Thứ Sáu, 21 tháng 1, 2022

Nhận biết đúng thời đại ngày nay làm cơ sở để hoạch định chính sách

 


Thời đại hiện nay, Thời đại chúng ta, Thời đại mới  là những khái niệm đồng nghĩa và được V.I. Lênin sử dụng. Trên bình diện lịch sử toàn thế giới, Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga đã “mở đầu một thời đại mới trong lịch sử thế giới”[1].Theo tư tưởng của V.I Lênin, nội dung của thời đại ngày nay là xóa bỏ giai cấp tư sản và chế độ tư bản chủ nghĩa đồng thời thiết lập những cơ sở của xã hội mới là xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa. Đây là một quá trình lịch sử lâu dài, bắt đầu từ Cách mạng Tháng Mười Nga, sau đó là những cuộc cách mạng ở nhiều nước khác trên thế giới. Hội nghị đại biểu các Đảng Cộng sản và công nhân họp ở Mát-xcơva năm 1957 và 1960, trên cơ sở tư tưởng của V.I. Lênin về thời đại ngày nay đã xác định: Thời đại ngày nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở đầu bằng Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại ở nước Nga.

Đảng ta khẳng định: Thời đại ngày nay là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi thế giới, mở đầu bằng Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại năm 1917, là thời đại đấu tranh cho thắng lợi của hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, gắn liền với cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại tạo ra những tiền đề vật chất - kỹ thuật ngày càng đầy đủ cho việc chuyển lên chủ nghĩa xã hội [2].



[1] V.I. Lênin: Sdd, 1978, t.4, tr.184.

[2] Hi đồng lý lun Trung ương: Mt s vn đề v ch nghĩa Mác - Lênin trong thi đại hin nay, Nxb, CTQG, Hà Ni. 1996, tr.139.

Nội dung sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân

 


Sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của một giai cấp là sự nghiệp của giai cấp đại biểu cho một phương thức sản xuất tiên tiến, đại diện cho tiến bộ xã hội để xác lập một hình thái kinh tế - xã hội mới phủ định cho hình thái đã lỗi thời. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra: Giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử thế giới là lãnh đạo nhân dân lao động xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xóa bỏ chế độ người bóc lột người, giải phóng giai cấp, giải phóng con nguời, gii phóng nhân loại thoát khỏi ách áp bức, bóc lột, xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa trên toàn thế giới mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội.

Giai cấp công nhân là chủ thể của quá trình sản xuất vật chất, tạo ra tiền đề vật chất - kỹ thuật cho sự ra đời của xã hội mới.

Nội dung kinh tế là yếu tố sâu xa nhất khẳng định sự cần thiết sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đối với quá trình phát triển của văn minh nhân loại. Thực hiện đầy đủ và thành công nội dung kinh tế cũng là điều kiện vật chất để chủ nghĩa xã hội chiến thắng chủ nghĩa tư bản.

Giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản, tiến hành cách mạng chính trị lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa, xác lập, bảo vệ và phát triển chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa.

Thiết lập nhà nước pháp quyền của giai cấp công nhân và nhân dân lao động được xác lập và trở thành công cụ có hiệu lực để lãnh đạo chính tri, quản lý kinh tế và xã hội trong quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới. Đây là những vấn đề cơ bản của tiến trình thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân.

Thực hiện liên minh các giai cấp, tầng lớp, đoàn kết các dân tộc, xây dựng xã hội mới, con người mới... Thông qua đó, khẳng định vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản, quản lý của nhà nước và tính tự giác của nhân dân trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Xác lập hệ giá trị mới (lao động, công bằng, dân chủ, bình đẳng, tự do, tiến bộ và phát triển bền vững...) để thay thế cho hệ giá trị tư sản và những hệ tư tưởng cũ lạc hậu. Thực chất đó là một cuộc cách mạng về văn hóa, tư tưởng bao gồm cải tạo cái cũ, xây dựng cái mới trong sự kế thừa những tinh hoa của nhân loại, của thời đại và giá trị truyền thống của văn hóa dân tộc.

Xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa và con người được phát triển tự do, toàn diện trong xã hội dân chủ, công bằng, văn minh là những mục tiêu hàng đầu của cuộc cách mạng này.

Nắm vững vấn đề tôn giáo là cơ sở hoạch định chính sách tôn giáo


Mặc dù vẫn còn nhiều quan điểm trái chiều nhưng các nhà khoa học và nhà quản lý thống nhất một nhận định chung:

Tín ngưỡng là niềm tin và sự ngưỡng mộ của con người vào một hiện tượng, lực lượng, một điều gì đó và thông thường để chỉ niềm tin tôn giáo.

Tín ngưỡng là khái niệm dùng để chỉ những hiện tượng tôn giáo xuất hiện trong thời kỳ công xã thị tộc; bộ lạc; những hành vi cúng tế trong dân gian, sùng bái đa thần, không tuân theo một nghi thức nhất định (tùy theo từng vùng, từng phong tục địa phương có những nghi lễ khác nhau); không có giáo chủ/ người khai đạo, không có giáo lý, giáo luật và không có tín đồ, hoạc tín đồ không ổn định

 Tôn giáo thường được hiểu là một trong những hình thức của tín ngưỡng, tôn giáo bao gồm các yếu tố sau: Hệ thống giáo lý; giáo luật, lễ nghi; các chức sắc, tổ chức giáo hội; vật chất phục vụ cho các hoạt động tôn giáo và các tín đồ.

Tôn giáo là khái niệm dùng để chỉ các loại hình tôn giáo nhất thần/độc thần đã được thể chế hóa bằng các tổ chức gọi là giáo hội (giáo hội phật giáo, Công giáo…) được hình thành khi xã hội bắt đầu phân chia thành giai cấp; có giáo chủ/người khai đạo; có hệ thống giáo lý, giáo luật và nghi lễ chặt chẽ; có tín đồ trên sổ sách quản lý của giáo hội.

Đối lập với tín ngưỡng, tôn giáo, có một loại hình chúng ta cũng cần nhận biết: Mê tín dị đoan là hiện tượng xã hội tiêu cực đã xuất hiện từ lâu và còn tồn tại ở xã hội hiện đại. Trên thực tế mê tín dị đoan thường xen vào các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Xác định hiện tượng này chủ yếu dựa vào biểu hiện và hậu quả tiêu cực của nó.

  

Các dân tộc thiểu số cư trú trên địa bàn có giá trị chiến lược


Các dân tộc thiểu số chủ yếu cư trú ở miền núi, chiếm ¾ diện tích cả nước. Đây là khu vực có tiềm năng phát triển kinh tế to lớn mà trước hết là tiềm lực về tài nguyên rừng và đất rừng. Không những thế, miền núi còn có vai trò đặc biệt quan trọng về môi trường sinh thái đối với cả nước như điều hòa khí hậu, điều tiết nguồn nước, bảo vệ lớp đất màu trong mùa mưa lũ.

Vị trí chiến lược quan trọng của miền núi đã được thực tế lịch sử khẳng định. Từ xưa đến nay, các thế lực bên ngoài đều sử dụng địa bàn miền núi để xâm lược, xâm nhập, phá hoại sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân Việt Nam.

Rừng núi đã từng là căn cứ địa cách mạng trong kháng chiến chống Pháp, Nhật, Mỹ. Trong giai đoạn hiện nay, miền núi - biên giới là thành lũy vững chắc của Tổ quốc, là địa bàn chiến lược về quốc phòng - an ninh trong bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, chống âm mưu xâm nhập, gây bạo loạn, lật đổ, bảo vệ sự nghiệp hòa bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Ở vùng biên giới, một số dân tộc có quan hệ đồng tộc với dân tộc của các nước láng giềng, nên khách quan có nhu cầu thăm thân, mở rộng giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc ở hai bên biên giới. Bởi vậy chính sách dân tộc của Đảng nhà nước Việt Nam không chỉ vì lợi ích các dân tộc thiểu số mà còn vì lợi ích của cả nước, không chỉ còn là đối nội mà còn là đối ngoại, không chỉ vì kinh tế - xã hội, mà cả về chính trị, quốc phòng, anh ninh quốc gia. 

Các dân tộc ở Việt Nam cư trú phân tán, xen kẽ nhau làm cơ sở để giao lưu, học hỏi, giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau

 


Ở một số vùng nhất định có dân tộc cư trú tương đối tập trung. Song nhìn chung các dân tộc Việt Nam sống xen kẽ nhau, không có lãnh thổ riêng biệt như một số nước trên thế giới. Địa bàn cư trú của người Kinh chủ yếu ở đồng bằng, ven biển và trung du; còn các dân tộc ít người cư trú chủ yếu ở các vùng miền núi và vùng cao, một số dân tộc như Khơ me, Hoa, Chăm sống ở đồng bằng. Các dân tộc thiểu số có sự tập trung ở một số vùng, nhưng không cứ trú thành những khu vực riêng biệt mà xen kẽ với các dân tộc khác trong phạm vi của tỉnh, huyện, xã  và các bản, mường. Hiện nay, hầu như không có một đơn vị hành chính xã, huyện, tỉnh, nào ở vùng dân tộc thiểu số chỉ có một dân tộc cư trú. Nhiều tỉnh có tới trên 20 dân tộc cư trú như Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Lâm Đồng... Phần lớn các huyện có từ 5 dân tộc trở lên cư trú. Nhiều xã, bản, mường có tới 3 đến 4 dân tộc cùng sinh sống.

Việc cư trú đan xen giữa các dân tộc, tạo điều kiện để các dân tộc giao lưu phát triển kinh tế- xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, nhưng cũng rất dễ nảy sinh các vấn đề mất ngôn ngữ, văn hoá, phân hoá giàu nghèo, tranh chấp đất đai, tài nguyên, gia tăng các tệ nạn xã hội, tiềm ẩn xung đột dân tộc. Ngày nay, tình trạng cư trú xen kẽ của các dân tộc chủ yếu dẫn tới sự giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội giữa các dân tộc cũng như sự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau, càng có thêm điều kiện đoàn kết và hòa hợp giữa các dân tộc anh em.

Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về bình đẳng giới


 Ngay từ khi thành lập, Đảng ta đã chỉ rõ :Nam nữ bình quyền” là một trong 10 nhiệm vụ cốt yếu của ách mạng Việt Nam, dược ghi nhận trong cương lình chính trị của đảng năm 1930. Cương lĩnh chính trị của Đảng năm 1930 nêu rõ “giải phomngs phụ nữ phải gắn với giải phóng với dân tộc và giải phóng giai cấp. Hiến pháp 1946, Điều 9 “Đàn bà ngang quyền với dàn ông về mọi phương diện”. Nghị quyết 152- NQ/TW ngày 10/1/1967 về “Một số vấn đề tổ chức lãnh đạo công tác phụ vận”. Chỉ rõ “ Tư tưởng phong kiến đối với phụ nữ còn tồn tại khá sâu sắc trong một số cán bộ, dảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo. Thể hiện rõ nhất tư tưởng hẹp hòi “trọng nam, khinh nữ”, chưa tin vào khả năng quản lý kinh tế của phụ nữ, chưa thấy hết những khó khan trở ngại của phụ nữ…”. Chỉ thị 44-CT/TW ngày 7/6/1984 của Ban Bí thư về “Một số vấn đề cấp bách trong công tác cán bộ nữ”. Chỉ rõ “nhiều cấp ủy đảng và lãnh đạo các ngành buông lỏng việc chỉ đạo thực hienj các nghị quyết của Đảng về công tác daog tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ…; còn tư tưởng phong kiến, coi thường phụ nữ, đối xử thiếu công bằng với chị em”. Nghị quyết 04-NQ/TW ngày 12/7/1993 của Bộ Chính trị về “đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới”, mục tiêu nhằm phát huy mạnh mẽ vai trò của phụ nữ trong công cuộc đổi mới đất nước, tạo điều kiện cho phong trào phụ nữ có những bước tiến mới và tang số lượng, chất lượng cán bộ nữ trong hệ thống tổ chức Đảng, Nhà nước, ác doàn thể và các tổ chức kinh tế xã hội. Chỉ thị 37-CT/TW ngày 16/5/1994 của Ban Bí thứ trung ương Đảng về “một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới”. Chỉ rõ “Nâng cao tỷ lệ cán bộ nữ tham gia quản lý nhà nước, tham gia quản lý kính tế xã hội là yêu cầu quan trọng để thực hiện quyền bình đẳng, dân chủ của phụ nữ, là diều kiện để phát huy tài năng, trí tuệ và nâng cao địa vị xã hội của phụ nữ. Chống những biểu hiện lệch lạc, coi thường phụ nữ, khắt khe, hẹp hòi trong dánh giá, đề bạt cán bộ nữ.” Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH- HĐH đất nước (là nghị quyết ban hanhfsau 10 năm thực hiện chỉ thị 37). Mục tiêu: “Phán đấu dến năm 2020, phụ nữ được nâng cao trình độ về mọi mặt, có trình độ học vấn chuyên môn, nghiệp vụ dáp ứng yêu cầu CNH-HĐH và hội nhập quốc tế; có việc làm, dược cải thiện rõ rệt về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần; tham gia ngày càng nhiều hơn công việc xã hội, bình đẳng trên mọi lĩnh vực; dóng góp ngày càng lớn hơn cho xã hội và gia dình. Phấn dấu dề nước ta là một trong các quốc gia có thành tự bình đẳng giới tiến bộ nhất của khu vực”. Thông báo số 196-TB ngày 16/3/2015 về kết luận của Ban Bí thư về Đề án “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bình đẳng giaosi và sự tiến bộ của phụ nữ trong tình hình mới” tiếp tục thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước Việt nam về công tác phụ nữ và bình đẳng giới. Dề án thống qua việc triển khai một số giải pháp bảo đảm thực hienj bình đẳng giới, góp phần nâng cao vị thế của phụ nữ và giảm khoảng cách giới trong một số lĩnh vực, nhành vùng, dịa phương có bất bình dẳng giới hoặc có nguy cơ bất bình đẳnggiới cao. Văn kiện đại hội XII của Đảng: “Tiếp tục đổi mới, hoàn thienj chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình, chế độ thai sản, nghỉ dưỡng, khám, chữa bệnh, bình đẳng giới. Thực hiện tốt chiến lược dân só, gia đình, chương trình hành động trẻ em…, dầu tư nang cao chất lượng dân số, chỉ số phát triển con người, bảo đảm tổng tỷ suất sinh thay thế, giảm dần sự mất cân bằng tỷ lệ giới tính khi sinh…”. Hội nghị TW6 khóa XII, dã thong qua nghị quyết 20NQ-TW về tang cườn công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới. Và Nghị quyết số 21- NQ/TW về công tác dân số trong tình hình mới, trong dó có những quan điểm chỉ đạo và mục tiêu cụ thể đẻ đạt dược cacsmucj tiêu liên quan đến bình đẳng giới. 

Phương pháp tiếp cận vấn đề thời đại hiện nay

 


Từ góc độ chính trị- xã hội, Chỉ rõ: Nền tảng vật chất của chế độ CTXH; Chỉ rõ: Bản chất của chế độ CTXH; Chỉ rõ: Bộ mặt của chế độ CTXH; Chỉ rõ: Quy luật vận động, phát triển của chế độ CTXH. Muốn làm rõ các vấn đề trên phải đi từ HTKTXH và giai cấp trung tâm của thời đại. Trong lịch sử đã có nhiều nhà tư tưởng bàn đến vấn đề thời đại. Tuy nhiên, do cách tiếp cận khác nhau, việc phân chia thời đại dựa vào các tiêu chí khác nhau dẫn đến quan điểm về thời đại cũng khác nhau. Nhà xã hội học Vicô người Italia (1668-1744) phân chia thời đại như phân chia các giai đoạn của một vòng đời: Thơ ấu, thanh niên, thành niên và cuối cùng là tuổi già. Heghen phân chia lịch sử nhân loại thành 3 thời kỳ: Thời kỳ phương Đông, cổ đại, giecmani. Phurie chia lịch sử nhân loại thành 4 giai đoạn: Mông muội, dã man, gia trưởng, văn minh. Moocgăng Người Mỹ lại chia thành 3 thời đại: Thời đại Mông muội, dã man, văn minh. Lấy công cụ sản xuất làm tiêu chí phân chia lịch sử thành các thời kỳ: đồ đá, đồ đồng, thời đại cối xay gió, thời đại máy hơi nước, kỷ nguyên hạt nhân. Tiếp cận thời đại theo nền văn minh Anvin Toffler trong tác phẩm “làn sóng thứ ba” đã chia lịch sử nhân loại thành 3 nền văn minh: nông nghiệp, công nghiệp và hậu công nghiệp. Tiếp cận theo dân tộc,  quốc gia -  dân tộc. Đây là cách tiếp cận lấy lợi ích quốc gia dân tộc làm bản vị. Cách tiếp cận này đã căn cứ vào sự đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia dân tộc đang diễn ra phổ biến trên thế giới hiện nay để khẳng định: thời đại ngày nay là thời đại của lợi ích quốc gia dân tộc. Tiếp cận thời đại theo hình thái kinh tế - xã hội là phương pháp tiếp cận của chủ nghĩa Mác - Lênin. Lý luận hình thái kinh tế - xã hội đã vạch ra cơ sở khách quan khoa học để xem xét phân chia thời đại, đó là: “Trong mọi thời đại lịch sử, sản xuất kinh tế và cơ cấu xã hội - cơ cấu này tất yếu phải do sản xuất kinh tế mà ra, - cả hai cái đó cấu thành cơ sở lịch sử chính trị và lịch sử tư tưởng của thời đại ấy”[1].  Lý luận hình thái kinh tế - xã hội đã đưa ra tiêu chí tổng hợp để xem xét thời đại gồm: LLSX, QHSX, CSHT và KTTT, tức toàn bộ các yếu tố cấu thành nội dung của thời đại từ kinh tế, chính trị, xã hội đến văn hóa, khoa học - kỹ thuật. Hơn nữa, lý luận hình thái kinh tế - xã hội còn chỉ rõ đối với xã hội có giai cấp, giai cấp nào là giai cấp đứng ở vị trí trung tâm của một thời đại, là động lực xã hội chủ yếu chi phối sự vận động của thời đại đó. Với cách tiếp cận trên, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phân kỳ lịch sử xã hội loài người đến thế kỷ XIX thành 4 hình thái kinh tế - xã hội là: cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và rút ra kết luận hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa tất yếu sẽ ra đời, nhân loại sẽ bước sang thời đại mới - thời đại cộng sản chủ nghĩa.Phương pháp tiếp cận vấn đề thời đại theo hình thái kinh tế - xã hội là cách tiếp cận khoa học, vì nó xuất phát từ những cơ sở vật chất khách quan. Song cần lưu ý thời đại và hình thái kinh tế - xã hội là 2 khái niệm khác nhau, chúng có quan hệ chặt chẽ, nhưng không đồng nhất. Đó là: hình thái kinh tế - xã hội là nội dung cấu thành thời đại; còn thời đại là thời kỳ hình thành, phát triển và bắt đầu ngự trị của một hình thái kinh tế - xã hội tiến bộ nhất trong khi vẫn còn sự tồn tại của các hình thái kinh tế - xã hội thấp hơn. Hình thái kinh tế - xã hội tiến bộ nhất chính là đặc trưng cho tính chất và xu hướng phát triển của một thời đại. Đảng ta thống nhất với quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về phương pháp tiếp cận thời đại theo hình thái kinh tế - xã hội, bởi đó là cách tiếp cận khoa học để hiểu thực chất thời đại trên các mặt cơ bản của đời sống xã hội. Tuy nhiên Đảng ta không tuyệt đối hóa phương pháp tiếp cận thời đại của chủ nghĩa Mác - Lênin, mà có sự kế thừa, tiếp thu những yếu tố hợp lý từ các cách tiếp cận khác để nhận thức đầy đủ hơn, toàn diện hơn vấn đề thời đại nói chung, thời đại ngày nay nói riêng.



[1] C .Mác và Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 21, tr.11.

Tiêu chí cơ bản nhận diện giai cấp công nhân hiện nay

 


Từ cách tiếp cận giai cấp công nhân ở góc độ kinh tế - xã hội và chính trị - xã hội, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin: Giai cấp công nhân là sản phẩm và là chủ thể của quá trình công nghiệp hóa. Họ gắn liền với quá trình sản xuất vật chất hiện đại, là đại biểu cho phương thức sản xuất mang tính xã hội hóa ngày càng cao. Trong chủ nghĩa tư bản, họ là người làm thuê do không có tư liệu sản xuất, buộc phải bán sức lao động để sống và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư. Đó là giai cấp có sứ mệnh phủ định chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới.

 Giai cấp công nhân là sản phẩm và là chủ thể của quá trình công nghiệp hóa

C.Mác và Ph.Ăngghen dùng nhiều thuật ngữ khác nhau để nói về giai cấp công nhân như­: Giai cấp vô sản, giai cấp công nhân hiện đại, giai cấp công nhân đại công nghiệp... Mỗi khái niệm mà các ông dùng nhằm nhấn mạnh một đặc trưng của giai cấp công nhân, song về mặt nội hàm thì đó là những từ đồng nghĩa.

C.Mác và Ph.Ăngghen còn dùng những thuật ngữ có nội dung hẹp hơn để chỉ các loại công nhân trong các ngành khác nhau, trong những giai đoạn phát triển khác nhau của công nghiệp: Công nhân công x­ưởng, công nhân khai khoáng, công nhân luyện kim, công nhân cơ khí.

Từ thực tế của cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (từ giữa thế kỷ XVIII) và theo quan niệm duy vật lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen nhận thấy, giai cấp vô sản là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp và là chủ thể của quá trình sản xuất vật chất: “Giai cấp vô sản là do cuộc cách mạng công nghiệp sản sinh ra; cuộc cách mạng này xảy ra ở Anh vào nửa sau của thế kỷ trước, và sau đó tái diễn ở tất cả các nước văn minh trên thế giới. Sở dĩ có cuộc cách mạng đó, là do có sự phát minh ra máy hơi nước, các thứ máy kéo sợi, máy dệt và hàng loạt những thiết bị máy móc khác”[1].

Giai cấp công nhân là đại biểu cho phương thức sản xuất mang tính xã hội hóa ngày càng cao - phương thức lao động công nghiệp.

Đây là tiêu chí thứ nhất để phân biệt giai cấp công nhân với các giai cấp, tầng lớp lao động khác bởi phương thức lao động công nghiệp của họ. Phương thức này có những đặc điểm sau: sản xuất bằng máy móc ngày càng hiện đại, lao động có tính chất xã hội hóa, năng suất lao động cao và tạo ra những tiền đề cho xã hội mới.

Trong đó, lực lượng công nhân hiện đại gắn với nền đại công nghiệp là bộ phận cơ bản và là hạt nhân của giai cấp công nhân và ngày càng phát triển. Quan điểm này được C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định: “Tất cả các giai cấp khác đều suy tàn và tiêu vong cùng với sự phát triển của đại công nghiệp, còn giai cấp vô sản lại là sản phẩm của bản thân nền đại công nghiệp”[2].

Từ lịch sử phát triển của chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân còn là sản phẩm xã hội của quá trình phát triển tư bản chủ nghĩa, một xã hội có điều kiện tồn tại dựa trên cơ sở chế độ làm thuê.

Trong chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân không có tư liệu sản xuất, buộc phải bán sức lao động để sống và bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư.

Đây là tiêu chí thứ hai để xác định giai cấp công nhân: dựa vào tiêu chí xét về vị trí trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa. Bởi vì, giai cấp công nhân là sản phẩm xã hội của quá trình phát triển tư bản chủ nghĩa, một xã hội có “điều kiện tồn tại dựa trên cơ sở chế độ làm thuê”. Giai cấp vô sản là giai cấp những công nhân làm thuê hiện đại, vì mất các tư liệu sản xuất của bản thân, nên buộc phải bán sức lao động của mình để sống. Đây là thuộc tính nói lên một trong những đặc trưng cơ bản của giai cấp công nhân dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, khiến cho những người công nhân trở thành giai cấp đối kháng trực tiếp với giai cấp tư sản. C.Mác chỉ ra: “Những công nhân ấy buộc phải tự bán mình kiếm ăn từng bữa một, là một hàng hóa, tức là một món hàng đem bán như bất cứ một món hàng nào khác, vì thế họ phải chịu hết mọi sự may rủi của cạnh tranh, mọi sự lên xuống của thị trường”.

Khái niệm giai cấp công nhân là khái niệm mang tính lịch sử, luôn vận động và phát triển cùng với sự vận động và phát triển của giai cấp công nhân. Đặc biệt trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay, khái niệm giai cấp công nhân có sự biến đổi theo xu thế phát triển chung của thời đại. Tuy nhiên, nội dung cơ bản và xuất phát của chủ nghĩa Mác - Lênin về điều kiện ra đời, phát triển của giai cấp công nhân đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Dựa vào phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, các nhà khoa học ở Việt Nam đã nêu ra nhiều định nghĩa về giai cấp công nhân.

Hội đồng lý luận Trung ương đã định nghĩa về giai cấp công nhân: Giai cấp công nhân là giai cấp những người lao động sản xuất trực tiếp hoặc gián tiếp trong các ngành công nghiệp, thuộc các trình độ kỹ thuật khác nhau; địa vị kinh tế - xã hội tùy thuộc vào chế độ xã hội đương thời. Ở các nước tư bản, họ là những người không có hoặc cơ bản không có tư liệu sản xuất phải làm thuê cho giai cấp tư sản, bị giai cấp tư sản bóc lột giá trị thặng dư. Ở các nước xã hội chủ nghĩa họ là những người cùng với nhân dân lao động làm chủ tư liệu sản xuất chủ yếu và cùng nhau hợp tác lao động cho mình.

Định nghĩa trên thể hai thuộc tính cơ bản: Về phương thức lao động, giai cấp công nhân là những người lao động trực tiếp hay gián tiếp trong các lĩnh vực công nghiệp hoặc có tính chất công nghiệp ngày càng xã hội hóa cao. Về quan hệ sản xuất, ở hai chế độ xã hội (Tư bản chủ nghĩa và XHCN) thì vị trí quan hệ sản xuất khác nhau... Hai thuộc tính trên nói lên điều gì? Đó là địa vị chính trị của giai cấp công nhân trong hai chế độ (tư bản chủ nghĩa và XHCN) có sự khác nhau và đối lập nhau.

 

 

 



[1] C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2002, t.4, tr.457.

[2] C.Mác & Ph.Ăngghen toàn tập, tập 4, Nxb CTQG, H.1995, tr.605.

Vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc tín đồ sống “tốt đời đẹp đạo”, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

 


 Đây là giải pháp cơ bản quan trọng nhất, thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng là thực hiện công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng. Thực hiện tốt giải pháp này sẽ làm cơ sở để thực hiện các giải pháp còn lại, bởi lẽ, khi đã làm tốt công tác giáo dục tuyên truyền, vận động thì đồng bào mới tin và đi theo cách mạng, mới phát huy hết khả năng của mình để cống hiến cho xã hội, cho cách mạng, để thực hiện tốt giải pháp này cần thực hiện tốt các biện pháp cơ bản sau:

 Phải đa dạng hóa các hình thức vận động để phù hơp với từng đối tượng; trước hết thực hiện tốt việc vận động các chức sắc, chức việc, các tín đồ có uy tín; sau đó là việc vận động các tín đồ tôn giáo yêu nước; đồng thời giáo dục, động viên những tín đồ lẫm lỡ quay về với cách mạng. Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức công tác vận động quần chúng, tín đồ các tôn giáo; biết vận dụng khai thác các điểm tốt trong các giáo lý, đạo đức tôn giáo; chỉ rõ âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch để đồng bào các tôn giáo nhận diện và đấu tranh.

Căn cứ vào đặc điểm của mỗi tôn giáo, tình hình cụ thể của mỗi địa phương, nhất là những nơi có đông đồng bào tôn giáo để có hình thức, biện pháp vận động, tuyên truyền. Thực hiện tốt phương châm: kiên trì, khéo léo, tế nhị, tự tin trong tuyên truyền vận động quần chúng tín đồ, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, thành phần thích hợp trong tiến hành công tác vận động quần chúng, tranh thủ tối đa sự ủng hộ giúp đỡ của các chức sắc, nhà tu hành trong tuyên truyền vận động tín đồ các tôn giáo. Vì vậy, phải có cơ chế, phương thức phối hợp và kế hoạch cụ thể trong công tác vận động quần chúng.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác vận động các chức sắc và tín đồ tôn giáo vẫn giữ nguyên giá trị. Vì vậy, chúng ta cần nghiên cứu, học tập và vận dụng điều kiện mới. Phương pháp vận động quần chúng theo tư tưởng Hồ Chí Minh phải đạt được ba yêu cầu: “hợp thời, hợp lòng dân và chu đáo”[1] Muốn làm tốt công tác vận động các chức sắc và đồng bào tín đồ tôn giáo trong điều kiện hiện nay, theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta cần làm tốt các biện pháp sau:

Đối với các chức sắc, chức việc tôn giáo: chúng ta luôn chủ động, tranh thủ, tiếp cận, thuyết phục giác ngộ họ, kéo họ về với sự nghiệp chung của toàn dân tộc. Sự giác ngộ về lợi ích quốc gia dân tộc của các chức sắc tôn giáo có ý nghĩa rất quan trọng trong việc tập hợp tín đồ trong mái nhà chung của mặt trận Tổ quốc Việt Nam, vì tiếng nói của họ có sức mạnh to lớn đối với các tín đồ tôn giáo. Vì vậy Hội đồng giáo dục quốc phòng và an ninh Trung ương cần trú trọng bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho đối tượng là các chức sắc, chức việc của các tôn giáo, để qua họ tác động đến đông đảo tín đồ nâng cao nhận thức, hành động vì sự nghiệp củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh của đất nước.

Đối với đồng bào tín đồ tôn giáo: chúng ta cần tuyên truyền, giải thích cho đồng bào hiểu rõ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Muốn làm cho đồng bào tin thì cán bộ tuyên truyền nói phải đi đôi với làm, chính sách phải đem lại kết quả thiết thực. Chúng ta cần học tập các cha cố truyeèn đạo về tính kiên nhẫn, bền bỉ, không nóng vội. Điều quan trọng là không được mắc sai lầm dẫn đến mất lòng tin của đồng bào và để kẻ thù lợi dụng bôi xấu cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ rằng: “Lực lượng của chúng (của kẻ thù) gồm có: một là, lực lượng của bản thân chúng; hai là: khuyết điểm của cán bộ ta. Những khuyết điểm mà cán bộ ta phạm phải là đồng minh đắc lực của địch”[2]. Để nâng cao hiệu quả vận động quần chúng tín đồ, đòi hỏi chúng ta khi tuyên truyền phải khéo léo, tinh tế, biết kết hợp giữa giá trị các tôn giáo với giá trị của cách mạng trong tuyên truyền, giáo dục; đồng thời cần làm cho đồng bào nhận rõ âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, nham hiểm của địch lợi dụng tôn giáo, làm phương hại đến sự đoàn kết dân tộc và đời sống đồng bào, để đồng bào tín đồ đứng lên đấu tranh vạch mặt kẻ địch.

 Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, bảo đảm các quyền và nghĩa vụ của công dân theo đúng quy định của Hiến pháp, pháp luật; luôn đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức vận động đồng bào tín đồ phù hợp với đặc điểm sinh hoạt của từng tôn giáo cụ thể. Tổ chức tốt các phong trào thi đua yêu nước, xây dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo”. Phát huy tinh thần của đồng bào có đạo trong tự giác, phối hợp đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo cùng với lợi dụng các vấn đề dân tộc, dân chủ, nhân quyền chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần giữ gìn, củng cố an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.



[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 8. Nxb CTQG, H. 1996, tr 77

[2] Hồ Chí Minh: Sđd, tr.77

Các dân tộc Việt Nam rất đoàn kết trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước.

 


Hiện nay nước ta có 54 thành phần dân tộc, dân tộc Kinh và 53 dân tộc thiểu số, dân tộc kinh là dân tộc đa số. Tính đến 01/4/2019, dân tộc Kinh chiếm 85,3% dân số; 53 dân tộc thiểu số chiếm 14,7% dân số cả nước. Trong số 54 dân tộc, có những dân tộc vốn sinh ra và phát triển trên mảnh đất Việt Nam ngay từ thủa ban đầu, có những dân tộc từ nơi khác di cư đến rồi định cư trên lãnh thổ Việt Nam. Dân tộc tại chỗ như dân tộc Việt (còn gọi là dân tộc Kinh ngày nay); dân tộc Việt - Mường (còn gọi là dân tộc Mường ngày nay). Di cư từ Trung Quốc như dân tộc Thái, Hoa, Cao Lan, HMông, Sán Chỉ, Giáy v.v..., dân tộc HMông, Cao Lan, Sán chỉ và Giáy di cư đến Việt Nam khoảng 300 năm trước. Di cư  từ Lào có dân tộc Chăm. Di cư từ Camphuchia có dân tộc Kheme v.v... Thời kỳ hội nhập có một số dân tộc từ các nước khác như: Triều Tiên, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ấn Độ, Châu Âu, Châu Mỹ sang làm việc, sinh sống tại Việt Nam…

Các dân tộc ở Việt Nam rất đoàn kết. Đoàn kết đã trở thành truyền thống, thành sức mạnh và là nền móng để xây dựng một quốc gia dân tộc bền vững xuyên suốt mọi thời kỳ lịch sử của dân tộc Việt nam.

Trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, nhiều dân tộc có chung cội nguồn. Nói về nguồn gốc dân tộc Việt Nam đã có nhiều truyền thuyết như truyện: Quả bầu mẹ giải thích các dân tộc có chung nguồn gốc; truyện: Đôi chim đẻ ra hàng trăm, hàng ngàn trứng nở ra người Kinh, người Mường, người Thái, người Khơ-mú...; truyện của dân tộc Ba-na, Ê-đê kể rằng người Kinh, người Thượng là anh em một nhà; đặc biệt là truyện Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ đẻ ra một bọc trăm trứng nở ra trăm người con, một nửa theo cha xuống biển trở thành người Kinh, một nửa theo mẹ lên núi thành các dân tộc thiểu số. Vua Hùng được coi là Tổ tiên chung của cả nước.

Các dân tộc có cùng nguồn gốc lịch sử, có nhiều điểm đương đồng là điều kiện thuận lợi dễ gần gũi, gắn bó với nhau. Song dù cùng hoặc không cùng một nguồn gốc sinh ra, có sự khác nhau về tâm lý, phong tục, tập quán... thì đều là người trong một nước, con trong một nhà, vận mệnh gắn chặt với nhau, các dân tộc trên đất nước Việt nam luôn kề vai, sát cánh bên nhau, thương yêu, đùm bọc lẫn nhau.Các dân tộc ở Việt Nam đoàn kết bởi hai lý do: Thứ nhất, do phải đoàn kết để chế ngự tự nhiên và chống giặc ngoại xâm. Việt Nam ở khu vực địa lý có nhiều thuận lợi, song điều kiện tự nhiên cũng rất khắc nghiệt. Do nắng lắm, mưa nhiều nên hàng năm thường bị hạn hán, lũ lụt. Do yêu cầu tồn tại và phát triển ở một nước nông nghiệp, trồng lúa nước là chính, cư dân ở Việt Nam phải liên kết nhau lại, hợp sức để khai phá đất hoang, chống thú dữ, xây dựng các hệ thống thủy lợi, đê, đập, nhằm đảm bảo phát triển sản xuất. Trải qua nhiều thế kỷ dựng nước và giữ nước, sự gắn bó, giúp đỡ nhau trong lao động sản xuất của đồng bào các dân tộc đã được coi như một tiêu chuẩn đạo đức.

Cùng với lịch sử trinh phục thiên nhiên, nhân dân Việt Nam còn có lịch sử chống giặc ngoại xâm vô cùng oanh liệt. Do Việt nam ở vào nơi thuận tiện trên trục đường giao thông Bắc - Nam, Đông - Tây của thế giới, có tài nguyên, thiên nhiên phong phú và vị trí địa lý - chính trị có tính chiến lược. Cho nên các thế lực bành trướng, xâm lược luôn nhòm ngó và tìm cách thôn tính Việt Nam. Đặc điểm nổi bật của lịch sử Việt nam là lịch sử chống giặc ngoại xâm liên tục và nhiều lần, trong đó có nhiều cuộc đấu tranh chống lại những thế lực hùng mạnh, giàu có và hung bạo nhất thế giới. Chính vì vậy mà cộng đồng các dân tộc Việt Nam luôn sát cánh bên nhau, liên tục đứng lên chống giặc ngoại xâm, đánh thắng quân xâm lược. Thứ hai, dân tộc Việt Nam có lòng yêu nước nồng nàn và lòng nhân ái, vị tha cao cả. Lòng yêu nước Việt nam đã được hun đúc từ bao thế hệ phát triển thành chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Với chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, càng khó khăn gian khổ, càng hiểm nguy thì người dân Việt Nam càng thương yêu nhau hơn, càng quyết tâm hơn, càng đồng lòng hơn để vượt qua. Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đã là cơ sở, động lực rất quan trọng để mọi con dân đất Việt đoàn kết, yêu thương, tương trợ giúp đỡ lẫn nhan. Cùng với đó Người dân Việt nam luôn có tấm lòng nhân ái vị tha cao cả. Lòng nhân ái của người Việt Nam không chỉ trong nội tộc mà còn đối với cả thế giới. Đoàn kết trong lao động và đấu tranh là truyền thống nổi bật nhất của các dân tộc Việt Nam được hun đúc qua mấy ngàn năm lịch sử. Trong sự nghiệp cách mạng do Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, truyền thống đoàn kết dân tộc được phát huy cao độ, là một trong những nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Những thành tựu đạt được trong quá trình đổi mới rất to lớn và đáng tự hào cho thấy khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam đã được nâng lên tầm cao và chiều sâu mới, là động lực to lớn thúc đẩy sự phát triển của đất nước, làm cho thế và lực của cách mạng Việt Nam ngày càng được tăng cường.

Tuy nhiên bên cạnh mặt đoàn kết là cơ bản, có nơi, có lúc vẫn xẩy ra những va chạm trong quan hệ dân tộc, còn có những biểu hiện mặc cảm, thành kiến dân tộc. Chính vì thế ở một số nơi, các lực lượng thù địch đã lợi dụng để kích động chia rẽ dân tộc. Do đó việc tăng cường đoàn kết, nâng cao cảnh giác, kịp thời đập tan mọi âm mưu và hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nhiệm vụ của mỗi người dân Việt Nam.

 

Nắm vứng vấn đề dân tộc và giải quyết vấn đề dân tộc dưới chủ nghĩa xã hội làm cơ sở để thực hiện tốt công tác dân tộc trong tình hình hiện nay


          Hiện nay, khái niệm dân tộc được hiểu theo hai nghĩa phổ biến nhất, thứ nhất khái niệm dân tộc theo nghĩa quốc gia dân tộc, là một cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, có lãnh thổ quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước.

Dân tộc hay quốc gia - dân tộc là cộng đồng chính trị xã hội được hình thành ổn định và lâu dài trong lịch sử, chịu sự chỉ đạo bởi một nhà nước trong một quốc gia như: dân tộc Việt Nam, dân tộc Trung Hoa, dân tộc Anh, dân tộc Đức…Trải qua quá trình lịch sử lâu dài, các cộng đồng tộc người cùng sống trên một địa bàn lãnh thổ, do nhu cầu tồn tại và phát triển, có mối quan hệ với nhau đã đi tới thành lập các quốc gia - dân tộc, bao gồm: địa bàn sinh sống của một hay nhiều tộc người. Ở phương Tây, quá trình này gắn liền với sự ra đời của chủ nghĩa tư bản và sự hướng tới thành lập các quốc gia - dân tộc độc lập. Dân tộc hiểu theo nghĩa quốc gia gồm những đặc trưng chủ yếu sau:

           Chịu sự quản lý của một nhà nước; nhà nước - dân tộc đó phải là một nhà nước độc lập;

 Có lãnh thổ chung ổn định, là địa bàn cư trú của cộng đồng dân tộc. Vận mệnh dân tộc - một phần rất quan trọng gắn với việc xác lập và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ;

 Có chung phương thức sinh hoạt kinh tế, là liên kết tự nhiên, chặt chẽ, bền vững của cộng đồng dân tộc;

 Có ngôn ngữ chung, làm công cụ giao tiếp trên mọi lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, tình cảm…;

 Có chung một nền văn hóa, thể hiện qua tâm lý, tính cách phong tục, tập quán…tạo nên bản sắc riêng của cộng đồng dân tộc. Thứ hai, khái niệm dân tộc - tộc người: Là một cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có chung sinh hoạt kinh tế, có ngôn ngữ riêng, văn hóa có những đặc thù; xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc; kế thừa phát triển cao hơn những nhân tố tộc người ở bộ lạc, bộ tộc và thể hiện thành ý thức tự giác tộc người của dân cư cộng đồng đó.

          Nâng cao nhận thức về khái niệm dân tộc nêu trên có ý nghĩa rất quan trọng trong việc hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc. Nắm vững những đặc trưng của dân tộc để tránh những hạn chế của việc ra chính sách trung tính, chính sách chung chung, không có con người, vùng miền cụ thể. Chính sách phù hợp sẽ góp phần củng cố, tăng cường sự thống nhất quốc gia trên nền tảng kinh tế, thúc đảy sản xuất hàng hóa phát triển, mở rộng giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các vùng; củng cố và xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Đồng thời nắm vững đặc điểm dân tộc để ban hành những chính sách phù hợp, mang tính đặc thù cho từng dân tộc, tạo điều kiện cho từng dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số, phát triển gắn với sự phát triển chung của cả cộng đồng.

Theo đó, vấn đề dân tộc là: Đó là những mâu thuẫn xung đột trong thực hiện các quyền cơ bản như quyền tự quyết đường lối chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội… của các tộc người trong quốc gia hoặc giữa các quốc gia với nhau. Ví dụ trình độ phát triển không đồng đều giữa DTTS và người Kinh ở Việt Nam và một số nước trên thế giới hoặc sự can thiệp của Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch với một số nước ở Châu Mỹ la tinh… Giải quyết vấn đề dân tộc dưới CNXH: Thực hiện bình đẳng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội trong quốc gia hoặc thực hiện hòa bình hợp tác, phát triển giữa các quốc gia dân tộc trên thế giới để không có mâu thuẫn, xung đột dân tộc. Đây cũng chính là xu hướng của các nước trên thế giới hiện nay, luôn coi trọng, đề cao vấn đề bình ổn trong nội tộc để làm cơ sở vững chắc cho quá trình hội nhập 

Tư tưởng cốt lõi về bình đẳng giới của Chủ tịch Hồ Chí Minh


Thứ nhất, phụ nữ là một nửa xã hội, muốn xây dựng CNXH phải giải phóng phụ nữ. Đây là quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về bình đẳng giới. Bác nói “Non song gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà them tốt đẹp, rực rỡ”. Có thể nói, Người có những luận điểm thể hiện tầm nhìn chiến lược khi đặt vấn đề giải phóng phụ nữ, thực hiện quyền bình đẳng nam nữ trong tương quan phát triển của xã hội mới, của chủ nghĩa xã hội “Nói phụ nữ là nói phần nửa của xã hội. Nếu không giải phóng phụ nữ thì không giải phóng một nửa loài người. Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng CNXH chỉ một nửa”. Thứ hai, giải phóng phụ nữ, thực hiện nam nữ bình quyền là nhiệm vụ của Đảng, Nhà nước và bản than chị em phụ nữ. Người nhận định: Đối với Đảng, Nhà nước. Các cấp ủy đảng và chính quyền “ phải có phương pháp đào tạo và giúp đỡ để nâng cao hơn nữa địa vị của phụ nữ”. Người còn nói, nếu cán bộ lãnh đạo là nữ mà ít, đấy là một thiếu sót của Đảng. Nguyên nhân của tình trạng phụ nữ ít được tham gia lãnh dạo, quản lý, theo Người là vì “ Nhiều người còn đánh giá không đúng khả năng của phụ nữ, hay thành kiến, hẹp hòi. Như vậy là rất sai”. Người khẳng định giải phóng phụ nữ phải bằng pháp luật, chính sách, biện pháp cụ thể “ Từ nay các cấp Đảng, chính quyền địa phương khi giao công tác cho phụ nữ, phải căn cứ vào trình độ của từng người và cần phải tích cực giúp đỡ để ngày them nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân của phụ nữ thì phải có gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thực sự cho phụ nữ”. Đối với chị em phụ nữ “Phải nâng cao tinh thần làm chủ, cố gắng học tập và phấn đấu; phải xóa bỏ tư tưởng bảo thủ, tự ti; phải phát triển chí khí tự cường, tự lập”. 

Nhận thức đúng về thời đại làm cơ sở đấu tranh với những quan điểm sai trái, thù địch

 


Thời đại là một khái niệm khoa học dùng để phân kỳ lịch sử xã hội, phân biệt những nấc thang phát triển của xã hội loài người.[1] Thời đại, được tiếp cận ở đây là từ góc độ triết học - chính trị - xã hội, nghĩa là đi từ điểm xuất phát con người làm nên lịch sử và tổ chức nên đời sống xã hội của mình; lịch sử nhân loại là một quá trình phát triển hết sức lâu dài, quanh co, phức tạp bắt đầu từ mông muội, dã man tới văn minh, hiện đại như ngày nay. Bằng tư duy lý luận, con người có thể nhận thức được quá trình lịch sử của mình. Để làm rõ sự khác nhau của những nấc thang xã hội, cần chỉ rõ: Nền tảng vật chất, bản chất, bộ mặt và quy luật vận động phát triển của chế độ chính trị - xã hội. Thời đại, thực chất là sự phân kỳ, chia các nấc thang lịch sử xã hội loài người. Theo V.I. Lênin, thời đại còn là thời kỳ, giai đoạn lịch sử; từ đó có thể tiến hành phân chia thời đại lớn thành các thời đại nhỏ, thành các thời kỳ, giai đoạn cụ thể trong đó. Chẳng hạn, có thể phân chia thời đại tư bản chủ nghĩa thành các giai đoạn: tư bản tự do cạnh tranh, tư bản độc quyền và tư bản hiện đại ngày nay.Cơ sở phân chia thời đại: từ HTKT- XH và giai cấp trung tâm trong xã hội. Mác viết : “ chúng ta không thể xét một thời đại cách mạng căn cứ theo ý thức của chính bản thân thời đại đó được. Trái lại phải giải thích ý thức đó bằng mâu thuẫn của đời sống vật chất, bằng sự xung đột giữa những điều kiện sản xuất và những điều kiện của năng xuất... Về đại thể, có thể coi phương thức sản xuất á châu, cổ đại, phong kiến và tư sản hiện đại là những thời đại ngày càng tiến lên trong lịch sử các hình thái kinh kế của xã hội”[2]. Sự phân chia lịch sử thành các thời đại khác nhau, không phải một cách chủ quan, tùy tiện theo ý muốn của con người mà là dựa trên những dấu hiệu, những đặc điểm bản chất của nó, nghĩa là phải dựa trên những tiêu chuẩn (tiêu chí) khách quan, khoa học để phân chia. Qua đó có thể phân biệt được sự khác nhau về chất của các thời đại, các nấc thang lịch sử khác nhau.

V.I. Lênin đã từng chỉ rõ và nhấn mạnh rằng chỉ trên cơ sở hiểu đúng thời đại, “chúng ta mới có thể định ra đúng đắn sách lược của chúng ta; và chỉ có dựa trên cơ sở hiểu biết những đặc điểm cơ bản của một thời đại, chúng ta mới có thể tính đến những đặc điểm chi tiết của nước này hay nước nọ”[3]         

Như vậy, theo V.I. Lênin, việc nhận thức đúng thời đại mang ý nghĩa trọng đại ở tầm chiến lược đối với con người, nhất là đối với những người cách mạng, bởi lẽ:

Thứ nhất, hiểu đúng thời đại, tức là nắm bắt được bản chất, quy luật, xu hướng vận động phát triển tất yếu của thời đại - đó là cơ sở khoa học, là điều kiện tiên quyết để những người cách mạng định ra đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn trong cuộc đấu tranh nhằm xóa bỏ trật tự xã hội cũ lỗi thời lạc hậu, xây dựng một xã hội mới tiến bộ hơn.

Thứ hai, hiểu đúng thời đại, nắm bắt được quy luật chung, đặc điểm chung, cơ bản của thời đại còn là cơ sở để những người cách mạng tiến hành vận dụng sáng tạo quy luật chung vào đặc thù của một nước cụ thể, tức là “cá biệt hóa” cái chung vào cái riêng phù hợp với “những đặc điểm chi tiết” của từng nước, tránh được sự giáo điều kinh viện.

Bởi lẽ, lịch sử của nhân loại đã khẳng định không thể có mô hình phát triển chung cho mọi quốc gia dân tộc, vì sự phát triển của mỗi nước, ngoài bị chi phối bởi quy luật chung, còn chịu sự quy định của các quy luật đặc thù và đặc điểm truyền thống văn hóa riêng của từng quốc gia dân tộc cụ thể.

Qua đây cho thấy “Sự nhận thức sai lệch về thời đại chắc chắn đưa lại những tổn thất cho sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho sự nghiệp giải phóng của các dân tộc và sự nghiệp giải phóng con người”[4].

Thực tiễn trên bình diện quốc tế hiện nay đã và đang đặt ra rất nhiều vấn đề bức thiết, có liên quan trực tiếp đến sự cần thiết phải nhận thức thời đại ngày nay, nổi lên là 3 vấn đề lớn sau đây:

Một là, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa xã hội đang tạm thời lâm vào thoái trào, trong khi đó chủ nghĩa tư bản vẫn còn khả năng điều chỉnh, thích nghi để phát triển. Chủ nghĩa xã hội không còn tồn tại với tư cách là một hệ thống thế giới như trước đây mà chỉ còn lại một số nước như Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba...

Trước thực tế này, đã có không ít người, thậm chí có cả người cách mạng cũng tỏ ra hoang mang, dao động, dẫn đến từ bỏ mục tiêu lý tưởng; còn kẻ thù của chủ nghĩa xã hội thì lớn tiếng cho rằng thời đại ngày nay vẫn là thời đại của chủ nghĩa tư bản!

Hai là, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đã và đang đưa loài người bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên của sự phát triển xã hội dựa trên cơ sở nền kinh tế tri thức

Từ sự biến đổi này, đã xuất hiện quan điểm cho thời đại ngày nay không phải là thời đại của chủ nghĩa tư bản và cũng không phải là thời đại của chủ nghĩa xã hội, mà là thời đại “hậu công nghiệp”, thời đại “văn minh tin học”, “văn minh trí tuệ”...

Ba là, vấn đề giai cấp và dân tộc, nhất là lợi ích quốc gia dân tộc đang nổi lên và diễn ra hết sức phức tạp. Các nước đã và đang thực hiện ưu tiên đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên hàng đầu trong xử lý các quan hệ quốc tế.

Căn cứ vào đặc điểm này, nhiều người đã cho rằng thời đại ngày nay là thời đại của quốc gia dân tộc chứ không còn là thời đại quốc tế vô sản.

Với những biến đổi nhanh chóng và phức tạp trên của đời sống quốc tế, để nhận thức đúng bản chất của thời đại ngày nay, đòi hỏi chúng ta phải có cách tiếp cận khoa học về thời đại.



[1]  Hội đông Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh: Giáo trình chủ nghĩa xã hội khoa học, Nxb.CTQG, Hà Nội, 2010, tr. 200.

[2] V. I. Lênin, tt, t1, Sđd, tr. 161

[3] V.I.Lênin: Toàn tập, NXB. Tiến bộ, Matxcowva, 1980, tập 26, tr. 174.

[4] .Một số vấn đề về chủ nghĩa Mác – Lênin trong thời đại hiện nay, Nxb, Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.124.

NGHIÊN CỨU SỨ MỆNH LỊCH SỬ CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂN CÓ Ý NGHĨA QUAN TRỌNG TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở NƯỚC TA

 


Sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là phạm trù cơ bản nhất của chủ nghĩa xã hội khoa học. Phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân được đánh giá là một trong những cống hiến vĩ đại của chủ nghĩa Mác. Sau khi chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động ra sức phủ nhận học thuyết Mác về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và chủ nghĩa xã hội hiện thực. Tuy nhiên, thực tiễn phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, của chủ nghĩa xã hội hiện thực vẫn không ngừng phát triển trong điều kiện mới và dành được những thành tựu to lớn. Điều đó, khẳng định học thuyết Mác về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay. Vấn đề đặt ra là cần nghiên cứu nắm vững những vấn đề cơ bản lý luận về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, những biến đổi của giai cấp công nhân hiện nay dưới sự tác động của nhân tố thời đại, nhận thức rõ về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay.

Nắm vững những nội dung cốt lõi về sứ mệnh lịch sử của gia cấp công nhân làm cơ sở củng cố lập trường, niềm tin khoa học vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, tin tưởng vào sự nghiệp đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đồng thời, tích cực đấu tranh với những quan điểm phản động, sai trái.

THỰC HIỆN TỐT CÔNG TÁC DÂN TỘC, TÔN GIÁO CÓ Ý NGHĨA QUAN TRỌNG TRONG XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY

 


Dân tộc, tôn giáo là những vấn đề phức tạp có liên quan chặt chẽ với nhau không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, nhất là các quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo. Lịch sử thế giới cho thấy, khi nào vấn đề dân tộc, tôn giáo đ­­ược giải quyết thành công thì xã hội mới có sự ổn định và phát triển; nếu giải quyết không tốt sẽ dẫn đến xung đột, làm mất ổn định xã hội. Đảng, Nhà nước Việt Nam thường xuyên quan tâm thực hiện tốt công tác dân tộc, tôn giáo, tạo động lực to lớn góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trong những năm vừa qua.

Đặc biệt trong tình hình hiện nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hoà bình” chống cách mạng Việt Nam với phương châm lấy chống phá về chính trị, tư tưởng làm hàng đầu, kinh tế làm mũi nhọn, ngoại giao làm hậu thuẫn, tôn giáo, dân tộc làm ngòi nổ, kết hợp với bạo loạn lật đổ, uy hiếp, răn đe, gây sức ép về quân sự.  Vì vậy, công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta chỉ có thể thành công trên cơ sở lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động, đồng thời phải xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của đất nước và gắn với đặc điểm của thời đại hiện nay. Tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, trước hết đòi hỏi Đảng phải đổi mới tư duy, nhìn nhận và đánh giá đúng những vấn đề lý luận và thực tiễn, trong đó có vấn đề dân tộc và tín ngưỡng, tôn giáo đang và sẽ có nhiều biểu hiện mới, đa dạng, phức tạp, cần giải quyết đúng đắn.

Nắm vững đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về dân tộc, tôn giáo và thực hiện tốt công tác tôn giáo có ý nghĩa vô cùng quan trọng và cấp bách trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay

Nắm vững thời đại hiện nay có ý nghĩa quan trọng trong xác định chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

 


Hiện nay, chúng ta đang sống trong một thế giới với đầy biến động, phức tạp và diễn biến nhanh chóng, khó lường đã phản ánh vào ý thức tư tưởng con người, dẫn đến sự hình thành các quan điểm khác nhau, thậm chí đối lập nhau về thời đại ngày nay. Vì vậy, việc nhận thức đúng bản chất, xu hướng vận động, phát triển tất yếu của thời đại là một vấn đề có ý nghĩa chiến lược không chỉ đối với chúng ta, mà còn đối với mọi quốc gia, dân tộc trong việc lựa chọn con đường phát triển sao cho phù hợp với xu thế khách quan của thời đại.

Do vậy, để hoạch định xây dựng đất nước cần nắm vứng  một số vấn đề cơ bản về thời đại ngày nay theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và quan điểm của Đảng ta. Qua đó góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ tư duy, năng lực vận dụng ở tầm chiến dịch, chiến lược, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở thời kỳ cách mạng mới.

Hồ Chí Minh quan tâm đến nam nữ bình quyền và giải phóng phụ nữ từ rất sớm

 


Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao vai trò phụ nữ từ rất sớm, năm 1922, Người có bài viết” Phụ nữ An Nam và sự đô hộ của Pháp”. Đăng trên báo Le paria: Bài báo đã bóc trần thực tế đối sử tàn bạo của ché độ thực dân đối với phụ nữ nước ta dưới vỏ bọc “văn minh”, “tự do”, “công lý”. Năm 1926, tại Quảng Châu, Trung Quốc, Người viết bài Mục dành cho phụ nữ: Về sự bất công của phụ nữ. Chỉ qua vài dòng ngắn ngủi, Người đã lột tả được sự bất công về giới cao độ trong xã hội Việt Nam thời đó và kết luận bằng một lời hiệu triệu kêu gọi phụ nữ đứng lên dòi các quyền chính đáng của mình. Năm 1952, giữa lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp dang trong thời kỳ dầy khó khan, thách thức, nhân ngày Quốc tế phụ nữ 8-3, Người đã viết bài Nam nữ bình quyền, nêu rõ thực chất cuộc đấu tranh giải phóng phụ nữ ở Việt Nam: “nhiều người lầm tưởng đó là một việc dễ, chỉ: hôm nay anhnaus cơm, rửa bát, quét nhà, hôm sau em quét nhà, nấy cơm, rửa bát thế là bình đẳng, bình quyền. Lầm to”. Đó là một cuộc cách mạng khá to và khó. Vì sao. Vì trọng trai, khinh gái là một thói quen mấy ngìn năm để lại. Vì nó ăn sâu trong đầu óc của mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội…Thứ hai: Vũ lực của cuộc cách mạng này là sự tiến bộ về chính trị, kinh té, văn hóa, pháp luật.Phải cách mạng từng người, từng gia đình, đén toàn dân. Dù to và khó nhưng nhất định thành công.

Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bình đẳng giới


Do sự bất bình đẳng về kinh tế dẫn tới sự thống trị của đàn ông đối với đàn bà và bất bình đẳng giới nảy sinh. Ph.Ăng ghen khẳng định “tình trạng không bình quyền giữa đôi bên, do những quan hệ xã hội trước kia để lại cho chúng ta, tuyệt nhiên không phải là nguyên nhân, mà là kết quả của việc áp bức đàn bà về mặt kinh tế”. Bên cạnh đó truyền thống văn hóa và xã hội (Phong tục, tập quán lạc hậu), được sự cổ vũ mạnh mẽ của tôn giáo và sự bảo vệ vững chắc của pháp luật tư sản cũng là nguồn gốc rất cơ bản dẫn tới bất bình đẳng nam nữ, làm tang them gánh nặng áp bức đối với phụ nữ. Ph.Ănggen cho rằng: “Tính ràng buộc vĩnh viễn của hôn nhân, thì một phần là kết quả của điều kiện kinh tế, trong đó chế độ một vợ, một chồng phát sinh, và phần nữa là một truyền thống của thời kỳ trong đó mối liên hệ giữa những điều kiện kinh tế ấy với chế độ một vợ, một chồng còn chưa được người ta hiểu một cách đúng đắn, và đã bị tôn giáo thổi phồng lên”. Bản thân người phụ nữ với sự cam chịu, nhẫn nhục, kém hiểu biết càng làm cho sự bất bình đẳng giới trở lên trầm kha trong xã hội tư bản.

Con đường và điều kiện để giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới trong thực tế- đó là con đường cách mạng xã hội nhằm xóa bỏ nguồn gốc kinh tế, trong đó chế độ sở hữu tư nhân phải được thay thế bằng sở hữu xã hội; phải đưa phụ nữ tham gia ngày càng nhiều công việc xã hội. Ph. Ăngghen nhấn mạnh: “…điều kiện tiên quyết để giải phóng phụ nữ là làm cho toàn bộ nữ giới trở lại tham gia nền sản xuất xã hội, và điều kiện đó lại đòi hỏi phải cho gia đình cá thể không còn là một đơn vị kinh tế của xã hội nữa”. Đồng thời càn phải tổ chức lại cách phân công lao động xã hội và gia đình theo hướng giảm nhẹ gánh nặng gia đình cho phụ nữ bằng cách xã hội hóa một phàn công việc gia đình. Luật pháp hóa mục tiêu bình đẳng nam, nữ, bình đẳng giữa vợ và chồng, giữa hai giới. Khẳng định điều này Ăng gen viết: “…đặc tính của sự thống trị của người chồng đối với người vợ trong gia đình hiện đại, và sự tất yếu phải xác lập sự bình đẳng xã hội thật sự giữa hai bên, cũng như phương thức xác lập sự bình đẳng ấy, chỉ bộc lộ ra hoàn toàn rõ rang một khi mà cả vợ lẫn chồng đều hoàn toàn bình đẳng trước pháp luật”.V.L. Lê nin cũng rất quan tâm đến địa vị vai trò người phụ nữ “ Địa vị của phụ nữ về mặt pháp lý là cái tiêu biểu nhất cho trình độ văn minh”. Theo V.L. Lê nin: Để xóa bỏ vĩnh viễn tình trạng bất bình đẳng, cần sự nỗ lực to lớn của Đảng, Nhà nước, toàn xã hội nhưng trước hết và quyết định nhất là sự nỗ lực của chính bản thân phụ nữ. “Việc giải phóng phụ nữ lao động…phải là việc của bản than phụ nữ lao động”. Và nội dung đầu tiên phải thực hiện là “Muốn để giải phóng phụ nữ, muốn làm cho hộ thật sự bình đẳng với nam giới, thì phải có nền kinh tế chung của xã hội, phải để cho phụ nữ tham gia lao động sản xuất chung. Như thế phụ nữ mới có địa vị bình đẳng với nam giới”. Biện Pháp:: Mau chóng xóa bỏ khoảng cách giữa “bình đẳng về mặt pháp luật” và “bình đẳng trong thực tế đời sống

Thực tế ở Nhà nước Xô viết, ông xác định biện pháp: “phải làm sao cho phụ nữ công nhân ngày càng tham gia nhiều hơn nữa vào việc quản lý các xí nghiệp công cộng, vào việc quản lý nhà nước”. Với việc này Lê nin hoàn toàn tin tưởng rằng “…Phụ nữ sẽ học tập nhanh chóng và đuổi kịp dược nam giới”. Toàn bộ những quan điểm trên về phụ nữ, giải phóng phụ nữ và thực hiện quyền bình đẳng nam- nữ được xây dựng trên cơ sở triết học mác xít. Đây là phương pháp tiếp cận khoa học, đồng thời là cơ sở lý luận để phát triển khoa học, hướng tới mục tiêu bình đẳng giới trong xã hội hiện nay.