Thứ Năm, 8 tháng 7, 2021

Bộ mặt giả dối của Trịnh Hội kẻ cầm đầu tổ chức Voice - cánh tay nối dài của Việt Tân!


          Trịnh Hội sinh 1970, con rối được "Việt Tân" sử dụng để lập nên một nhóm phản động núp bóng một tổ chức NGO (Tổ chức phi chính phủ).

 


          Trịnh Hội từng có thời gian theo Nguyễn Cao Kỳ Duyên, con gái Nguyễn Cao Kỳ, nguyên Phó Tổng thống Nguỵ quyền Sài Gòn để thực hiện nhiều mưu đồ cá nhân, đánh bóng tên tuổi dưới cái mác “luật sư”. Trước khi ly dị, theo chỉ đạo của "Việt Tân", Trịnh Hội đã sử dụng hộp thư điện tử của Nguyễn Cao Kỳ Duyên tán phát các bài viết xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Nhà nước Việt Nam; gửi thông tin đến các cơ quan chức năng của Việt Nam ở các nước để khủng bố thông tin, phản đối Cơ quan An ninh Việt Nam đã tạm giữ hắn nhằm hủy hoại hình ảnh của gia đình ông Nguyễn Cao Kỳ vì trước đó gia đình ông này đã có những hoạt động hướng về quê hương đất nước, hoà giải dân tộc và được Đảng, Nhà nước Việt Nam ưu ái, đánh giá cao. Sau đó, MC Nguyễn Cao Kỳ Duyên đã phải lên tiếng thanh minh đồng thời đường ai nấy đi với Trịnh Hội.

          Với cái mác là luật sư, diễn viên điện ảnh Trịnh Hội đã được "Việt Tân" chỉ đạo cùng với Hoàng Tứ Duy và Chu Quang Ngọc những kẻ sừng sỏ của "Việt Tân" lập ra cái gọi là "Tổ chức sáng kiến lương tâm vì người Việt hải ngoại - VOICE" để làm bình phong huy động tiền từ những quỹ dân chủ, nhân quyền làm vỏ bọc xâm nhập về nước tiến hành các hoạt động chống phá Việt Nam. Với vỏ bọc của NGO, Trịnh Hội không ngừng nâng cấp hình ảnh, lấy uy tín trong cộng đồng người Việt nhằm quyên góp tiền thực hiện mục đích cá nhân.

          Mới đây, Trịnh Hội đã nẫng tay trên số tiền quyên góp 120.000 USD từ các "thân hữu" để triển khai "chương trình đào tạo xã hội dân sự" gây bức xúc lớn cho số "anh em chiến hữu". Bản thân Hội cũng bị không ít người ghét và tẩy chay vì những hành vi trục lợi cá nhân, gian lận khi lấy bóng NGO để làm hồ sơ bát nháo "cho số người không đủ tiêu chuẩn" sang Canada định cư và cuỗm luôn số tiền làm hồ sơ...

          Một kẻ ngay cả khi đứng ở phe phản diện nhưng cũng sẵn sàng lừa luôn cả số ít những người “cùng phe”, lợi dụng triệt để những người đi theo, tin theo tổ chức của y thì liệu rằng những giá trị “dân chủ, nhân quyền” mà y và Tổ chức phi chính phủ của y đang rêu rao liệu có đáng tin?

          Hãy cảnh giác, tránh xa VOICE và Trịnh Hội, những viễn cảnh mỹ miều mà hắn vẽ ra cùng cái "xã hội dân sự" tươi đẹp được nhồi nhét cho những người tham gia những khóa học vô bổ của hắn sẽ chỉ khiến người tin theo hắn tiền mất, án mang, thân bại danh liệt!

Phê phán quan điểm: “Chỉ có liên minh quân sự với một cường quốc mạnh thì Việt Nam mới giữ được chủ quyền biển, đảo”


          - Bản chất đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam là giữ vững giữ độc lập, tự chủ, không liên minh quân sự, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”.

          - Hỡi một số cá nhân, nhóm cá nhân xưng danh “ yêu nước”, đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam là quang minh chính đại, không bao giờ liên minh quân sự để làm tổn hại nước thứ ba.

          - Cảnh giác với những luận điệu phát tán trên internet và mạng xã hội của những kẻ thâm thù với cách mạng đòi Việt Nam phải liên minh quân sự để giải quyết vấn đề giữ độc lập, chủ quyền đất nước.

          - Việt Nam luôn giữ mối hòa hiếu với các quốc gia, nhất là các nước láng giềng, không bao giờ thực hiện liên minh quân sự.

          - Chúng ta không tham gia liên minh quân sự vì chủ trương nhất quán của Việt Nam là “thêm bạn, bớt thù”.

          - Việt Nam thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, không liên minh quân sự với nước nào.

          - Không liên minh quân sự là chủ trương đúng đắn, quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam được thể hiện trong Sách trắng Quốc phòng Việt Nam năm 2019.



Viết tặng các thương binh, liệt sĩ



Tháng bảy rồi các con ở nơi đâu?

Đường trường sơn? Nam lào? Quảng trị?

Hòa bình được bao lâu rồi nhỉ?

Vẫn biệt tăm để Mẹ mỏi mong chờ.

Sự thật đằng sau chiêu bài lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí

Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, bất mãn trong và ngoài nước lấy danh nghĩa “dân chủ, nhân quyền” ra sức nguỵ biện để đổi trắng thay đen, nói không thành có, có thành không về thực tế tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam hiện nay. Đồng thời, họ triệt để lợi dụng sự đánh giá không khách quan, trung thực, thiếu thiện chí của một số hãng thông tấn, báo chí nước ngoài về tình hình tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam để vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền nhằm hạ thấp vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế. 

Để đạt được mục đích, họ thành lập một số tổ chức nhân danh báo chí như: “Phóng viên không biên giới”, “The project 88”… để đấu tranh cho cái gọi là “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị”, đưa ra bảng xếp hạng sai lệch về tự do báo chí ở Việt Nam và một số quốc gia, vu khống Việt Nam bóp nghẹt tự do ngôn luận, tự do báo chí. Gây sức ép đòi thả tự do cho các đối tượng bị cơ quan chức năng bắt giữ do vi phạm pháp luật Việt Nam như: Trần Thị Tuyết Diệu, Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy, Lê Hữu Minh Tuấn, Phạm Đoan Trang, Lê Trọng Hùng, Trần Quốc Khánh, Trương Châu Hữu Danh, Nguyễn Thanh Nhã, Đoàn Kiên Giang, Nguyễn Phước Trung Bảo… Sâu xa hơn là lợi dụng danh nghĩa đấu tranh “tự do báo chí” để tập hợp lực lượng, hình thành các tổ chức chống đối lật đổ chính quyền.

Cần khẳng định Việt Nam là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, chúng ta tuân thủ luật pháp quốc tế, trong đó có Điều 19, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và biểu đạt; bao gồm tự do giữ ý kiến mà không bị can thiệp, cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận và truyền bá thông tin và tư tưởng bằng bất cứ phương tiện truyền thông nào và không giới hạn về biên giới”

Nguyễn Hải

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA 🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳 NGÀY 06 THÁNG 7 🇻🇳🇻🇳🇻🇳 Ngày 06 tháng 7 năm 1953

“Được lòng dân, thì việc gì cũng làm được, trái ý dân, thì chạy ngược chạy xuôi”.

Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài: “Sẽ được mấy lâu?”, đăng trên Báo Nhân dân, số 122, từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 7 năm 1953; là giai đoạn cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của nhân dân ta bước vào tổng phản công, quyết giành thắng lợi cuối cùng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải hành động vì dân, thấu hiểu, chia sẻ, quan tâm đến lợi ích chính đáng của nhân dân. Có như vậy, nhân dân mới tin tưởng và ủng hộ Chính phủ thực hiện thắng lợi mục tiêu của cách mạng.

Thực hiện lời dạy của Bác, Đảng, Nhà nước ta luôn xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng của nhân dân để xác định chủ trương, đường lối, chính sách và pháp luật, không ngừng chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; nhân dân tin tưởng, đi theo Đảng, theo cách mạng làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ và đại thắng mùa Xuân năm 1975, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Ngày nay, tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, khó lường; trong nước các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ nhân dân với Đảng... Đòi hỏi Đảng, Nhà nước ta phải sâu sát quần chúng, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của quần chúng, có chủ trương, đường lối hợp lòng dân, tạo được sự đồng thuận giữa ý Đảng với lòng dân. Có như thế, mới tranh thủ được thời cơ, vượt qua thách thức, tiến hành thành công sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa - hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Quán triệt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội ta luôn thực hiện tốt chức năng đội quân công tác trong tình hình mới, quan tâm chăm lo củng cố mối quan hệ đoàn kết nội bộ và làm tốt công tác dân vận; xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, toàn quân đẩy mạnh phong trào thi đua “Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới” với nhiều mô hình mới, cách làm sáng tạo, hiệu quả; tiêu biểu: “Nâng bước em tới trường”, “Tết Biên phòng ấm lòng dân bản”, “Tết quân dân”, “Xuân biên cương, Tết hải đảo”, “Tặng bò giống cho đồng bào nghèo”, “Bệnh xá quân dân y kết hợp”, giúp dân xóa đói, giảm nghèo, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh… góp phần củng cố, giữ vững thế trận lòng dân, được cấp ủy, chính quyền, nhân dân ghi nhận, đánh giá cao. Sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc đặt ra những yêu cầu mới, đòi hỏi phải tập trung xây dựng quân đội cách mạng, chính qui, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; không ngừng tăng cường, củng cố mối quan hệ đoàn kết quân dân, tạo nên sức mạnh tổng hợp để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

PHÙNG MINH TIẾN st


 






 

Cuộc cải cách Lê Thánh Tông

Những đặc điểm tiếnbộ trong cải cách của vua Lê Thánh Tông.

Về chính trị : Nếu như nói thời nhà Hồ chủ trương gạt bỏ tất cả các tôn thất nhà Trần ra khỏi bộ máy chính quyền trung ương và thay vào đó là những Nho sĩ tri thức có tư tưởng cải cách, nhà Hồ đã tiến hành tuyển chọn, đề bạc và tổ chức thi cử  để đào tạo tầng lớp quan lại mới ta. Thì đến thời của vua Lê Thánh Tông việc cải tổ bộ máy nhà nước cả về cấu trúc và chấn chỉnh quy tắc làm việc , hoàn thiện đội ngũ quan liêu từ Trung ương xuống địa phương, tổ chức thi cử chặt chẽ. Bỏ qua các chức vụ cao nhất trong bộ máy quan lại như tể tướng, đại tổng quản..nhà vua trực tiếp điều hành quân đội, và cũng là tổng chỉ huy quân đội.

Như trên đã trình bày công cuộc cải cách của vua Lê Thánh Tông có sự tiếp biến những tư tưởng cải cách của nhà Hồ, tuy nhiên ở đây chúng ta thấy được sự phát triển vượt bậc trong cuộc cải cách của nhà Lê đó là đưa ra được bộ luật tiến bộ nhất trong thời phong kiến ở nước ta, mang đậm nét sáng tạo và tinh thần thực tiễn của giai cấp phong kiến dân tộc trong giai đoạn đi lên, điều đó đã đem đến kết quả là xây dựng được một chế độ quân chủ quan liêu hoàn chỉnh, tăng cường chế độ quân chủ tập quyền.

Về kinh tế:  Nếu như nói Hồ Quý Ly  chủ trương thực hiện chính sách hạn nô, và hạn điền trong cuộc cải cách của mình thì đến thời vua Lê Thánh Tông đã chủ trương thực hiện chính sách lộc điền (ban cấp ruộng đất cho quý tộc quan lại cao cấp), và chế độ quân điền ( chia ruộng đất ở các làng xã cho nhân dân cày cấy, nộp tô thuế cho nhà nước, kể cả các cô nhi quả phụ cũng được chia nhưng tỉ lệ khác nhau ở mỗi tầng lớp giai cấp) điều này đã tác dụng củng cố bộ máy quân chủ quan liêu, phát triển giai cấp địa chủ là cơ sở mới để phát triển xã hội, ngăn cấm được sự thành lập và phát triển chế độ điền trang và sự bóc lột nông nô, nô tì, củng cố và mở rộng  quan hệ sản xuất địa chủ tá điền, đây là nền tảng của chế độ quan chủ quan liêu, tạo điều kiện cho nhà nước tập quyền nắm chắc hơn các  cơ sở xã thôn, bảo vệ quyền sở hữu tối cao về ruộng đất.

Qua đó cho ta thấy rằng công cuộc cải cách của Lê Thánh Tông đã có bước phát triển dài, và đã khắc phục được những hạn chế Hồ Quy Ly trước đó. Trước hết nhà Lê đã buộc chặc được nhân vào ruộng đất, đảm bảo cho việc bóc lột tô thuế, binh dịch và lao dịch. Mặt khác điều quan trọng hơn đó là tạo điều kiện chó việc phát triển chế độ tư hữu về ruộng đất mốt cách phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử. Thứ hai là vùa tạo được điều kiện cho cơ sở của kinh tế đaiaj chủ phát triển vừa kích thích sự phát triển của các nghành kinh tế khác.

Về quân sự: Vua Lê Thánh Tông đã ra sắc chỉ đầu tiên là chỉnh đốn lại quân đội. Ông thường đích thân đi tuần phòng  ở các biên ải xa xôi cùng với các binh lính đó là tấm gương tốt cho các quan phụ trách võ bị.

Nếu như nói rằng nhà Hồ đã chế tạo ra được khẩu “súng thần cơ” ( do Hồ Nguyên Trừng chế tạo) và “thuyền chiến cổ lâu” đi biển. Thì đến thời vua Lê Thánh Tông đã có những tiến bộ vượt bật với việc chế tạo ra “khẩu súng hỏa công cá nhân” do tiếp thu kỹ thuật chế tác từ phương Tây, cùng với một số vũ khi thu được trong cuộc chiến với nhà Minh. Bên cạnh đó nhà Lê còn chủ trương kế thừa những vù khí chiến đấu thời nhà Hồ cho nê đã tạo thành những bộ vũ khí đa dạng và hùng mạnh.

Về giáo dục: Vua Lê Thánh Tông khởi xướng cho  thành lập bia tiến sĩ lần đầu tiên ở Văn Miếu Quốc Tử Giám vào năm 1484. Cùng với việc thiết lập thiết chế mới Lê Thánh Tông đẩy mạnh phát triển giáo dục, đào tạo nhân tài, tổ chức nhiều cuộc thi  và rất nhiều tiến sĩ trạng nguyên đã đổ đạt. Đặc biệt là nhà Vua rất tích cực trong cải tổ giáo dục, có những chính sách mới về thi cử và tranh gia lận trong thi cử.

 

Cuộc cải cách của Lê Thánh Tông

 

Nếu như nói Hồ Quý Ly tiến hành cuộc cải cách ngay trong lúc là quan trong triều nhà Trần, và ông tiến hành cải cách trong khi xã hội nhà Trần đã quá mục nát, suy vong sau đó ông lên làm vua thì tiếp tục đẩy mạnh cải cách. Thì ở đây Lê Thánh Tông tiến hành cải cách khi ông chính thức lên làm vua, và xã tắc, triều đình nhà Lê đang có dấu hiệu suy thoái, trung thần của đất nước bị giết hại, gian thần thì mặc sức kết bè phái cùng nhau bóc lột nhân dân. Qua đó cho ta thấy rằng về động cơ để tiến hành cuộc cải cách của cả nhà Hồ và nhà Lê đều xuất phát từ lòng yêu nước, muốn đưa đất nước ra khỏi sự khủng hoảng, để đem lại “Quốc thái dân an” .

Trở lại với tình hình xã hội thời Lê thì trong “Trung hưng ký” đã phản ánh như sau: “Nhân Tông mới hai tuổi, sớm lên ngôi vua…kẻ thân yêu giữ việc, tệ hối lộ công hành, phường dốt đặc nổi lên như ong. Người trẻ không biêt nghĩ, tự ý làm càn. Bán quan mua ngục, ưa giàu, ghét nghèo, bọn dạo sát thì được bổ dụng…”

Nhận thức được thực trạng trên của vương triều và đất nước, với tư chất thông minh, quyết đoán Lê Thánh Tông đã tiến hành chính sách và biện pháp cải cách  ý nghĩa trên các mặt như : chính trị, kinh tế xã hội, quân sự, văn hóa, giáo dục. Công cuộc cải cách này và kết quả của nó là sự tiếp tục thực hiện định hướng và mục tiêu cuộc cải cách của Hồ Quý Ly.

Cuộc cải cách thời Lê Thánh Tông

 


Sau khi triều đại nhà Hồ bị sụp đổ bởi quân xâm lược Minh, và cuộc cải cách của Hồ Quý Ly cũng đi vào thất bại bởi nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng cơ bản nhất vẫn là do giặc Minh xâm lược nước ta vào cuối 1406 đầu 1407.

            Trải qua gần 22 năm đặt ách xâm lược giặc Minh đã bị đánh đuổi về nước, tháng  4 năm 1428 Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, mở đầu cho triều đại nhà Lê. Trải qua các đời vua Thái Tổ (1428-1433), Thái Tông (1434-1442), đất nước đang dần được khôi phục. Năm 1460 , Lê Thánh Tông lên ngôi kế thừa những thành quả của triều đại trước, có những điều kiện mới để xây dựng đất nước, song cũng đứng trước những khó khăn thử thách và có nguy cơ đưa xã hội đi vào khủng hoảng như thời cuối nhà Trần.

Như vậy xét về điểm xuất phát thì Lê Thánh Tông đã có phần danh nghĩa hơn Hồ Quý Ly, bởi lẽ ông đã danh chính ngôn thuận là con cháu nối nghiệp của nhà họ Lê, còn Hồ Quý Ly đã từng bước dùng những thủ đoạn để chiếm đoạt ngôi báu của nhà Trần trong thời suy vong. Nhà Trần đã quá nhu nhược và suy yếu để nhà Hồ từng bước nắm giữ quyền hành trong triều, âu cũng là một tất yếu của lịch sử. Song ở đây ta không bàn đến thế nước rơi vào tay ai, mà ở đây ta nói đến hoàn cảnh để dẫn đến sự ra đời cuộc cải cách của vua Lê Thánh Tông.

Phòng ngừa, ngăn chặn xử lý kịp thời, nghiêm minh và trừng trị thích đáng việc lừa đảo tiêm vắc-xin, test nhanh COVID-19

Trong lúc cả nước đang chung tay, bằng mọi biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn dịch bệnh COVID-19 thì xuất hiện một số cá nhân lợi dụng dịch bệnh để trục lợi, lừa đảo. Đây là hành vi đáng lên án, đòi hỏi phải được xử lý kịp thời, nghiêm minh và trừng trị thích đáng trước pháp luật. Người dân phải hết sức tỉnh táo, nâng cao cảnh giác để nhận diện phương thức, thủ đoạn của các đối tượng lừa đảo. Theo thông tin phản ánh của người dân: Sáng 5/7, trong lúc đi chợ mua thực phẩm thì bà V.V.K (TP. Bạc Liêu) nhận được một cuộc điện thoại. Đầu dây bên kia, giọng của một nam thanh niên gấp gáp: “Cô K. đang ở đâu vậy? Cháu là nhân viên y tế, đang đi test nhanh COVID-19. Cô nằm trong diện phải test nhanh kiểm tra”. Bà K. nghe nói tới dịch bệnh COVID-19 là hoang mang lo lắng. Lại thêm mấy hôm nay, nghe thông tin Bạc Liêu đã có 3 ca dương tính với virus SARS-CoV-2 nên càng tin nội dung cuộc điện thoại kia là thật. Chưa biết phải liên hệ với ai thì số máy lạ kia lại tiếp tục gọi: “Cô về nhà chưa. Tụi con không chờ mình cô được đâu”. Nghĩ là nhân viên y tế sẽ đến nhà để test nhanh, bà K. mau chóng trở về nhà, nhưng không thấy bóng dáng nhân viên y tế nào cả. Gọi điện thoại vào số máy trước đó đã gọi cho mình, bà K. thông báo là mình đã về đến nhà, thì đối tượng thăm dò: “Nhà cô có bao nhiêu người, gồm những ai?”. Sau khi nắm được thông tin nhà bà K. rất đông người thì đối tượng cúp máy ngang, khóa máy và không liên lạc nữa. Tương tự như bà K., cô X.L cũng nhận được cuộc gọi thông báo ở chợ đang có test nhanh COVID-19 và hỏi thăm nhà cửa, thông tin của cô L. Đối tượng canh giờ và gọi vào số điện thoại của những người phụ nữ lớn tuổi, làm nội trợ là chủ yếu. Không chỉ lừa test nhanh COVID-19, trên địa bàn tỉnh Bạc Liêu cũng đã có thông tin liên quan đến việc có đối tượng liên hệ để tiêm vắc-xin ngừa COVID-19. Những thông tin về vắc-xin “ngoài luồng”, không có sự quản lý của Nhà nước đến thời điểm này đều chưa có cơ sở, người dân tuyệt đối không nên nghe theo kẻo tiền mất, tật mang. Người dân cần nâng cao cảnh giác, đối với những cuộc gọi của những số điện thoại lạ, tự xưng là nhân viên y tế thì không nên làm theo yêu cầu của chúng. Bởi trên thực tế, quy trình xử lý các vấn đề liên quan đến dịch COVID-19 đều có các quy định chặt chẽ, từ việc test nhanh hay tiêm ngừa vắc-xin COVID-19, tất cả những việc này đều được thông báo công khai, có sự phối hợp của chính quyền cơ sở (như phường - xã - cán bộ khóm ấp phụ trách địa bàn).

Xử phạt nghiêm hành vi lợi dụng dịch bệnh để nâng giá thuốc, thiết bị y tế

Chính phủ đã ban hành Nghị định 117/2020/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, trong đó tại Khoản 3 Điều 14 quy định: Phạt tiền từ 20 triệu đồng đến 30 triệu đồng đối với hành vi lợi dụng dịch bệnh để định giá mua, giá bán bất hợp lý đối với thuốc, trang thiết bị y tế, nguyên liệu làm thuốc, nguyên liệu sản xuất trang thiết bị y tế phục vụ phòng, chống dịch bệnh. Ngoài mức phạt tiền lên tới 30 triệu đồng, cơ sở có hành vi lợi dụng dịch bệnh để định giá mua, giá bán bất hợp lý đối với thuốc, trang thiết bị y tế phục vụ phòng, chống dịch bệnh sẽ bị tước quyền sử dụng giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dược, chứng chỉ hành nghề dược, đình chỉ hoạt động. Liệu mức phạt tiền này đã đủ sức răn đe hay chưa? Theo bà Trần Thị Trang, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Y tế cho biết, việc xác định mức phạt căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi, giá trị của hàng hoá vi phạm và mức độ răn đe, cảnh báo cũng như các yếu tố khác về điều kiện kinh tế, thu nhập, mặt bằng giá cả chung của xã hội tại thời điểm ban hành quy định... Đối với quy định này, bên cạnh phạt tiền còn có hình thức xử phạt bổ sung như tước quyền sử dụng giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dược, chứng chỉ hành nghề dược, đình chỉ hoạt động đối với các cơ sở không thuộc diện cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dược trong thời hạn đến 24 tháng. Biện pháp khắc phục hậu quả là buộc hoàn trả cho người mua hoặc người bán toàn bộ số tiền chênh lệch. Trường hợp không hoàn trả được thì nộp vào ngân sách nhà nước. Trong thực tế, đôi khi hình phạt tước quyền sử dụng giấy phép hoặc đình chỉ hoạt động còn nặng và mang tính “trừng phạt” cao hơn phạt tiền. Do đó, mức phạt như quy định tại Nghị định đã bảo đảm tính răn đe. Để bảo đảm tính khả thi và nâng cao hiệu quả của quy định? Xác định được thế nào là “giá mua, giá bán bất hợp lý”? Thì lực lượng chức năng sẽ dựa trên các quy định của pháp luật về giá để xác định. Điều này được xác định khi một hàng hoá được định giá mua, bán cao hơn so với mặt bằng giá chung tại thời điểm, địa điểm, không gian cụ thể hoặc cao hơn giá đã kê khai (đối với mặt hàng thuộc diện phải kê khai giá ví dụ như thuốc chữa bệnh) hoặc cao hơn khung giá do cơ quan có thẩm quyền ban hành mà không giải trình được một cách hợp lý, có căn cứ về các yếu tố cấu thành giá. Trường hợp cần thiết có thể tiến hành trưng cầu thẩm định giá để xác định. Việc phát hiện vi phạm được thực hiện thông qua tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra của lực lượng chức năng, qua phát hiện, tố giác của người dân, khách hàng, và các phương tiện thông tin, truyền thông... Để bảo đảm hiệu quả thực thi thì cần thực hiện đồng bộ các giải pháp: Tuyên truyền, phổ biến sâu rộng, liên tục cho các cơ sở kinh doanh và người dân biết để tuân thủ; thường xuyên quán triệt và tập huấn nghiệp vụ cho cơ quan, người có thẩm quyền, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và huy động sự tham gia của người dân trong phát hiện hành vi phạm. Trong Nghị định mới cũng quy định rất cụ thể, gắn trách nhiệm của từng cơ quan, người có thẩm quyền để tránh buông lỏng quán lý hoặc chồng chéo về thẩm quyền. Để góp phần nâng cao hiệu quả cho công tác phòng chống dịch trong điều kiện dịch bệnh Covid-19 đang diễn ra; phòng ngừa, hạn chế, ngăn chặn các hành vi nâng giá để trục lợi, bảo đảm tiếp cận của người dân đối với thuốc, trang thiết bị phòng chống dịch và khống chế dịch thành công.

NGUYỄN ĐÌNH CỐNG - MỘT KẺ NGU THÍCH NÓI LÝ LUẬN

 

Bài viết của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam", trên các trang mạng phản động thời gian qua, bằng sự hằn học, chúng đăng nhiều thông tin xuyên tạc. Điển hình là bài của Nguyễn Đình Cống ở trang Tiếng dân news, thể hiện sự ngu dốt nhưng lại thích nói “lý luận”. Xin điểm qua một vài nét:

1. Nguyễn Đình Cống đã cố tình xuyên tạc, đặt báo chí thành hai phe phái đối lập nhau “lề Đảng và lề Dân” khi quan tâm tới bài viết của TBT Nguyễn Phú Trọng.

Đây là thủ đoạn rất nham hiểm, thể hiện tính chất tinh vi, xảo quyệt trong cách thức chống phá; cũng hướng tới mục đích chia rẽ, đối lập Đảng với Nhân dân. Ở đây âm mưu không mới, nhưng thủ đoạn thì rất mới đòi hỏi mỗi chúng ta phải nhận diện.

Không có cái gọi là báo chí chia thành hai phe phái “lề Đảng và lề Dân” như Nguyễn Đình Cống rêu rao. Sự thật là, chỉ có một vài tiếng nói “lạc lõng” như của Nguyễn Đình Cống và đồng bọn, xuất phát từ âm mưu chống phá, để kiếm những đồng tiền "bẩn thỉu", mà tấu hài lên trên những trang mạng được nuôi dưỡng bởi các thế lực phản động. Điều đó không thể gọi là báo chí được, càng không thể đại diện cho “tiếng nói” của toàn thể Nhân dân Việt Nam được.

2. Bằng một mớ hỗn độn trong cách lập luận, Nguyễn Đình Cống đã lẫn lộn về thế nào là “định nghĩa” và thế nào là “đặc trưng” của chủ nghĩa xã hội; càng thể hiện sự ngu dốt về chính trị và ngu dốt về khoa học; bộc lộ rõ là một kẻ cơ hội, xét lại chống phá con đường phát triển đi lên của dân tộc ta.

Trong bài viết TBT Nguyễn Phú Trọng đã khái quát rất rõ “chủ nghĩa xã hội được hiểu với ba tư cách” và làm nổi bật những đặc trưng về chủ nghĩa xã hội mà Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã và đang xây dựng. Đặc trưng chủ nghĩa xã hội là những nét nổi bật, riêng có; là mô hình về một xã hội tốt đẹp chúng ta đang kiến tạo; có những mặt đã trở thành hiện thực sinh động trên đất nước ta qua hơn 35 năm công cuộc đổi mới; có những nội dung là mục tiêu chúng ta đang nỗ lực phấn đấu để hướng tới.

Vậy mà Nguyễn Đình Cống lại quy chụp những đặc trưng, cho đó là “định nghĩa” của TBT về về chủ nghĩa xã hội. Rồi lập luận “định nghĩa” phải dựa vào cái có thật. Ô hay, thế ra Nguyễn Đình Cống không những biểu hiện sự ngu dốt mà còn là một kẻ “mù dở” mới không nhận ra, hay cố tình không nhận ra những thay đổi to lớn, “những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử” chúng ta đã đạt được qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới do Nhân dân ta thực hiện, mà Người khởi xướng là Đảng ta. Những thành tựu này không chỉ do chúng ta nhìn nhận, mà còn được đông đảo bạn bè quốc tế đánh giá và khẳng định.

Chỉ lấy ví dụ, trong suốt 35 năm qua, với mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm, quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2020 đạt 342,7 tỷ đô la Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần. Tỉ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 3% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều (tiêu chí cao hơn trước). Về giáo dục, y tế, chính sách xã hội không ngừng được phổ rộng…v..v.. Những đặc trưng về chủ nghĩa xã hội, chính là sự tổng kết trên mảnh đất hiện thực công cuộc đổi mới của đất nước ta trong từng giai đoạn, từng chặng đường phát triển.

- Do vậy, chỉ có cái đầu với suy nghĩ đen tối, muốn kéo lùi sự phát triển của lịch sử; chỉ có cái đầu mà tư duy lệ thuộc, chỉ muốn “kiếm tiền” bằng cách chống phá Tổ quốc như Nguyễn Đình Cống thì mới không nhìn thấy “cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay” của đất nước ta.

3. Để tỏ rõ độ “nguy hiểm” về cái gọi là “phản biện” khoa học, Nguyễn Đình Cống nêu một loạt những tên mà hắn gọi là trí thức. Nào là: Mạc Văn Trang, Nguyễn Ngọc Lanh, Chu Hảo, Nguyễn Quang A, Nguyễn Huệ Chi…

Phải chăng tất cả bọn họ thực sự đều là những “trí thức” như chính từ danh xưng đó? Câu trả lời 100% là không. Bởi trí thức ở thời nào cũng vậy, luôn được xã hội trọng dụng với những cống hiến cho dân tộc, cho đất nước trên con đường phát triển. Cùng với những thuộc tính, phẩm chất hay đặc tính sáng tạo, người trí thức phải là người biết quý trọng, biết giữ gìn, biết truyền bá và từ lĩnh vực chuyên môn của mình, luôn biết phát huy rộng rãi các giá trị văn hóa của dân tộc mình và của cả nhân loại, để đóng góp vào sự phát triển mọi mặt của cuộc sống, từ đó góp phần thúc đẩy sự tiến bộ không ngừng của dân tộc và của xã hội loài người nói chung. Trong sự nghiệp đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng vai trò của trí thức; khẳng định đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt sáng tạo, là nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh của quốc gia trong chiến lược phát triển.

Còn những kẻ kể trên với Mạc Văn Trang, Nguyễn Ngọc Lanh, Chu Hảo, Nguyễn Quang A, Nguyễn Huệ Chi… kể cả Nguyễn Đình Cống thực chất chỉ là những kẻ “không chính tâm, không trung thực, không trung thành với dân tộc, với Tổ quốc” thì chắc chắn đó là NGỤY TRÍ THỨC và có hại cho dân tộc, cho đất nước mà thôi, ngay cả khi kẻ đó khoác danh GS, TS hay "danh" gì đi chăng nữa.