Thứ Sáu, 2 tháng 7, 2021

Bảo đảm nguồn ngân sách để thực hiện chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động

Tại Nghị quyết số 68/NQ-CP vừa được ban hành ngày 01/7/2021, Chính phủ giao Bộ Tài chính bảo đảm nguồn ngân sách nhà nước để thực hiện các chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19. Chính phủ yêu cầu nguyên tắc hỗ trợ phải bảo đảm kịp thời, đúng đối tượng, công khai, minh bạch, không để lợi dụng, trục lợi chính sách; bảo đảm tính khả thi, hiệu quả của các chính sách và nguồn lực để thực hiện. Mỗi đối tượng chỉ được hưởng một lần trong một chính sách hỗ trợ. Người lao động được hỗ trợ một lần bằng tiền chỉ được hưởng một chế độ hỗ trợ; không hỗ trợ đối tượng tự nguyện không tham gia; trừ các đối tượng hưởng chính sách bổ sung đã được quy định tại Nghị quyết. Việc hỗ trợ ngân sách nhà nước thực hiện đối với các tỉnh, thành phố có tỷ lệ điều tiết các khoản thu phân chia về ngân sách Trung ương trên 60% tự bảo đảm kinh phí thực hiện. Ngân sách Trung ương hỗ trợ các địa phương còn lại theo nguyên tắc: 80% mức thực chi theo quy định tại Nghị quyết này đối với các tỉnh miền núi, Tây Nguyên; 60% mức thực chi theo quy định tại Nghị quyết này đối với các tỉnh chưa tự cân đối ngân sách còn lại (ngoài các tỉnh miền núi, Tây Nguyên); 40% mức thực chi theo quy định tại Nghị quyết này đối với các tỉnh, thành phố có tỷ lệ điều tiết các khoản thu phân chia về ngân sách Trung ương còn lại. Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ động sử dụng 50% nguồn dự phòng ngân sách địa phương (bao gồm cả 3 cấp tỉnh, huyện, xã) và 70% quỹ dự trữ tài chính địa phương, nguồn cải cách tiền lương còn dư để thực hiện theo các nguyên tắc, chế độ hỗ trợ quy định tại Nghị quyết này. Tại Nghị quyết, Chính phủ cũng khuyến khích tính chủ động của các cấp, các ngành, địa phương, căn cứ vào điều kiện cụ thể để điều hành linh hoạt triển khai, đảm bảo mục tiêu, nguyên tắc và kịp thời các chính sách hỗ trợ. Đồng thời, Chính phủ giao Bộ Tài chính bảo đảm nguồn ngân sách nhà nước để thực hiện các chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động do Covid-19. Cùng với đó, căn cứ quy định pháp luật hiện hành và số thực chi của các địa phương (có xác nhận của Kho bạc Nhà nước) để xem xét, hỗ trợ kịp thời từ ngân sách trung ương cho từng địa phương; định kỳ tổng hợp kết quả thực hiện báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và cơ quan liên quan ban hành Thông tư hướng dẫn theo trình tự, thủ tục rút gọn và cho Ngân hàng Chính sách xã hội vay tái cấp vốn tối đa 7.500 tỷ đồng với lãi suất 0%/năm, thời hạn tái cấp vốn dưới 12 tháng và không có tài sản đảm bảo để cho người sử dụng lao động quy định tại Nghị quyết này vay trả lương cho người lao động. Thời hạn giải ngân tái cấp vốn đến hết ngày 31/3/2022 hoặc khi giải ngân hết số tiền tái cấp vốn tùy theo điều kiện nào đến trước...

Thực trạng tín ngưỡng thờ Thành hoàng ở Việt Nam hiện nay

 


- Thời kỳ đổi mới, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam, trong đó có tín ngưỡng thờ Thành hoàng cũng có sự phục hồi và khởi sắc. Tín ngưỡng thờ Thành hoàng có xu hướng được khôi phục trở lại trên phạm vi cả nước. Nhiều đình làng được phục dựng, tu bổ khang trang hơn, nhiều lễ hội Thành hoàng làng được khôi phục và tổ chức quy mô, thu hút ngày càng nhiều khách thập phương tham dự.

- Thực trạng sinh hoạt tín ngưỡng thờ Thành hoàng ở nước ta trong thời gian qua cho thấy có cả hai mặt tích cực và hạn chế.

+ Vmặt tích cực, tín ngưỡng thờ Thành hoàng đã góp phần đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu tinh thần của người dân trên địa bàn và vẫn là nhân tố quan trọng để gắn kết, đoàn kết cộng đồng; góp phần duy trì và bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống, cũng như tiếp biến những giá trị văn hóa mới và cũng đã tích cực góp phần vào việc giáo dục truyền thống yêu nước cho các thế hệ người dân địa phương.

+ Về những bất cập, hạn chế

Khi có không ít địa phương tiến hành trùng tu, xây dựng lại đình, nghè, miếu thờ Thành hoàng không chỉ gây tốn kém, mà còn làm mất đi nét kiến trúc cổ xưa;

Có những nội dung văn hóa truyền thống của lễ hội tín ngưỡng thờ Thành hoàng bị mai một, biến tướng, quá coi trọng phần lễ rườm rà, tốn kém, phần hội lại mờ nhạt. Thậm chí ở một số địa phương, khi tổ chức sinh hoạt tín ngưỡng này đã xảy ra các hiện tượng mê tín dị đoan, buôn thần bán thánh và các vấn đề phức tạp khác, rất phản cảm, gây ra những khó khăn cho việc quản lý từ phương diện an ninh trật tự, an toàn xã hội.

- Cần có sự nghiên cứu để xâydựng các giải pháp phát huy mặt tích cực, khắc phục mặt hạn chế của tín ngưỡng này sao cho đúng với các quy định pháp luật hiện hành và phù hợp với tình hình các địa phương.

Kinh tế thị trường và các vấn đề xã hội

Bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là một văn kiện vừa có tính chất đúc kết thực tiễn, vừa là một bước đột phá nâng tầm lý luận về chủ nghĩa xã hội. Trong đó, một vấn đề rất đặc biệt được đề cập trong Bài viết là kinh tế thị trường và các vấn đề xã hội. Cách đây gần 30 năm, Tổng Bí thư và các nhà khoa học kinh tế đã vạch rõ tính chất hai mặt (ưu thế và khuyết tật) của nền kinh tế thị trường(1). Mặt ưu thế bao gồm: Tính mềm dẻo, tính tự điều chỉnh cao nên dễ thích nghi khi có những biến cố, biến động. Tính năng động cao, luôn luôn có sự đổi mới kỹ thuật, công nghệ nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ. Nhu cầu xã hội rất đa dạng, do đó các loại hàng hóa, các loại dịch vụ cũng được đa dạng hóa và phải rất phong phú để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng khác nhau. Mức độ hoạt động hiệu quả (cao hay thấp, hay không có hiệu quả) của từng doanh nghiệp được thể hiện rất rõ ràng. Người lao động buộc phải năng động, phải chủ động nâng cao trình độ mọi mặt và phải nghiêm túc trong lao động để không bị đào thải. Mặt khuyết tật bao gồm: Kinh tế thị trường chỉ chú ý đầy đủ đến lợi nhuận, lợi ích cá nhân, khá nhiều trường hợp gây thiệt hại chung cho xã hội, hủy hoại môi trường sinh thái. Tính tự phát, cạnh tranh tự nó không bảo đảm được tính hợp lý về cơ cấu sản phẩm, gây lãng phí nghiêm trọng. Kinh tế thị trường không bảo đảm được cơ cấu kinh tế hợp lý, nói cách khác là, cơ cấu kinh tế hình thành tự phát. Đặc biệt là các mục tiêu xã hội không được giải quyết hợp lý, thấu đáo, vì kinh tế thị trường chỉ chú ý đến các nhu cầu có khả năng thanh toán, rất lạnh lùng với các nhu cầu không có khả năng thanh toán (của người nghèo, tầng lớp yếu thế trong xã hội). Kinh tế thị trường gây ra phân cực xã hội, phân hóa giàu nghèo với mức độ lớn. Quan hệ xã hội trong nhiều trường hợp lấy đồng tiền và địa vị cá nhân làm thước đo lẫn nhau. Các tệ nạn xã hội nảy sinh và phát triển rất nghiêm trọng. Trong bài viết của mình, Tổng Bí thư đã nói rõ, kinh tế thị trường là thành tựu, là giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được qua các thời kỳ phát triển. Đương nhiên, việc kế thừa những thành tựu đó phải có chọn lọc trên quan điểm khoa học, phát huy và phát triển. Điểm lại những ưu thế và khuyết tật của kinh tế thị trường là để chúng ta chọn lọc, kế thừa, phát huy và phát triển một cách đúng đắn những ưu thế của nó. Đồng thời phải ngăn ngừa, khắc phục, hạn chế tối đa những tiêu cực, những khuyết tật, những khiếm khuyết mang trên cơ thể nó. Từ đó mà hình thành một nền kinh tế thị trường Việt Nam - nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo Tổng Bí thư, đó là “nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Lý luận đã được thực chứng Từ thực thi đường lối của Đảng qua thực tiễn 35 năm công cuộc đổi mới, Tổng Bí thư đã nêu lên một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường của Việt Nam là phải “gắn kết kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển”. Như đã nói, vì mục tiêu tối thượng là lợi nhuận tối đa nên khuyết tật “bẩm sinh” của kinh tế thị trường là không giải quyết được các vấn đề xã hội một cách hợp lý, thấu đáo; thậm chí rất thờ ơ, lạnh nhạt đối với các nhu cầu không có khả năng thanh toán. Ngược lại, kinh tế thị trường của Việt Nam lại coi mục tiêu giải quyết các vấn đề xã hội đúng đắn, hợp lý, hài hòa là vấn đề quan trọng hàng đầu của định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã và đang phục vụ đắc lực cho mục tiêu này. Trên phương diện lập pháp, song song với việc xây dựng một hệ thống luật pháp kinh tế ngày càng hoàn chỉnh, Quốc hội đã cố gắng với mức cao nhất để có một hệ thống pháp luật xã hội đầy đủ nhất, nhằm điều chỉnh, áp dụng cho mọi đối tượng trong xã hội. Từ Hiến pháp đến tất cả các đạo luật, pháp lệnh đều đã hội tụ, quán triệt đầy đủ các quan điểm, đường lối, chính sách xã hội của Đảng. Hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung, pháp luật về xã hội nói riêng được hình thành một cách dân chủ, chứa đựng các giá trị của quốc gia, dân tộc và quốc tế; hệ thống pháp luật đó nhằm mục tiêu bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng và lẽ phải, bảo vệ quyền con người và quyền công dân. Có thể nói, đến nay hệ thống pháp luật về xã hội đã bao phủ được toàn bộ cuộc đời của mỗi con người ở từng giai đoạn của cuộc sống với tất cả các đối tượng. Khi mới sinh ra và trong giai đoạn niên thiếu thì có Luật Bảo vệ và chăm sóc trẻ em. Lớn lên thì có Luật Thanh niên. Trong thời gian học hành thì có Luật Giáo dục, Luật Giáo dục nghề nghiệp, Luật Giáo dục đại học. Ra làm việc thì có Bộ luật Lao động, Luật Việc làm; trong khi làm việc thì có Luật An toàn vệ sinh lao động, Luật Bảo hiểm xã hội. Khi về già, bước ra khỏi quá trình lao động thì có Luật Người cao tuổi cùng chế độ hưu trí của Luật Bảo hiểm xã hội. Nhằm bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho người dân thì có Luật Khám bệnh, chữa bệnh, Luật Dược. Để bảo đảm quan hệ xã hội hài hòa giữa hai giới thì có Luật Bình đẳng giới và Luật Phòng, chống bạo lực gia đình. Đối với một số người có khiếm khuyết hình thể thì có Luật Người khuyết tật. Đối với những người có công trạng đối với đất nước thì có Pháp lệnh Người có công... Toàn bộ hệ thống pháp luật về xã hội đã và đang phát huy tác dụng tốt, tích cực trong đời sống xã hội. Trên phương diện hành pháp thì ngay trong bài viết, Tổng Bí thư đã dẫn ra một số tình hình và số liệu rất cơ bản mà Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện. Đó là: “Hiện dân số Việt Nam là hơn 97 triệu người, gồm 54 dân tộc anh em, trong đó hơn 60% số dân sống ở nông thôn. Phát triển kinh tế đã giúp đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội những năm 80 và cải thiện đáng kể đời sống của Nhân dân. Tỷ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 3% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều (tiêu chí cao hơn trước). Đến nay, hơn 60% số xã đạt chuẩn nông thôn mới; hầu hết các xã nông thôn đều có đường ô tô đến trung tâm, có điện lưới quốc gia, trường tiểu học và trung học cơ sở, trạm y tế và điện thoại”. Theo báo cáo của Thủ tướng Chính phủ tại Kỳ họp thứ Mười, Quốc hội Khóa XIV tháng 10.2020, Chính phủ đã gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công, chính sách bảo trợ xã hội; phát triển hệ thống an sinh xã hội hiệu quả, bền vững; bảo vệ nhóm yếu thế trong xã hội... Gần 1,4 triệu người có công đang hưởng chế độ trợ cấp ưu đãi hàng tháng; diện bao phủ bảo hiểm xã hội được mở rộng, tăng hơn 1,3 lần so với năm 2015, chiếm 33% lực lượng lao động năm 2020. Số bác sĩ trên 1 vạn dân tăng từ 8 bác sĩ giai đoạn 2011 - 2015 lên 9 bác sĩ giai đoạn 2016 - 2020; tương tự như vậy, số giường bệnh trên 1 vạn dân tăng từ 24 lên 28 giường; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế tăng từ 76,5% lên 90,7%; xây dựng nông thôn mới hoàn thành trước thời hạn 2 năm... Đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp dân cư đều có những bước cải thiện nhất định. Chỉ số phát triển bền vững của Việt Nam năm 2020 đã tăng 39 bậc so với năm 2016, xếp thứ 49/166 quốc gia và vùng lãnh thổ... Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và giải quyết các vấn đề xã hội luôn song song với nhau như hình với bóng, đó là vấn đề mà Tổng Bí thư nhấn đậm, “điều đó có nghĩa là: không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Trái lại, mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xóa đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn. Đây là một yêu cầu có tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Trên thực tế, toàn bộ lý luận trong tác phẩm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói chung, lý luận về đường lối giải quyết các vấn đề xã hội trong nền kinh tế thị trường của Việt Nam nói riêng, từ lý luận đã được thực chứng và đang trở lại chỉ đạo mọi hoạt động thực tiễn của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trong giai đoạn mới của cách mạng.

Những vấn đề đặt ra trong quản lý nhà nước về công tác dân tộc hiện nay

 


Một là, quản lý nhà nước về công tác dân tộc phải hướng tới phát triển toàn diện kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc thiểu số, xóa đói, giảm nghèo, thu hẹp phát triển với các vùng khác.

Bởi vì:

+ Xuất phát từ vị trí, tầm quan trọng của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế - xã hội, an ninh, quôc phòng, đối ngoại và bảo vệ môi trường sinh thái.

+ Xuất phát từ thực trạng KT-XH vùng đồng bào DTTS&MN là vùng có điều kiện khó khăn nhất, chất lượng nguồn nhân lực thấp nhất, KT-XH phát triển chậm nhất, tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản thấp nhất, tỷ lệ nghèo cao nhất.

Hai là, Đa dạng hóa nguồn lực phục vụ phát triển vùng DTTS (NSNN, ODA, hỗ trợ doanh nghiệp, xã hội hóa…)

Do vậy, cần huy động đa dạng nguồn lực để đầu tư cho phát triển.

Ba là, Phân cấp cho địa phương và phát huy vai trò làm chủ của địa phương trong thực hiện nhiệm vụ quản lý về công tác dân tộc và thực hiện và giám sát thực hiện đường lối, chính sách, pháp luật về công tác dân tộc.

Bốn là, Nâng cao vai trò, trách nhiệm của Ủy ban Dân tộc và hệ thống các cơ quan làm công tác quản lý nhà nước về dân tộc ở các địa phương trong tham mưu hoạch định, thực hiện chính sách đối với đồng bào DTTS; giám sát, điều phối, đánh giá kết quả thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật về DTTS

Năm là, Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ người DTTS trong phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát đánh giá thực hiện chính sách dân tộc

 


 Công tác thanh tra, kiểm tra: Ủy ban Dân tộc đã tập trung thanh tra, kiểm tra thực hiện những chính sách do ủy ban Dân tộc trực tiếp quản lý, thông qua đó đã phát hiện, chấn chỉnh kịp thời những sai lệch trong thực hiện ở các địa phương và những hạn chế của từng chính sách làm cơ sở để sửa đổi phù hợp với quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng, Nhà nước về vấn đề dân tộc ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, phù hợp với nhu cầu và nguyện vọng chính đáng của đồng bào DTTS và miền núi.

 Công tác giám sát, đánh giá thực hiện chính sách dân tộc: hoạt động giám sát được triển khai thực hiện khá mạnh và đạt được nhiều kết quả quan trọng thông qua vai trò giám sát bởi Hội đồng dân tộc của Quốc hội và Hội đồng nhân dân của các địa phương đối với các bộ, ngành và địa phương.

Đặc điểm của tín ngưỡng thờ Thành hoàng

 


- Các đi tượng được tôn thờ trong tín ngưởng thờ Thành hoàng ở Việt Nam rất đa dạng

+ Các vị thần đều có nguồn gốc nhân thần hay nhiên thần, nhưng được mở rộng, trở thành thần bản mệnh có vai trò bảo trợ thành trì, thần dân ở đô, phủ và trải rộng đến nơi thôn dã, ngự tại thôn làng.

+ V nguồn gốc xuất thân ca Thành hoàng ở Việt Nam nhiều khi có gốc tích là tiện dân, như ăn mày, ăn trộm, tà dâm. Các Thành hoàng này không được thế lực quan phương thừa nhận song vẫn được người dân thờ phụng. Ngoài ra, các Thành hoàng của người Việt không chỉ có công hộ quốc mà còn có công giúp dân. Họ có thể là người có công khai khẩn đất đai, mở mang xóm làng; là người mang lại kế sinh nhai cho dân chúng và được tôn làm tổ sư, tổ nghề, được suy tôn làm Thành hoàng làng.

+ Nguyên nhân của đặc điểm trên, suy cho cùng do ảnh hưởng của tâm thức văn hóa của các cộng đồng cư dân Việt; do cơ tầng văn hóa của Việt Nam được hình thành lâu dài, lại trải qua quá trình mưu sinh đầy gian nan, vất vả; do cuộc đấu tranh dai dẳng, khốc liệt chống các thế lực ngoại xâm quy định.

- Thành hoàng ở Việt Nam gần gũi, gắn bỏ với cuộc sống thường nhật của nhân dân

Thần linh của người Việt không phải là những đấng siêu nhiên, tồn tại đâu đó trong vũ trụ, mà là sống bên cạnh con người, có khi hóa thân thành con người, để cưu mang giúp đỡ phù hộ, độ trì cho người lương thiện, trừng phạt kẻ bất lương. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy đặc điểm trên đây trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, trong tín ngưỡng thờ mẫu, thờ anh hùng dân tộc và đương nhiên trong cả tín ngưỡng thờ Thành hoàng. Khi cuộc sống gặp khó khăn, các vị vua thường lập đàn cầu đảo sự trợ giúp của thần linh; còn người dân cũng thực hiện các nghi thức thờ phụng để cậy nhờ cầu khấn các vị thần Thành hoàng, các vị gia tiên.

+ Nhiều người được tôn làm Thành hoàng là những người mà khi sống có quan hệ đặc biệt với xóm làng. Họ có thể là người có công giúp dân làng trong sản xuất, chống thiên tai, dịch bệnh hay giặc dã. Có người mặc dù không được giới cầm quyền thừa nhận thậm chí gọi là “tà thần”, song họ vẫn được dân chúng ngưỡng mộ, tôn sùng. Tín ngưỡng thờ Thành hoàng ở Việt Nam do đó trở thành tín ngưỡng của các tầng lớp dân cư, tồn tại và trải rộng tới khắp các miền quê.

- Tin ngưỡng thờ Thành hoàng ở Việt Nam tồn tại đan xen với các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo khác

Tín ngưỡng thờ Thành hoàng đan xen với tín ngưỡng thờ thần rất phổ biến ở Việt Nam.

+ Sự đan xen này thể hiện rõ tại các cơ sở thờ tự. Trước kia thần Thành hoàng được thờ trong đền, miếu, cũng có thần được thờ cả trong chùa của Phật giáo, theo quan niệm “Tam giáo đồng nguyên”. Sang thế kỷ thứ XV, nhà nước phong kiến với những ảnh hưởng mạnh của Nho giáo, đã kéo theo sự ra đời của ngôi đình. Một số đình không chi là công sở của nhà nước mà còn thờ cả Thành hoàng; là trung tâm diễn ra các lễ hội của dân địa phương.

+ Đối tượng thờ phụng trong tín ngưỡng thờ Thành hoàng rất đa dạng, hay bắt gặp nhất là Sơn thần, Thủy thần, Nhiên thần, Nhân thần. Tuy nhiên, nhân thần vẫn là loại Thành hoàng có số lượng nhiều nhất. Đáng chú ý là thần linh trong tín ngưỡng thờ Thành hoàng được vua phong và phân cấp quản lý, có định ra các định chế cụ thể cho việc tế lễ. Đó là cái lõi của Thành hoàng theo kiểu Trung Hoa nhằm thể hiện uy quyền tuyệt đối của nhà vua - Thiên tử - không chỉ đối với con người, sông núi mà cả với bách thần. Như vậy, ngay cả niềm tin tín ngưỡng cũng bị chế định bởi lợi ích của tập đoàn cầm quyền và có tính giai cấp.

Khi xâm nhập vào Việt Nam, trong thời kỳ chính quyền phong kiến chưa đủ sức vươn tới kiểm soát một cách chặt chẽ các chốn thôn quê, thì việc nhà vua sắc phong Thành hoàng chỉ rất hãn hữu. Nhưng bắt đầu từ thời Hậu Lê, khi Nho giáo được đề cao, khi sức mạnh của chính quyền nhà nước phong kiến đã vươn tới khắp các vùng miền quê, thôn dã thì sắc phong thần trở nên phổ biến, thường xuyên. Vì vậy kể từ thời Hậu Lê đến triều Nguyễn, tín ngưỡng thờ Thành hoàng có cơ sở, điều kiện hơn để phát triển.

Hàng năm trong các làng xã, các hội lễ được tổ chức, quy tụ mọi tầng lớp dân cư mà đối tượng thiêng trong lễ hội có liên quan trực tiếp đến các Thành hoàng làng. Những lễ hội đó thực sự đã trở thành một mô thức văn hóa của cộng đồng cư dân nông nghiệp, góp phần làm mờ nhạt sự phân chia đẳng cấp trong xã hội và khoảng cách giữa thần và người.

ĐỪNG VÌ NGHE LẠI MẤY CÂU CỦA BỌN PHẢN ĐỘNG VÀ CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH MÀ ĐÁNH GIÁ BẢN CHẤT CỦA QUÂN ĐỘI!

 “Quân đội là để bảo vệ tổ quốc, bảo vệ nhận dân, không phải để đem ra bàn luận đi hay không đi, dám hay không dám”


Sự việc quân nhân Trần Đức Đô tử vong là vô cùng đáng tiếc đối với gia đình và đơn vị. Hiện cơ quan chức năng đang khẩn trương điều tra, xác minh làm rõ nguyên nhân. Tuy nhiên, sau khi sự việc xảy ra, đã có rất nhiều luồng thông tin, hình ảnh, video clip, tin, bài viết chưa chính xác được đăng tải, lan truyền trên Internet, mạng xã hội... làm phức tạp tình hình, gây mất ổn định tại địa phương. Vì vậy, mỗi chúng ta những người dùng mạng xã hội phải hết sức tỉnh táo, có nhận thức, thái độ đúng đắn, không để các đối tượng xấu xúi giục, kích động dẫn tới hành vi trái quy định. Nên nhớ rằng mọi vụ án phải dựa vào chứng cứ, kết quả khám nghiệm tử thi, khám nghiệm hiện trường, không thể “PHÁ ÁN ONLINE” được. Hãy thật bình tĩnh phán xét, đừng bị hiệu ứng đám đông dẫn dắt để rồi chính mình lại phải gánh hậu quả từ sự cả tin của mình.

Riêng tôi là một người đã từng thực hiện nghĩa vụ quân sự xin chia sẻ một số cảm nhận của bản thân. Có thể thấy thời gian 2 năm trong quân ngũ không quá dài, nhưng nếu ai đã từng đi lính thì chắc hẳn đó là những ngày tháng khó quên nhất trong đời, đó thật sự là những ngày tháng đầy ắp kỷ niệm. Trên mạng xã hội và đâu đó thỉnh thoảng lại có câu “Lính cũ bắt nạt lính mới”, “rồi mất đoàn kết này nọ”, “vào lính kinh khủng lắm”… Tự dưng tôi thấy chảnh lòng vì những lời nói, những nhận xét mang tính phiến diện, không đúng sự thật, thậm chí mang hàm ý xúc phạm, hạ bệ cá nhân, tổ chức… được phát ra từ miệng những người chưa một ngày đứng trong hàng ngũ quân đội, thậm chí những người mà gia đình “Ba đời không ai đi lính”, đáng buồn hơn là những lời phát ra từ những nguồn phản động như “BBC, RFA, Việt Tân…” mà cộng đồng mạng nhiều người vẫn tin sái cổ, phải công nhận nhiều người nhẹ dạ thế. 

Với tôi những ngày trong quân ngũ là những ngày rất đặc biệt, với những tình cảm rất đặc biệt và thiêng liêng nữa; tôi còn nhớ ngày mới nhập ngũ chân ướt, chân ráo vào đơn vị vừa đặt ba lô xuống là các anh chỉ huy đơn vị hỏi han, bày vẽ chu đáo, tận tình từng cái nhỏ nhất; các anh quan tâm, chăm lo từng bữa cơm, giấc ngủ, thậm chí có đêm khi anh em đã ngủ vẫn thấy chỉ huy đơn vị đi kiểm tra vén màn, để lại dép vào đúng vị trí; những lúc trái gió, trở trời có đồng chí bị cảm là các anh lại lo lắng như những người bố, người mẹ trong gia đình vậy, cho quân y kiểm tra, tự tay nấu từng bát cháo để anh em ăn cho chóng khỏi. Nhớ nhất là những tháng cuối cùng trong đời quân ngũ, những ngày hành quân diễn tập đầy vất vả, khó khăn, hành quân xa, mang vác nặng, lúc đó thật sự thấm thía về tình cảm thiêng liêng, tình đồng chí đồng đội; có những lúc vì hành quân xa mệt mỏi, chân rộp, lưng đau, những hễ có ai trong tiểu đội đau hơn là anh em trong tiểu đội, không ai bảo ai người cầm giúp khẩu súng, người xách hộ ba lô, người chia ngụm nước, miếng lương khô, động viên nhau cố gắng để chiến thắng bản thân, đi bằng ý chí không để ai bị tụt lại phía sau… đó là những tình cảm thiêng liêng, không chút so đo tính toán, thứ tình cảm mà có lúc hơn cả tình ruột thịt, để rồi khi mỗi nhiệm vụ hoàn thành anh em đồng chí, đồng đội lại vui mừng, hãnh diện; lại nhớ những đêm sinh nhật đồng đội cả đơn vị chung nhau câu hát “chúc mừng sinh nhật”, cùng chia nhau niềm vui, nỗi buồn, chung nhau khúc quân hành người lính.

Rồi ngày tháng dần trôi tôi và đồng đội cùng xuất ngũ, trở lại cuộc sống thường nhật, với bao lo toan bộ bề cuộc sống, người nam, kẻ bắc để mưu sinh với trăm nghề. Mỗi năm, thậm chí 2,3 năm anh em đồng ngũ mới có cơ hội gặp lại nhau. Cảm xúc ngày xưa lại ùa về, mừng mừng, tủi tủi, ôm lấy nhau trong tình thương yêu, một tình thương yêu đặc biệt “Tình đồng chí”. 

Thật sự 2 năm quân ngũ ngẫm lại thật sự quá nhanh, với bao kỷ niệm được ghi lại, yêu thương nhau còn không hết, thời gian đâu mà đánh với đập nhau như lời một số trang mạng hay nói… mà nếu có thì cũng chỉ là một vài lời cãi vã qua lại, đó là chuyện dễ hiểu bởi vì các bạn biết đấy trong gia đình có 3,4 người mà đi ra, đi vào còn xảy ra bất hòa, có những gia đình có mỗi người con mà còn không bảo ban được, còn hư hỏng; huống hồ quân đội mỗi đơn vị quản lý hàng trăm, thậm chí hàng nghìn thanh niên, mỗi người một tính, nên xảy ra va chạm, cãi vã cũng là dễ hiểu, chỉ là sau khi chỉ huy phân tích, giảng giải rồi hiểu ra và thêm yêu thương nhau hơn. Vậy mà đâu đó những lời bịa chuyện, những câu chuyện không có thật, được một số người không một ngày trong quân ngũ thêu dệt, hư cấu lên lại được rất nhiều người hùa theo để nói thế này thế khác, mặc dù bản thân chẳng hiểu đó là vấn đề gì và xuất phát từ đâu. Hãy học cách đặt mình vào vị trí của người khác để biết trân trọng và quý mến những gì họ đang hàng ngày, hàng giờ để đóng góp cho tổ quốc, cho xã hội, không thể tránh được câu chuyện “con sâu làm rầu nồi canh” lúc này, lúc khác sẽ có, nhưng nếu có thì những con sâu đó sớm muộn rồi cũng sẽ bị loại bỏ ra khỏi hàng ngũ; nhưng đừng bao giờ quy chụp đó là bản chất, đó là cái chung của một tổ chức, một tập thể “Quân đội là để bảo vệ tổ quốc, bảo vệ nhân dân, không phải để đem ra bàn luận đi hay không đi, dám hay không dám”./.


Yêu nước ST.

Lễ nghi của Công giáo

 


Những ngày lễ của Công giáo (theo dương lịch) gồm có:

- Lễ trọng: có 6 ngày trong năm cụ thể là: 1. Lễ Noel (Giáng sinh), ngày 25/12; 2. Lễ phục sinh - Chúa sống lại (từ 21/3 - 25/4); 3. Lễ Chúa Giêsu lên trời, sau lễ phục sinh 40 ngày; 4. Lễ Chúa Thánh thần hiện xuống, sau lễ Chúa Giêsu lên trời 10 ngày; 5. Lễ Đức bà Maria hồn và xác lên trời (15/8); 6. Lễ các Thánh (1/11).

- Lễ thông thường (những ngày lễ mà Giáo hội không buộc, nhưng tín đồ vẫn tích cực tự nguyện tham gia để được hưởng nhiều ơn phúc): 1. Lễ Đức mẹ vô nhiễm nguyên tội, ngày 8/12; 2. Lễ Tro (đầu mùa chay), kỷ niệm Chúa Giêsu chuẩn bị vào thành Jerusalem; 3. Lễ Lá (ngày chủ nhật đầu Tuần Thánh), kỷ niệm Chúa Giêsu vào thành Ịerusalem được dân chúng rải lá trên đường đón tiếp; 4. Lễ Tuần Thánh (từ chủ nhật lễ lá đến chủ nhật lễ phục sinh), kỷ niệm Chúa Giêsu chịu khổ, chịu nạn, chết đi rồi sống lại; 5. Lễ Thánh tông đồ Phêro và Phaolo (29/6); 6. Lễ cầu nguyện các linh hồn nơi luyện ngục (2/1l)..

 

Thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc trong quá trình đổi mới

 


- Trong bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều phức tạp, chúng ta kiên quyết, kiên trì đấu tranh giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội.

- Nhận thức về mục tiêu, yêu cầu bảo vệ Tổ quốc; về vị trí, vai trò của quốc phòng, an ninh trong tình hình mới; về quan hệ đối tác, đối tượng có bước phát triển.

- Chủ động, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng các biện pháp phù hợp, bảo vệ được chủ quyền, biển, đảo, vùng trời và giữ được hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

- Chủ trương, giải pháp trong chiến lược quốc phòng, quân sự, chiến lược an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện. Thế trận quốc phòng toàn dân gắn kết chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân tiếp tục được tăng cường, củng cố, nhất là trên các địa bàn chiến lược quan trọng; sức mạnh về mọi mặt của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân được tăng cường.

 - Kết hợp có hiệu quả giữa nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; giữa kinh tế với quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

 - Đấu tranh làm thất bại âm mưu "diễn biến hòa bình", hoạt động phá hoại, gây rối, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; bước đầu đối phó có hiệu quả với mối đe dọa an ninh phi truyền thống, kiềm chế được tốc độ gia tăng tội phạm.

Nguồn gốc tín ngưỡng thờ Thành hoàng ở Việt Nam

 


Tục thờ Thành hoàng ở Trung Quốc đã có từ thời cổ đại và thần Thành hoàng được xem như vị thần bảo hộ thành trì, tức là bảo vệ bộ máy quan liêu và cư dân trong thành. Còn những thôn ấp ngoài thành thì có thần thổ địa bảo vệ và trong gia đình có thần thổ công.

Tín ngưỡng Thành hoàng ở nước ta có từ thời Bắc thuộc. Theo GS Nguyễn Duy Hinh: “Lý Nguyên Gia xây dựng La Thành năm 823, dựng đền thờ Tô Lịch làm Thành hoàng. Năm 866 Cao Biền lại phong Tô Lịch làm Đô phủ Thành hoàng Thần quân. Năm 1010 Lý Thái Tổ dời đô ra Thăng Long lại phong Tô Lịch làm Quốc Đô Thăng Long Thành hoàng đại vương. Thi Trần phong thêm các mỹ tự Bảo Quốc, Hiền Linh, Định Bang cho Thành hoàng Tô Lịch”[1]. Việt điện u lỉnh cho biết có 2 vị Thành hoàng khác: Đằng Châu và Bạch Mã.

- Tín ngưỡng thờ Thành hoàng có nguồn gốc ban đầu là thần bảo hộ thành trì của vua quan, rồi sau đó được cải biến, mở rộng trong đời sống dân cư thành thần bảo hộ xóm làng.

Tín ngưỡng này trước hết xuất phát không phải vì lợi ích của “thứ dân”, mà nó chỉ làm cho thiêng liêng hơn, thần bí hơn vị thế, quyền uy của tầng lóp trên của xã hội. Từ ngày nước ta độc lập tự chủ, tín ngưỡng thờ Thành hoàng vẫn được các vua chúa Việt Nam duy trì. Dân ta tin rằng, đất có thổ công, sông có hà bá, cảnh thổ nào phải có thần hoàng ấy, do vậy phải thờ phụng để thần phù hộ, che chở cho dân, vì thế việc thờ cúng thần ngày càng phát triển.

Từ một thứ thần linh bảo hộ thành trì mang đậm nét Trung Hoa, ở xã thôn Việt Nam, tín ngưỡng thờ Thành hoàng đã trở thành một tín ngưỡng mang tính cộng đồng chung của làng xã người Việt, một thứ thần linh không chỉ có công hộ quốc mà còn ”bảo dân". Đến trước triều Nguyễn, tín ngưỡng thờ Thành hoàng ở nước ta đã trở nên phổ biến cả ở ngoài Bắc và cả ở trong Nam. Song trên thực tế, tín ngưỡng thờ Thành hoàng ở phía Bắc và phía Nam cũng có những dị biệt. Cư dân ở phía Bắc đã có quá trình định cư lâu đài, ổn định, vì vậy, số lượng thần được thờ nhiều hơn và phần nhiều đều có thần tích. Nhưng càng xuống phía Nam, Thành hoàng làng rất ít có “ngọc phả”, nên phần nhiều những nơi thờ tự chỉ đề một chữ “Thần”.

- Tín ngưỡng thờ Thành hoàng ở Việt Nam có hai dòng rõ rệt

+ Một dòng mang đậm nét Trung Hoa, đó là những vị thần huyền bí, tối linh, hành trang mờ mịt.

+ Một dòng được Việt hóa thành Thành hoàng làng, với cả hai ý nghĩa: Bảo quốc và hộ dân. Thần Thành hoàng Việt Nam có gốc tích gn bó, gần gũi, phù hộ độ trì cho dân chúng, không còn nguyên vẹn là các thần linh chi bảo vệ thành trì của vua chúa, chống lại các cuộc nổi dậy của nông dân và nhằm tỏ rõ uy quyền của nhà vua.



[1] Nguyễn Duy Hinh: Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam, Nxb.Khoa học xã hội, H.1998, tr.31.

Xây dựng tốt hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu về công tác dân tộc

 


- Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, để đảm bảo tính thống nhất của hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu về công tác dân tộc, Ủy ban Dân tộc đã làm đầu mối, phối hợp hỗ trợ với ban/phòng dân tộc của các địa phương xây dựng hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu về công tác dân tộc như: dữ liệu về các dân tộc thiểu số Việt Nam; về tình hình kinh tế - xã hội của các dân tộc thiểu số, các vùng dân tộc thiểu số, tiêu chí phân định vùng dân tộc theo trình độ phát triển, tiêu chí xác định thành phần dân tộc, tiêu chí về chuẩn đói nghèo đối với vùng dân tộc thiểu số; xây dựng chính sách đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao dân trí, bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số...

- Đây là cơ sở đữ liệu được thu thập, tổng hợp từ thực tiễn tình hình dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam. Các thông tin, dữ liệu này có công cụ phân tích dữ liệu theo khung đánh giá chính sách, có phân loại cụ thể chính sách theo tộc người, theo vùng và theo lĩnh vực. Vì vậy, hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu rất hữu hiệu trong thực hiện quản lý nhà nước về công tác dân tộc.

Giáo luật công giáo

 


 Giáo luật, lễ nghi và thiết chế của Giáo hội Công giáo được ghi trong bộ Giáo luật năm 1983 bao gồm 1.752 điều (đề cập đến cả về hành đạo, quản đạo và truyền đạo). Trong đó, về giáo luật có một số vấn đề chủ yếu sau:

- Mười điều răn của Thiên Chúa: 1. Phải thờ kính Thiên Chúa trên hết mọi sự; 2. Không được lấy danh Thiên Chúa để làm những việc làm phàm tục tầm thường; 3. Dành ngày chủ nhật để thờ phụng Thiên Chúa; 4. Thảo kính cha mẹ; 5. Không được giết người; 6. Không được tà dâm; 7. Không được gian tham lấy của người khác; 8. Không được làm chứng dối, che giấu sự gian dối; 9. Không được ham muốn vợ (hoặc chồng) người khác; 10. Không được ham muốn của cải bất minh.

- Sáu điều răn của Giáo hội: (1) Xem lễ ngày chủ nhật và các ngày lễ buộc; (2) Kiêng việc xác ngày chủ nhật; (3) Xưng tội mỗi năm một lần; (4) Chịu lễ mùa phục sinh; (5) Giữ chay những ngày quy định; (6) Kiêng ăn thịt những ngày quy định.

- Bảy phép Bí tích: (1) Bí tích rửa tội; (2) Bí tích thêm sức; (3) Bí tích giải tội; (4) Bí tích Thánh thể (Phép mình Thánh Chúa); (5) Bí tích xức dầu thánh (xức dầu bệnh nhân); (6) Bí tích Truyền chức (giám mục, linh mục, phó tế); (7) Bí tích hôn phối.

 

Bảo vệ đường lối của Đảng trong thực tiễn

Bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng thì cùng với việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, đấu tranh với những luận điệu sai trái, trước tiên phải là thực hiện đúng Cương lĩnh, đường lối của Đảng, phải kiên quyết chống các nguy cơ “sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên” như Cương lĩnh đã ghi. Chúng ta đều hiểu bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng là nội dung quan trọng hàng đầu trong nhiệm vụ bảo vệ Đảng. Trên cơ sở tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh 1991), Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) được thông qua tại Đại hội XI của Đảng đã có những nội dung phát triển mới trên một số lĩnh vực so với Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội VII. Trong đó có những nội dung quan trọng, về những bài học kinh nghiệm của cách mạng và của Đảng, về phương thức lãnh đạo của Đảng, về nội dung chủ nghĩa xã hội mà chúng ta xây dựng... Chủ nghĩa xã hội mà chúng ta xây dựng trong Cương lĩnh (bổ sung và phát triển năm 2011 - dưới đây gọi tắt là Cương lĩnh 2011) có 8 đặc trưng so với 6 đặc trưng của Cương lĩnh trước. Cương lĩnh 2011 bổ sung nội dung về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, không đưa các nội dung “chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu” và “con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, làm theo năng lực hưởng theo lao động” đã ghi trong Cương lĩnh trước. Cương lĩnh đã xác định những nội dung cơ bản về xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, nhưng khi triển khai Nghị quyết Đại hội XI, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vẫn yêu cầu Hội đồng Lý luận Trung ương cần làm rõ chủ nghĩa xã hội là gì, chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là gì,...? Như vậy, nội dung chủ nghĩa xã hội mà ta xác định trong Cương lĩnh 2011 tuy đã rõ hơn, sát thực tiễn hơn nhưng vẫn chưa rõ hẳn. Tuy chưa rõ hẳn, cần tiếp tục tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận để bổ sung nhưng nội dung chủ nghĩa xã hội mà ta xây dựng nêu trong Cương lĩnh đã khác với những gì chúng ta hiểu trước đây và về cơ bản là phù hợp với thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Thực tế đó bác bỏ luận điệu vu cáo cho là Đảng ta vẫn tiếp tục áp dụng “mô hình Xôviết” đã bị phá sản,... Tuy nhiên, trong lúc tiếp tục nghiên cứu, bổ sung cần kiên quyết bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng vì chính đó là “linh hồn” của Đảng. Các thế lực thù địch và những người cực đoan bằng các hình thức hợp pháp và chủ yếu là không hợp pháp đang tung ra những luận điệu vu cáo, tấn công vào những nội dung cơ bản trong Cương lĩnh và đường lối của Đảng. Trong bài viết này, tôi chỉ nêu những ý kiến tranh luận với những luận điệu vu cáo cho là Đảng đang thực hiện “Đảng trị”, xây dựng “xã hội toàn trị” triệt tiêu dân chủ như một số trang mạng xã hội đã nêu. Đảng ta là Đảng duy nhất cầm quyền, nhưng trong Cương lĩnh cũng như Hiến pháp năm 2013 đã nêu rõ phương thức lãnh đạo của Đảng, nhấn mạnh tính thuyết phục, nêu gương và khẳng định: Đảng, các tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, chịu trách nhiệm trước nhân dân về các quyết định của mình và yêu cầu nhân dân, báo chí giám sát hoạt động của cán bộ, đảng viên. Đảng ta hoạt động theo nội dung trong Cương lĩnh, đường lối đã ghi thì không thể gọi là “Đảng trị” như họ vu cáo. Tôi hiểu, dân chủ với các phương thức, hình thức khác nhau nhưng mục đích cuối cùng là bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định nước ta là một nước dân chủ, mọi lợi ích và quyền hành đều ở nơi dân. Dân chủ là mục tiêu và động lực của xã hội xã hội chủ nghĩa. Nội dung chủ nghĩa xã hội mà ta xây dựng ghi trong Cương lĩnh đã có nội dung quan trọng: “nhân dân làm chủ”. Quan sát hơn 100 nước trên thế giới thực hiện đa đảng, chúng ta sẽ thấy rõ không phải cứ đa đảng thì sẽ có dân chủ, ổn định và sẽ chống được tham nhũng như họ tưởng. Trong thực tế quá trình đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, thể chế dân chủ đã được thực hiện trong nhiều lĩnh vực. Đã mở rộng quyền tự chủ của các đơn vị kinh tế trong nền kinh tế nhiều thành phần. Trong sinh hoạt dân chủ, người dân đã tham gia thảo luận nhiều vấn đề, góp ý vào nhiều chủ trương, chính sách, văn bản pháp luật quan trọng trước khi quyết định. Vấn đề phản biện và giám sát quyền lực được trao trách nhiệm cho Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và báo chí. Việc thảo luận, đối thoại, chất vấn tại Quốc hội ngày càng thực chất, giải đáp trực tiếp các vấn đề bức bách của cuộc sống. Việc lấy phiếu tín nhiệm các chức danh do Quốc hội bầu và phê chuẩn là một bước tiến trong việc mở rộng dân chủ, giám sát quyền lực... Trong thực tế, vấn đề dân chủ trong Đảng và trong xã hội tuy còn nhiều mặt chưa đạt yêu cầu nhưng là những vấn đề lớn đòi hỏi phải làm tốt hơn và không thể phủ nhận những việc làm được, càng không thể vu cáo cho ta đang thực hiện chế độ độc tài như một số người rắp tâm vu cáo, hòng chống đối lại Đảng và Nhà nước ta. Nói về hệ tư tưởng, coi việc Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho hành động là nội dung độc quyền về tư tưởng, là một biểu hiện của “xã hội toàn trị” lại càng không đúng. Khi nêu nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh, văn kiện của Đảng đã khẳng định, đó là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hoá thế giới, chứ không chỉ có chủ nghĩa Mác-Lênin. Trong quá trình hội nhập quốc tế và với việc nối mạng toàn cầu, nhiều lý thuyết về tự do dân chủ, pháp quyền... theo quan điểm phương Tây lan truyền rộng rãi ngay cả trên xuất bản phẩm công khai. Và trong một hội thảo tại Ban Tuyên giáo Trung ương, tôi đã nói, chính chủ nghĩa thực dụng và những hành vi mê tín dị đoan (như xem ngày tháng, xem giờ ngay cả những chuyến đi công tác, lập bàn thờ ở cơ quan,...) đang chi phối đời sống tinh thần xã hội thì làm sao có thể nói là độc quyền tư tưởng được! Còn việc ngăn ngừa và trừng phạt một số hoạt động xuyên tạc, vu cáo, xúc phạm danh dự tổ chức và công dân, lan truyền những tin đồn có khả năng gây bất ổn xã hội, mưu toan lật đổ chính quyền là hành động phạm pháp thì chính quyền nước nào cũng phải làm vì sự ổn định của xã hội và quyền được bảo vệ chính đáng của công dân, quyền tự do của đông đảo nhân dân. Một số ý kiến trên đây là bày tỏ thái độ không đồng tình với một số nội dung mà thế lực thù địch và những người cực đoan vu cáo, xuyên tạc và tấn công vào Cương lĩnh, đường lối dựa trên mục tiêu, phương hướng, giải pháp nêu ra trong các văn kiện của Đảng. Tuy nhiên, trong hoạt động thực tiễn thực hiện Cương lĩnh, đường lối của Đảng có những việc làm được, có việc chưa làm được, còn thiếu sót và cũng thẳng thắn nói rằng, có không ít việc làm sai, làm trái Cương lĩnh và đường lối của Đảng cần phải được nhìn nhận một cách khách quan, khoa học và trung thực hơn. Về phát triển kinh tế, Cương lĩnh và văn kiện các Đại hội Đảng đều nêu rõ, cùng với yêu cầu phát triển nhanh để tránh tụt hậu xa hơn so với các nước xung quanh, đều nhấn mạnh tăng năng suất lao động phát triển bền vững, nêu rõ những trụ cột cho sự phát triển bền vững. Nhưng trong thực tế, theo tôi hiểu thì căn bệnh thành tích của một số người lãnh đạo, quản lý muốn có “những con số đẹp” trong nhiệm kỳ của mình, muốn làm vừa lòng cấp trên đã chạy theo số lượng bề ngoài, không phản ánh đúng chất lượng, hiệu quả thật trong công tác, trở thành những vấn đề bức xúc trong xã hội, từng địa phương và từng đơn vị. Điều đó, còn dẫn đến nguy cơ tụt hậu xa hơn so với các nước xung quanh. Mà thực tế thì năng suất lao động của ta vào loại thấp nhất trong khu vực. Phải chăng thế là làm trái Cương lĩnh và đường lối của Đảng? Văn hóa là lĩnh vực cực kỳ quan trọng, là nhân tố hàng đầu trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tư tưởng, đạo đức, lối sống là lĩnh vực then chốt của văn hoá, là quan điểm quan trọng trong đường lối của Đảng. Để đạo đức, lối sống sa sút, xuống cấp như hiện nay, tệ tham nhũng, lãng phí lan tràn không chỉ là nguy cơ như gần ba mươi năm trước đây đã cảnh báo, mà đang và đã trở thành hiểm họa đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ. Phải chăng đó là sự “chệch hướng” lớn trong quá trình thực hiện Cương lĩnh, đường lối trong xây dựng Đảng và xây dựng con người, coi con người là trung tâm? Tình trạng suy thoái đạo đức xã hội, đặc biệt là sự suy thoái về đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, công chức như đánh giá khá chính xác của Hội nghị Trung ương 4 khóa XI là nỗi lo lớn của Đảng và xã hội, phải chăng là điều rõ nhất chứng tỏ việc thực hiện không thành công Nghị quyết Trung ương 5 về văn hóa và chiến lược cán bộ được thông qua tại Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII?... Chỉ một vụ sai phạm của cựu Tổng Thanh tra Chính phủ, nơi có trách nhiệm chủ yếu ngăn ngừa tham nhũng, và các hoạt động vi phạm luật pháp của bộ máy công quyền đã thấy rõ sự yếu kém của ít nhất từ chi bộ đảng, đảng ủy cơ quan và ban cán sự đảng, lãnh đạo của cơ quan Thanh tra Chính phủ lúc đó đến cơ quan chức năng cấp đất sai nguyên tắc, trong việc giám sát người đứng đầu như Đảng yêu cầu. Việc đó và còn các việc khác nữa làm cho ta thấy cần có những đánh giá trung thực và chính xác hơn về công tác xây dựng Đảng theo Cương lĩnh và đường lối của Đảng... Còn có thể kể nhiều chuyện không thực hiện đến nơi, đến chốn, thậm chí làm trái Cương lĩnh, đường lối của Đảng. Chính những việc đó làm cho một số người nghi ngờ Cương lĩnh, đường lối của Đảng, nghi ngờ con đường xã hội chủ nghĩa đã lựa chọn, nghi ngờ sự lãnh đạo của Đảng, làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng và bộ máy công quyền, là kẽ hở để các thế lực cực đoan tấn công Cương lĩnh, đường lối của Đảng. Đến đây tôi lại nhớ tới phát biểu của V.I. Lênin: “Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta nếu chúng ta không mắc sai lầm, tự đánh đổ mình”. Không để xảy ra sai lầm đường lối, chính sách không hợp quy luật, không sát thực tế, không hợp lòng dân; không để mắc vào lợi ích nhóm và phe phái, họ tộc mà chọn lựa nhầm người tài đức trong bộ máy lãnh đạo Đảng và Nhà nước; cũng như có cơ chế giám sát quyền lực có hiệu quả, ngăn ngừa những sai phạm dẫn tới suy thoái của đội ngũ cán bộ, đảng viên (đang là nguyên nhân quan trọng hàng đầu), làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng, tức là làm suy giảm tài sản quý báu nhất và cũng là nguồn lực có ý nghĩa quyết định làm nên sức mạnh của Đảng... Theo tôi nghĩ, đó là những việc quan trọng hàng đầu bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng. Bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng thì cùng với việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, đấu tranh với những luận điệu sai trái, trước tiên phải là thực hiện đúng Cương lĩnh, đường lối của Đảng, phải kiên quyết chống các nguy cơ “sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên” như Cương lĩnh đã ghi. Nhìn lại các vụ gọi là “cách mạng sắc mầu” để lật đổ các chính quyền hợp pháp, ta thấy các thế lực thù địch thường khoét sâu các khuyết điểm của đảng cầm quyền, vin cớ chống tham nhũng, chống đặc quyền, độc tài gia đình trị, để lôi kéo quần chúng làm các cuộc đảo chính lật đổ chính quyền. Đó là những bài học cần rút ra trong quá trình giữ vững sự lãnh đạo của Đảng để ổn định và phát triển đất nước nhanh và bền vững. Một mùa xuân mới lại đến, Đảng ta thêm một tuổi, cần phải thể hiện sự trải nghiệm chín chắn, bằng cách luôn luôn tự làm trong sạch Đảng, gương mẫu tận tâm, tận lực, toàn trí với nhân dân, với dân tộc. Nhân dân chỉ có thể tin vào thực tiễn chứ không chỉ tin vào những lời nói tốt đẹp ghi trong các văn bản./.

Tự do phải đặt trong khuôn khổ của pháp luật

Tại Việt Nam, quyền tự do chân chính của người dân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Gần đây, trên một số trang mạng xã hội, xuất hiện một số người tự xưng là “người yêu tự do”, “nhóm yêu tự do”. Họ cho rằng quyền tự do ở Việt Nam đang bị hạn chế. Có lẽ họ không biết hoặc cố tình không biết về bản chất của tự do chân chính ở bất cứ nhà nước pháp quyền nào cũng đều phải đặt trong khuôn khổ pháp luật; không thể có tự do “vô chính phủ”, muốn làm gì thì làm. Tại Việt Nam, quyền tự do chân chính của người dân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay được tổ chức theo mô hình nhà nước pháp quyền. Bản chất của nhà nước pháp quyền là tính thượng tôn pháp luật. Pháp luật vừa là công cụ quản lý nhà nước hữu hiệu, vừa tạo hành lang pháp lý cho sự phát triển kinh tế-xã hội và bảo đảm quyền tự do của công dân. Quyền tự do của công dân trong nhà nước pháp quyền được bảo đảm bằng pháp luật. Mọi người sống trong nhà nước pháp quyền được tự do trong khuôn khổ của pháp luật. Nhắc đến quyền tự do của con người, một số người đã trích Công ước nhân quyền châu Âu (Công ước) có hiệu lực từ ngày 3-9-1953, trong đó quy định: “Tất cả mọi người đều có quyền tự do bày tỏ ý kiến. Quyền này bao gồm việc được tự do bày tỏ ý kiến và tự do trao đổi các thông tin mà không cần phải nhận được bất kỳ việc cho phép nào từ phía cơ quan công quyền và không phân biệt biên giới”. Một số người cho rằng, công dân Việt Nam chưa được hưởng quyền này. Thế nhưng họ không biết hoặc cố tình coi như không biết phần tiếp theo của Công ước đã trích dẫn ở trên nhấn mạnh: “Việc thực hiện các quyền nói trên, bao gồm cả các nghĩa vụ và trách nhiệm, hình thức, điều kiện, các hạn chế hoặc các biện pháp trừng phạt cần phải được ghi rõ trong các văn bản pháp luật có cân nhắc đến việc cần thiết đối với một xã hội dân chủ, vì lợi ích đối với an ninh quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì trật tự công cộng và ngăn ngừa tội phạm, bảo vệ sức khỏe và đạo đức, nhân phẩm hoặc danh dự của con người, ngăn ngừa việc tán phát các thông tin mật hoặc để bảo đảm quyền lực và tính độc lập của các cơ quan tư pháp”. Như vậy, việc thực thi các quyền tự do đó và các hạn chế được cụ thể hóa trong pháp luật của mỗi quốc gia. Vì mỗi quốc gia đều cân nhắc tình hình thực tế của mình để đưa ra các đạo luật nhằm cụ thể hóa việc thực hiện quyền tự do của công dân. Nước Mỹ được một số người coi là “hình mẫu của tự do”, nhưng tại Điều 2385 Chương 115-Bộ luật Hình sự Mỹ đã có quy định nghiêm cấm mọi hành vi "in ấn, xuất bản, biên tập, phát thanh, truyền bá, buôn bán, phân phối hoặc trưng bày công khai bất kỳ tài liệu viết hoặc in nào có nội dung vận động, xúi giục hoặc giảng giải về trách nhiệm, sự cần thiết tham vọng hoặc tính đúng đắn của hành vi lật đổ hoặc tiêu diệt bất kỳ chính quyền cấp nào tại Mỹ bằng vũ lực hoặc bạo lực". Theo Hiến pháp Mỹ thì Tòa án tối cao được phép đưa ra những trừng phạt pháp lý khi phát hiện báo chí có hành vi phá hoại, lăng nhục, vu khống, xúc xiểm nhà nước, xã hội và cá nhân. Vì thế, hằng năm có hàng trăm các văn bản lớn nhỏ khác nhau được Tòa án tối cao ban hành để điều hành và kiểm soát báo chí ở Mỹ. Thực tế không một quốc gia nào trên thế giới coi quyền tự do của con người là tuyệt đối. Bởi lẽ, nếu tự do tuyệt đối thì xã hội sẽ bị loạn khi tự do bắn giết, tự do cướp bóc, tự do hãm hiếp… Quyền tự do của mỗi con người trong từng quốc gia đều được giới hạn trong khuôn khổ pháp luật của mỗi quốc gia đó. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, của dân, do dân và vì dân. Quyền tự do của mọi người trên lãnh thổ Việt Nam được bảo đảm bằng pháp luật của Việt Nam. Từ sau ngày đất nước thống nhất (năm 1975) đến nay, quyền tự do, dân chủ của người dân Việt Nam ngày càng được mở rộng phù hợp với luật pháp quốc tế. Hiến pháp năm 2013 đã nâng tầm chế định quyền con người, quyền công dân thành một chương. So với hiến pháp của nhiều quốc gia, Hiến pháp năm 2013 của nước ta thuộc vào những hiến pháp ghi nhận một số lượng cao về quyền con người, trong đó có quyền tự do. Sự tiến bộ này đã được nhiều học giả trên thế giới ghi nhận. Đặc biệt, Điều 20 và 21 của Hiến pháp năm 2013 quy định rõ, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của mọi người đều được bảo vệ; do đó, đã mở rộng chủ thể và nội dung quyền được bảo vệ về đời tư so với Điều 73 của Hiến pháp năm 1992-chỉ quy định về quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín. Không chỉ củng cố các quyền đã được hiến định trong Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 còn chế định một số quyền mới, như quyền sống (Điều 19); các quyền về nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó (Điều 40); quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hóa, tham gia đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa (Điều 41); quyền xác định dân tộc, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp (Điều 42); quyền được sống trong môi trường trong lành (Điều 43); quyền không thể bị trục xuất, giao nộp cho nhà nước khác (khoản 2, Điều 17). Nếu Hiến pháp năm 1992 chỉ quy định công dân “có quyền được thông tin” (Điều 69), thì Hiến pháp năm 2013, ở Điều 25, thay chữ “được” bằng cụm từ “tiếp cận”. Nhờ quyền tiếp cận thông tin, mọi công dân có thể tiếp cận thông tin, cả về các quyền thực định cũng như về hoạt động tư pháp, để thụ hưởng đầy đủ và bảo vệ các quyền của mình theo Hiến pháp và pháp luật. Triển khai và cụ thể hóa những nội dung mới của Hiến pháp năm 2013 liên quan đến quyền con người, nhằm nâng cao hơn nữa quyền tự do trong khuôn khổ pháp luật của người dân, Nhà nước ta đang khẩn trương xây dựng một số dự án luật mới như Luật Trưng cầu dân ý, Luật Về hội, Luật Biểu tình, Luật Tiếp cận thông tin... Trong đó, dự án Luật Biểu tình và dự án Luật Trưng cầu dân ý dự kiến sẽ được cho ý kiến tại kỳ họp thứ 9 (tháng 5-2015) và biểu quyết thông qua tại kỳ họp thứ 10 (tháng 10-2015) của nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII. Luật Báo chí dự kiến cũng sẽ được đưa ra sửa đổi tại nhiệm kỳ của Quốc hội này nhằm bảo đảm quyền tự do ngôn luận của người dân trong khuôn khổ của pháp luật. Như vậy, ở nước ta quyền tự do của người dân đã và đang được Nhà nước tôn trọng và bảo đảm trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật. Trả lời phỏng vấn của Thông tấn xã Việt Nam mới đây, Phối Sư Thượng Tám Thanh-Hội trưởng Hội đồng Chưởng quản Hội Thánh Cao Đài Tây Ninh-nói: "Có thể là do một số nước không nắm được tình hình thực tế về sinh hoạt của các tôn giáo hiện có trên đất nước Việt Nam. Cũng có thể là các nước đó đã nhận được những nguồn tin thiếu trung thực, lệch lạc, khiến họ hiểu sai về thực trạng tự do hoạt động tôn giáo tại Việt Nam". Gần đây, khi một số người sử dụng mạng xã hội cũng như những hình thức thông tin khác xuyên tạc sự thật, chống phá Nhà nước và nhân dân ta bị xử lý theo pháp luật, đã có ý kiến trên mạng xã hội cho rằng, việc xử lý đó là vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng… và lên án gay gắt Điều 258 của Bộ luật Hình sự, đòi bỏ điều này. Cần phải khẳng định rằng, Điều 258 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn phù hợp với “Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966”. Điều 258 Bộ luật Hình sự quy định những hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù. Điều luật này ban hành nhằm thực hiện quyền tự do của công dân trong khuôn khổ pháp luật cho phép, tránh những kẻ lợi dụng ý nghĩa của việc “tự do” để thực hiện những ý đồ đen tối, gây ảnh hưởng tới an ninh xã hội. Giả sử Điều 258 được bỏ đi như ý nguyện các nhà tự xưng là “tự do dân chủ” thì xã hội sẽ không thể tồn tại được bởi ai thích nói gì thì nói, có thể nói nhăng nói cuội, vu khống, bịa đặt… Lẽ tất nhiên, việc hoàn thiện thể chế, mở rộng hơn nữa các quyền tự do dân chủ của nhân dân, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vẫn đang là mục tiêu phấn đấu của chúng ta. Thế nhưng, dù có mở rộng “hết cỡ” các quyền tự do thì sự tự do ấy cũng phải đặt trong khuôn khổ của pháp luật.

Tổ chức thực hiện tốt chính sách, chiến lược, chương trình liên quan đễn lĩnh vực dân tộc.

 


- Cùng với sự phát triển của đất nước, cơ chế, chính sách cho vùng dân tộc thiểu số đang có sự thay đổi căn bản, ngày càng sát thực tế hơn; từ chỗ chính sách cho vùng dân tộc thiểu số chủ yếu là hỗ trợ trực tiếp cho người dân, chuyển sang chính sách vừa đầu tư phát triển vừa hỗ trợ trực tiếp.

- Công tác tổ chức thực hiện chính sách dân tộc cũng được quan tâm phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương; phát huy được vai trò của người dân và các đối tượng thụ hưởng. Nhờ vậy, tạo ra sự đồng thuận từ Trung ương đến địa phương trong các khâu xây dựng, thực hiện, kiểm tra và đánh giá chính sách. Đảng ta đã đánh giá: “Đã thực hiện có hiệu qủa nhiều chính sách đối với … đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa…”[1].

- Tập trung mọi nguồn lực, đa dạng hóa nguồn lực đầu tư cho vùng dân tộc và miền núi; ưu tiên đầu tư cơ sở hạ tầng, giải quyết những vấn đề bức xúc tại các địa bàn vùng dân tộc thiểu số như: vấn đề đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho các địa bàn khó khăn; phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí gắn với đào tạo nghề, tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Ví dụ: Một số chính sách lớn được triển khai thực hiện có hiệu quả như:  

+ Chương trình 135 (năm 1998):

+ Các chính sách cho một số dân tộc rất ít người

+ Với nhiều cơ chế, chính sách giảm nghèo được ban hành trong giai đoạn vừa qua, bình quân tỷ lệ hộ nghèo cuối năm 2018 ở các huyện nghèo giảm xuống còn dưới 35% (giảm khoảng 5% so với cuối năm 2017); tỷ lệ hộ nghèo ở các xã ĐBKK giảm 3-4%/năm. Có 8 huyện thoát khỏi huyện nghèo theo Quyết định 30a của Thủ tướng Chính phủ; 14 huyện ra khỏi diện hưởng chính sách như huyện nghèo[2]. Hiện nay theo báo cáo của các địa phương, 124 xã, 1.298 thôn đủ điều kiện để xét hoàn thành mục tiêu Chương trình 135.

+ Công tác giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số đã có nhiều tiến bộ.

   + Mạng lưới y tế ở vùng dân tộc thiểu số phát triển, hệ thống bệnh viện tỉnh, huyện và trạm y tế xã đã được quan tâm đầu tư, 99,39% xã có trạm y tế, 77,8% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế.

+ Hệ thống chính trị vùng dân tộc thiểu số thường xuyên được xây dựng, củng cố và ngày càng phát triển, nhất là hệ thống chính trị cơ sở.

Tình hình an ninh chính trị và trật tự xã hội cơ bản được ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững. Đồng bào các dân tộc đoàn kết, tin tưởng vào đưng lối đổi mới, thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nâng cao cảnh giác trước mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch.

- Các địa phương vùng DTTS đã quan tâm tới công tác quy hoạch, bố trí, sắp xếp dân cư, thực hiện phát triển sản xuất bền vững; lồng ghép các nguồn vốn để đầu tư có trọng điểm, xây dựng các mô hình về phát triển sản xuất, bảo vệ môi trường.

 



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia, H.2016, tr.133

[2]. 8 huyện thoát khỏi huyện nghèo: Huyện Ba Bể (Bắc Kạn), Tân Sơn (Phú Thọ), Tân Uyên (Lai Châu), Than Uyên (Lai Châu), Quỳnh Nhai, Phù Yên (Sơn La), Như Xuân (Thanh Hóa), Sơn Hà (Quảng Ngãi). 14 huyện ra khỏi diện thực hiện chính sách như huyện nghèo: Bát Xát, Văn Bàn, tỉnh Lào Cai; Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình; Huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên; Vũ Quang, Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh; Sông Hinh, Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên; Đăk Glei, Sa Thầy, Kon Rẫy, tỉnh Kon Tum; KBang, Krong Pa, La Pa, tỉnh Gia Lai.