình đến với công chúng, từ đó xây dựng hình ảnh và uy tín chính trị nhằm nhận được sự ủng hộ của cử tri. Pháp luật bầu cử nước ta quy định hai hình thức vận động bầu cử là gặp gỡ tiếp xúc cử tri và trả lời phỏng vấn trên các phương tiện thông tin đại chúng.
- Bỏ phiếu, kiểm phiếu và giám sát bầu cử: Quy trình bỏ phiếu, kiểm phiếu được thực hiện theo quy định của Luật Bầu cử. Trong các cuộc bầu cử, giám sát bầu cử có tác dụng phát hiện, hạn chế những tùy tiện, sai sót, vi phạm, gian lận trong bầu cử, bảo đảm tính trung thực, công khai, minh bạch của bầu cử.
- Quản lý bầu cử: Tổ chức bầu cử là công việc nhạy cảm về chính trị và phức tạp về kỹ thuật nên công tác tổ chức và quản lý bầu cử đóng vai trò hết sức quan trọng. Ở nước ta, công tác tổ chức và quản lý bầu cử là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở.
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo về bầu cử: Cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo về bầu cử có vai trò ngăn ngừa, khắc phục kịp thời các vi phạm, bảo đảm cho cuộc bầu cử diễn ra theo đúng các nguyên tắc và tiêu chí dân chủ, phù hợp với Hiến pháp và Luật Bầu cử. Ở nước ta, các tổ chức phụ trách bầu cử có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo về bầu cử theo cơ chế hành chính. Cơ chế tư pháp (thông qua tòa án nhân dân cấp huyện) chỉ áp dụng đối với khiếu kiện của công dân về việc đăng ký cử tri. Quy trình thủ tục bầu cử đã được cải tiến, đổi mới từng bước qua việc ban hành mới, sửa đổi, bổ sung Luật Bầu cử và cải tiến cách thức tổ chức triển khai bầu cử. Hiệp thương bầu cử được cải tiến theo hướng dân chủ dựa trên quan điểm đề cao vai trò của cử tri tham gia vào bầu cử, tôn trọng ý kiến của cử tri nơi công tác và nơi cư trú. Các quy định cụ thể, các bước hiệp thương bầu cử tiếp tục được quy định cụ thể và thực chất hơn. Về mặt pháp lý, vai trò chủ trì của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hiệp thương bầu cử được đề cao. Nội dung hiệp thương không chỉ giới hạn trong việc giới thiệu nhân sự ứng cử mà còn thỏa thuận về cơ cấu, thành phần và số lượng đại biểu được bầu trên cơ sở số đủ dự kiến và có quyền biểu quyết lựa chọn người để giới thiệu ứng cử. Quy trình hiệp thương 5 bước đã góp phần nâng cao chất lượng người ứng cử. Đồng thời, bảo đảm tỷ lệ người tham gia ứng cử và tỷ lệ thích đáng đại biểu đại diện cho các dân tộc thiểu số, đại biểu là nữ,...
Thứ hai, Đảng lãnh đạo công tác bầu cử.
Bầu cử và đảng chính trị gắn bó chặt chẽ với nhau. Ở các nước, các đảng chính trị chỉ có thể trở thành đảng cầm quyền khi giành được thắng lợi trong cuộc bầu cử. Do vậy, các đảng chính trị đã chuyển hóa bầu cử, ứng cử thành công cụ để tranh cử và thắng cử đóng vai trò then chốt trong bầu cử. Ở các nước này “Hoạt động tranh cử... về hình thức là cuộc ganh đua giữa các cá nhân, song thực chất là cuộc chạy đua giữa các đảng phái”(10). Ở nước ta, khi chưa giành được chính quyền, Đảng đã tham gia vận động bầu cử, tranh cử trong cuộc đấu tranh vì các quyền dân sinh, dân chủ (1936 - 1939). Năm 1945, mặc dù tuyên bố “tự giải tán”, thực chất là rút vào hoạt động bí mật, Đảng vẫn giới thiệu được các đảng viên tham gia tranh cử và lãnh đạo thành công công cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên. Sau khi giành được chính quyền, Đảng giữ vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Vị thế đó được Hiến pháp ghi nhận. Sự lãnh đạo của Đảng đối với cuộc bầu cử thể hiện qua việc đề ra chủ trương và lãnh đạo Nhà nước xây dựng, đổi mới, hoàn thiện chế độ bầu cử; định ra chủ trương lớn có tính định hướng để tổ chức các cuộc bầu cử; lãnh đạo Nhà nước và các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị tham gia tổ chức bầu cử; lãnh đạo khuyến khích các tầng lớp nhân dân tham gia bầu cử; xây dựng chính quyền. Đảng tham gia cuộc bầu cử qua việc bồi dưỡng, giới thiệu đảng viên ứng cử; tham gia công tác hiệp thương, tuyên truyền, vận động bầu cử. Giới thiệu đảng viên ứng cử là con đường duy nhất của đảng chính trị nắm giữ quyền lực nhà nước một cách chính đáng và hợp pháp, hiện thực hóa sự lãnh đạo qua Nhà nước, duy trì, củng cố vị thế lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội. Sự lãnh đạo của Đảng là yếu tố quyết định đến thành công của cuộc bầu cử. Đảng lãnh đạo bầu cử và tham gia bầu cử trên cơ sở pháp luật. Các hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên trong bầu cử phải bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, công khai, minh bạch theo các trình tự, thủ tục do luật định về bầu cử là đòi hỏi trước tiên về việc phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng đối với bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp ở nước ta./.
Vai trò và ý nghĩa của bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân các cấp
Trước hết, bằng bầu cử để hợp pháp hóa chính quyền thuộc về nhân dân. Ở nước ta, bầu cử là việc nhân dân lựa chọn, thành lập ra cơ quan đại diện là Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp và ủy thác quyền lực nhà nước của mình cho họ. Như vậy, ý chí của nhân dân thông qua bầu cử là nền tảng của quyền lực nhà nước. Chính vì thế, chính quyền được thành lập thông qua các cuộc bầu cử hợp pháp, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói, bên trong thì nhân dân tin tưởng vào chế độ mình, trước thế giới Quốc hội do dân bầu ra sẽ có một giá trị pháp lý không ai có thể phủ nhận được; để “ngày mai là ngày đầu tiên trong lịch sử Việt Nam mà nhân dân ta bắt đầu hưởng dụng quyền dân chủ của mình”(1). Nhận thức sâu sắc vai trò, ý nghĩa quan trọng của bầu cử, mặc dù trong điều kiện thù trong, giặc ngoài, chính quyền non trẻ, ngàn cân treo sợi tóc, tình hình kinh tế - xã hội vô cùng khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương: “dân ta sẽ tự do lựa chọn và bầu ra những người xứng đáng thay mặt cho mình, và gánh vác việc nước”(2) và tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3-9-1945, Người nói: “Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc TỔNG TUYỂN CỬ với chế độ phổ thông đầu phiếu. Tất cả công dân trai, gái mười tám tuổi đều có quyền ứng cử, bầu cử, không phân biệt giàu, nghèo, tôn giáo, dòng giống, v.v..”(3). Thắng lợi của cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên đánh dấu bước trưởng thành của Nhà nước cách mạng Việt Nam, mở ra một thời kỳ mới, thời kỳ đất nước ta có một Quốc hội, một Chính phủ thống nhất, một bản hiến pháp tiến bộ và một hệ thống chính quyền hoàn toàn đầy đủ danh nghĩa về mặt pháp lý để đại diện cho nhân dân Việt Nam về đối nội và đối ngoại.
Hai là, bầu cử là phương thức quan trọng mang tính nền tảng tạo lập nên cơ sở chính trị - pháp lý vững chắc của đất nước. Bằng bầu cử, không những nhân dân chính thức thừa nhận những người đại diện của mình là lực lượng lãnh đạo xã hội mà còn thông qua bầu cử thể hiện sự đa dạng về giai cấp, tầng lớp, dân tộc, địa phương, tín ngưỡng, tôn giáo. Bởi pháp luật về bầu cử ở nước ta được thiết kế phù hợp với kết cấu xã hội mà nó tồn tại. Bầu cử có vai trò là sự “chuyển hóa” những lá phiếu của cử tri thành các “đại biểu” trong các cơ quan đại diện, là “bức tranh hội tụ” tổng thể hình ảnh của các giai tầng, dân tộc, nhân dân trong cả nước và từng địa phương. Vì vậy, Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp sau các cuộc bầu cử là hình ảnh thu nhỏ của đất nước và địa phương - cơ sở chính trị - pháp lý vững chắc của đất nước. Ở nước ta cũng như các nước xã hội chủ nghĩa, nhân dân ủy quyền cho các đại biểu dân cử thực hiện quyền lập pháp, lập quy, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và từng địa phương; đồng thời, các đại biểu thực hiện các quyền đó phải phù hợp với ý chí và nguyện vọng của nhân dân. Với tính đại diện đa dạng cho những bộ phận người dân trong xã hội, cơ quan dân cử có sứ mệnh hòa giải những nhóm và những cộng đồng khác nhau thông qua bàn luận, đối thoại, thậm chí thỏa hiệp(4). Cơ quan đại diện - sản phẩm của bầu cử là hình ảnh thu nhỏ của cơ cấu xã hội trong phạm vi quốc gia hoặc từng địa phương(5). Những quyết định của cơ quan đại diện là sự đồng thuận của những giai tầng trong xã hội, là sự thừa nhận tuyệt đối của nhân dân đối với cơ quan đại diện do mình lập nên. Khi đề cập đến dân chủ nói chung, pháp luật về bầu cử nói riêng, có thể nói rằng, niềm tin về sự đồng thuận xã hội là trái tim của nền dân chủ, đó là niềm tin của các cá nhân đặt vào Nhà nước và hệ thống chính trị. Niềm tin về sự đồng thuận xã hội được hình thành, phát triển trên cơ sở mối quan hệ qua lại giữa hệ thống chính trị thông qua các thiết chế, trong đó có thiết chế là các cơ quan đại điện của nhân dân. Đây là yếu tố rất quan trọng mang tính gốc rễ cho sự thành công hay thất bại của một cuộc bầu cử. Trong bầu cử, thông qua lá phiếu của cử tri, nhân dân trao quyền và đặt niềm tin vào người đại diện để thực hiện quyền lực nhà nước. Chính vì vậy, bầu cử được ví như là một cuộc trưng cầu dân ý về quan điểm, đường lối chính trị của Đảng, năng lực chính trị của các ứng viên. Cuộc Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946 ở nước ta là một biểu hiện điển hình, một bức tranh sinh động về một cuộc Tổng tuyển cử của lòng dân và “đánh dấu mốc phát triển nhảy vọt đầu tiên về thể chế dân chủ của nước Việt Nam”(6). Ngày nay, niềm tin với nhau giữa Nhà nước nói chung, các thiết chế dân cử nói riêng với nhân dân để cùng nhau gánh vác, sẻ chia, cộng đồng trách nhiệm, sự đồng thuận, đoàn kết các lực lượng trong xã hội là nhân tố cực kỳ quan trọng, tạo nên tính bền vững, ổn định giữa nhân dân và Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.
Ba là, bầu cử là một phương tiện quan trọng để nhân dân giám sát, kiểm soát quyền lực nhà nước, hạn chế sự tha hóa của quyền lực nhà nước. Bầu cử thực chất là sự chuyển giao quyền lực nhà nước của nhân dân cho Nhà nước. Tuy nhiên, cũng chính trong việc chuyển giao quyền lực ấy lại phát sinh một hệ lụy mà nhân dân không hề mong muốn rằng, tuy thoát thai từ nhân dân, từ xã hội, nhưng quyền lực nhà nước lại có xu hướng tách ra khỏi xã hội và “tựa hồ như đứng trên xã hội”. Do vậy, quyền lực nhà nước cần phải được kiểm soát và giới hạn nhằm loại trừ một nghịch lý là quyền lực nhà nước của nhân dân nhưng nó lại có thể đi ngược lại chính nhân dân. Do vậy, việc nhân dân phải giám sát, kiểm soát quyền lực nhà nước của mình để hạn chế sự tha hóa quyền lực nhà nước là cần thiết. Bầu cử chính là một trong những phương tiện để nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước của mình. Sẽ không sai khi cho rằng: “không chỉ đơn thuần là việc lựa chọn người đại diện mà bầu cử đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát và chế ngự quyền lực nhà nước”(7). Sự giám sát, kiểm tra quyền lực nhà nước thông qua bầu cử thể hiện trên hai nội dung là tính định kỳ của các cuộc bầu cử do Hiến pháp và Luật Bầu cử quy định và bãi nhiệm đại biểu nếu họ không xứng đáng với tín nhiệm của nhân dân.
Kết thúc mỗi nhiệm kỳ Quốc hội, Hội đồng nhân dân, quyền lực nhà nước lại trở về với nhân dân. Quyền lực nhà nước không bị chiếm giữ lâu dài hay vĩnh viễn bởi những người được trao quyền. Trong cuộc bầu cử nhiệm kỳ mới, cử tri lại có quyền đánh giá, bày tỏ sự tín nhiệm về người đại diện và quyết định sự tái cử của họ thông qua phiếu bầu. Nếu quyền lực được trao không được sử dụng đúng đắn hoặc lợi dụng quyền lực vì lợi ích cá nhân thì quyền lực sẽ bị nhân dân thu lại bằng việc lựa chọn và trao lại cho người khác xứng đáng hơn. Quyền bãi nhiệm đại biểu là một nội dung của quyền bầu cử là đặc trưng của dân chủ xã hội chủ nghĩa, thể hiện bản chất nhà nước và tính ưu việt của xã hội. Đó là chế tài mang tính chính trị nghiêm khắc nhất đối với đại biểu.
Bốn là, bầu cử phản ánh sự quan tâm của nhân dân đối với đời sống chính trị của đất nước và là phương thức thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động. Sự tham gia của nhân dân, của xã hội vào cuộc bầu cử không chỉ đơn giản và đơn thuần là việc đi bỏ phiếu mà là sự tham gia vào đời sống chính trị của nhân dân từ các công đoạn khác nhau của quy trình bầu cử, như tự ứng cử và giới thiệu người xứng đáng thay mặt mình, ứng cử, nhận xét, đánh giá các ứng viên tại các cuộc họp lấy ý kiến của cử tri nơi cư trú và nơi công tác; thực hiện quyền khiếu nại và tố cáo theo quy định của Luật Bầu cử ... Sự quan tâm của cử tri đối với bầu cử phải được hình thành trên cơ sở nhận thức sâu sắc về lợi ích của bầu cử, từ ý thức chính trị của người dân đối với Nhà nước. Đây chính là yếu tố rất quan trọng, cơ bản cho sự thành công của một cuộc bầu cử.
Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Đảng ta hiện nay
Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản. Thực chất của nguyên tắc này chính là nhằm nâng cao tính tích cực và năng lực sáng tạo của đảng viên, để các quyết định của Đảng luôn là sản phẩm kết tinh bởi trí tuệ tập thể và bảo đảm tính kỷ luật tự giác của mỗi tổ chức đảng và đảng viên khi ý chí của đa số được khẳng định và bắt buộc phải phục tùng.
Xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định và kiên trì thực hành nguyên tắc tập trung dân chủ
Từ ngày thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, luôn lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng. Đó là nguyên tắc chỉ đạo toàn bộ việc xây dựng tổ chức và hoạt động của Đảng, vừa bảo đảm cho Đảng có sự thống nhất về ý chí và hành động, vừa phát huy được dân chủ trong Đảng, tạo nên sức mạnh to lớn của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn khẳng định tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong tổ chức và hoạt động của Đảng; phủ nhận nguyên tắc này là phủ nhận Đảng từ bản chất.
Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam hiện hành do Đại hội XI của Đảng (năm 2011) thông qua nêu rõ: “Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thương yêu đồng chí, kỷ luật nghiêm minh, đồng thời thực hiện các nguyên tắc: tự phê bình và phê bình, đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”(1).
Nội dung cơ bản của nguyên tắc này được quy định tại Điều 9, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam: “1. Cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng do bầu cử lập ra, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. 2. Cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Đại hội đại biểu toàn quốc. Cơ quan lãnh đạo ở mỗi cấp là đại hội đại biểu hoặc đại hội đảng viên... 3. Cấp ủy các cấp báo cáo và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước đại hội cùng cấp, trước cấp ủy cấp trên và cấp dưới... 4. Tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành nghị quyết của Đảng. Thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức, các tổ chức trong toàn Đảng phục tùng Đại hội đại biểu toàn quốc và Ban Chấp hành Trung ương. 5. Nghị quyết của các cơ quan lãnh đạo của Đảng chỉ có giá trị thi hành khi có hơn một nửa số thành viên trong cơ quan đó tán thành. Trước khi biểu quyết, mỗi thành viên được phát biểu ý kiến của mình. Đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số được quyền bảo lưu và báo cáo lên cấp ủy cấp trên cho đến Đại hội đại biểu toàn quốc, song phải chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết, không được truyền bá ý kiến trái với nghị quyết của Đảng. Cấp ủy có thẩm quyền nghiên cứu xem xét ý kiến đó; không phân biệt đối xử với đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số. 6. Tổ chức đảng quyết định các vấn đề thuộc phạm vi quyền hạn của mình, song không được trái với nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của cấp trên”(2).
Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định và kiên trì thực hành nguyên tắc tập trung dân chủ. Đó là do, trước hết, xuất phát từ bản chất của Đảng và từ yêu cầu, nhiệm vụ lịch sử của Đảng. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin xác định, Đảng Cộng sản là đội tiên phong của giai cấp công nhân, mang bản chất của giai cấp công nhân, là đội ngũ có tổ chức chặt chẽ nhất, giác ngộ nhất của giai cấp công nhân. Đảng chỉ kết nạp vào trong đội ngũ của mình những người ưu tú nhất, tiên tiến nhất, giác ngộ nhất của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Làm cách mạng để tự giải phóng và để cải tạo xã hội cũ xấu xa thành xã hội mới tốt đẹp... là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ”(3). Cách mạng muốn thắng lợi, “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy”(4). Để xây dựng Đảng vững mạnh, trước hết phải xây dựng Đảng vững mạnh về tổ chức. Tổ chức của Đảng từ Trung ương đến địa phương phải thật chặt chẽ, thống nhất, có ý thức kỷ luật cao. Đoàn kết là sức mạnh của Đảng, còn kỷ luật của Đảng là một điều kiện, nhân tố quan trọng để giữ vững sự đoàn kết, thống nhất về ý chí và hành động, nâng cao khả năng lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn kết chặt chẽ và kỷ luật nghiêm khắc, hai điều đó không thể tách rời nhau trong nội bộ Đảng. Sức mạnh vô địch của Đảng là ở tinh thần kỷ luật tự giác, ý thức tổ chức nghiêm minh của cán bộ, đảng viên. Bởi nhiệm vụ lịch sử của Đảng rất nặng nề, phức tạp, lâu dài, luôn phải đấu tranh với các thế lực thù địch tìm mọi cách chống phá Đảng và chủ nghĩa xã hội. Do đó, Đảng phải được xây dựng một cách tập trung với sự thống nhất về tổ chức và hoạt động, đồng thời giữ vững kỷ luật nghiêm minh thì mới đủ sức hoàn thành nhiệm vụ lịch sử vẻ vang.
Hai là, xuất phát từ kinh nghiệm lịch sử của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế; từ kinh nghiệm hoạt động thực tiễn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Thực tiễn phong trào cộng sản và công nhân quốc tế cho thấy, chế độ tập trung dân chủ trong Đảng chính là nguồn gốc tạo ra sức mạnh của Đảng về mặt tổ chức, là điều kiện bảo đảm cho Đảng giữ vững sự thống nhất về ý chí và hành động.
Luận giải về vai trò của nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê-nin đều khẳng định, nguyên tắc này có tác dụng quan trọng đối với việc nâng cao tính tích cực và sáng kiến của đảng viên trong cuộc đấu tranh cách mạng vì sự nghiệp của Đảng, để các quyết định của Đảng trở thành sản phẩm trí tuệ tập thể của tất cả các đảng viên và của các cơ quan lãnh đạo của Đảng, làm tăng thêm tính kỷ luật, tính tự giác vô sản của Đảng. Dân chủ trong Đảng hoàn toàn đối lập với dân chủ hiểu theo quan điểm của chủ nghĩa cơ hội. Nếu các phần tử cơ hội chủ nghĩa núp dưới chiêu bài “dân chủ” để tấn công vào chế độ tập trung và âm mưu đòi tự do bè phái trong Đảng, thì ngược lại, những người cộng sản đấu tranh để thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa nhằm phát huy vai trò lãnh đạo của đảng viên, giáo dục cho đảng viên có ý thức làm chủ trong Đảng. Tập trung trong Đảng là biểu hiện của sự lãnh đạo tập thể, bảo đảm cho các chủ trương của Đảng được đúng đắn, trên cơ sở tập trung được kinh nghiệm và ý kiến của mọi đảng viên, hạn chế được những sai lầm chủ quan, phiến diện, tránh được những hiện tượng độc đoán, chuyên quyền. V.I. Lê-nin viết: “Chế độ tập trung dân chủ, một mặt, thật khác xa chế độ tập trung quan liêu chủ nghĩa, và, mặt khác, thật khác xa chủ nghĩa vô chính phủ”(5); “Không có gì sai lầm bằng việc lẫn lộn chế độ tập trung dân chủ với chủ nghĩa quan liêu và với lối rập khuôn máy móc”(6). V.I. Lê-nin khẳng định, đây là nguyên tắc tổ chức duy nhất đúng của đảng vô sản kiểu mới, là nguyên tắc phân biệt chính đảng cách mạng chân chính của giai cấp công nhân với các đảng phái khác.
Chủ tịch Hồ Chí Minh lý giải bản chất của tập trung dân chủ: “Nhân dân là ông chủ nắm chính quyền. Nhân dân bầu ra đại biểu thay mặt mình thi hành chính quyền ấy. Thế là dân chủ. Các cơ quan chính quyền là thống nhất, tập trung. Từ hội đồng nhân dân và ủy ban kháng chiến hành chính xã đến Quốc hội và Chính phủ Trung ương, số ít phải phục tùng số nhiều, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng Trung ương. Thế là vừa dân chủ vừa tập trung”(7). Tập trung và dân chủ là hai mặt thống nhất biện chứng, không thể tách rời. Tập trung hỗ trợ, bảo đảm cho dân chủ được thực hiện trong khuôn khổ, có sự kiểm soát; dân chủ giúp cho tập trung được thực hiện linh hoạt, đạt hiệu quả cao trong lãnh đạo và quản lý. Vì vậy, cần phải có sự kết hợp một cách đồng bộ, chặt chẽ việc bảo đảm cả hai yếu tố này trong hoạt động lãnh đạo của Đảng và hoạt động quản lý nhà nước. Dân chủ phải được bảo đảm bởi tập trung và tâp trung phải dựa trên cơ sở dân chủ. Nếu chỉ có sự lãnh đạo tập trung mà không mở rộng dân chủ thì sẽ tạo môi trường cho phát sinh cửa quyền, tham nhũng. Ngược lại, không có sự lãnh đạo tập trung, thống nhất sẽ dẫn đến tình trạng tùy tiện, vô chính phủ, cá nhân chủ nghĩa.
Trên phương diện lãnh đạo, quản lý, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu cần thực hành tập trung dân chủ gắn liền với thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Người khẳng định: Tập thể lãnh đạo là dân chủ. Cá nhân phụ trách là tập trung. Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tức là dân chủ tập trung. Một người dù tài giỏi bao nhiêu cũng không thể thấy hết mọi mặt của một vấn đề, càng không thể hiểu được cặn kẽ mọi việc, hiểu hết được mọi chuyện. Vì vậy, để lãnh đạo được sát, được đúng, cần phải có sự tham gia đóng góp ý kiến của nhiều người, giúp chỉ ra được các mặt của vấn đề, qua đó, sẽ hiểu vấn đề một cách toàn diện và vì vậy, mới có thể lãnh đạo thành công trong việc giải quyết vấn đề đó. Khi tập thể đã bàn bạc kỹ lưỡng, kế hoạch đã được định rõ thì giao cho một người phụ trách chính. Làm như vậy, kế hoạch mới được thực hiện đầy đủ, không bị chồng chéo, tránh dựa dẫm, công việc sẽ đạt kết quả cao, có cơ sở để biểu dương những người làm giỏi, phê bình những người làm kém, xác định rõ trách nhiệm của từng cá nhân. “Lãnh đạo không tập thể, thì sẽ đi đến cái tệ bao biện, độc đoán, chủ quan. Kết quả là hỏng việc. Phụ trách không do cá nhân, thì sẽ đi đến cái tệ bừa bãi, lộn xộn, vô chính phủ. Kết quả cũng là hỏng việc. Tập thể lãnh đạo và cá nhân phụ trách cần phải luôn luôn đi đôi với nhau”(8). Phải tránh dân chủ theo kiểu tùy tiện, phân tán, vô tổ chức và hình thức. Như thế là rất nguy hại, làm suy giảm năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mỗi tổ chức đảng.
Sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu là bài học đau xót về việc buông lỏng, xa rời, thực hiện không đúng nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng Cộng sản. Một số nước nghiêng về tập trung quan liêu, thống nhất cứng nhắc, dẫn đến vi phạm dân chủ trong Đảng, xuất hiện hàng loạt các sai lầm: gia trưởng, độc đoán, sùng bái cá nhân. Một số nước lại hạ thấp tính tập trung, thống nhất, dẫn đến hỗn loạn, vô chính phủ. Những sai lầm trong nhận thức và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ đã làm tổn hại đến vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, cản trở sự phát triển của các nước đó.
Ở Việt Nam, ngay từ những ngày đầu được thành lập đến nay, trải qua hơn 90 năm xây dựng và phát triển, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên trì thực hành nguyên tắc tập trung dân chủ, từ đó tập hợp, đoàn kết, phát huy bản lĩnh, trí tuệ, tính tiền phong gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, làm hạt nhân quy tụ, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chính vì vậy, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam, từ cách mạng giải phóng dân tộc đến công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay.
Bước tiến mới trong cụ thể hóa, thể chế hóa và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng hiện nay
Trải qua hơn 90 năm xây dựng và phát triển, đặc biệt là 35 năm đổi mới, Đảng ta luôn kiên trì giữ vững và có nhiều thành tựu trong việc cụ thể hóa, thể chế hóa và thực hành nguyên tắc tập trung dân chủ trên tất cả lĩnh vực, hoạt động. Cụ thể là:
1- Trong xây dựng Cương lĩnh, hoạch định đường lối, chủ trương của Đảng: Từ khi thành lập Đảng, đặc biệt là trong những năm đổi mới, những quyết định lớn, đường lối, chủ trương của Đảng, từ dự thảo Cương lĩnh đến dự thảo các văn kiện Đại hội Đảng đều được tổ chức thảo luận dân chủ rộng rãi, lấy ý kiến của các tổ chức đảng và đảng viên từ cơ sở trở lên, lấy ý kiến góp ý của Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức đoàn thể và các tầng lớp nhân dân, được Trung ương thảo luận kỹ lưỡng, cân nhắc nhiều mặt, phân tích thấu đáo, nhất là những vấn đề có ý kiến trái chiều trước khi quyết định. Những vấn đề mới, khó, phức tạp được tổ chức hội thảo, tọa đàm để thảo luận, trao đổi kỹ, lấy ý kiến chuyên gia trước khi trình Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương quyết định. Từ sau Đại hội VIII của Đảng, đã thành lập Hội đồng Lý luận Trung ương - có chức năng tư vấn lý luận chính trị, mở rộng dân chủ trong hoạch định chủ trương, đường lối của Đảng. Do vậy, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn khó, hóc búa, nhờ vận dụng đúng đắn và phát huy nguyên tắc tập trung dân chủ, đã được các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng nghiên cứu và quyết định, như: xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân; chức năng phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân; xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; đẩy mạnh hội nhập quốc tế,... Những vấn đề mới, khó thì thực hiện thí điểm để tổng kết, rút kinh nghiệm, như thực hiện đầu tư đối tác công - tư; xây dựng chính quyền đô thị; giao quyền tự chủ cho thành phố trực thuộc Trung ương;... Thực tiễn cho thấy, Đảng ta càng phát huy dân chủ rộng rãi thì càng bảo đảm tính tập trung cao trong lãnh đạo, chỉ đạo, trong quyết định của các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng, như Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy các cấp. Dân chủ càng được mở rộng thì chế độ tập trung trong Đảng càng được đề cao; dân chủ phải đi đến tập trung, là cơ sở của tập trung, góp phần tạo nên sự thống nhất về quan điểm, chủ trương trong lãnh đạo, chỉ đạo.
Đất nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; điều kiện xã hội đã thay đổi trên nhiều phương diện kinh tế, văn hóa, con người so với thời kỳ chiến tranh, thực hiện cách mạng giải phóng dân tộc, cũng như thời kỳ bao cấp, những năm đầu đổi mới. Vì vậy, việc thực hành nguyên tắc tập trung dân chủ hiện nay có những yêu cầu và bước phát triển mới so với các thời kỳ trước. Hiện nay, dân chủ là nhu cầu thiết yếu của cán bộ, đảng viên và nhân dân, đồng thời là nhu cầu tự thân để phát triển, hoàn thiện của một đảng cách mạng chân chính lãnh đạo Nhà nước và xã hội nhằm bảo đảm thắng lợi công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam trong điều kiện mới; đòi hỏi phát huy dân chủ mạnh mẽ trong Đảng và sự sáng tạo, trí tuệ của mọi đảng viên để các quyết định của tập thể đúng đắn, có sự thống nhất cao. Việc thực hành nguyên tắc tập trung dân chủ không chỉ là một đòi hỏi tất yếu trong tổ chức và hoạt động của Đảng hiện nay, mà còn là một nguyên tắc cốt yếu trong quản lý nhà nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.
2- Trong đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng: Sinh hoạt của các cấp ủy và tổ chức đảng được tiến hành dân chủ, cởi mở, các cấp ủy viên mạnh dạn trình bày ý kiến riêng của mình; tăng cường các hình thức giao ban, hội nghị, tọa đàm, tiếp xúc trực tiếp giữa cán bộ chủ chốt với đảng viên và nhân dân... Từ sau Đại hội IX của Đảng, chế độ thực hành dân chủ trong Đảng ngày càng được mở rộng, đã thực hiện việc phê bình, chất vấn tại các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, hoặc trong thời gian giữa hai kỳ họp (Quy định số 23-QĐ/TW, ngày 15-1-2002, của Bộ Chính trị khóa IX, “Về thực hiện việc phê bình, chất vấn của Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”; Hướng dẫn số 02-HD/TW, ngày 8-6-2012, của Bộ Chính trị khóa XI, “Về thực hiện việc chất vấn trong Đảng tại các kỳ họp Ban Chấp hành Trung ương”;...). Việc chất vấn và trả lời chất vấn được mở rộng tới hội nghị cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy và áp dụng đối với toàn thể đảng viên, cấp ủy viên, cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy các cấp, nhằm phát huy dân chủ, tăng cường sự đoàn kết, thống nhất, nâng cao trách nhiệm và năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng và đảng viên, góp phần ngăn chặn, phòng ngừa vi phạm trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao và giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống của đảng viên (Quy chế chất vấn trong Đảng, ban hành kèm theo Quyết định số 158-QĐ/TW, ngày 12-5-2008, của Bộ Chính trị khóa X). Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI nhấn mạnh: “Phát huy dân chủ thật sự trong Đảng, thực hiện nghiêm túc Quy chế chất vấn trong Đảng, nhất là chất vấn tại các kỳ họp Ban Chấp hành Trung ương và cấp ủy các cấp”(9). Bộ Chính trị, Ban Bí thư thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo công việc đã làm trước Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương hoặc theo yêu cầu của Ban Chấp hành Trung ương; ban thường vụ báo cáo cấp ủy cấp mình kết quả giải quyết công việc giữa hai kỳ hội nghị cấp ủy. Định hình chế độ giao ban định kỳ hằng tháng của lãnh đạo chủ chốt Đảng và Nhà nước, của thường trực cấp ủy, là cơ sở cho thảo luận thống nhất và phát huy dân chủ trong Đảng, từ Bộ Chính trị đến thường vụ cấp ủy, sự lãnh đạo, điều hành nhất quán của Quốc hội, Chính phủ và chính quyền địa phương,...
Trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, đã ban hành Quy chế làm việc mẫu của tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương (Quyết định số 168 QĐ-TW, ngày 28-12-2018, của Ban Bí thư khóa XII, “Về việc ban hành quy chế làm mẫu của tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương”), xác định rõ chế độ công tác, thẩm quyền, trách nhiệm của thường trực, thường vụ cấp ủy, nhất là của bí thư cấp ủy đối với cấp ủy, khắc phục tình trạng lạm dụng quyền lực của người đứng đầu cấp ủy hoặc núp bóng thường vụ cấp ủy quyết định vượt thẩm quyền.
3- Trong công tác cán bộ, nhất là lựa chọn đảng viên để giới thiệu ứng cử, bầu vào các chức danh lãnh đạo Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân: Nguyên tắc tập trung dân chủ được thể chế hóa, cụ thể hóa trong Quy chế bầu cử trong Đảng, thực hiện từ chi bộ đến Ban Chấp hành Trung ương (Quyết định số 244-QĐ/TW, ngày 9-6-2014, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, “Về việc ban hành Quy chế bầu cử trong Đảng”); Quy định về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử (Quy định số 105-QĐ/TW, ngày 19-12-2017, của Bộ Chính trị khóa XII), xác định quy trình 5 bước lựa chọn nhân sự với những người tái cử và lần đầu tham gia cấp ủy, hướng theo cơ cấu, tiêu chuẩn của thường vụ cấp ủy, vừa phát huy vai trò lãnh đạo của tập thể cấp ủy, vừa phát huy dân chủ rộng rãi trong cán bộ chủ chốt, đảng viên, vừa đề cao trách nhiệm cá nhân, trước hết là người đứng đầu trong công tác quản lý cán bộ. Đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 - 2025 đã được tổ chức thành công, đúng kế hoạch, tạo không khí phấn khởi, tin tưởng trong toàn Đảng, toàn dân, có nguyên nhân quan trọng là đã thực hiện quy trình 5 bước lựa chọn nhân sự, phát huy đầy đủ, kịp thời sự tập trung lãnh đạo, chỉ đạo của cấp trên với đề cao trách nhiệm cấp ủy từng cấp.
Các đại biểu bỏ phiếu bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện Thuận Châu (tỉnh Sơn La) khoá XXI, nhiệm kỳ 2020 - 2025_Ảnh: TTXVN
4- Trong giải quyết mối quan hệ giữa bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung của cấp trên và phát huy quyền chủ động của cấp dưới: Để thực hiện hiệu quả nguyên tắc tập trung dân chủ, chúng ta đã đẩy mạnh việc tinh gọn bộ máy hệ thống chính trị, giảm cấp trung gian, thực chất là giảm bớt tình trạng phân tán quyền lực vào các tầng nấc trung gian, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung và làm rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của các cấp. Tính đến ngày 31-12-2019, bộ máy hệ thống chính trị đã giảm được 4 đầu mối trực thuộc Trung ương, 97 đầu mối trực thuộc cấp tỉnh; 6 tổng cục và tương đương; 19 cục, vụ, 90 đơn vị sự nghiệp công lập ở Trung ương; 3.768 phòng, đội và tương đương; 4.963 đơn vị sự nghiệp công lập, 3.646 đầu mối trong các đơn vị sự nghiệp công lập ở địa phương...; giảm 10.386 cấp trưởng, cấp phó ở các cơ quan, đơn vị, tổ chức hành chính cấp tỉnh, cấp huyện; 3.306 cấp trưởng, 4.080 cấp phó ở các đơn vị sự nghiệp công lập địa phương(10). Công tác kiểm tra, giám sát được tăng cường nhằm siết chặt kỷ luật, kỷ cương, phát huy dân chủ đúng hướng. Phân cấp, phân quyền ngày càng rõ hơn, tạo điều kiện cho cấp dưới phát huy vai trò chủ động. Tình trạng cục bộ, mất đoàn kết trong cán bộ, đảng viên được chấn chỉnh, xử lý kịp thời.
Mặc dù vậy, bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ còn nhiều hạn chế, khuyết điểm. Vẫn còn biểu hiện dao động, hoài nghi về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Còn tình trạng tùy tiện, thiếu ý thức tổ chức kỷ luật, không chấp hành nghiêm chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Dân chủ trong Đảng và trong xã hội còn bị vi phạm. Kỷ cương, kỷ luật ở nhiều cấp, nhiều lĩnh vực không nghiêm. Một số cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ lãnh đạo thiếu tôn trọng và phát huy quyền của đảng viên, ít lắng nghe ý kiến cấp dưới; cán bộ lãnh đạo ở một số nơi còn có biểu hiện gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền, mất dân chủ hoặc dân chủ hình thức. Còn thiếu những quy chế xác định trách nhiệm cụ thể, dẫn đến vừa có hiện tượng dựa dẫm vào tập thể, không rõ trách nhiệm cá nhân, vừa không khuyến khích được những cán bộ, đảng viên nhiệt tình, tâm huyết, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã chỉ rõ: Ở một số tổ chức đảng, vẫn có tình trạng một số cấp ủy viên chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của nguyên tắc tập trung dân chủ, chưa thật sự tôn trọng và thực hiện nghiêm túc quy chế làm việc. Còn tình trạng dân chủ hình thức, thống nhất một chiều, thiếu sự tranh luận, thảo luận thấu đáo hoặc hiểu không đúng nguyên tắc này, dẫn đến mất đoàn kết nội bộ ở một số nơi. Nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách trên thực tế ở nhiều nơi còn hình thức do không xác định rõ cơ chế trách nhiệm, mối quan hệ giữa tập thể và cá nhân, khi có sai sót, khuyết điểm không ai chịu trách nhiệm. Do vậy, vừa có hiện tượng dựa dẫm vào tập thể, không rõ trách nhiệm cá nhân, vừa không khuyến khích người đứng đầu nhiệt tình, tâm huyết, dám nghĩ, dám làm; tạo kẽ hở cho cách làm việc tắc trách, vô trách nhiệm, trì trệ, lợi dụng cơ chế tập thể để thực hiện ý đồ cá nhân, hoặc lạm dụng quyền lực một cách tinh vi để mưu cầu lợi ích cá nhân.
Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII đến tháng 8-2020, trong tổng số gần 40 cuộc kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, “vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng chiếm tới 60,5%, dẫn đến cấp ủy buông lỏng vai trò lãnh đạo; năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu giảm sút; nhiều tổ chức đảng rơi vào dân chủ hình thức, đoàn kết xuôi chiều; người đứng đầu lạm quyền, vượt thẩm quyền, gia trưởng, chuyên quyền, độc đoán, thiếu dân chủ trong chỉ đạo, điều hành, vi phạm nghiêm trọng các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, nhiều nơi rất nghiêm trọng”(11). Vi phạm quy chế làm việc, nguyên tắc tập trung dân chủ “liên quan đến cán bộ lãnh đạo ở nhiều cương vị, từ Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng, người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang đến đảng viên được giao thực hiện chức trách, nhiệm vụ, công vụ; cán bộ đương chức hoặc đã nghỉ hưu nhưng vi phạm khi còn đang công tác; vi phạm xảy ra ở nhiều loại hình tổ chức đảng,... dẫn đến vi phạm các quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước trong nhiều lĩnh vực”(12).
Nắm vững và thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong thời gian tới
Trong thời gian tới, để thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, cần tập trung vào một số giải pháp chủ yếu sau:
Một là, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng; làm rõ nội dung, yêu cầu của nguyên tắc tập trung dân chủ trong tình hình mới; đấu tranh chống những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận nguyên tắc này. Mỗi tổ chức đảng và đảng viên phải nhận thức đúng đắn và thống nhất về nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Theo đó, dân chủ phải đi đôi với tập trung; phát huy dân chủ phải đồng thời gắn liền với chống dân chủ cực đoan, dân chủ không tuân theo kỷ cương, phép nước. Nguyên tắc tập trung dân chủ phải được thực hiện theo đúng Điều lệ Đảng và trong mối quan hệ đồng bộ với các nguyên tắc khác, như tự phê bình và phê bình, đoàn kết, thống nhất trong Đảng...
Hai là, tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa, quy chế hóa nguyên tắc tập trung dân chủ trong từng lĩnh vực, từng mặt công tác xây dựng Đảng. Cần cụ thể hóa các nội dung cơ bản của nguyên tắc này đã được nêu trong Điều lệ Đảng bằng những văn bản hướng dẫn cụ thể để các tổ chức đảng và đảng viên thực hiện. Cấp ủy, tổ chức đảng rà soát, sửa đổi, bổ sung quy chế làm việc cho phù hợp, bảo đảm đồng bộ, thống nhất và liên thông với quy chế làm việc của cấp ủy cấp trên và quy định của Trung ương có liên quan; xây dựng quy chế tổ chức và quản lý sinh hoạt tư tưởng; quy trình chuẩn bị, thảo luận, thông qua nghị quyết của các cấp ủy; quy định về việc xem xét, kết luận các đơn, thư khiếu nại, tố cáo...
Ba là, mở rộng dân chủ đi đôi với củng cố, tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong Đảng. Xây dựng các thiết chế, cơ chế cho phép phát huy thật sự mạnh mẽ dân chủ, trước hết là bảo đảm thực hiện các quyền của đảng viên, nhất là quyền được thảo luận, chất vấn, phê bình, thông tin, bảo lưu ý kiến. Đồng thời, với mở rộng dân chủ, phải củng cố, tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong Đảng. Mọi tổ chức đảng và đảng viên phải nghiêm túc chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng, nói và làm theo nghị quyết của Đảng.
Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng. Xử lý nghiêm, kịp thời những tổ chức đảng và đảng viên vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, vi phạm Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những hành vi dung túng, bao che cho khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên; công khai kết quả xử lý. Chú trọng kiểm tra, giám sát người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn được giao và việc giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống... Tăng cường kiểm tra, giám sát đối với các ban cán sự đảng, đảng đoàn, các tổ chức đảng ở các cơ quan nhà nước, các đơn vị kinh tế và các lĩnh vực dễ xảy ra sai phạm.
Năm là, đề cao, phát huy vai trò của người đứng đầu, cán bộ chủ chốt trong việc áp dụng nguyên tắc tập trung dân chủ, đi đôi với giữ vững và chủ động, tích cực phòng, chống tình trạng xa rời nguyên tắc này. Làm rõ trách nhiệm cá nhân người đứng đầu, cán bộ chủ chốt trong thực hiện trách nhiệm nêu gương, nhất là thực hiện các nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình. Có cơ chế khuyến khích và bảo vệ những người dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung./.
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)