Thứ Sáu, 9 tháng 7, 2021

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không thể tách rời Tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác - Lê Nin

 Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không thể tách rời Tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác - Lê Nin

 Đại hội XIII của Đảng là sự kiện trọng đại, có ý nghĩa lịch sử, đánh dấu bước phát triển mới của đất nước và hoạch định những đường lối chiến lược trong tầm nhìn dài hạn, nhìn lại 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, xác định mục tiêu, phương hướng đến năm 2030 ( kỷ niệm tròn 100 năm thành lập Đảng) và tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2045 (kỷ niệm 100 thành lập nước).

Với vị trí ý nghĩa đặc biệt quan trọng như vậy, các văn kiện đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định phải kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, trong thời gian trước và sau Đại hội XIII của Đảng các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chống phá Việt Nam trên lĩnh vực tư tưởng với những thủ đoạn ngày càng xảo quyệt và nguy hiểm. Chúng tung ra những luận điệu đều có chung mục đích chống phá Đảng ta, nhưng hình thức thể hiện ngày càng thay đổi đa dạng.

Có quan điểm công khai trắng trợn, thể hiện rõ sự thù địch, hằn học với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; có quan điểm thừa nhận lịch sử nhưng lại phủ nhận giá trị thời đại của chủ nghĩa Mác - Lênin... Đặc biệt, những luận điệu cố tình tách rời mối quan hệ biện chứng giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin, từ đó “nâng tầm” một cách giả tạo tư tưởng Hồ Chí Minh là quan điểm có tính ngụy biện dễ làm cho một số người ngộ nhận, tin theo. Thực tế đã và đang khẳng định bản chất cách mạng và khoa học, giá trị và sức sống bền vững của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá một cách khách quan, chính xác, đầy đủ và sâu sắc về vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin trong quá trình cách mạng Việt Nam. Ngay từ năm 1927, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Theo Người, chủ nghĩa Mác - Lênin không những là “cẩm nang” thần kỳ, là kim chỉ nam mà còn là “mặt trời soi sáng” con đường chúng ta đi đến thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

Nghiên cứu lịch sử hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta thấy rõ con đường Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Người đã nghiên cứu, học tập chủ nghĩa Mác – Lênin và nêu rõ bản chất cốt lõi của chủ nghĩa Mác – Lênin  một cách cơ bản, hệ thống. Theo Người: “Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa. Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh không bao giờ “tách mình” ra khỏi C.Mác, Ph.Ăng-ghen và V.I.Lênin để đưa ra các quan điểm riêng, mà như Người nói là “cố gắng vận dụng” tư tưởng của các nhà kinh điển đó, “nhưng vận dụng một cách sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam”. Nếu không có chủ nghĩa Mác - Lênin thì không có tư tưởng Hồ Chí Minh. Chỉ khi tiếp nhận được chủ nghĩa Mác – Lênin thì tư tưởng Hồ Chí Minh mới thực sự được xác lập và phát triển. Chủ nghĩa Mác - Lênin là nguồn gốc lý luận chủ yếu quyết định sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước hết, chủ nghĩa Mác - Lênin đã cung cấp cho Chủ tịch Hồ Chí Minh thế giới quan, phương pháp luận khoa học, những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; đồng thời, đặt “hòn đá tảng” những vấn đề có tính nguyên tắc về lập trường quan điểm, về tinh thần xử lý mọi việc. Những tư tưởng cơ bản của Hồ Chí Minh cũng nằm trong những phạm trù cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Những cống hiến đó có được trước hết do Người đã nắm được bản chất cốt lõi, “linh hồn sống” trong tư tưởng của các nhà kinh điển Mác - Lênin là phép biện chứng duy vật.

Theo Hồ Chí Minh, mục đích học chủ nghĩa Mác - Lênin là để phụng sự lợi ích chung, chứ không có gì cao xa, nếu không hết lòng, hết sức phụng sự nhân dân, tự kiêu, tự đại, tự tư, tự lợi là trái với chủ nghĩa Mác - Lênin. Hồ Chí Minh còn chỉ rõ: “Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình, có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin được”. Bản chất của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là khoa học, cách mạng thống nhất biện chứng với nhau. Vì thế, không thể tách rời mối quan hệ vốn có giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin; không thể lấy tư tưởng Hồ Chí Minh để thay thế cho chủ nghĩa Mác - Lênin và ngược lại. Cũng không thể đề cao hoặc tuyệt đối hóa tư tưởng Hồ Chí Minh, cũng như bằng cách này hay cách khác lại phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin.

Để thực hiện động cơ chính trị đen tối, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tách rời chủ nghĩa Mác – Lênin với tư tưởng Hồ Chí Minh, các thế lực thù địch cho rằng: “Ở Việt Nam bây giờ học thuyết Mác - Lênin đã lỗi thời, chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh là đáng giá, chỉ cần nói tư tưởng Hồ Chí Minh là đủ, không cần nói chủ nghĩa Mác – Lênin”. Đây là luận điệu không phải là sự ca ngợi, đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh theo đúng giá trị đích thực, vốn có trong tư tưởng của Người; mà trái lại thực chất các thế lực phản động muốn cô lập, tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi nguồn gốc lý luận chủ yếu của tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác – Lênin; đồng thời làm suy yếu và tiến tới phủ nhận chính tư tưởng Hồ Chí Minh. Điều này là hết sức nguy hiểm vì đích cuối cùng luận điểm này hướng đến đó là phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin; phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh; tiến tới phủ nhận nền tảng tư tưởng, cương lĩnh, đường lối của Đảng, làm suy yếu và đi đến xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ cương lĩnh đầu tiên năm 1930 cho đến văn kiện Đại hội VI (năm 1986) luôn nhất quán khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam. Từ Đại hội VII đến nay, Đảng ta có sự phát triển, bổ sung trên cơ sở sự vận động của thực tiễn và khẳng định: Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của mình. Đây là biểu hiện về nhận thức đúng, sâu sắc mối quan hệ giữa chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng. Đảng ta đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội XIII của Đảng đã tổng kết thực tiễn 35 năm đổi mới và rút ra một số bài học kinh nghiệm, trong đó có bài học: “Trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam”. Như vậy, Đảng ta xác định rất rõ: công cuộc đổi mới hiện nay phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đổi mới không phải xa rời mà là nhận thức đúng, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lấy đó làm nền tảng tư tưởng của Đảng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng. Những biểu hiện tư tưởng cố tình tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin bằng cách “ra vẻ” đề cao hoặc “nâng tầm” tư tưởng Hồ Chí Minh là hoàn toàn trái với quan điểm, đường lối của Đảng ta. Vì vậy, cần kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm sai trái để bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức và rèn luyện, hơn 75 năm qua, luôn là lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, thực sự là đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất. Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng từng khen ngợi Quân đội nhân dân Việt Nam luôn chủ động, nhạy bén tích cực đi đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa”, “dân sự hóa” Quân đội của các thế lực thù địch. Tin tưởng rằng, với quyết tâm chính trị và bản lĩnh “Bộ đội Cụ Hồ”, Quân đội ta sẽ tiếp tục xung kích đi đầu để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong quân đội; các cấp ủy đảng, các cơ quan, đơn vị… tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện hiệu quả nhiệm vụ đấu tranh, phê phán các quan điểm sai trái, thù địch, làm cho cán bộ, chiến sĩ luôn kiên định Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và nhân dân, luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

 

 

Tiếp tục định hướng những nội dung trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận ở nước ta hiện nay.

 Tiếp tục định hướng những nội dung trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận ở nước ta hiện nay.

Âm mưu cơ bản, lâu dài của các thế lực thù địch, cơ hội là xoá bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta, xoá bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa nước ta theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Để thực hiện âm mưu đó, chúng coi tấn công trên mặt trận tư tưởng, lý luận là "mũi đột phá" hòng làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về tư tưởng, lý luận, tạo ra những "khoảng trống" để dần dần đưa hệ tư tưởng tư sản thâm nhập vào cán bộ, đảng viên, nhân dân nhằm chuyển hoá, xoá bỏ tư tưởng xã hội chủ nghĩa.

Ở Việt Nam, từ khi đất nước tiến hành đổi mới và từng bước hội nhập quốc tế, âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động là không thay đổi nhưng chuyển sang hình thái mới, phương thức, thủ đoạn mới hết sức tinh vi xảo quyệt. Chúng lợi dụng Internet, báo điện tử, trang mạng xã hội, các website, các nền tảng công nghệ phổ biến: blog, Facebook, Youtube, Zalo…để tổ chức các chiến dịch phá hoại trên nhiều phương diện, nhiều lĩnh vực cả lý luận và thực tiễn. Mục tiêu cơ bản của chúng là đả phá, công kích những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về đảng cộng sản cầm quyền, về chủ nghĩa xã hội; âm mưu phủ nhận, loại bỏ nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng; đòi từ bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Thông qua các con đường hợp tác, giao lưu, trao đổi văn hóa, tri thức khoa học, kinh tế, luật pháp và các nền tảng công nghệ mạng để đưa các lý thuyết mới, tư tưởng mới thâm nhập vào Việt Nam hòng “pha loãng tư tưởng chính thống”, làm mờ nhạt nguyên lý, nguyên tắc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tập trung phê phán, hạ thấp vai trò, ý nghĩa thời đại, lý luận của chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa Mác - Lênin.

Từ việc những vấn đề trong tác phẩm….để bảo vệ lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, chúng ta có thể rút ra một số nguyên tắc có tính chất phương pháp luận trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ở Việt Nam hiện nay như sau:

Một là, trong bất kỳ hoàn cảnh và tình huống nào cũng phải luôn kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, coi đây là nền tảng tư tưởng vững chắc của Đảng. Sự kiên định về lập trường tư tưởng cũng chính là ngọn lửa thử vàng, là nguyên tắc tối cao của cán bộ, đảng viên ở Việt Nam hiện nay trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Hai là, thường xuyên giáo dục đạo đức cách mạng, giáo dục tinh thần cảnh giác cách mạng, tạo sức đề kháng cao trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân; chủ động tấn công mạnh mẽ, đánh bại âm mưu, thủ đoạn của chiến lược “diễn biến hòa bình”. Chúng ta phải tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH, tổng kết thực tiễn để tiếp tục phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm cung cấp vũ khí lý luận sắc bén chống lại các thế lực thù địch, nâng cao hiệu quả công tác cổ động, tuyên truyền, giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng; đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục đối với các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, nhằm nâng cao tinh thần, trách nhiệm, khả năng chủ động đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch.

Ba là, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là sự thống nhất biện chứng của hai quá trình: vừa tiếp tục khẳng định những giá trị phổ quát, đúng đắn của chủ nghĩa Mác, vừa không ngừng bổ sung, phát triển và vận dụng linh hoạt những nguyên lý của chủ nghĩa Mác trong điều kiện thực tiễn cách mạng Việt Nam ở mỗi giai đoạn lịch sử nhất định.

Bốn là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh, Điều lệ Đảng. Siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong Đảng.

Năm là, tập trung đổi mới nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng; hệ thống hoá, phổ biến các thành tựu lý luận trong thời gian qua; nâng cao chất lượng nghiên cứu, học tập nghị quyết để vận dụng vào thực tiễn; Tích cực, chủ động cung cấp những thông tin chính thống để định hướng dư luận về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước...

 

Một số nét đặc sắc trong văn hóa ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh

 Một số nét đặc sắc trong văn hóa ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh

 Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là nhà chính trị lỗi lạc mà còn là nhà ngoại giao kiệt xuất, là người sáng lập và định hướng phát triển cho nền văn hóa ngoại giao Việt Nam hiện đại. Văn hóa ngoại giao của Người mang những giá trị đặc sắc được thể hiện qua tư tưởng, hoạt động, tri thức, ngôn ngữ, nghệ thuật và phong cách ứng xử. Những giá trị này cần được tiếp tục khẳng định, vận dụng và phát triển trong quá trình hoạt động ngoại giao hiện nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ được người dân Việt Nam kính trọng mà còn là sự ngưỡng mộ, trân trọng của bạn bè năm châu trên thế giới. Thế giới tôn vinh Người là anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất do sự đóng góp quan trọng của Người, trong đó có lĩnh vực văn hóa ngoại giao. Văn hóa ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện trên một số nội dung cơ bản sau đây:

Một là, thể hiện qua giá trị “Chân”, “Thiện”, “Mỹ” xuyên suốt trong toàn bộ tư tưởng, hoạt động ngoại giao của Người

Nói đến “Chân” là nói đến sự chân thành, chân thật, trung thực giữa người với người. Trong quan hệ ngoại giao, Người luôn dùng lòng chân thành để đối đãi, ứng xử với bạn bè, đồng chí, nhân dân và cả kẻ thù. Sự chân thành ấy tuyệt nhiên không phải nhất thời, cũng không phải âm mưu, thủ đoạn mà nó thuộc về bản chất đạo đức ngoại giao của Người.

 “Thiện” biểu hiện rõ nhất ở Người đó là sự lương thiện, sự tử tế, lòng vị tha, nhân hậu, tình thương yêu con người. Kiên trì đấu tranh vì độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân chính là mục tiêu xuyên suốt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cũng là điều “Thiện” cao quý nhất của Người.

“Mỹ” ở đây chính là nét đẹp trong tư duy và hoạt động ngoại giao của Người. Cuộc đời Bác bôn ba qua nhiều nước khác nhau và đặc biệt là đến đâu thì Người đều lưu ý học hỏi, tìm hiểu đặc trưng văn hóa nơi mà mình đến, nên tư duy cũng như lối ứng xử ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh dù mang đậm nét văn hóa riêng của người Việt, nhưng cũng không bị lạc lõng trước bạn bè quốc tế, thậm chí còn tạo nên cảm xúc đặc biệt cho những người đến từ nhiều nền văn hóa khác nhau.

Hai là, thể hiện qua tri thức và ngôn ngữ ngoại giao của Người

Chủ tịch Hồ Chí Minh có trí tuệ uyên bác, ngôn ngữ phong phú, sinh động và sắc bén. Những thành tựu đối ngoại của Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bảo vệ Tổ quốc ta đã thể hiện rõ nét trí tuệ và sự lãnh đạo tài tình của Người qua tầm nhìn, bản lĩnh với những chủ trương, quyết sách ngoại giao sáng suốt để đưa cách mạng Việt Nam dẫn đến thành công.

Bằng trí tuệ uyên bác và tài ứng xử khéo léo, hài hước, tự nhiên, cùng những lập luận sắc bén và cách chơi chữ tài tình, trong giao tiếp, Người luôn truyền đạt những suy nghĩ, tư tưởng, tình cảm của mình một cách tự nhiên, đơn giản, không dài dòng, vòng vo nhưng vẫn lôi cuốn, hấp dẫn được nhiều người khác, đồng thời tạo nên phong cách ngoại giao đặc sắc của Người.

Không chỉ có trí tuệ lỗi lạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn sở hữu vốn ngôn ngữ phong phú và giàu sắc thái. Người đã làm chủ được nhiều ngôn ngữ khác nhau và sử dụng thông thạo các ngôn ngữ đó để vận dụng linh hoạt, thiên biến vạn hóa trong giao tiếp, ứng xử.

Ba là, thể hiện trong phong cách và nghệ thuật ngoại giao của Người

Nét độc đáo này trong văn hóa ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh là kết tinh của vốn hiểu biết sâu rộng cùng tài trí thông minh, nghị lực và bản lĩnh phi thường với phong thái giản dị, gần gũi, cởi mở, thẳng thắn, tự tin và phong cách lịch thiệp, tế nhị và chu đáo với tất cả mọi người. Có thể nói, trên thế giới hiếm có một nhà lãnh đạo nào mà có phong cách và nghệ thuật ngoại giao giàu giá trị văn hóa như Chủ tịch Hồ Chí Minh của chúng ta. Người luôn xác định tiếp xúc ngoại giao để làm gì thì đều luôn đặt lợi ích đó gắn liền với lợi ích của nhân dân, của dân tộc.

Trong đó, phải nói đến phương pháp “ngoại giao công tâm” đánh vào lòng người bằng lẽ phải, đạo lý và giàu lòng nhân ái; phương pháp “dĩ bất biến, ứng vạn biến” lấy cái không thể thay đổi để ứng phó với cái luôn thay đổi; nghệ thuật biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng và biết biến để đạt được mục tiêu cao nhất trong giải quyết các mối quan hệ ngoại giao; từ đó, tạo nên sự cảm phục và ngưỡng mộ cho những ai đã từng tiếp xúc với Người. Ở những thời khắc quan trọng, Người vừa tinh tế, khéo léo, lại quyết đoán trong việc đưa ra những quyết định đúng đắn và phù hợp khiến cho người khác phải tâm phục, khẩu phục.

Khoan dung, hòa hiếu là cái đẹp trong văn hóa ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo Người, khoan dung không phải là nhún nhường mà nó phải được xây dựng trên nguyên tắc tôn trọng đạo lý, chính nghĩa, tự do, bình đẳng và tiến bộ. Người không chấp nhận việc thỏa hiệp với những điều kiện bất công, những hành vi chối bỏ hạnh phúc và chà đạp lên các quyền cơ bản của mỗi con người, mỗi dẫn tộc. Hòa hiếu luôn là phương châm nhất quán của Người để ứng xử ngoại giao. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tìm mọi cách ngăn chặn xung đột vũ trang, tận dụng mọi khả năng để giải quyết xung đột bằng biện pháp hòa bình.

Hiện nay, đất nước đang hội nhập quốc tế sâu rộng, văn hóa ngoại giao Hồ Chí Minh vẫn vẹn nguyên giá trị và có ý nghĩa thực tiễn lớn lao, bổ sung và làm phong phú thêm giá trị văn hóa ngoại giao nhân loại. Ứng xử trong một thế giới đang biến động phức tạp với những thách thức và cơ hội chưa từng có, văn hóa ngoại giao Hồ Chí Minh sẽ là nền tảng, hành trang cho các hoạt động đối ngoại. Đồng thời, phát huy vai trò là một mặt trận tiên phong, góp phần quan trọng vào việc giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; thuận lợi để thu hút các nguồn lực phát triển và nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế. Văn hóa ngoại giao của Người đã góp phần đưa Việt Nam đến với thế giới và đưa thế giới đến với Việt Nam; nó truyền đi một thông điệp tích cực, đó là cần xây dựng, nuôi dưỡng và phát triển văn hóa ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thời kỳ hội nhập quốc tế vì một thế giới tốt đẹp hơn./.

 

Tìm hiểu một số vấn đề về phong cách diễn đạt của Chủ tịch Hồ Chí Minh

            Tìm hiểu một số vấn đề về phong cách diễn đạt của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Phong cách là cái riêng, cái độc đáo, có tính hệ thống, trở thành nền nếp ổn định của một người hoặc một lớp người, được thể hiện trong các mặt của cuộc sống. Như vậy, phong cách không phải là tính bẩm sinh, mà được hình thành qua sự phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện, trau dồi và định hình trong quá trình sống của con người. Nó luôn chịu sự tác động, chi phối của hoàn cảnh, điều kiện sống, truyền thống văn hóa, lối sống, thói quen, thậm chí là của tập quán,… Sự tác động này, không quyết định chi phối làm nên phong cách của con người, mặc dù con người chịu sự tác động của hoàn cảnh, điều kiện sống, từ đó hình thành, định hình được phong cách, như: “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”. Nhưng, con người cũng có thể định hình được một phong cách khác hẳn sự tác động của hoàn cảnh, như: “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Từ đó, chúng ta thấy, phong cách Hồ Chí Minh là những nét riêng của Người trong cuộc đời hoạt động cách mạng sôi nổi, phong phú, vô cùng cao thượng của một người Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất và được rèn dũa qua nhiều năm tháng gian khổ, hy sinh để dấn thân cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giai cấp, giải phóng con người.

Phong cách Hồ Chí Minh là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ di sản vô giá mà Người để lại cho chúng ta. Phong cách của Người không chỉ là bài học, là chuẩn mực cho việc xây dựng phong cách người cán bộ cách mạng mà còn bồi dưỡng nhân cách cho các thế hệ người Việt Nam hôm nay và mai sau. Trong đó, phong cách diễn đạt Hồ Chí Minh thể hiện rất rõ tính độc đáo: Gọn, rõ, hấp dẫn, đại chúng, nói đi đôi với làm.

 Trong cuộc đời hoạt động của mình, Hồ Chí Minh luôn chú trọng phong cách diễn đạt, coi đó là công cụ đắc lực không thể thiếu để tuyên truyền, giác ngộ ý thức cách mạng, củng cố niềm tin và nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Đối với Hồ Chí Minh, nói và viết không phải đơn thuần chỉ là một hành động thông tin mà còn chủ yếu là một quá trình tác động lên người nghe, người đọc, nhằm thuyết phục, cảm hóa, nâng cao nhận thức, thay đổi quan niệm và hành vi, hướng mọi người vào các hoạt động thực tiễn cách mạng, phù hợp xu hướng tiến bộ của xã hội, của thời đại. Chúng ta đều biết, Hồ Chí Minh không chỉ là một lãnh tụ thiên tài, mà còn là người thầy của nền báo chí cách mạng Việt Nam, Người đã viết hàng ngàn bài báo, bằng nhiều thứ tiếng Việt, Pháp, Nga, Trung…, với nhiều bút danh khác nhau. Người đã có hơn 10 năm lao động, hoạt động, học tập ở nước ngoài nên Người rất am hiểu văn hóa và phong cách diễn đạt của ngôn ngữ phương Tây, nhưng khi nói và viết trước đồng bào trong nước thì cách diễn đạt của Người lại rất Việt Nam.

Đặc trưng nổi bật trong phong cách diễn đạt của Hồ Chí Minh là tính phù hợp một cách tự nhiên, nhuần nhuyễn giữa ngôn ngữ, cách diễn đạt trong các bài nói, bài viết của Người rất mộc mạc, ngắn gọn trong sáng, giản dị và khúc triết dễ hiểu phù hợp với trình độ nhận thức, sự hiểu biết và cách suy nghĩ của từng đối tượng người đọc, người nghe. Nhờ đó, những bài nói, bài viết của Người luôn được mọi người cảm thụ sâu sắc và có sức thuyết phục mạnh mẽ. Sinh thời, Hồ Chí Minh luôn căn dặn chúng ta, bao giờ cũng phải tự hỏi: Viết cho ai xem? Nói cho ai nghe? Nói/viết để làm gì? Và nói,viết cái gì? Nghĩa là, nói cách khác, phải tùy theo đối tượng cụ thể để xác định mục đích, cách diễn đạt nào là phù hợp và nội dung nào là thiết thực.

Phong cách diễn đạt của Hồ Chí Minh là những nét đặc trưng nổi bật trong trình bày, truyền đạt tư tưởng của Người. Trước khi thực hiện một bài nói hoặc bài viết nào đó, Người luôn xác định rõ chủ đề, đối tượng, mục đích, từ đó tìm cách nói, cách viết cho đúng chủ đề, cho phù hợp với đối tượng nhằm đạt được mục đích đề ra. Điểm nổi bật nhất trong phong cách diễn đạt của Hồ Chí Minh chính là tính chân thực, ngắn gọn, trong sáng, giản dị, dễ hiểu. Những thông tin trong bài nói, viết của Người luôn có tính xác thực cao, có nhiều số liệu thực tế. Người luôn chọn lọc từ ngữ trong quá trình sử dụng để làm sao cho “lời ít nhưng ý nhiều”, đặc biệt là ưu tiên lựa chọn và sử dụng từ thuần Việt để không ngừng làm trong sáng tiếng nói của dân tộc. Trong nhiều bài nói và bài viết trước đồng bào, đồng chí, Người thường trình bày đi thẳng vào vấn đề bằng phương pháp phát vấn (đặt câu hỏi) như: “Vì sao chúng ta vào Đảng? Phải chăng để thăng quan, phát tài?”. Người trả lời và giải thích ngắn gọn rằng: “Không phải?… Chúng ta vào Đảng là để hết lòng hết sức phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, làm trọn nhiệm vụ của người đảng viên”. Đây là nhiệm vụ rất to lớn và nặng nề. Vì vậy, Người căn dặn nếu sợ không phục vụ được nhân dân, phục vụ được cách mạng thì đừng vào hay là khoan hãy vào Đảng. Bởi vì Đảng là tổ chức cách mạng có sứ mệnh cao cả đoàn kết và lãnh đạo nhân dân đấu tranh cho độc lập và chủ nghĩa xã hội, chứ không phải là nơi để tìm kiếm danh vọng, địa vị, thu hái lợi lộc…

Bút pháp và phong cách của Người biến hóa vô cùng sinh động. Khi cụ thể, trực quan: “Dùng người cũng như dùng gỗ. Người thợ khéo thì gỗ to, nhỏ, thẳng, cong đều tùy chổ mà dùng được”. Khi hết sức kiệm lời mà mỗi câu từ lại mang sức nặng của một tuyên ngôn: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” hay “Dân cường thì quốc thịnh”. Lúc đanh thép, kiên quyết: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa. Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Lại có khi hồn hậu, khiêm nhường: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi”. Và cũng không kém phần hài hước, ý nhị. Chẳng hạn khi phê phán thói ham chuộng hình thức, Người nói: “Thí dụ, ngày nay tập quân sự, cốt là biết bắn súng, dùng dao, ném lựu đạn, dùng địa thế, khéo mò đêm, khéo trinh thám, nói tóm lại, cốt tập cho mọi người biết đánh du kích. Thế mà có nhiều nơi chỉ để thì giờ tập một hai, một hai. Thế thì khác gì tập lễ nhạc để đi chữa cháy”.

Trong công việc cũng như quá trình chuẩn bị bài nói, bài viết của mình, Hồ Chí Minh luôn gắn bó với tập thể, tôn trọng tập thể, lắng nghe ý kiến của tập thể nhằm phát huy sức mạnh của tập thể. Người cho rằng, không ai có thể hiểu được mọi thứ, làm được mọi việc. Lãnh đạo giỏi không phải tự mình nghĩ ra, tự mình làm lấy mà điều quan trọng là phải biết tạo điều kiện cho mọi người được đóng góp sức lực và trí tuệ của mình vào công việc chung, có như vậy mới phát huy hết sức mạnh và trí tuệ của tập thể. Người thường xuyên trao đổi bài viết, bài phát biểu của mình cho nhiều người đọc, lắng nghe ý kiến đóng góp để điều chỉnh bài viết, bài phát biểu sao cho thật phù hợp với đối tượng người đọc, người nghe.

Chúng ta còn nhớ khi viết bài nhân dịp kỷ niệm 39 năm ngày thành lập Đảng. Hồ Chí Minh nói rõ mục đích, nội dung và nhấn mạnh yêu cầu ngắn, gọn, tập trung vào chủ đề “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng”. Người đã sửa chữa và cho đánh máy thành nhiều bản gửi đến từng đồng chí ủy viên Bộ Chính trị đề nghị tham gia góp ý, rồi Người bổ sung vào bản thảo những ý kiến góp ý. Trong thảo luận lần cuối, có ý kiến đề nghị Người cho sửa đầu đề bài báo, đưa vế “Nâng cao đạo đức cách mạng” lên trước vế “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân” với lý do là cán bộ, đảng viên nói chung là tốt, ưu điểm là cơ bản, Người suy nghĩ và nói: Vì cả hai chú đã đề nghị, là đa số, Bác đồng ý nhượng bộ, đổi lại tên đầu bài “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân”. Nhưng ở trong bài thì dứt khoát phải để nguyên ý của Bác: “Quét sạch chủ nghĩa cá nhân,

Không chỉ cẩn thận trong bài viết, mà ngay trong các bài phát biểu Người cũng chuẩn bị rất kỹ và thường trao đổi với mọi người về những điều mình sẽ nói. Trong lần về thăm quê sau hơn 50 năm xa cách, sáng ngày mai nói chuyện với nhân dân, tối hôm trước Người đã thức khuya chuẩn bị bài phát biểu. Mười giờ tối, Người cầm tờ giấy có nội dung ý kiến phát biểu gặp các đồng chí trong Tỉnh ủy Nghệ An trao đổi, Người nói: Mai Bác gặp đồng bào, Bác nói mấy vấn đề này, các chú xem có được không?…

Tất cả điều đó cho thấy Người rất cẩn thận trong cách nói và viết. Người thường nhắc nhở và khuyên mọi người: “Viết và nói cố nhiên phải vắn tắt. Song trước hết phải có nội dung. Phải chữa cho hết bệnh nói dài, viết rỗng”, “Viết rồi thì phải đọc đi, đọc lại. Thấy cái gì thừa, câu nào, chữ nào thừa, thì bỏ bớt đi. Đọc đi đọc lại 4, 5 lần đã đủ chưa? Chưa đủ. Đọc đi đọc lại, sửa đi sửa lại. Mình đọc mấy lần rồi cũng chưa đủ. Phải nhờ một số đồng chí công, nông, binh đọc lại. Chổ nào ngúc ngắc, chữ nào khó hiểu, họ nói ra cho thì phải chữa lại”, “… Chớ ham dùng chữ. Những chữ mà không biết rõ thì chớ dùng. Những chữ mà tiếng ta có thì phải dùng tiếng ta”. Những lời khuyên và chỉ bảo của Người cũng như phong cách nói và viết đã vượt qua giới hạn của kỹ năng sử dụng ngôn ngữ đơn thuần, trở thành một nghệ thuật giàu khả năng chinh phục, thấm sâu vào lòng người đọc, người nghe.

Vì vậy, đối với mỗi một cán bộ, đảng viên nói chung và lực lượng Công an nhân dân nói riêng, trong đó có cán bộ, chiến sĩ Công an tỉnh Quảng Bình cần phải thường xuyên tìm hiểu, học tập phong cách diễn đạt của Hồ Chí Minh nhằm giúp cho chúng ta nâng cao trình độ diễn đạt, hoàn thiện kỹ năng giao tiếp.

Nghiên cứu về phong cách diễn đạt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta càng nhận thấy những giá trị thực tiễn to lớn, sinh động đối với lực lượng Công an trong tình hình hiện nay. Đó cũng là kho tàng tri thức, kinh nghiệm thực tiễn và tài sản vô giá để mỗi cán bộ, chiến sỹ học tập, rèn luyện, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chính trị được Đảng, Nhà nước tin tưởng, giao phó và được Nhân dân tin yêu, giúp đỡ, xứng đáng là công bộc tận tụy của nhân dân như Hồ Chí Minh mong muốn.

HOÀNG VĂN HOAN - NGUYÊN ỦY VIÊN BỘ CHÍNH TRỊ - KẺ PHẢN BỘI TỔ QUỐC!


     Hoàng Văn Hoan (1905 -1991), nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Nguyên Phó chủ tịch Quốc hội Việt Nam.

Hoàng Văn Hoan sinh ra tại huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, tên thật là Trần Xuân Phong. Năm 1926, Hoan tham gia lớp huấn luyện cách mạng do Chủ tịch Hồ Chí Minh mở ở Trung Quốc. Năm 1930, gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. 

Sau Cách mạng Tháng Tám, là Thứ trưởng Bộ quốc phòng và Ủy viên chính trị toàn quốc Vệ quốc quân. 

Từ năm 1950 đến năm 1957 làm Đại sứ đầu tiên của Việt Nam tại Trung Quốc kiêm Đại sứ tại Triều Tiên và Mông Cổ. Hoan có vị trí hơn một đại sứ bình thường vì thường được Mao Trạch Đông tiếp riêng để bàn thảo các vấn đề hai nước, kể cả chiến lược đánh miền Nam của Bộ Chính trị.

Năm 1951 Hoan được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam và từ năm 1956 đến năm 1976 là Ủy viên Bộ chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.

Năm 1976 khi quan hệ Việt Nam - Trung Quốc xấu đi và không thể hàn gắn về vấn đề Campuchia và Hoàng Sa, khi đó Hoàng Văn Hoan theo đường lối Maoist, hoàn toàn ủng hộ phái bảo thủ tại Trung Quốc. Nên năm 1976, Hoan bị cho ra khỏi Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

Ngày 11 tháng 6 - 1979, lấy cớ sang Cộng hòa Dân chủ Đức để chữa bệnh, với sự giúp sức của tình báo Trung Quốc, Hoan đã bỏ trốn tại sân bay Karachi (Pakistan) rồi sang Bắc Kinh.

Tại Bắc Kinh, ông ta đã xuyên tạc tình hình trong nước, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, "tố cáo" Việt Nam đã đối xử với người Việt gốc Hoa còn "tệ hơn cả cách Hitler đối xử với người Do Thái". Ông ta liên tục hô hào lật đổ chính quyền ở Việt Nam để thực hiện một cuộc cách mạng mới. Ông ta đã "vẽ đường" cho chính quyền Bắc Kinh khi đó thực hiện chiến tranh xâm lược, phá hoại, giết hại đồng bào ta. 

Sau sự kiện này Hoan đã trở thành biểu tượng của sự phản bội. Truyền thông Việt Nam lúc đó đã so sánh Hoàng Văn Hoan với Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc. Đó là thời điểm quan hệ Việt - Trung căng thẳng khi Trung Quốc xua quân xâm lược Việt Nam hồi đầu năm.

Không lâu sau, nhà nước Việt Nam lần lượt hủy bỏ các chức vụ và xóa Đảng tịch Đảng cộng sản Việt Nam của Hoan. Ngày 26 tháng 6 năm 1980, Việt Nam tuyên bố xử tử hình vắng mặt Hoàng Văn Hoan.

Năm 1990, với sự nỗ lực cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, quan hệ Việt - Trung được khôi phục. Cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã cho đưa người nhà của Hoàng Văn Hoan sang Trung Quốc để Hoan được đoàn tụ với gia đình vào những năm tháng cuối đời.

Hoàng Văn Hoan chết tại Bắc Kinh năm 1991 và được Trung Quốc tổ chức lễ tang cấp nhà nước, xác được chôn tại nghĩa trang Bát Bảo Sơn, nơi chôn cất của các quan chức cao cấp của Trung Quốc. Sau này hài cốt của Hoan đã được con trai chuyển về Việt Nam.

Trong những ngày tháng lịch sử này, bên cạnh những tấm gương xả thân hy sinh vì đại nghĩa để bảo vệ Tổ quốc, chúng ta cũng không quên những kẻ mãi quốc cầu vinh, vì mưu lợi riêng, tham công danh phú quý mà cúi đầu làm tay sai, bán rẻ Tổ quốc, dòng họ tổ tiên.


Yêu nước ST.

Phó chủ tịch Đồng Tháp: 'Công tác dập dịch lúc đầu chưa kịp thời'

Ông Đoàn Tấn Bửu, Phó chủ tịch UBND Đồng Tháp nhìn nhận, công tác dập Covid-19 lúc đầu của tỉnh chưa được khẩn cấp, kịp thời, đến nay đã ghi nhận 438 ca. - Diễn biến Covid-19 trên địa bàn Đồng Tháp trong 38 ngày qua từ khi phát hiện ca dương tính như thế nào, thưa ông? - Cuối tháng 5, Đồng Tháp phát hiện một ca lây nhiễm ở huyện Tháp Mười liên quan đến nhóm truyền giáo ở TP HCM. Lập tức tỉnh đã bao vây truy vết và dập dịch. Kết quả đã cắt đứt nguồn lây. Sau đó, tỉnh trải qua hơn 20 ngày không xuất hiện ca lây nhiễm mới. Trong thời gian đó địa phương ứng phó tốt bằng nhiều giải pháp, không để dịch từ địa phương khác vào, đặc biệt từ các ổ dịch ở huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang và Long An. Ngày 24/6, tỉnh ghi nhận ca lây nhiễm cộng đồng đầu tiên ở Bệnh viện Đa khoa Sa Đéc. Từ ổ dịch này lan ra 9 trên 12 địa phương, phát sinh hàng loạt ổ dịch mới, lan sang xí nghiệp đông công nhân... Đến tối 8/7, tỉnh đã ghi nhận 439 ca dương tính. Dịch bệnh lần này khá nặng nề do phải phong tỏa Bệnh viện Đa khoa Sa Đéc và Bệnh viện Quân dân y, phải phân tuyến điều trị để người dân bờ Nam sông Tiền có nơi khám chữa bệnh. Tỉnh đang nỗ lực bao vây dập dịch trong các bệnh viện, tiến tới sớm giải phóng các cơ sở y tế này, khôi phục hoạt động trở lại bình thường. Hiện nay đã tính toán các phương án và quy trình tuy nhiên cũng không tránh khỏi việc xáo trộn trong hệ thống y tế, cũng như gây ra những bất tiện cho người dân. Đồng Tháp đã thực hiện các đợt "truy quét" lớn, như tại Bệnh viện Đa khoa Sa Đéc ngày 30/6 lấy mẫu tầm soát 1.966 người nhà và bệnh nhân, 667 nhân viên y tế. Ngày 2-6/7, test nhanh 3.719 người có nguy cơ cao, đại diện hộ gia đình trong các ấp bị phong tỏa, khu vực các chợ, xung quanh Trung tâm Y tế huyện Châu Thành. Đến nay, ổ dịch này đã phát hiện hơn 200 ca. Ngày 9/7, ngành y tế sẽ tiến hành đợt sàng lọc quy mô lớn, hơn 13.000 người, để phân lập ra những ca nhiễm, các chùm ca F1, F2. Khi cắt đứt được nguồn lây sẽ tiến tới quét sạch mầm bệnh trong cộng đồng, sớm gỡ bỏ phong tỏa. 10 trường hợp tử vong đều là bệnh nhân lớn tuổi và có nhiều bệnh lý nền nặng. Ngành y tế cũng đã tổ chức họp phân tích, đánh giá chung, có sự tham gia của Đoàn công tác Bộ Y tế và các bác sĩ chuyên khoa phổi, hồi sức. Trong quá trình nhận bệnh và điều trị, bệnh viện đã cấp cứu và xử lý, cho thở máy, sử dụng thuốc kháng sinh phù hợp. Tuy nhiên, diễn tiến bệnh không cải thiện dẫn đến tử vong. - Trong 15 ngày, Đồng Tháp ghi nhận 438 ca, có ngày phát hiện gần 100 ca. Là bác sĩ chuyên khoa 2, nguyên Giám đốc sở Y tế, theo ông nguyên nhân nào khiến trong thời gian ngắn, dịch bệnh bùng phát nhanh và lan rộng ở Đồng Tháp? - Đợt dịch này tại Đồng Tháp, mầm bệnh lây lan trong cộng đồng xuất phát từ bệnh viện. Tại đây, việc ra vào, thăm nuôi, tạo ra luồng di chuyển rất lớn, phát tán mầm bệnh nhanh, ra nhiều địa phương, từ đó tạo ra nhiều ổ dịch. Trong điều kiện ban đầu, việc sàng lọc bằng test nhanh chưa được triển khai. Do đó, đã phong tỏa trong bệnh viện từ 24/6, tuy nhiên cùng lúc mầm bệnh ở các nơi cũng bùng ra, như xí nghiệp may 6, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Châu Thành, 3 xã cũng tại huyện này, ổ dịch Tân Khánh Trung... - Những khó khăn trong công tác dập dịch hiện nay của tỉnh là gì? - Hiện nay tại nhiều địa phương trong tỉnh xảy ra nhiều ổ dịch, cùng lúc phải tiến hành hàng loạt các hoạt động phải điều tra, truy vết. Các lực lượng phải làm tới nửa đêm. Thời gian đầu, công tác phối hợp giữa các ban ngành đoàn thể đã có chuẩn bị nhưng việc điều phối còn gặp khó khăn, chưa được khẩn cấp, kịp thời, đúng nghĩa là "thần tốc". Thứ hai, nguồn lực xét nghiệm được tăng cường nhưng vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ. Hiện Đồng Tháp có 2 máy xét nghiệm RT-PCR ở CDC và Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp. Sắp tới sẽ trang bị thêm 2 máy. Nếu hoạt động hết công suất 4 máy có thể xét nghiệm hơn 1.200 mẫu đơn và 12.000 mẫu gộp mỗi ngày. Cơ bản sẽ đáp ứng được nhu cầu chống dịch. Trong điều kiện phải tiến hành tầm soát quy mô lớn hàng chục nghìn trường hợp sẽ làm mẫu gộp, khi đó sẽ cần thêm nhân lực nhập dữ liệu. Việc quá tải ở Bệnh viện Đa khoa Sa Đéc cơ bản được giải quyết, đã đưa hơn phân nửa ra các khu điều trị, cách ly tại nhà. - Tại sao khi TP Sa Đéc ghi nhận 29 ca cộng đồng và ngày 2/7 huyện Châu Thành 38 ca cộng đồng, tức một tuần sau hai địa phương phát hiện ca đầu tiên, thì mới có quyết định giãn cách xã hội? - Tỉnh muốn giãn cách xã hội, phải tổ chức chặt chẽ rất nhiều khâu, phải đảm bảo những nhu cầu tối thiểu, thiết yếu trong cuộc sống của người dân khu vực giãn cách xã hội. Việc này chính quyền cấp tỉnh, nhận định có nguy cơ cao, sẽ giao cho địa phương ra quyết định. Địa phương cũng phải có động tác chuẩn bị, phải họp Ban Thường vụ, phải phổ biến và phải đạt được sự đồng thuận, rồi lan rộng ra người dân. Do đó cũng phải mất ngày trước ngày sau. Lúc đầu dịch rộ lên quá nhanh. Tỉnh xác định đây là đợt lây lan mạnh, nên phải có động thái đánh giá kỹ tình hình, sau đó xác lập phương án để làm. Chứ không phải nhào vô làm theo kiểu, đụng đâu làm đó, thấy gì làm nấy. Đặc biệt với những ổ dịch lây trên diện rộng, cần phải có phương pháp, phải đánh giá dịch tễ học thực địa cho tốt, chặt chẽ, nhiều mặt thì mới tiến tới hành động và thu được kết quả. Thành ra quyết định có hơi chậm nhưng mình làm tới đâu chặt chẽ tới đó tạo được sự đồng thuận, không gây xáo trộn, bất tiện, người dân không chống đối quyết định giãn cách. Việc giãn cách xã hội cần phải thận trọng, chặt chẽ, có hơi chậm tuy nhiên vẫn đáp ứng được nhiệm vụ chống dịch. - Vì sao các ổ dịch đặc biệt là ở Châu Thành (240 ca) đã phong tỏa nhưng vẫn đang tăng số ca nhiễm từng ngày và chưa có dấu hiệu dừng lại? - Các ổ dịch trong tỉnh đã được bao vây, phong tỏa, trong đó có 6 ấp của 3 xã ở huyện Châu Thành nên nguy cơ lan rộng ra cộng đồng ở các nơi khác là không cao. Việc điều tra, truy vết, dập dịch ở Châu Thành vẫn đang tiếp tục có nghĩa là việc làm chưa kết thúc. Nơi này số lượng dân cư là cả chục nghìn người, việc bức thiết là tiến hành sàng lọc quy mô lớn, bằng nhiều biện pháp. Phát hiện các ca F0, F1, F2 tức đã vây đúng ổ dịch và sẽ tiến hành tách các ca nhiễm, ca nguy cơ ra khỏi cộng đồng số ít ở đó và bảo vệ cộng đồng lớn hơn. Lo lắng nhất hiện nay là những ca F0 "lang thang" ngoài cộng đồng. Tỉnh đang áp dụng giải pháp giám sát trọng điểm, thông qua khai báo y tế, thông qua sự kiện. Ví dụ, người dân thông báo có gặp ai đó có biểu hiện nghi ngờ, người lạ từ vùng dịch về. Hiệu quả của biện pháp này là khi phát hiện ở đâu là "chụp" liền ở đó rồi lực lượng sẽ truy tìm chùm F1, F2. Cô lập sớm, vây lại không cho lan rộng ra. - Tại cuộc họp với Phó thủ tướng Vũ Đức Đam hôm 5/7, Đồng Tháp đã đề xuất cách ly F1 tại nhà. Việc này đã tiến hành ra sao? - Tính đến ngày 8/7, Đồng Tháp đang cách ly 1.570 F1 và có 5.061 F2. Hiện tại các khu cách ly tại biên giới (hơn 400 chỗ) và ký túc xá phường 6 thành phố Cao Lãnh (600 chỗ), khu cách ly tập trung tại TP Sa Đéc (800 chỗ) đều đã hoạt động hết công suất. Ở các huyện như Lai Vung, Châu Thành, Lấp Vò, Tháp Mười đang mở thêm các khu cách ly tập trung tại chỗ. Đồng Tháp đang phối hợp với mặt trận tổ quốc làm thí điểm ở một vài chỗ có đủ điều kiện về mặt cơ sở vật chất, tiện nghi, vệ sinh. Quan trọng hơn hết là thái độ chấp hành của người cách ly. Họ phải tự nguyện cam kết chấp hành và có quản lý chặt chẽ của chính quyền địa phương. Mô hình này nếu được sẽ tiến tới thực hiện đại trà nhằm giảm tải cho các khu tập trung của nhà nước. Việc này trước mắt người dân rất ủng hộ. - Đồng Tháp vừa ứng phó dịch từ các ổ dịch trong tỉnh, nguy cơ xâm nhập Covid-19 từ tỉnh khác và từ biên giới cũng rất cao. Các lực lượng chống dịch đang phân bổ như thế nào? - Tại biên giới Đồng Tháp có tổ chỉ huy, chốt chặn, trên sông và đất liền. Việc này nhằm ngăn ngừa việc vượt biên trái phép mang theo mầm bệnh. Nhiệm vụ bảo vệ biên giới đang tập trung và duy trì tốt. Nguy cơ tản dịch từ địa phương khác, tỉnh đã có những văn bản động viện "ai ở yên đó", trong điều kiện bắt buộc phải trở về thì sẽ tổ chức cách ly y tế đúng quy định. Theo đó, những người từ địa phương khác về, trong đó có TP HCM phải có xét nghiệm PCR âm tính hoặc test nhanh âm tính, nếu là người địa phương thì sẽ cho cách ly y tế tại nhà 7 ngày. Sau đó, họ thực hiện xét nghiệm ba lần vào các ngày thứ một, ngày thứ 3, và ngày thứ 7, rồi tiếp tục cho theo dõi sức khỏe tại nhà 7 ngày. Điều này Bộ Y tế đã quy định rõ. Các ổ dịch trong tỉnh tiếp tục quyết liệt, điều tra, truy vết, tách các ca lây nhiễm, chùm F1, F2 ra khỏi cộng đồng. Cả ba nhiệm vụ đều phải đặt ưu tiên. Vì chỉ một trong ba không chặt chẽ thì sẽ ảnh hưởng rất lớn. Đối với lực lượng chống dịch, tỉnh đã có tham vấn các chuyên gia giàu kinh nghiệm, am hiểu về lĩnh vực y tế điều tra dịch tễ. Đồng thời địa phương cũng nhận được sự giúp sức của khoảng 200 sinh viên các Đại học Y dược Cần Thơ, Cao đẳng Y tế Đồng Tháp. Thứ hai, tỉnh đã tham vấn với doanh nghiệp, giúp họ trong công tác chống dịch, bảo vệ sản xuất. Các doanh nghiệp đã có những đóng góp mua sinh phẩm, mua hóa chất, máy xét nghiệm. Nguồn lực này rất mạnh và giúp rất nhiều cho tỉnh trong bối cảnh thiếu máy móc, trang thiết bị. Người dân cũng có những đóng góp rất lớn thông qua mặt trận tổ quốc như đóng góp mua vaccine, mua những trang bị, cung cấp bó rau, lọn cải, khẩu phần ăn đầy đủ dinh dưỡng cho các tuyến đầu chống dịch... - Tỉnh đặt ra mục tiêu kiểm soát dịch bệnh cũng như tăng trưởng từ nay đến cuối năm ra sao? - Tập trung quyết liệt cho mục tiêu dập dịch. Dứt khoát không để dịch bệnh bùng phát, lan rộng. Đây là cái điều kiện tiên quyết để tỉnh duy trì hoạt động xã hội, sản xuất. Việc giãn cách xã hội, phong tỏa trong tỉnh và nhiều địa phương khác khiến các hoạt động tiêu thụ nông sản đang bị trở ngại khá nhiều. Tỉnh đang tìm cách liên kết với các kênh phân phối, các hệ thống siêu thị, các nhà máy chế biến ở nhiều nơi. Riêng các kênh siêu thị sẽ tăng cường quảng bá giới thiệu, đẩy mạnh các chương trình bán hàng trực tuyến, liên kết đưa nông sản lên các sàn thương mại điện tử, tăng cường phân phối rộng ra trong nhiều tỉnh thành. Từ đó tạo cơ hội cho bà con bán được nông sản và có giá. Song song đó hỗ trợ doanh nghiệp thông qua những cơ chế về vốn, liên kết, các chính sách về thuế. Từ những giải pháp hỗ trợ sẽ giúp doanh nghiệp đứng vững, đặc biệt là vấn đề phòng chống dịch bệnh trong doanh nghiệp, tỉnh sẽ có hướng dẫn, đặt nặng hơn trách nhiệm của doanh nghiệp. Để chủ doanh nghiệp vừa duy trì các hoạt động sản xuất vừa bảo vệ được cộng đồng công nhân khỏi dịch bệnh. Tỉnh đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP đạt như 6 tháng đầu năm (4.44%).

Lan tỏa tinh thần đoàn kết, lòng nhân ái, niềm tin, trái tim tham gia Quỹ vaccine phòng Covid-19 của nhân dân Việt Nam

Quỹ vaccine phòng Covid-19 đã chính thức ra mắt vào tối Thứ bảy, ngày 5-6 tại Nhà hát Lớn Hà Nội. Thủ tướng Phạm Minh Chính dự buổi lễ đã khẳng định: “Đây sẽ là quỹ của tinh thần đoàn kết, sự nhân ái, niềm tin, trái tim, kết nối trái tim cùng nhau vượt qua khó khăn góp phần tạo nên Việt Nam chiến thắng, ghi danh vào lịch sử về một chiến thắng đại dịch Covid-19”. Sau lễ ra mắt cho đến nay, Quỹ vaccine phòng Covid-19 đã nhận được sự đóng góp của hàng nghìn tập thể, cá nhân. Những ngày qua, không chỉ các doanh nghiệp, địa phương mà rất nhiều cá nhân trong và ngoài nước đã nhiệt tình ủng hộ Quỹ. Điển hình như câu chuyện về Mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Cược (92 tuổi, ở thôn Hoàng Xá, xã Ninh Xá, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh) đã dành 10 triệu đồng tiết kiệm để ủng hộ cho công tác phòng, chống Covid-19. Cụ ông Nguyễn Chương (97 tuổi), là thương binh chống Pháp, từng chiến đấu ở chiến trường Thừa Thiên năm 1951, nay ở thôn Phú Long, xã Kỳ Phú, huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh cũng đã viết tâm thư gửi ban vận động quyên góp chống dịch xã và trích 10 triệu đồng tiền tiết kiệm để ủng hộ Quỹ. Hay hình ảnh về các em học sinh đã dành những đồng tiền tiết kiệm, ăn sáng của mình để ủng hộ cho Quỹ phòng Covid-19… Còn vô số câu chuyện cảm động về việc các tầng lớp nhân dân đã và đang tham gia ủng hộ Quỹ vaccine phòng Covid-19, thực tiễn đó thêm một lần nữa khẳng định tinh thần đoàn kết toàn dân, đồng sức, đồng lòng vượt qua gian khó, chiến thắng đại dịch. Mỗi đóng góp của người dân vào Quỹ vaccine phòng Covid-19 đều hướng tới mục tiêu cuộc sống an toàn hơn của bản thân, gia đình, cộng đồng và cả xã hội. Với sáng kiến Quỹ vaccine phòng Covid-19, đại diện các tổ chức quốc tế tại Việt Nam như Tổ chức Y tế thế giới, điều phối viên thường trú của Liên hợp quốc tại Việt Nam, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, Đại diện thường trú Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam... đã có những đánh giá cao về tinh thần đoàn kết, trách nhiệm của nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến chống “giặc Covid-19”. Theo Tiến sỹ Kidong Park, Trưởng Đại diện Tổ chức Y tế Thế giới tại Việt Nam đánh giá: “Việc huy động các nguồn lực để nâng cao khả năng tiếp cận vaccine Covid-19 của Chính phủ Việt Nam rất kịp thời, phù hợp với sáng kiến vaccine toàn cầu. Chính phủ Việt Nam rất nỗ lực để huy động nguồn lực từ ngân sách nhưng thực tế vẫn cần nhiều nguồn lực hơn nữa. Việc Chính phủ quản lý và sử dụng công bằng, hiệu quả nguồn lực từ người dân, doanh nghiệp tư nhân sẽ mang lại giá trị mới cho chiến lược ứng phó với Covid-19. Chính sự đoàn kết này sẽ giúp Việt Nam chấm dứt đại dịch. Hy vọng Việt Nam sẽ tiếp tục là một ví dụ cho cách tiếp cận toàn dân trong việc kết thúc đại dịch”. Ông Kamal Malhotra, Điều phối viên thường trú của Liên hợp quốc tại Việt Nam cũng đánh giá cao việc thành lập Quỹ vacine phòng Covid-19 của Việt Nam và cho rằng “đây là một sáng kiến hay, là điều Liên hợp quốc đã ủng hộ trong nhiều tháng nay”. Bà Carollyn Turk, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam cũng đã chúc mừng Chính phủ Việt Nam ra mắt Quỹ vaccine phòng Covid-19 và cho biết “việc tiêm vaccine phòng Covid-19 nhanh và hiệu quả là biện pháp cần thiết và quan trọng để đảm bảo an toàn cho người dân, thúc đẩy phục hồi kinh tế. Chính phủ Việt Nam đang có bước đi đúng đắn trong việc đẩy nhanh tiếp cận vaccine cho người dân”… Tuy nhiên, trong bối cảnh đó, một số cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí, chống phá đất nước đã tuyên truyền, xuyên tạc, bóp méo sự thật về việc thành lập Quỹ vaccine phòng Covid-19, thậm chí còn xúc phạm đến những nghĩa cử cao đẹp, hành động đúng đắn, nhân văn của các cá nhân, tổ chức trong cuộc chiến chống dịch Covid-19 của toàn thể nhân dân ta. Đài Á châu tự do đăng tải bài viết “Chính phủ nói không thiếu tiền sao phải huy động tiền dân mua vaccine?” và cho rằng, Chính phủ đang “bòn rút tiền của nhân dân”, việc tiêm cho người dân là thuộc nghĩa vụ của Nhà nước… Từ đó, kêu gọi kiều bào, người dân không tham gia đóng góp cho Quỹ này. Gần đây, trang mạng tổ chức Việt Tân cùng một số báo, đài không có thiện chí với Việt Nam đã đăng tải những bài viết phê phán việc thành lập Quỹ vaccine ở Việt Nam, từ đó đưa ra những luận điệu xuyên tạc, vu cáo, hạ thấp uy tín Đảng, Nhà nước, chế độ. Đáng lên án hơn, trong khi chức sắc, tín đồ Công giáo đang sát cánh cùng Chính phủ và nhân dân phòng, chống dịch thì một số linh mục Công giáo đã tuyên truyền, xuyên tạc việc thành lập Quỹ vaccine phòng Covid-19, thậm chí có linh mục khi thấy các chức sắc, tín đồ tham gia ủng hộ Quỹ đã có lời lẽ miệt thị, xúc phạm những người này. Ngăn chặn đại dịch Covid-19, đó là trách nhiệm của toàn xã hội. Do vậy, việc một số luận điệu quy trách nhiệm trong công tác phòng, chống dịch là “của riêng Đảng, Nhà nước” là hoàn toàn vô lý. Không có quốc gia nào tự chống chọi với đại dịch chỉ bằng sự quyết tâm của Chính phủ. Những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các tổ chức, cá nhân, đài báo trên về Quỹ vaccine phòng Covid-19 của Đảng, Nhà nước Việt Nam cũng như xúc phạm đến danh dự, hình ảnh của các cá nhân, tổ chức tham gia ủng hộ là việc làm của những kẻ lạc điệu, lạc lõng trong cuộc chiến chống dịch Covid-19. Trong quyết định thành lập Quỹ cũng đã chỉ rõ, nguyên tắc của Quỹ Vaccine là trên cơ sở tự nguyện đóng góp của người dân, doanh nghiệp, để những người có điều kiện và có tâm với đất nước đóng góp. Hoàn toàn không có chuyện Chính phủ ép buộc mọi người phải đóng góp. Thực tế, trước khi Quỹ được thành lập, đã có rất nhiều địa phương, doanh nghiệp, người dân rất muốn đóng góp vào công cuộc tìm mua vaccine, để mọi người dân được tiêm vaccine, xã hội trở lại ổn định, vượt qua dịch bệnh và cuộc sống người dân trở lại như bình thường. Sau khi Quỹ thành lập, những ngày qua, số tiền quyên góp ủng hộ Quỹ không ngừng tăng lên, là minh chứng rõ nét nhất cho tinh thần đoàn kết chống lại đại dịch Covid-19 của nhân dân Việt Nam. Thực tiễn sinh động đó phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc.

MẠNG XÃ HỘI - NHẬN DIỆN VÀ NGUY CƠ

Cùng với những giá trị tích cực, mạng xã hội cũng bộc lộ những mặt trái và hệ lụy của nó đối với sự phát triển của đất nước. Nó “được ví như con dao 2 lưỡi ẩn chứa nhiều vấn đề bất cập và hiểm họa khó lường đối với người sử dụng không đúng mục đích”.


   Việt Nam là nước có số người dùng Internet và mạng xã hội thuộc tốp đầu trên thế giới, với hơn 64 triệu người dùng Internet (chiếm 67% dân số); hơn 55 triệu người dùng (chiếm 57% dân số) và 436 mạng xã hội đang hoạt động, đứng thứ 7 trong 10 nước có số người sử dụng mạng xã hội nhiều nhất thế giới.


   Nhìn lại mười năm qua, cùng với các thông tin bổ ích, có giá trị đối với xã hội thì còn vô số thông tin, hình ảnh có nội dung xấu độc trên mạng xã hội do các thế lực “mạng đen” tung ra, đã và đang tác động tiêu cực tư tưởng, dư luận xã hội, gây nghi ngờ, gieo rắc sự hoang mang, dao động, làm giảm sút lòng tin của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ ta.


   Nhìn khái lược, càng gần đây, các phần tử cơ hội chính trị và các thế lực thù địch càng sử dụng nhiều âm mưu, thủ đoạn, vừa công khai, trắng trợn, vừa ngấm ngầm hòng phá hoại, bôi nhọ, công kích Đảng, Nhà nước và chế độ ta; đồng thời, liên tục điều chỉnh hình thức và phương pháp chống phá ngày càng tinh vi, thậm chí biến ảo, với những chiêu trò mới rất xảo trá và nguy hiểm, không chỉ về tư tưởng mà còn chuẩn bị tổ chức, lôi kéo, tập hợp lực lượng, trước hết thông qua các cuộc “tập dượt” trên mạng xã hội.


   1. Chúng triệt để lợi dụng một số cá nhân cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất về phẩm chất, đạo đức, lối sống, để thành lập các hội, nhóm “xã hội dân sự”; thông qua cái gọi là “diễn đàn dân chủ”, sử dụng các website và các trang mạng xã hội dưới danh nghĩa phản biện, để bôi nhọ Đảng Cộng sản Việt Nam, phát tán thông tin xấu độc xâm hại Tổ quốc, dọn đường mưu toan lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa.   


   Càng gần đây, các thế lực thù địch coi việc hình thành phát triển xã hội dân sự độc lập về chính trị là điều kiện, tiền đề cho việc đảm bảo quyền con người, cổ xúy tự do cá nhân thông qua thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội, tự do biểu tình… để thực hiện “diễn biến hòa bình”; trong đó, lợi dụng các quyền cơ bản của con người như: Quyền lập hội, quyền công dân, quyền tự do báo chí... 


   Chúng núp dưới chiêu bài “dân chủ hóa”, hình thành “kênh phản biện” để cho ra đời các tổ chức đối trọng với các cơ quan, tổ chức trong bộ máy của Đảng, Nhà nước, đòi giám sát hoạt động của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội. Đồng thời, lợi dụng các diễn đàn tư tưởng, thông qua hoạt động hợp tác, nghiên cứu khoa học... để đề cao dân chủ tư sản, nhằm chuyển hóa lập trường, tư tưởng của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân. 


   Chúng ra sức cổ xúy cái gọi là quyền bày tỏ chính kiến không giới hạn và liên kết hình thành các tổ chức “độc lập” tham gia vào đời sống cộng đồng, thoát ly khỏi sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước; lập các hội, nhóm với tên gọi, khẩu hiệu, tôn chỉ, mục đích thu hút được các tầng lớp, thành phần xã hội tham gia (“Hội Phụ nữ nhân quyền”, “Hội Nhà báo độc lập”, “Hội Anh em dân chủ”…) nhằm lôi kéo quần chúng; phát triển lực lượng, hình thành các hội nhóm hoạt động “bất bạo động”; tuyên truyền, kích động tư tưởng ly khai, tự trị, khoét sâu mâu thuẫn dân tộc, gây chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân; tạo tiền đề tập hợp, phát triển lực lượng, hình thành tổ chức chính trị đối lập với Đảng, Nhà nước. Đây chính là những “cây cầu nối” cực kỳ nguy hiểm của chúng.


   2. Bằng con đường tổ chức, thông qua liên kết, hợp tác, dưới hình thức tài trợ của các tổ chức phi chính phủ (NGO) hoặc các tổ chức dưới danh nghĩa từ thiện, nhân đạo, chúng len lỏi, luồn sâu và thông qua các tổ chức này tạo lập chỗ đứng, với sự dọn đường, cổ xúy biểu tình và thúc đẩy bạo loạn của mạng xã hội.  


   Trên lĩnh vực kinh tế, chúng âm mưu thông qua hoạt động hợp tác, đầu tư để làm cho nền kinh tế phát triển chệch hướng xã hội chủ nghĩa, thiết lập hệ thống và cơ cấu kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa tại Việt Nam; từ đó, tạo ra nền tảng vật chất, xã hội thuận lợi, hình thành nền “chính trị dân chủ” và “xã hội dân sự” kiểu phương Tây. 


   Đồng thời, trên lĩnh vực chính trị, chúng kêu gọi “dân chủ hóa chính quyền”, từng bước cô lập, tách các tổ chức đảng, đảng viên ra khỏi quần chúng, tạo áp lực về chính trị - xã hội, thậm chí gây bạo loạn, lật đổ, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Với thủ đoạn “thân thiện giả hiệu”, chúng thâm nhập vào hoạt động của nền kinh tế, tìm kiếm cơ hội tiếp cận với các đối tượng chính trị thoái hóa; thậm chí mua chuộc những phần tử này, để xây dựng lực lượng. Mức độ mà mật độ hình thức kiểu này của chúng ngày càng tăng.


   Cùng với đó, các thế lực thù địch đẩy mạnh “tiến công” trên lĩnh vực đối ngoại. Chúng chủ động tiếp cận móc nối, hỗ trợ, mua chuộc, lôi kéo các đối tượng, nhất là những phần tử có tư tưởng bất mãn, thù địch, cơ hội, thoái hóa, biến chất, hữu khuynh, cực đoan, thân phương Tây, tạo lực lượng nòng cốt cho “chuyển hóa” và “tự chuyển hóa” tư tưởng ngay từ bên trên, bên trong.


   Để thúc đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền tác động hướng lái truyền thông. Đồng thời, thành lập nhiều tổ chức và đưa người vào Việt Nam để theo dõi, tìm hiểu, thu thập thông tin về vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tiến hành móc nối, cài cắm, truyền bá tư tưởng sai trái, vu cáo, xuyên tạc tình hình thực tế ở Việt Nam; kêu gọi tập hợp lực lượng, hình thành và công khai hóa tổ chức chính trị đối lập trá hình trên không gian mạng; lợi dụng các vấn đề nhạy cảm chính trị xã hội, vụ việc phức tạp thu hút sự quan tâm của quần chúng để kích động biểu tình, gây bất ổn về an ninh, trật tự, tìm thời cơ tiến hành “cách mạng đường phố” tại Việt Nam…


   3. Thực tế đã cho thấy không ít đối tượng có quan hệ khá mật thiết với tổ chức phản động nước ngoài; và khi những đối tượng xuất hiện trên các trang mạng cá nhân, lập tức được các trang tin hải ngoại dẫn lại và được các tổ chức phản động cổ xúy.


   Các đối tượng chống đối chính trị thường có mối quan hệ móc nối với các thế lực thù địch bên ngoài, đặc biệt là các tổ chức phản động lưu vong để nhận được sự chỉ đạo và hậu thuẫn tài trợ về vật chất để trang trải, có điều kiện hoạt động chống phá trong nước. Chúng tìm cách tiếp cận, mua chuộc cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất đang làm việc trong các bộ phận trọng yếu, cơ mật để cung cấp tài liệu, mua thông tin bí mật quốc gia.


   Chúng sử dụng mạng để chia sẻ công cụ, cách thức, thủ đoạn phạm tội; phương thức lây nhiễm virus, phần mềm gián điệp... mượn môi trường mạng là “miếng đất” để tuyên truyền, tuyển lựa, huấn luyện và chỉ đạo hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội. 


   Để đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, các thế lực thù địch  thúc đẩy “dân chủ hóa” trong nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thời thực hiện “dân chủ hóa” trong truyền thông và xã hội. Yếu tố thứ nhất mang tính quyết định đến tiến trình “dân chủ hóa” từ bên trên, bên trong nội bộ ta; yếu tố thứ hai sẽ đẩy nhanh “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của toàn xã hội. 


   Mặt khác, lợi dụng sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0), các thế lực thù địch mạnh tay chi tài chính cho quảng cáo, đầu tư, tài trợ các chương trình để khống chế, dẫn dắt giới truyền thông hoạt động theo ý đồ của chúng, ý đồ đưa truyền thông tách khỏi sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. 


   Ở bên ngoài, một số tổ chức đẩy mạnh các hoạt động tài trợ, bồi dưỡng năng lực cho các tổ chức xã hội dân sự tại Việt Nam nhằm tác động chuyển hóa và phát triển các kênh “phản biện xã hội”. Thông qua đây, họ tác động hình thành trong nội bộ các cơ quan, tổ chức chính trị; đặc biệt là các cơ quan dân cử xu hướng hoạt động “độc lập”, thậm chí “đối lập” với sự lãnh đạo của Đảng ta.


   Núp dưới chiêu trò “yêu nước”, “tự do ngôn luận”, “phản biện”… gần đây và sắp tới sẽ còn điên cuồng hơn, một số tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước dùng mọi thủ đoạn tập trung kích động, lôi kéo tụ tập đông người, biểu tình trái phép, thậm chí có hành vi quá khích, gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội...   


   4. Với sự phụ họa của các hãng truyền thông nước ngoài, các thông tin xuyên tạc, bịa đặt này tiếp tục được thổi phồng, phát tán rộng rãi, tinh vi hơn, gây không ít ảnh hưởng tiêu cực cho xã hội. 


   Các đối tượng ở nước ngoài cấu kết với số đối tượng trong nước tìm cách hình thành, phát triển cái gọi là “xã hội dân sự” cùng các tổ chức, hội nhóm bất hợp pháp. Chúng lợi dụng “các khoảng trống thông tin” để tấn công vào sự hiếu kỳ của công chúng, gây hoang mang dư luận, làm giảm sút niềm tin của Nhân dân; kích động trào lưu “xét lại lịch sử”, “viết lại lịch sử”, phủ nhận lịch sử dân tộc; cổ xúy, tung hô các “giá trị” dân chủ phương Tây, phi chính trị hóa các lực lượng vũ trang; kích động biểu tình, gây rối, thực hiện các cuộc “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố” hòng lật đổ chính quyền, tạo cớ kêu gọi các thế lực bên ngoài can thiệp vào nội bộ nước ta.


   Nhìn tổng thể, dưới nhiều hình thức và phương tiện, trên mạng xã hội, các thế lực thoái hóa, cơ hội, phản động và các thế lực thù địch tiếp tục tập trung công phá, ở 8 phương diện tư tưởng, lý luận cơ bản nhất và chủ yếu nhất: Thứ nhất, công phá nền tảng tư tưởng chính trị và thủ tiêu ý thức hệ. Thứ hai, bôi nhọ, xuyên tạc đường lối chính trị và công phá thể chế chính trị. Thứ ba, tung hỏa mù về “đảng trị” và vu khống Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền. Thứ tư, chia rẽ phá hoại mối quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước. Thứ năm, khoét sâu vấn đề tôn giáo, dân tộc, nhân quyền với thể chế xã hội chủ nghĩa nhằm phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống lại nhân dân. Thứ sáu, thông qua vấn đề chính trị gia và quan hệ giữa các nhà lãnh đạo chính trị, giữa các lực lượng nhằm xâm hại thể chế xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Thứ bảy, chung quanh vấn đề quan hệ quốc tế, võ đoán các nguy cơ cái gọi là “đu dây bên miệng hố”, kích động cái gọi là “bài”, “thoát” nước này, liên minh với nước khác, cốt phá hoại đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa trong hội nhập quốc tế của Đảng ta, cổ xúy cho chủ nghĩa ly khai, xâm hại nhân dân, phá vỡ sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc. Thứ tám, các trào lưu tư tưởng, lý luận du nhập, thẩm thấu bằng mọi con đường, âm mưu gặm nhấm, công phá làm băng hoại dưới mọi hình thức, quy mô và mức độ tư tưởng, lý luận của chúng ta từ nền tảng.


   Vì thế, cuộc đấu tranh trên mạng xã hội, hơn bao giờ hết, sự phức tạp và quyết liệt, thậm chí có ý nghĩa sinh tử và đầy thách thức./.

BỊ ĐỘNG TRÊN MÔI TRƯỜNG MẠNG XÃ HỘI ĐỒNG NGHĨA VỚI THẤT BẠI

 Khoảng thời gian những năm 2017-2018 là thời điểm nở rộ và phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội nói chung - trong đó có cả các trang facebook, kênh youtube của các thế lực thù địch, phản động hoạt động ráo riết nhằm chống phá Đảng, Nhà nước. Thời điểm này, nhiều trang, group facebook, kênh youtube được các nhóm đối tượng chống phá ở trong và ngoài nước lập nên thu hút hàng trăm ngàn người theo dõi, tham gia, chúng thường xuyên cập nhật, đăng tải các thông tin xuyên tạc, bịa đặt, vu khống chính quyền, xúc phạm lãnh đạo Đảng, Nhà nước… điều đáng buồn là có rất ít các kênh chính thống kịp thời phản bác lại dẫn đến việc một bộ phận người dân bị che mắt bởi thông tin xấu, độc. 


Không ít các vụ biểu tình quy mô nhỏ đã được các đối tượng chống phá tổ chức trước cổng một số cơ quan hành chính, ngoại giao, công viên nhằm vào các sự kiện, các ngày lễ kỷ niệm quan trọng của đất nước, lợi dụng các bất cập tồn tại trong xã hội để thổi bùng ngọn lửa giận giữ. 


Cao trào của thời gian này chính là vào tháng 6 năm 2018, khi Quốc hội chuẩn bị họp để thảo luận và phê chuẩn 2 dự luật quan trọng đó là “Luật Đơn vị hành chính đặc biệt” và “Luật An ninh mạng”. Từ các thông tin chung chung được phát ra từ cơ quan truyền thông của Nhà nước, các đối tượng chống phá đã tận dụng tối đa các trang mạng xã hội phản động, cực lực tung tin bịa đặt, xuyên tạc nội dung dự luật Đơn vị hành chính đặc biệt, chúng tuyên truyền rằng “Quốc hội đang phê chuẩn luật để cho Trung Quốc thuê đất tại các khu vực trọng yếu quốc phòng trong 99 năm”, rằng “nếu để Trung Quốc thuê đất 99 năm thì có nguy cơ mất nước”, rằng “Chính phủ hèn nhát đang hai tay dâng đất cho Tàu”… các thông tin này được truyền tay nhau thông qua nút “share”, các thuyết âm mưu được thổi bùng trong dư luận và trở thành đề tài bàn tán sôi nổi, các cuộc tranh luận gay gắt trên khắp các diễn đàn. Trước sự việc trên, các cơ quan báo chí chính thống, cơ quan tuyên giáo đã bị động trong công tác tuyên truyền, phản bác đến mức những ngày 10, 11, 12/6 ở nhiều địa phương xảy ra tình trạng người dân xuống đường biểu tình phản đối “Luật đặc khu”, “phản đối cho Tàu thuê đấy 99 năm”, ở nhiều địa phương người dân tràn xuống đường chặn đường quốc lộ, hô khẩu hiệu phản đối do các đối tượng phản động chuẩn bị sẵn và đỉnh điểm là vụ tấn công chống người thi hành công vụ, tấn công trụ sở HĐND xảy ra ở Bình Thuận. Người dân bị kích động dùng gạch, đá, hung khí tấn công cảnh sát, tràn vào trụ sở HĐND, đốt phá xe cứu hoả trong trụ sở Cảnh sát PCCC. Tất cả các sự việc trên một phần nguyên nhân xuất phát từ sự chậm trễ, bị động trong công tác tuyên truyền, phản bác các luận điệu xuyên tạc trên mạng xã hội của các cơ quan báo chí, tuyên giáo chính thống. “Mặt trận” trên mạng xã hội - nơi có hàng chục triệu người hoạt động và tiếp cận thông tin đã bị bỏ ngỏ, người dân khi không được tiếp cận với thông tin chính thống mà lại bị bủa vây bởi tin giả, thông tin bịa đặt, kích động đã gây ra một vụ việc rất đáng tiếc. Đây là một hồi chuông báo động, một lời cảnh tỉnh những cán bộ tuyên giáo vẫn đang kiên trì hoạt động “tuyên giáo trên tờ A4”. 


Những năm trở lại đây, các cơ quan Báo chí, tuyên giáo, các cơ quan Chính phủ, Công an đã bắt đầu tiếp cận và hoạt động có hiệu quả trên mạng xã hội. Báo chí chính thống với các trang thông tin có hàng triệu lượt thích đưa tin kịp thời, hiệu quả, thêm vào đó là các trang thông tin chính thống của Nhà nước cũng được thành lập và hoạt động mạnh, thu hút người xem như Thông tin Chính phủ, Công an Thành phố Hà Nội, Thông tấn xã Việt Nam… đã phần nào đẩy lùi được nạn tin giả, tin thất thiệt, các âm mưu chống phá, đẩy lùi các đối tượng xấu vào trong bóng tối, người dân có sự tỉnh táo khi chia sẻ thông tin. Đặc biệt trong đại dịch covid-19, cơ quan công an đã làm rất tốt nhiệm vụ xử lý tin giả. Đây là thành công bước đầu tuy nhiên chúng ta vẫn đang ở thế bị động. 


Lấy vụ việc chiến sỹ tử vong đang gây xôn xao dư luận trong hai ngày nay làm ví dụ, khi vụ việc xảy ra và có thông tin trên mạng xã hội thu hút hàng chục ngàn lượt theo dõi, hàng triệu lượt xem, người dùng mạng “nháo nhào” đi tìm phát ngôn, kết luận của các cơ quan báo chí chính thống, tất cả mọi người đều tha thiết đặt câu hỏi “VTV đưa tin chưa?”, “các trang báo chính thống đưa tin chưa?”, nhưng đổi lại là sự im lặng của hầu hết các cơ quan truyền thông, không một dòng tin, không một bài viết kịp thời để trấn an dư luận suốt mười mấy tiếng đồng hồ. Người dùng mạng thiếu nguồn tin chính thống, truyền thông tạo lỗ hổng lớn khiến cho các thuyết âm mưu, các thông tin bịa đặt được dịp tung hoành, hàng loạt các thông tin đặt nghi vấn về nguyên nhân cái chết của chiến sỹ trẻ, các thuyết âm mưu về mâu thuẫn trong quân đội, về sự bao che của chỉ huy được chia sẻ, truyền tay nhau bất chấp đúng sai, qua nút share của mỗi người câu chuyện lại thay đổi một chút, người dùng mạng “thưởng thức no nê” các nguồn thông tin - trong đó có cả thông tin bịa đặt, xuyên tạc của các trang facebook chống phá nhà nước như Việt Tân, Nhật ký yêu nước. 


Cho đến sáng hôm nay báo chí chính thống mới bắt đầu đưa tin vụ việc, cho đến chiều nay tuyên huấn quân đội mới có các kết luận ban đầu. Nhưng những thông tin đó hầu như không làm “thoả mãn” dư luận, vì trước đó họ đã bị “bội thực” bởi rất nhiều thuyết âm mưu, thông tin đúng sai lẫn lộn, trong đầu họ đã bị thổi lên sự nghi ngờ và một kết luận ban đầu khó làm hài lòng dư luận. Đáng lẽ, ngay sau khi sự việc diễn ra nếu người dân được tiếp cận với các thông tin chính thống để trấn an dư luận thì mọi thứ đã khác! Cái dư luận cần là một nguồn thông tin chính thống để họ theo dõi nhưng nó đã không có khi họ thực sự cần. 


Chúng ta đang sống trong xã hội với cuộc cách mạng công nghệ 4.0, các đối tượng chống phá, phản động cũng đang dùng chính công nghệ 4.0 để chống lại Đảng, Nhà nước, lật đổ chính quyền. Mạng xã hội là một “chiến trường” không tiếng súng nhưng cũng vô cùng khốc liệt, việc chậm hay bị động hơn so với các thông tin giả mạo, các thế lực thù địch đồng nghĩa chúng ta thất bại trên mặt trận này! Người làm tuyên giáo hãy rời xa tờ A4 và cầm chiếc điện thoại lên, chúng tôi đang chờ sự dẫn dắt của các đồng chí! 

NÊU CAO TINH THẦN TRÁCH NHIỆM CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN – MỘT BIỆN PHÁP HIỆU QUẢ PHÒNG CHỐNG SỰ SUY THOÁI VỀ PHẨM CHẤT, ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG

 


Ở bất cứ nơi đâu, làm bất cứ công việc gì, ai cũng phải có trách nhiệm – trách nhiệm với tổ chức, với công việc và với chính mình. Nếu không thì chúng ta sẽ không thể trưởng thành, tiến bộ theo đúng tư cách là một con người. Đối với cán bộ, đảng viên, trách nhiệm không dừng lại ở bổn phận “việc phải làm” mà nó còn là một giá trị thuộc về phẩm chất chính trị, tư cách đạo đức, phẩm giá văn hóa... Sinh thời Bác Hồ đã khẳng định: “là khi Đảng, Chính phủ hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi, đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công” và Người cũng thẳng thắn chỉ rõ: “Làm một cách cẩu thả, làm cho có chuyện, dễ làm khó bỏ, đánh trống bỏ dùi, gặp sao làm vậy… là không có tinh thần trách nhiệm”.

Tuy nhiên, nói về hai chữ “trách nhiệm” thì dễ, nhưng thực hiện đến nơi, đến chốn trách nhiệm của cán bộ, đảng viên thì lại đòi hỏi mỗi người luôn nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, chức trách, nhiệm vụ của mình, từ đó thường xuyên nêu cao ý thức, bổn phận, nghĩa vụ trong rèn luyện, công tác, gắn bó hết mình với công việc, tận tụy với nhiệm vụ được phân công, góp công, góp sức cùng tập thể trong cơ quan, đơn vị thực hiện thắng lợi công việc được giao. Phải làm thế nào cho công việc ngày càng trôi chảy, hiệu quả, góp công nhiều hơn vì tập thể. Để khi tập thể vững mạnh thì bản thân mình cũng trưởng thành, tiến bộ.

Vậy để có tinh thần trách nhiệm tốt, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải làm gì? Đó là, phải tự mình chủ động, tích cực, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ, làm việc có chương trình, kế hoạch, khoa học và đạt kết quả cao nhất; phải có tính tự trọng cao để làm việc với tinh thần, thái độ công tâm, khách quan, vì lợi ích chung của cơ quan, đơn vị, vì danh dự của cá nhân; phải biết tự xử với chính bản thân mình trong mọi việc, khi mắc phải thiếu sót, khuyết điểm phải tự giác nhận trách nhiệm cá nhân, xác định rõ nguyên nhân do đâu mà mắc phải để có biện pháp sửa chữa, khắc phục, phấn đấu vươn lên, không tranh công, đổ lỗi cho khách quan, cho người khác; phải tự giác tự phê bình, phê bình và không được tự ái để không ngừng tiến bộ; phải có sự tự tin trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ, công việc được giao.

Một trong những tiêu chí cơ bản để nhận định, đánh giá cán bộ, đảng viên có hoàn thành chức trách, nhiệm vụ hay không, đó là tinh thần trách nhiệm. Từ nhiều năm nay, khi lựa chọn nhân sự vào vị trí lãnh đạo các cấp, Đảng ta luôn nhấn mạnh đến tiêu chí “dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm” của người cán bộ. “Dám chịu trách nhiệm” không chỉ thể hiện tinh thần gan dạ, dũng cảm, tính khí khảng khái, cương trực của người cán bộ, mà còn nói lên ý thức dám đối mặt với khó khăn, chấp nhận sự rủi ro khi dấn thân vào việc khó, giải quyết vấn đề khó, chưa có tiền lệ, song cũng khơi thông được mạch nguồn sáng tạo, cổ vũ cho những hướng đi mới, cách làm mới mang lại hiệu ứng, hiệu quả khả quan trong tương lai. “Dám chịu trách nhiệm” hiểu theo nghĩa này chính là khuyến khích những nhân tố mới để góp phần làm chuyển biến, thay đổi tình hình theo chiều hướng tích cực.

Trong tình hình hiện nay, để tránh nguy cơ sa ngã, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải đề cao trách nhiệm cá nhân trong tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, nhất là cán bộ có chức có quyền luôn bị những cám dỗ, bủa vây quanh mình nên bất cứ một sự lơ là, dễ dãi, sơ hở nào cũng có thể bị “sập bẫy” trước “cái bả” tiền tài, danh vọng, tửu sắc… đầy mê hoặc, quyến rũ. Tự nghiêm khắc với chính mình cũng là một trong những cách tốt nhất để đội ngũ cán bộ, đảng viên tự phòng ngừa, giảm thiểu được những biểu hiện suy thoái về phẩm chất, đạo đức, lối sống./.

 

Lịch sử và ý nghĩa ngày thương binh liệt sĩ 27/7

 

Lịch sử và ý nghĩa ngày thương binh liệt sĩ 27/7

 Quá trình hình thành ngày thương binh liệt sĩ

 Năm 1945, Cách mạng tháng Tám vừa thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời chưa được bao lâu, thực dân Pháp đã trở lại xâm lược nước ta. Kiên quyết bảo vệ thành quả cách mạng, “không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, quân dân ta đã anh dũng chiến đấu, ngăn chặn bọn xâm lược. Trong những tháng năm đầu của cuộc kháng chiến có nhiều đồng bào, chiến sĩ đã ngã xuống hoặc đổ máu trên các chiến trường.

 Theo lời kêu gọi của Đảng, của Chính phủ và Bác Hồ, kế thừa truyền thống “Nhân ái, thủy chung” của dân tộc, nhân dân ta đã dành tất cả tình thương yêu của mình cho các chiến sĩ, đặc biệt là những người bị thương hoặc đã anh dũng hy sinh.

 Đầu năm 1946, “Hội giúp binh sĩ bị nạn” ra đời ở Thuận Hóa (Huế), rồi đến Hà Nội và một số địa phương khác... Sau đó ít lâu được đổi thành “Hội giúp binh sĩ bị thương”. Ở Trung ương có Tổng Hội và Chủ tịch Hồ Chí Minh được bầu là Chủ tịch danh dự của Tổng Hội.

 Chiều ngày 28/5/1946 tại Nhà hát Lớn Hà Nội, Tổng Hội tổ chức một cuộc nói chuyện quan trọng để kêu gọi đồng bào gia nhập Hội và hăng hái giúp đỡ các chiến sĩ bị thương.

 Chiều ngày 11/7/1946, tại Nhà hát Lớn Hà Nội đã có một buổi quyên góp quần áo, giày mũ cho chiến sĩ ngoài mặt trận, mở đầu cuộc vận động “Mùa đông chiến sĩ”. Tại đây, Bác Hồ đã cởi chiếc áo rét mà Bác đang mặc để tặng binh sĩ.

 Khi cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, ngày 19/12/1946, theo lời kêu gọi cứu nước của Bác Hồ, nhân dân cả nước nhất tề đứng dậy kháng chiến với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Số người bị thương và hy sinh trong chiến đấu tăng lên.

 Các đồng chí thương binh, gia đình nhiều liệt sĩ gặp nhiều khó khăn thiếu thốn. Trong tình hình ấy, Đảng và Nhà nước ta đã quyết định nhiều chính sách quan trọng về công tác thương binh liệt sĩ, góp phần đảm bảo đời sống vật chất tinh thần của các gia đình chính sách trong thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến.

 Năm 1946, giữa bộn bề công việc của những ngày tháng cam go chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giành nhiều tình cảm cho các thương binh, liệt sỹ. Người đã ra thông báo về việc nhận con các liệt sĩ làm con nuôi với một tấm lòng thành kính.

“Tôi muốn thay mặt Tổ quốc, toàn thể đồng bào và Chính phủ cảm ơn những liệt sỹ đã hy sinh tính mệnh của mình cho nền tự do, độc lập và thống nhất của nước nhà, hoặc trong thờì kỳ cách mệnh, hoặc trong thời kỳ kháng chiến. Tôi gửi lời chào thân ái cho gia đình các liệt sỹ đó và tôi nhận con các liệt sỹ làm con nuôi của tôi”.

 Trước yêu cầu thực tế đó, cùng với việc tiếp tục kêu gọi giúp đỡ thương binh, gia đình tử sĩ, ngày 16/2/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 20/SL “Quy định chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất tử sĩ”. Đây là văn bản pháp quy đầu tiên khẳng định vị trí quan trọng của công tác thương binh liệt sĩ đối với công cuộc kháng chiến cứu nước của dân tộc.

 Ngày 27/7 chính thức được chọn là ngày thương binh liệt sỹ

 Để chủ động công tác này trong cả nước, ngày 26/2/1947, Phòng thương binh (thuộc Chính trị Cục, Quân đội Nhân dân Quốc gia Việt Nam) được thành lập. Đầu tháng 7/1947 Bác Hồ đã đồng ý cho thành lập Ban Vận động tổ chức “Ngày Thương binh toàn quốc”.

 Tháng 6/1947, đại biểu của Tổng bộ Việt Minh, Hội Phụ nữ cứu quốc, Cục Chính trị quân đội Quốc gia Việt Nam, Nha thông tin tuyên truyền và một số địa phương đã họp tại Đại Từ (Thái Nguyên). Nội dung cuộc họp là thực hiện Chỉ thị của Hồ Chủ Tịch chọn ngày kỷ niệm Thương binh Liệt sĩ và bảo vệ công tác Thương binh liệt sĩ.

 Sau khi xem xét, Hội nghị đã nhất trí lấy ngày 27/7/1947 làm ngày Thương binh toàn quốc. Ngày 27/7/1947, một cuộc mít tinh quan trọng đã được diễn ra tại Thái Nguyên (có 2000 người tham gia). Tại đây Ban tổ chức đã trịnh trọng đọc thư của Hồ Chủ Tịch. Trong thư Người viết:

“... Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào, vì lợi ích của Tổ quốc, lợi ích của đồng bào mà các đồng chí đó bị ốm yếu ...”.

“... Vì vậy, Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy”.

“... Thương binh và tử sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc, đã hy sinh cho đồng bào".

“... Để báo đáp công ơn đó, Chính phủ phải tìm mọi cách để giúp đỡ anh em thương binh và gia đình tử sĩ".

“... Tôi cũng rất mong muốn đồng bào sẵn sàng giúp đỡ họ về mặt vật chất và tinh thần...”.

 Từ năm 1947, ngày Thương binh liệt sĩ được tổ chức thường kỳ hàng năm. Năm nào vào dịp này, Hồ Chủ Tịch cũng có thư và quà gửi anh chị em thương binh và các gia đình liệt sĩ.

 Tháng 7/1954 sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Đảng và Nhà nước ta càng đặc biệt quan tâm giải quyết vấn đề chiến sĩ, gia đình liệt sĩ và công tác thương binh. Từ năm 1955, ngày 27/7 ngày Thương binh được đổi thành ngày Thương binh liệt sĩ.

 Trong suốt 24 năm trên cương vị người đứng đầu Nhà nước, Bác đã giành sự quan tâm đặc biệt đến các thương binh, liệt sỹ. Là người lãnh đạo Đảng, lãnh đạo Cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm đã thấu hiểu và đánh giá cao những hy sinh, mất mát của các thương binh, liệt sỹ và thân nhân gia đình của họ trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Trong lời dặn toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:

“... Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình, Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn, chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực, cánh sinh”.

“... Đối với các Liệt sỹ, mỗi địa phương cần phải xây dựng vườn hoa và bia tưởng niệm để ghi công sự hy sinh anh dũng của các liệt sỹ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta”.

“... Đối với cha mẹ, vợ con của thương binh và liệt sỹ, mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền xã cùng hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ bị đói rét”.

Trong Những ngày tháng 7 năm 2021, trên khắp mọi miền của Tổ quốc, toàn đảng, toàn quân và toàn dân ta đang chuẩn bị Lễ kỷ niệm Ngày Thương binh Liệt sĩ. Việc làm này thể hiện sự biết ơn, tri ân của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta với những gia đình đã có người hy sinh vì Tổ Quốc. Làm tốt công tác Thương binh Liệt sĩ và chính sách đối với những người có công với cách mạng chính là phát huy đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", đền ơn đáp nghĩa của dân tộc; là thể hiện ý thức, trách nhiệm, lòng biết ơn, khơi dậy tinh thần yêu đất nước, yêu dân tộc Việt Nam; từ đó khơi dậy niềm tự hào về truyền thống nhân văn sâu sắc của dân tộc; giữ vững niềm tin vào sự nghiệp cách mạng mà Bác Hồ và Đảng ta đã lựa chọn, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ tổ quốc./.  

 

NHẬN DIỆN KHÔNG ĐỂ CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG TÔN GIÁO ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC

 

Để chống phá cách mạng nước ta, các thế lực thù địch từ lâu xem tôn giáo là một trong những mũi nhọn để công kích, chống phá. Những đối tượng phản động, cơ hội chính trị lợi dụng tôn giáo và quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo để kích động và tiến hành các hoạt động chống chính quyền, chống chế độ XHCN dưới chiêu bài “đấu tranh cho tự do tôn giáo, dân chủ, nhân quyền”, tiến tới phủ nhận, xóa bỏ vai trò của Đảng, Nhà nước ta.

Do vậy, nhận diện âm mưu thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch đang tập trung tuyên truyền, gieo rắc tâm lý cho rằng: “CNXH không chấp nhận tôn giáo, xóa bỏ tôn giáo; công dân theo đạo không được xét, kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam”; cố gắng tạo ra khoảng cách cũng như dùng các thủ đoạn làm tăng sự đối kháng giữa tôn giáo với đời sống hiện thực để kích động tôn giáo chống lại Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch không những phủ nhận những kết quả trong công tác tôn giáo mà còn ra sức lợi dụng tôn giáo, coi tôn giáo là vũ khí lợi hại để chống phá sự nghiệp cách mạng với nhiều chiêu thức thâm độc, tinh vi, xảo quyệt; khi thì bí mật, lúc thì trắng trợn, công khai.

Xây dựng các tổ chức lấy danh xưng tôn giáo cùng với việc thiết lập các trang mạng xã hội như: Youtube, facebook, blog… để phát tán, đăng tải các video, hình ảnh, bài viết với danh nghĩa các tôn giáo để đả kích, nói xấu chế độ, bôi nhọ lãnh tụ, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Họ đi sâu vào những mặt trái của xã hội để quy kết, hạ thấp thanh danh của Đảng, Nhà nước ta, thậm chí cố tình “diễn trò”, lợi dụng về đức tin và sự gắn kết cộng đồng của tôn giáo nhằm lôi kéo, tập hợp lực lượng chống phá cách mạng hay tìm mọi cách chia rẽ các tôn giáo với nhau, chia rẽ người có tôn giáo với người không có tôn giáo, nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm giảm sút lòng tin của một bộ phận nhân dân với hệ thống chính trị.

Sử dụng mọi chiêu trò để vu khống Đảng, Nhà nước ta “xâm phạm quyền tự do, đàn áp tôn giáo”; từ đó, kêu gọi các tổ chức, cộng đồng quốc tế lên tiếng, can thiệp. Lôi kéo, cổ súy, hậu thuẫn cho một số linh mục, chức sắc tôn giáo có nhiều tham vọng chính trị và lợi dụng đức tin của các tín đồ đã tuyên truyền, xuyên tạc hết sức phản động về Đảng, chế độ, chính quyền các cấp; ngang nhiên phát thư ngỏ trên mạng xã hội, kêu gọi, kích động một bộ phận nhân dân có đạo gây rối.

Từ âm mưu thủ đoạn trên của các thế lực thù địch, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần quán triệt rõ quan điểm của Đảng, nhà nước ta luôn coi tôn giáo là một bộ phận quan trọng trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân…Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động đã xây dựng và thực hiện đường hướng hành đạo đậm chất nhân văn tôn giáo và trách nhiệm với đất nước, dân tộc. Đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá Đảng, nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc của các thế lực phản động, thù địch.