Chủ Nhật, 6 tháng 2, 2022

NHẬN DIỆN, ĐẤU TRANH VÀ ĐẨY LÙI HIỆN TƯỢNG NGỤY GIÁ TRỊ

 

NHẬN DIỆN,  ĐẤU TRANH VÀ ĐẨY LÙI HIỆN TƯỢNG NGỤY GIÁ TRỊ

Ngụy giá trị là những giá trị ảo, phi thực tế, có nội dung xấu độc, sai trái nhưng được bọc lớp vỏ hình thức giống như những giá trị thật, thậm chí có sức hấp dẫn hơn giá trị thực nhằm đánh tráo khái niệm, đánh lừa niềm tin, làm thay đổi nhận thức, hành động của người tiếp nhận. Đây là phương thức tinh vi, được thực hiện một cách bài bản, chuyên nghiệp với sự hỗ trợ đắc lực của phương tiện truyền thông, mạng xã hội khiến cho những hiện tượng “ngụy giá trị” xuất hiện với tần suất ngày càng lớn trong thời gian gần đây, gây hệ luỵ xấu trong đời sống tinh thần của nhân dân, làm bất an dư luận, gây mất ổn định tình hình chính trị - xã hội. Hiện tượng “ngụy giá trị” xảy ra trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, chỉ khác ở phạm vi, tính chất, mức độ.

Để đấu tranh, từng bước đẩy lùi hiện tượng phản giá trị, “ngụy giá trị” ra khỏi đời sống xã hội cần sự vào cuộc của các cấp các ngành và toàn thể nhân dân. Trong đó cần tập trung vào một số giải pháp cơ bản như:

Thứ nhất, xây dựng thế giới quan khoa học cho mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân. Cung cấp cho họ những tri thức nền tảng mang tính khách quan, khoa học về tự nhiên, xã hội và con người. Bởi khi con người thiếu tri thức, thiếu niềm tin vào cuộc sống, bất lực, bi quan trước thực tại, họ thường tìm đến những hiện tượng tâm linh, thần bí để mong được giải thoát, an ủi. Trong tình thế đó, con người rất dễ lầm tưởng, tin vào những điều không có thật, phi giá trị.

Việc xây dựng, hình thành thế giới quan khoa học phải được tiến hành thường xuyên với nội dung giáo dục cụ thể, hữu ích, sát hợp với từng đối tượng. Phát huy vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội trong việc giáo dục, rèn luyện, hình thành nhân cách tốt đẹp cho con người, nhất là với thế hệ trẻ để ngay từ nhỏ các em được trang bị tri thức, vốn văn hóa cần thiết để phân biệt được phải trái, đúng sai, tốt xấu, biết đấu tranh, phản bác các hiện tượng “ngụy giá trị”, các hành vi sai trái, giả chân, bảo vệ cái đúng, cái tốt, cái đẹp trong cuộc sống.

Xây dựng thế giới quan khoa học là công việc thường xuyên, lâu dài, là trách nhiệm của các cơ quan, ban ngành và là công việc hằng ngày của mỗi người để không ngừng tự hoàn thiện mình. Trong bối cảnh phức tạp hiện nay với thông tin thật giả, tốt xấu đan xen, khó phân biệt, việc tăng cường thế giới quan khoa học, nhất là tinh thần biện chứng, duy vật, khách quan của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, gắn lý luận với thực tiễn là việc làm cần thiết, có ý nghĩa.

Thực tiễn là tiêu chuẩn, thước đo của chân lý, là cơ sở của nhận thức. Vì thế cần gia tăng niềm tin của nhân dân vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; vững tin vào chế độ, vào sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Để có sự thống nhất, đồng thuận trong nhận thức trong toàn xã hội, tạo sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, cần phải tôn vinh những giá trị đúng, những hành động đẹp, tạo điều kiện cho cái tốt nảy sinh, lan toả, đồng thời cái xấu, cái ác phải bị lên án, đẩy lùi, tạo niền tin vững chắc trong nhân dân.

Thứ hai, xây dựng môi trường sống lành mạnh, nhân văn, khoa học với những giá trị văn hóa truyền thống được phát huy. Không ngừng tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, đề cao tinh thần, ý thức trách nhiệm cá nhân trước cộng đồng; tinh thần thượng tôn pháp luật; tinh thần dân chủ trong đối thoại, tranh luận khoa học; tính minh bạch trong thông tin, chuẩn mực trong lối sống…

Thực hành tốt tinh thần nêu gương của các thế hệ đi trước với những chuẩn mực trong ứng xử, giao tiếp, quan hệ xã hội; trong đạo đức, lối sống. Biểu dương, khen thưởng những tấm gương tiêu biểu, những lời nói, hành động, nghĩa cử cao đẹp của con người với phương châm “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”. Lan toả những giá trị tích cực, những thông điệp nhân văn, truyền cảm hứng tích cực và định hướng con người đến những điều tốt đẹp.

Môi trường văn hóa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc giáo dục, hình thành tri thức, đạo đức, lối sống tích cực cho con người. Chính trong không gian của gia đình, nhà trường, xã hội với những giá trị nhân văn được thực thi sẽ mang đến cho thế hệ trẻ những bài học kinh nghiệm, vốn sống, vốn tri thức cần thiết, tạo sức đề kháng và tấm màng lọc quan trọng để họ chủ động tiếp nhận những giá trị mới, đồng thời đẩy lùi những hiện tượng phản giá trị, phản nhân văn ra khỏi đời sống cộng đồng.

Thứ ba, nâng cao năng lực quản lý của cơ quan chức năng trong việc hoàn thiện cơ chế, chính sách pháp luật, xây dựng hành lang pháp lý đầy đủ, đồng bộ, hiện đại, đảm bảo môi trường tự do, dân chủ, minh bạch với những thông tin chính thống, chính xác, kịp thời để định hướng, củng cố niềm tin xã hội của công chúng. Hình thành thói quen ứng xử văn minh, lịch sự nơi công cộng cũng như trên không gian mạng. Tăng cường quản lý thông tin, hình ảnh trên mạng xã hội. Các cơ quan thông tấn, báo chí trước khi cung cấp thông tin, hình ảnh cho công chúng cần có sự thẩm định, biên tập kỹ về nội dung, hình thức, tránh đưa những thông tin thiếu kiểm chứng, sai lệch, gây hoang mang, bức xức dư luận, để cho các thế lực xấu lợi dụng, lái vấn đề, câu chuyện theo hướng bất lợi, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, chính trị, xã hội của đất nước.

Phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân lợi dụng tự do dân chủ, tự do ngôn luận để truyền bá những tư tưởng sai trái, có nội dung xuyên tạc, “ngụy giá trị” để lừa dối, lôi kéo người dân nhằm mục đích vụ lợi. Phát huy tinh thần chủ động, tích cực của quần chúng trong phát hiện những hiện tượng sai trái để có biện pháp xử lý kịp thời, mang tính cảnh tỉnh, răn đe, hướng đến xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, khoa học, nhân văn với những giá trị tốt đẹp.

GẮN CÔNG TÁC XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG VỚI XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

 


Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng không tránh khỏi những sai lầm, thiếu sót do giáo điều, chủ quan, duy ý chí. Tuy nhiên, như một thông lệ không thể thiếu, trước mỗi kỳ Đại hội Đảng, khi đánh giá tình hình phát triển kinh tế - xã hội qua một nhiệm kỳ, với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật”, “tôn trọng hiện thực khách quan”, Đảng ta luôn thẳng thắn nhìn nhận những sai lầm, khuyết điểm. Đảng ta coi những sai lầm, khuyết điểm là yêu cầu, đòi hỏi Đảng phải tiếp tục đổi mới, nhân dân phải tiếp tục đồng lòng để vượt qua những khó khăn, thử thách. Điều này được khẳng định rõ trong Báo cáo tổng kết chặng đường 30 năm đổi mới của Đảng: “Những hạn chế, khuyết điểm đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta phải nỗ lực phấn đấu không ngừng để khắc phục, tiếp tục đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững theo con đường xã hội chủ nghĩa”(5).

Nhìn nhận lại những chủ trương của Đảng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong thời gian qua thông qua những nghị quyết chuyên đề về xây dựng Đảng như Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, có thể nhận thấy tinh thần nghiêm túc trong tự phê bình, sửa chữa khuyết điểm, tự đổi mới, chỉnh đốn, giữ vững bản chất cách mạng, làm cho Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân và của toàn dân tộc. Đây không phải là sự “chắp vá”, “giật gấu vá vai” như những luận điệu mà các thế lực thù địch vẫn rêu rao mà nó thể hiện quyết tâm chính trị rất lớn của Đảng trong việc “tự sửa mình” và đào tạo, huấn luyện cán bộ, đảng viên. Do đó, cần có thái độ khách quan, công tâm khi xem xét những sai lầm, khuyết điểm của Đảng. Cần tránh cả hai xu hướng xem nhẹ, bỏ qua những khiếm khuyết hoặc tuyệt đối hóa, thổi phồng những khuyết điểm bởi cả hai xu hướng này hoặc là dẫn đến thái độ chủ quan, lơ là; hoặc dẫn đến thái độ cực đoan, bất mãn. Sai lầm, khuyết điểm của Đảng, nhất là của một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp trong thời gian qua là một bài học đắt giá cho công tác xây dựng Đảng nhưng không vì thế mà đánh đồng với đóng góp của biết bao thế hệ đảng viên với sự nghiệp cách mạng của đất nước.

Có thể nhận thấy, qua mỗi nhiệm kỳ Đại hội, tinh thần chỉ đạo công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là thông qua việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ngày càng quyết liệt hơn, thực chất hơn với phương châm “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”. Tham nhũng được coi là một loại “giặc nội xâm” luôn được xử lý một cách quyết liệt. Quyết tâm chính trị trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng được thể hiện rõ nét từ người đứng đầu Đảng, Nhà nước đến cả hệ thống chính trị. Đúng như Đại hội XIII nhận định: “Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng được lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện quyết liệt, toàn diện, đi vào chiều sâu, với quyết tâm chính trị rất cao, không có vùng cấm, không có ngoại lệ”(6). Do đó, trong thời gian qua, nhiều vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, được dư luận xã hội quan tâm đã được xử lý nghiêm minh, đúng quy định của pháp luật, vừa có tác dụng cảnh báo, răn đe; vừa siết chặt kỷ luật, kỷ cương của Đảng; được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ; được dư luận quốc tế đánh giá cao.

Đặc biệt, để tăng cường kỷ cương, kỷ luật Đảng, công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng cũng được chỉ đạo quyết liệt; tạo nên những bước chuyển biến rõ rệt trong việc phát hiện, xử lý tham nhũng. Trong nhiệm kỳ vừa qua, “cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 2.209 cán bộ, đảng viên có liên quan đến tham nhũng; trong đó có 113 cán bộ diện Trung ương quản lý cả đương chức và đã nghỉ hưu”(7). Điều đó cho thấy quyết tâm rất lớn của Đảng trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng; đồng thời, cũng chứng tỏ năng lực, bản lĩnh của Đảng trong việc phát hiện, xử lý tình trạng tham nhũng của cán bộ, đảng viên, kể cả những người đã và đang giữ chức vụ quan trọng trong bộ máy lãnh đạo của Đảng, Nhà nước nói riêng và cả hệ thống chính trị nói chung.

Trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương khóa XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, điểm mới của Hội nghị lần này là Đảng ta đã mở rộng phạm vi, không chỉ trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà còn bao gồm cả trong xây dựng hệ thống chính trị. Đây là một yêu cầu khách quan bởi lẽ Đảng Cộng sản Việt Nam tuy giữ vai trò lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội nhưng Đảng không đứng ngoài hệ thống chính trị, không phải là nhân tố độc lập hoàn toàn với hệ thống chính trị. Hơn nữa, “Đây là nhiệm vụ có ý nghĩa sống còn đối với sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay”

Những năm qua, sở dĩ Đảng ta nhấn mạnh hơn đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là vì muốn củng cố, gia tăng thêm sức mạnh cho Đảng; từ đó tiến đến xây dựng cả hệ thống chính trị. Đây là những bước đi thận trọng, chắc chắn, có lộ trình rõ ràng trong từng giai đoạn cụ thể. Thời gian qua, khi công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng được gia tăng đáng kể nên Đảng ta đã gắn công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng với xây dựng hệ thống chính trị. Điều này đã từng được đặt ra ngay từ chủ đề của Đại hội XIII: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”(9) và đến Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII lại được nhấn mạnh thêm. Do đó, không thể cố tình phủ nhận, xuyên tạc nỗ lực lớn, quyết tâm chính trị cao của Đảng trong việc tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị hiện nay. Đó là những luận điệu của những kẻ cố tình “nhắm mắt làm ngơ”, thiếu thiện chí nên cần phải cảnh giác và kiên quyết đấu tranh phản bác.

Thực tiễn cho thấy, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Việt Nam thời gian qua được tiến hành đồng bộ, quyết liệt từ Trung ương đến cơ sở, không chỉ góp phần củng cố, gia tăng thêm sức mạnh của Đảng mà còn nâng cao uy tín của Đảng với nhân dân nên được nhân dân đồng tình, ủng hộ. Do đó, một trong những điểm mới quan trọng được Đại hội XIII đưa ra là “Dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng”. Đại hội khẳng định: “Thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành động của các cấp uỷ đảng, hệ thống chính trị về công tác dân vận; có cơ chế phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh trong tình hình mới”(10). Việc phát huy vai trò của nhân dân trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng thể hiện quyết tâm rất lớn của Đảng trong việc khắc phục những hạn chế, khuyết điểm, tiêu cực của một bộ phận cán bộ, đảng viên ở nước ta thời gian qua, góp phần làm cho Đảng ngày càng trọng sạch, vững mạnh. Do đó, không thể cố tình phủ nhận những quyết tâm, nỗ lực của cả hệ thống chính trị và nhân dân trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM QUÝ BÁU


Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi đại đoàn kết toàn dân tộc là một chiến lược xuyên suốt quá trình cách mạng Việt Nam, có vai trò quyết định thành công của cách mạng. Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc vì lợi ích của Nhân dân, lợi ích của quốc gia - dân tộc Việt Nam. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn lâu dài. Đoàn kết là một chính sách dân tộc... để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc, ta cần đoàn kết để xây dựng nước nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”.

Trước sau như một, Đảng Cộng sản Việt Nam nhất quán xác định đoàn kết là giá trị cốt lõi trong kho tàng truyền thống quý báu của dân tộc và đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là cội nguộn sức mạnh, là động lực chủ yếu mang đến thành công cho cách mạng Việt Nam. Đây cũng là giá trị cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh, là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho chiến lược đại đoàn kết của Đảng Cộng sản Việt Nam đi tới thắng lợi.

Vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định đại đoàn kết toàn dân tộc “là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đại hội lần thứ XIII của Đảng xác định: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”(7).

Đại đoàn kết toàn dân tộc phải lấy liên minh công nhân - nông dân - trí thức làm nền tảng và do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc muốn mở rộng và phát triển thì cần phải có một hình thức tổ chức, đó chính là mặt trận dân tộc thống nhất. Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương đoàn kết mọi người dân Việt Nam yêu nước, không phân biệt giai cấp, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, nam nữ, lứa tuổi… nhưng không phải là một tập hợp lỏng lẻo, ngẫu nhiên, tự phát mà là một khối đoàn kết chặt chẽ, có tổ chức trong mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi.

Đảng Cộng sản Việt Nam xác định chiến lược xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc là lấy liên minh công nhân - nông dân - trí thức làm nền tảng, dưới sự lãnh đạo của Đảng và coi đó là một nguyên tắc có ý nghĩa như là một quy luật để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững mạnh. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một tất yếu vì chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam được vũ trang bởi chủ nghĩa Mác-Lênin mới đánh giá đúng vai trò, sức mạnh của nhân dân Việt Nam trong lịch sử.

Xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc phải theo nguyên tắc đảm bảo lợi ích cao nhất của quốc gia - dân tộc, quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động; đồng thời quan tâm đến quyền lợi chính đáng của các tầng lớp nhân dân. Trong mọi thời kỳ cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc - thực hiện đại đoàn kết trên nguyên tắc bảo đảm lợi ích cao nhất của quốc gia - dân tộc và quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động. Trước đây, trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc thì lợi ích tối thượng chung là giải phóng dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam xác định quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, dân tộc. Nếu không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi được. Bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã giải quyết mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc, giữa củng cố miền Bắc và giải phóng miền Nam; giữa cải thiện đời sống của nhân dân lao động với việc xóa bỏ giai cấp địa chủ và cải tạo đối với giai cấp tư sản dân tộc. Trong hoàn cảnh khó khăn, phức tạp lúc đó, để khối đại đoàn kết toàn dân được tăng cường, mặt trận dân tộc thống nhất phải được mở rộng, Đảng đã nêu nguyên tắc tán thành hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ, giàu mạnh, coi đó là mẫu số chung để thực hiện đoàn kết dân tộc.

Tại Đại hội lần thứ XIII, Đảng xác định mục tiêu của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là: “Phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu để đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Mục tiêu đó cũng chính là đích đến quy tụ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Sự đồng nhất giữa mục tiêu cách mạng của Đảng với mục tiêu của khối đại đoàn kết toàn dân tộc cho thấy sự hòa quyện giữa Ý Đảng - Lòng Dân; giữa mục tiêu cách mạng của Đảng với nguyện vọng của toàn thể nhân dân, xuất phát từ nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân.

Phát huy vai trò, sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giương cao ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân. Đó là đường lối chiến lược tạo ra sức mạnh để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Đảng luôn chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân gắn với việc phát huy dân chủ trong đời sống xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng; thực hiện dân chủ trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ở tất cả các cấp các ngành. Mọi hoạt động của hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải phục vụ lợi ích của nhân dân. Trong đó, tăng cường vai trò nòng cốt chính trị, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tập hợp, vận động nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước. Thực hiện tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội, đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên, tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, tăng cường đối ngoại nhân dân. Xây dựng thế trận lòng dân, phát huy sức mạnh đoàn kết, đồng thuận của nhân dân trong và ngoài nước để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khẳng định vấn đề có tính nguyên tắc: lấy dân làm gốc, phát huy quyền làm chủ của dân, nguồn lực nhân dân, thực hiện đoàn kết toàn dân; lấy liên minh công - nông - trí thức làm nền tảng và do Đảng Cộng sản lãnh đạo; bảo đảm lợi ích cao nhất của quốc gia - dân tộc, quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động; tổ chức đại đoàn kết dân tộc là mặt trận dân tộc thống nhất; lấy tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục làm phương thức hoạt động chủ yếu

Quan điểm xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận

 Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới nêu rõ: bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là bảo vệ Ðảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Ðảng; bảo vệ Nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Do đó, để xử lý những thông tin sai lệch, xuyên tạc trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận ở Việt Nam hiện nay cần quán triệt một số quan điểm sau đây:

Một là, xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc phải dựa trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, lợi ích của quốc gia-dân tộc và lợi ích của nhân dân.

Khi xác định một thông tin nào đó là sai lệch, xuyên tạc, chúng ta phải dựa vào và lấy tiêu chí đánh giá là lập trường, quan điểm, lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, cương lĩnh của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, lợi ích của quốc gia - dân tộc, xem đó là căn cứ cao nhất để xử lý, nếu những thông tin đó trái ngược với những tiêu chí nêu trên thì đó được coi là thông tin sai lệch, xuyên. Có như vậy, khi giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, xử lý triệt để thông tin sai lệch, xuyên tạc của các thế lực thù địch, chúng ta mới thật sự bảo vệ, giữ vững được nền tảng tư tưởng, lý luận.

Hai là, xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, sự tham gia của toàn dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước

Đấu tranh phản bác và xử lý các thông tin sai trái, xuyên tạc, bịa đặt cần phải dựa trên cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý bằng pháp luật, Nhân dân làm chủ. Trong đó, trách nhiệm, sứ mệnh, chức năng của từng bộ phận cụ thể như sau:

Thứ nhất, trách nhiệm của Đảng:

Ban hành và lãnh đạo việc tổ chức thực hiện các chủ trương, quan điểm, nghị quyết, quy định, văn bản lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc vừa có tầm nhìn chiến lược, lâu dài, vừa có tính thiết thực, hiệu quả; Xây dựng, kiện toàn bộ máy tổ chức các cơ quan thực hiện công tác xử lý, phát triển, đào tạo, bồi dưỡng; hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ các lực lượng tham gia xử lý; Lãnh đạo việc xây dựng các lực lượng tham gia đấu tranh mang tính toàn diện, tinh nhuệ; Lãnh đạo các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân tham gia vào việc phát hiện, nhận diện, phản bác, đấu tranh, xử lý triệt để các thông tin sai lệch, xuyên tạc.

Thứ hai, trách nhiệm của Nhà nước:

Cụ thể hoá các chủ trương, quan điểm, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng thành các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc; Tạo hành lang pháp lý và điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện hành lang pháp lý cho việc xử lý xuất phát từ quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng và phải phù hợp với thông lệ quốc tế; Nâng cao vai trò định hướng thông tin của các cơ quan báo chí chính thống và vai trò của các nhà báo trong việc phê phán, phản bác thông tin sai lệch, xuyên tạc.

Thứ ba, trách nhiệm của Nhân dân: Đoàn kết, tích cực tham gia vào “thế trận nhân dân” toàn diện để có thể phát hiện, ngăn chặn, gỡ bỏ, phê phán, tảy chay và có thể “tự miễn dịch” trước các thông tin sai lệch, xuyên tạc.

Ba là, xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc phải gắn chặt với việc làm chủ thông tin, chủ động cung cấp thông tin chính thống, khách quan, chân thực, chính xác, kịp thời

Mục đích của các thông tin sai lệch, xuyên tạc là nhằm tạo ra khoảng trống về tư tưởng, trên cơ sở đó, họ đưa hệ tư tưởng tư sản và các tư tưởng xa lạ, phản cách mạng, lạc hậu vào ý thức của Nhân dân. Do đó, để ngăn chặn mục đích, thủ đoạn của các thế lực thù địch, chúng ta phải làm chủ trận địa thông tin, kịp thời sàng lọc, phân tích, nhận diện, phân loại, đánh giá mức độ, tính chất của thông tin sai lệch, đồng thời tích cực, chủ động và thường xuyên cung cấp thông tin chính thống, chính thức, khách quan, chân thực đến cán bộ, đảng viên và Nhân dân trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài và cộng đồng quốc tế nhằm ổn định tình hình dư luận xã hội. Cần có sự phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc gỡ bỏ, phản bác, ngăn chặn thông tin sai lệch, xuyên tạc, tin đồn nhảm, xấu, độc… với nhóm chuyên gia viết bài phản bác, đấu tranh và chia sẽ, quảng bá rộng rãi với tần suất và quy mô thích hợp.

Các thông tin sai lệch, xuyên tạc tìm đến các đối tượng có biểu hiện suy thoái để tác động và biến họ trở thành những người phản bội lại sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân. Khi đã “tự chuyển hoá” thành phần tử đối lập, họ tìm đến, tiếp cận những thông tin sai lệch, xuyên tạc để phát tán, làm tăng thêm nguy cơ phá hoại về tư tưởng, lý luận. Do đó, đấu tranh xử lý các thông tin sai lệch, xuyên tạc phải gắn liền với việc ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” từ trong nội bộ. Xem việc thực hiện hai nội dung này là tiền đề, điều kiện của nhau để “xây” và “chống” có hiệu quả cao.

Bốn là, xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc gắn liền với giáo dục khả năng “miễn dịch” của cán bộ, đảng viên, Nhân dân, nhất là giới trẻ trước tác động của thông tin sai lệch, xuyên tạc

Mục đích, thủ đoạn của các thế lực thù địch nhằm tuyên truyền các thông tin sai lệch, xuyên tạc ngày càng tinh vi, phức tạp. Do đó, để tạo thế chủ động, hạn chế, triệt tiêu tác động tiêu cực của thông tin sai lệch, xuyên tạc, đẩy lùi, hạn chế và đi đến triệt tiêu mục đích của các thế lực thù địch, Đảng, Nhà nước ta cần chủ động giáo dục hình thành “sự miễn dịch”, sức đề kháng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, nhất là các đối tượng trọng yếu mà các thế lực thù địch nhắm vào. Đồng thời, xem đó là cách thức hữu hiệu nhất để tự bảo vệ và làm vô hiệu hoá mọi dòng thông tin xấu, độc, mọi tác động tiêu cực từ các thông tin sai lệch, xuyên tạc. Để có được “sự miễn dịch” đó, cần phải nâng cao nhận thức, niềm tin và khả năng vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn, giáo dục về đường lối, chính sách, pháp luật, giáo dục nâng cao nhận thức về bản chất, tác hại và sự cần thiết phải đấu tranh, xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc, giáo dục về các quy tắc và văn hoá ứng xử…

Những quan điểm nêu trên là một thể thống nhất, bao quát và có ý nghĩa chỉ đạo việc xác định và thực hiện mục tiêu, xây dựng và phát triển các chủ thể, các lực lượng, phân tích và lựa chọn nội dung, phương pháp, cách thức, giải pháp xử lý thông tin sai lệch, xuyên tạc trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam./.

PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY

 Đường lối đổi mới phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đưa nước ta vào dòng chảy của thời đại quá độ lên CNXH để phát triển đất nước là đúng đắn, phù hợp với xu thế của thời đại và điều kiện của đất nước.

Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN mà nước ta phát triển là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vừa vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế hợp tác và cạnh tranh bình đẳng theo pháp luật. Hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, việc phân bổ các nguồn lực kinh tế của nhà nước được thực hiện theo cơ chế thị trường, phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của đất nước. Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế, hoạt động ở mọi ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm. Các quyền sở hữu tài sản, tự do kinh doanh, tự do lưu thông được bảo vệ; phát triển đầy đủ, đồng bộ các loại thị trường, tạo cơ sở cho các quy luật của kinh tế thị trường hoạt động, phát huy vai trò của mình; hội nhập kinh tế quốc tế được đẩy mạnh, phát triển ngày càng sâu rộng. Nhà nước quản lý đất nước bằng luật pháp, chính sách, quy hoạch, kế hoạch và sử dụng các nguồn lực kinh tế nhà nước để giữ ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh; điều tiết, định hướng phát triển nền kinh tế; cung cấp các dịch vụ công thiết yếu, bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, bảo vệ môi trường. Nhà nước không can thiệp vào hoạt động của doanh nghiệp bằng mệnh lệnh hành chính. Thị trường đóng vai trò chủ yếu trong quyết định giá cả, huy động, phân bổ các nguồn lực, điều tiết lưu thông hàng hóa, điều tiết hoạt động của doanh nghiệp, thanh lọc những doanh nghiệp yếu kém. Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội, các tổ chức xã hội của nhân dân có chức năng phản biện, giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước; phản ánh nhu cầu, nguyện vọng, bảo vệ quyền, lợi ích của các tầng lớp nhân dân, vận động nhân dân thực hiện các chính sách đúng đắn của nhà nước, tác động đến quan hệ cung - cầu lao động, hàng hóa trên thị trường... Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN với cơ cấu và cơ chế vận hành như vậy là nền kinh tế thị trường hiện đại phù hợp với thông lệ quốc tế, kế thừa những thành tựu phát triển của chủ nghĩa tư bản; đồng thời, phát triển, có những yếu tố bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là vai trò quản lý của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, vai trò nền tảng của kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể; thực hiện phân phối vừa theo kết quả lao động, hiệu quả sản xuất kinh doanh, vừa theo mức đóng góp vốn, các yếu tố sản xuất khác, đồng thời phân phối qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội; kết hợp phát triển kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; quyền lực nhà nước là do nhân dân ủy quyền, thay mặt nhân dân quản lý đất nước; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp theo. Giữa các cơ quan lập pháp (Quốc hội), hành pháp (Chính phủ), tư pháp (Tòa án) có sự kiểm soát lẫn nhau, nhưng không phải là sự kiểm soát của những lực lượng đối lập nhau, mà quyền lực của các cơ quan này đều do nhân dân ủy quyền, phân công để thực hiện các chức năng khác nhau, đều do cùng một đảng cầm quyền lãnh đạo, nên còn có trách nhiệm phối hợp với nhau để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước. Tổ chức bộ máy nhà nước, chức năng, quan hệ phối hợp, kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp đều thực hiện theo quy định của Hiến pháp và pháp luật; hoạt động của các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên của Đảng cầm quyền cũng phải trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; Nhà nước quản lý đất nước, quản lý xã hội bằng pháp luật, theo pháp luật. Cùng với sự kiểm soát lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực nhà nước, Nhà nước còn chịu sự giám sát của nhân dân, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội của nhân dân theo quy định của pháp luật. Tổ chức và phương thức hoạt động của Nhà nước như vậy phù hợp với các chuẩn mực phổ biến của nhà nước pháp quyền trên thế giới. Nhưng điểm khác biệt lớn của Nhà nước ta so với nhà nước pháp quyền ở các nước tư bản trên thế giới là pháp luật của Nhà nước ta là để phục vụ nhân dân, thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, phát triển đất nước nhanh, bền vững để nâng cao đời sống vật chất của nhân dân, là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

Đường lối, chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước được sự đồng tình ủng hộ, tích cực thực hiện của nhân dân đã tạo nên những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, tạo nên cơ đồ, tiềm lực, vị thế của đất nước như ngày nay. Đại hội XIII của Đảng, trên cơ sở đánh giá đúng tình hình đất nước, khu vực và thế giới, sẽ tiếp tục bổ sung, phát triển đường lối để đất nước đạt được những thành tựu to lớn hơn nữa. Không có lý do gì để Đại hội XIII của Đảng phải làm theo lời khuyên của những người muốn kéo lùi lịch sử, đưa đất nước phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa./.

 

Trách nhiệm của cán bộ, công chức khi sử dụng mạng hội

Thời gian qua, tình trạng một số cán bộ, công chức đưa ra phát ngôn thiếu chuẩn mực, lan truyền thông tin sai sự thật, thiếu trách nhiệm,... trên mạng xã hội dường như có chiều hướng xảy ra ngày càng nhiều, tạo nguy cơ gây dư luận xấu, tác động tiêu cực đến suy nghĩ, nhận thức của một bộ phận nhân dân. Đây là tình trạng đáng báo động, đòi hỏi cần phải được kịp thời chấn chỉnh.

Cách đây không lâu, trên Facebook cá nhân, một chuyên viên văn phòng thuộc UBND thành phố Hồ Chí Minh đã đăng tải những bài viết tổng hợp từ internet liên quan đến một số vụ việc được dư luận quan tâm. Ðiều đáng nói là những nội dung người này đăng tải đã phản ánh không đúng bản chất vụ việc, nhằm mục đích nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín của lãnh đạo Ðảng, Nhà nước. Cá nhân này sau đó đã bị khai trừ khỏi Ðảng vì “thiếu tu dưỡng rèn luyện, suy thoái tư tưởng chính trị rất nghiêm trọng”. Trước đó, tháng 5-2019, một người nguyên là phó bí thư chi bộ, trưởng một khoa của trường chính trị thuộc tỉnh Hà Tĩnh cũng bị kỷ luật cách chức vì sử dụng mạng xã hội đăng tin sai sự thật, bình luận xuyên tạc với từ ngữ thiếu văn hóa, xúc phạm lãnh đạo Ðảng, Nhà nước. Các sự việc trên đang gióng lên hồi chuông báo động về ý thức và thái độ trách nhiệm của một số cán bộ, công chức khi tham gia mạng xã hội.

Không thể phủ nhận là ngày nay, mạng xã hội (social network) như đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của con người trên toàn cầu, nhất là khi nhu cầu kết nối, chia sẻ trong cộng đồng ngày càng gia tăng. Hiện một số mạng xã hội lớn có số lượng người sử dụng lên đến hàng tỷ người như: Facebook (khoảng 2,2 tỷ người dùng), YouTube (1,9 tỷ), WhatsApp (1,5 tỷ), WeChat (1,04 tỷ), Instagram (1 tỷ)… Số lượng người sử dụng mạng xã hội ngày càng gia tăng trên toàn cầu cho thấy sự phổ biến cũng như tầm ảnh hưởng của nó đối với xã hội. Tại Việt Nam, nhu cầu sử dụng mạng xã hội vẫn liên tục tăng qua các năm. Theo báo cáo Digital 2020 trên trang vnetwork.vn, đến tháng 1-2020, Việt Nam có số người dùng internet là 68,17 triệu người (chiếm tỷ lệ 70% số dân); số thuê bao di động là 145,8 triệu thuê bao (chiếm tỷ lệ 150% so với tổng dân số cả nước); số người dùng mạng xã hội là 65 triệu người (chiếm tỷ lệ 67% số dân); trong đó có một lượng không nhỏ người dùng là cán bộ, công chức. Tận dụng các ưu thế của mạng xã hội, hiện nay nhiều cán bộ lãnh đạo cũng sử dụng mạng xã hội như một phương thức có hiệu quả, vừa để tương tác, nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của người dân, vừa để kịp thời giải quyết công việc. Tiêu biểu có thể kể như: Năm 2018, trên Facebook cá nhân, đồng chí Huỳnh Văn Ðiển, Chủ tịch UBND huyện Tuy Phong (tỉnh Bình Thuận), kêu gọi người dân tránh không để các đối tượng xấu xúi giục, kích động tụ tập, gây rối và đã nhận được sự hưởng ứng tích cực của người dân. Sau đó Thượng tá Trần Long Khánh, Trưởng Công an huyện Tuy Phong, đăng thư cảm ơn người dân vì việc tích cực hợp tác với cơ quan chức năng trên trang Facebook cá nhân đã mang lại nhiều hiệu quả. Thực tế ngày càng có nhiều tổ chức, cơ quan nhà nước mở trang trên mạng xã hội để ghi nhận thắc mắc, khiếu nại của người dân, qua đó, xác minh, tìm hiểu và xử lý kịp thời được nhiều vụ việc, được dư luận đồng tình. Nhờ đó, mạng xã hội đã phát huy vai trò tích cực trong việc kết nối giữa chính quyền, các cơ quan, bộ phận chức năng cũng như cán bộ, công chức thực thi nhiệm vụ với người dân, đồng thời, góp phần thúc đẩy sự minh bạch trong hoạt động quản lý, điều hành của hệ thống chính quyền tại các địa phương.

Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy vẫn còn hiện tượng một số cán bộ, công chức sử dụng mạng xã hội khá tùy tiện, gây ảnh hưởng không tốt, thậm chí xâm hại nghiêm trọng đến hình ảnh, lợi ích của cá nhân, tổ chức. Ðây là vấn đề rất đáng quan ngại. Không ít trường hợp cán bộ, công chức dùng mạng xã hội để nói xấu, xúc phạm, miệt thị người khác bằng loại ngôn từ thiếu văn hóa, đưa ra phát ngôn gây sốc,… hay vô tư chia sẻ thông tin độc hại, bịa đặt, xuyên tạc mà không kiểm chứng nguồn gốc, không bảo đảm tính chính xác. Như thời gian vừa qua, trong khi cả nước chung tay phòng, chống đại dịch Covid-19, có không ít trường hợp đưa tin hoặc chia sẻ thông tin bịa đặt gây hoang mang dư luận, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tâm lý của người dân. Thậm chí, có tình trạng một số cán bộ, công chức sử dụng mạng xã hội để đăng tải, chia sẻ thông tin vi phạm các quy định về bảo mật của cơ quan, đơn vị. Cá biệt, có trường hợp còn nhân danh chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí bằng cách cắt xén ý kiến của người khác, nhất là ý kiến của các vị lãnh đạo, rồi suy diễn thành nhận định chủ quan, mang tính công kích, phản bác thiếu nghiêm túc.

Thực tế này cho thấy việc xử phạt các sai phạm trên không gian mạng nói chung, và việc truy cứu trách nhiệm của cán bộ, công chức để xảy ra sai phạm khi tham gia mạng xã hội nói riêng cần phải nghiêm khắc, kiên quyết hơn nữa, để mỗi người luôn ý thức rằng bản thân là cán bộ, công chức thì càng phải có trách nhiệm cao trong tự giác điều chỉnh nhận thức và hành xử đúng đắn trên môi trường mạng. Ðến nay Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định quyền tự do thông tin của công dân đồng thời quy định cả trách nhiệm của người dân khi sử dụng internet nói chung và mạng xã hội nói riêng như: Luật Báo chí năm 2016; Luật Tiếp cận thông tin năm 2016; Luật An ninh mạng năm 2018; Nghị định số 72/2013/NÐ-CP Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng, Nghị định 174/2013/NÐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện... Mới đây, Nghị định số 15/2020/NÐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử (thay thế Nghị định 174/2013/NÐ-CP) chính thức có hiệu lực từ ngày 15-4-2020. Theo đó, tại khoản 1, Ðiều 101 quy định cá nhân sẽ bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng nếu lợi dụng mạng xã hội để thực hiện một trong những hành vi sau: Cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân; Cung cấp, chia sẻ thông tin cổ xúy các hủ tục, mê tín, dị đoan, dâm ô, đồi trụy, không phù hợp với thuần phong, mỹ tục của dân tộc; Cung cấp, chia sẻ thông tin miêu tả tỉ mỉ hành động chém, giết, tai nạn, kinh dị, rùng rợn; Cung cấp, chia sẻ thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân, kích động bạo lực, tội ác, tệ nạn xã hội, đánh bạc hoặc phục vụ đánh bạc; Cung cấp, chia sẻ các tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật, xuất bản phẩm mà không được sự đồng ý của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc chưa được phép lưu hành hoặc đã có quyết định cấm lưu hành hoặc tịch thu; Quảng cáo, tuyên truyền, chia sẻ thông tin về hàng hóa, dịch vụ bị cấm; Cung cấp, chia sẻ hình ảnh bản đồ Việt Nam nhưng không thể hiện hoặc thể hiện không đúng chủ quyền quốc gia; Cung cấp, chia sẻ đường dẫn đến thông tin trên mạng có nội dung bị cấm. Khoản 2 của Ðiều này quy định phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng đối với hành vi tiết lộ thông tin thuộc danh mục bí mật Nhà nước, bí mật đời tư của cá nhân và bí mật khác mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Nghị định 15 được kỳ vọng sẽ là một “bài thuốc” mạnh được sử dụng để chữa trị “căn bệnh”, đặc biệt là lĩnh vực phòng, chống những thông tin giả, tin sai lệch, xấu độc đang tràn lan trên không gian mạng. Trước đó, Luật An ninh mạng (có hiệu lực năm 2019) cũng có nhiều điều khoản quy định về việc khi đăng tải lên mạng xã hội, người dân nói chung và cán bộ công chức nói riêng: không được đăng thông tin sai sự thật gây hoang mang dư luận; không được đăng tải thông tin dâm ô, đồi trụy; không được phát tán, đăng tải thông tin tuyên truyền chống Nhà nước; không được đăng tải thông tin gây rối trật tự công cộng; không được đăng tải, phát tán thông tin vu khống người khác; không được đăng tải bí mật công tác, bí mật Nhà nước… Cùng với đó là Ðiều 1 Ðề án Văn hóa công vụ được Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phê duyệt năm 2018 cũng yêu cầu cán bộ, công chức phải “tuân thủ kỷ luật phát ngôn, không sử dụng mạng xã hội để khai thác, tuyên truyền các thông tin chưa được kiểm chứng, phiến diện, một chiều ảnh hưởng đến hoạt động công vụ”. Không chỉ tại Việt Nam, theo số liệu thống kê của Liên hợp quốc, 138 quốc gia khác trên thế giới cũng ban hành Luật An ninh mạng với những quy định cụ thể với các hành vi, phát ngôn trên mạng xã hội.

Cần phải khẳng định rằng, khi tham gia mạng xã hội, mỗi cán bộ, công chức vừa phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, vừa phải chấp hành nghiêm các điều lệ, quy định của tổ chức mà mình là thành viên, trên cơ sở đó định hình thái độ và cách hành xử đúng đắn. Cụ thể, trước khi tự đăng tải thông tin hoặc chia sẻ từ người khác lên mạng xã hội, cần là người dẫn thông tin có trách nhiệm, suy nghĩ chín chắn, kiểm tra, kiểm chứng tính chính xác của nguồn thông tin, tránh tình trạng cảm tính, nóng vội có thể dẫn tới nguy cơ nhận định sai sự thật, ảnh hưởng đến các tổ chức, cá nhân. Ðối với các bình luận về một người hay một sự việc nào đó, cần khách quan, tế nhị, thể hiện sự tôn trọng người khác; không nên soi mói, quá tò mò chuyện cá nhân người khác; không nói xấu, kéo bè cánh nhằm hạ thấp danh dự, nhân phẩm của người khác. Với ngôn ngữ sử dụng khi tham gia mạng xã hội cũng vậy, cần có ý thức giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt, tránh sử dụng các từ ngữ miệt thị, gây sốc, phản cảm… Ngoài ra, mỗi cán bộ, công chức cần có thái độ tự giác để xây dựng quan điểm, lập trường vững vàng khi tiếp cận thông tin xấu độc, để có phản ứng, hành động phù hợp; đồng thời có trách nhiệm định hướng, tuyên truyền và làm gương giúp người dân nắm bắt vấn đề chính xác, cụ thể, không đưa hay chia sẻ thông tin có nội dung gây kích động, thù địch, đi ngược với quan điểm, chính sách của Ðảng và Nhà nước, cũng như lợi ích dân tộc, lợi ích đất nước. Về phía các cơ quan quản lý, cần tiến hành song song hai biện pháp là xử phạt nghiêm các hành vi vi phạm theo quy định pháp luật; đồng thời kiên trì tuyên truyền, định hướng cho người dân về những nguyên tắc cần tuân thủ khi tham gia mạng xã hội.

Nhận diện những kẻ chống lại dân tộc, vụ lợi trên nỗi đau của đồng bào

 Luôn đi đầu trong các hoạt động chống phá có thể kể tới các thành viên của tổ chức khủng bố Việt Tân cùng số “cơ sở nội địa” ở trong nước, số đối tượng trong tôn giáo mang tư tưởng cực đoan, các “nhà dân chủ” giả hiệu, số đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị... Các đối tượng này thường thông qua các tài khoản facebook như “Việt Tân”, “Nguyễn Văn Đài”, “Nguyễn Lân Thắng”, “Le Anh”, “Phạm Kenny”, “Thanh niên Công giáo”, “Nguyễn Ngọc Nam Phong”, “Hoài Thạch Sơn”... đăng tải trên mạng xã hội hàng trăm bài viết chứa đựng những thông tin sai sự thật, ngụy tạo hòng “phác họa” nên một thực trạng đen tối của tình hình mưa lũ gây biết bao thiệt hại to lớn cả về người và của các tỉnh miền Trung. Để phụ họa chiến dịch tuyên truyền trên theo dạng “té nước theo mưa”, các kênh truyền thông đại chúng thiếu thiện chí với Việt Nam như BBC, RFA; các trang mạng, blog chống đối như “tienbo.org”, “Dân làm báo VN”... cũng viết bài, chia sẻ hàng loạt các thông tin xấu độc để tô vẽ một bức “thảm cảnh” của đồng bào miền Trung. Các luận điệu được chúng đưa đẩy đều có chung một mục đích là đổ lỗi cho chính quyền trong việc chậm dự báo tình hình và thiếu trách nhiệm trong việc ứng cứu nhân dân... Hay như tổ chức Việt Tân chống phá Đại hội đảng bộ với luận điệu rằng: “lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên - Huế mở Đại hội đảng, dù dân chúng khốn khổ vì lũ lụt”...

Bản chất cơ hội chính trị, chống phá Đảng, Nhà nước của các đối tượng đó là, Từ đầu năm 2020 đến nay, ảnh hưởng tình hình đại dịch COVID-19 khiến đời sống của người dân thêm muôn vàn khó khăn vì tác động xấu của sự suy thoái kinh tế toàn cầu. Khó khăn này chưa qua thì thiên tai lại ập đến với đồng bào miền Trung ruột thịt. Và trong những khó khăn này, chúng ta thật xúc động khi chứng kiến vô vàn những hành động, nghĩa cử cao đẹp cùng sự hy sinh quên mình của các chiến sỹ Công an, quân đội và sự giúp đỡ tận tình của đồng bào cả nước theo truyền thống cao đẹp của người Việt Nam “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách”. Thế nhưng, trên thực tế, một nghịch lý đang tồn tại như một thứ ung nhọt của xã hội khi số đối tượng xấu nêu trên giở giọng đạo đức giả của kẻ “ngụy quân tử”. Bề ngoài thì tỏ ra thương xót, lo lắng cho đồng bào, nhưng bản chất là lợi dụng tình hình dịch bệnh, sự vất vả của đồng bào trước thiên tai lũ lụt không chỉ để vụ lợi mà còn cố tình “bẻ lái” nhằm chống phá Đảng, Nhà nước.

Theo dõi suốt quá trình vừa qua, có thể thấy từ khi dịch COVID-19 bắt đầu bùng phát và được đẩy lùi cho đến nay là tình trạng mưa lũ kéo dài nhưng không hề thấy một đối tượng nào nêu trên thể hiện hành động có ý nghĩa thiết thực dù nhỏ nhất để giúp đỡ, hỗ trợ đồng bào vượt qua hoạn nạn, khó khăn. Ngược lại là những lời ngụy tạo, nói xấu, bôi nhọ chính quyền các cấp cùng các lực lượng phòng chống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn... Không chỉ vậy, trước những hy sinh mất mát to lớn của các chiến sỹ Công an, quân đội trong khi làm nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn, những kẻ đạo đức giả nêu trên không một lời tiếc thương, không một sự chia sẻ, không một nén hương mà cố tình làm ngơ, chỉ xoáy vào những thiếu thốn, khó khăn của người dân, phủ nhận mọi nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trên cả nước đang chung tay góp sức cùng đồng bào miền Trung vượt qua đợt lũ lụt lịch sử. Thậm chí một số kẻ còn nhẫn tâm xúc phạm đến danh dự và sự hi sinh cao quý của những người lính đã ngã xuống để bảo vệ cuộc sống của nhân dân. Và thật tiếc rằng, những luận điệu xuyên tạc, những thông tin sai trái đó khi chia sẻ trên các trang mạng xã hội, có những bài đạt tới hàng nghìn lượt like và bình luận bậy bạ khiến những người có lương tri và cán bộ, chiến sĩ Công an, quân đội rất bất bình. Chỉ những kẻ bất nhân mới đang tâm có những hành vi bịa đặt, bôi nhọ những người đã hy sinh cả tính mạng vì cuộc sống bình yên của cộng đồng, trong đó có cả bản thân họ.

Thủ đoạn của các đối tượng xấu đó là, Các đối tượng sử dụng các mạng xã hội để đăng tải thông tin một chiều, thổi phồng, xuyên tạc thông tin với mục đích đánh lạc hướng dư luận, làm cho người đọc dần có sự chuyển hóa về mặt tư tưởng theo hướng tiêu cực. Đặc biệt, với kỹ thuật cắt ghép, chỉnh sửa hình ảnh, kết hợp với lợi dụng lòng thương yêu trắc ẩn trong mỗi con người, qua đó tung lên mạng internet những hình ảnh đã được chỉnh sửa cùng các thông tin xấu độc nhằm tạo tâm lý bức xúc, bất bình trong nhân dân, dẫn dắt họ vào tư tưởng bất mãn, chống Đảng, chống Nhà nước, ủng hộ, cổ xúy cho các hành vi sai trái, coi cường kỷ cương, phép nước. Chẳng hạn như hình ảnh cậu bé bê bết bùn đất được tổ chức Việt Tân đưa lên mạng xã hội với chú thích một em bé Quảng Trị được cứu sống từ trong lòng đất, kèm theo đó là hàng loạt câu chữ xuyên tạc chủ trương đường lối của Đảng, chính sách của nhà nước. Thực tế đây là hình ảnh cậu bé bị ngã khi chơi đùa gần đồng ruộng, đã được báo chí đăng tải từ tháng 6-2020, 5 tháng trước khi lũ lụt xảy ra... Thâm độc hơn nữa là việc các đối tượng rất biết tận dụng những chủ đề nóng, thu hút được nhiều sự quan tâm của dư luận để dựng chuyện, đặt điều xuyên tạc nhằm hạ thấp uy tín của các cơ quan, ban, ngành liên quan đến các hoạt động “thiện nguyện” giúp đỡ đồng bào miền Trung. Chẳng hạn như việc có đối tượng đã lập một kênh facebook giả mạo Ban Tuyên giáo Trung ương để đăng tải các bài viết thể hiện rõ sự miệt thị, xúc phạm đến những cá nhân, hội nhóm đang quyên góp ủng hộ đồng bào bị ảnh hưởng bởi lũ lụt ở miền Trung. Thậm chí, trang này còn lợi dụng việc một ca sĩ đang tích cực quyên góp hỗ trợ người dân để tung tin sai sự thật, nói xấu các cơ quan Nhà nước. Từ đó, các đối tượng khác sẽ giở trò “đâm bị thóc, chọc bị gạo” để lu loa vu vạ cho rằng chính quyền “cản trở” lòng tốt của nhân dân, thậm chí còn tung tin đồn thất thiệt cho rằng đây là thủ thuật của Nhà nước để “ăn chặn” tiền cứu trợ của đồng bào lũ lụt... Đây là những thông tin bịa đặt hết sức nguy hiểm, tấn công trực tiếp đến những chính sách đúng đắn của Nhà nước trong việc quản lý, hướng dẫn, hỗ trợ để các nguồn cứu trợ nhân đạo đến đúng những người gặp khó khăn và cũng là để phòng ngừa, ngăn chặn hành động vụ lợi của những “con sâu, con mọt”. Trước tình hình trên, Ban Tuyên giáo Trung ương khẳng định đây hoàn toàn là những thông tin giả mạo, gây ảnh hưởng rất xấu, xúc phạm, ảnh hưởng đến uy tín của Ban Tuyên giáo Trung ương. Ông Vũ Thanh Mai - Chánh văn phòng Ban Tuyên giáo Trung ương khẳng định, Ban Tuyên giáo Trung ương không có tài khoản mạng xã hội nào và sẽ đề nghị cơ quan chức năng điều tra xử lý nghiêm theo pháp luật các đối tượng cố tình lập ra tài khoản giả mạo hoặc chế ảnh mạo danh Ban Tuyên giáo Trung ương.

Trước những vấn đề như đã phân tích ở trên, mỗi người dân cần tỉnh táo nâng cao cảnh giác và ý thức công dân để trở thành một phần của lá chắn trước những luồng thông tin độc hại; nêu cao tinh thần trách nhiệm trong việc tố giác, đấu tranh với các tài khoản giả mạo, phản bác thông tin xấu, độc hại. Lên án những suy nghĩ lệch lạc, hành động “ăn cháo đá bát”, táng tận lương tâm, bôi nhọ những người xả thân, quên mình vì cuộc sống và sự bình yên của nhân dân. Đồng thời cũng đề nghị các cơ quan chức năng cần sớm xác minh, làm rõ, xử lý nghiêm minh những hành vi phạm pháp, vô đạo đức như vậy.

Nhân quyền trên lĩnh vực tôn giáo nhìn từ góc độ pháp luật quốc tế và Việt Nam

 Trong suốt thời gian vừa qua, một số tổ chức và cá nhân luôn tìm cách sử dụng vấn đề tôn giáo để chống phá Việt Nam về dân chủ, nhân quyền. Luận điệu mà họ đưa ra là vu cáo Việt Nam đàn áp tôn giáo, vi phạm quyền “tự do tôn giáo” của người dân; đòi tách tôn giáo khỏi sự quản lý của Nhà nước, yêu cầu chính quyền không kiểm soát, kiểm duyệt các tôn giáo, cho phép tôn giáo được tự do hoạt động. Họ nêu ra các vấn đề rằng, “nhiều văn bản pháp luật Việt Nam về tôn giáo, dân tộc không tương đồng với Công ước quốc tế về quyền con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Thậm chí, họ còn trắng trợn phê phán, xuyên tạc “Luật tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam là tạo ra cơ sở pháp lý để đàn áp, bóp nghẹt tôn giáo”; “là bước thụt lùi về tự do tôn giáo”. Đồng thời họ còn cho rằng, Việt Nam đề ra chính sách pháp luật nhưng không thực hiện. Trong các Báo cáo về tự do tôn giáo quốc tế hàng năm do Cục Dân chủ, nhân quyền và lao động, Bộ Ngoại giao Mỹ công bố đều nêu nội dung: “Hiến pháp Việt Nam quy định quyền tự do tôn giáo, tuy nhiên Chính phủ vẫn tiếp tục hạn chế các hoạt động có tổ chức của nhiều tôn giáo”. Trong các báo cáo này còn nêu ra “các biện pháp hạn chế tự do tôn giáo”, “các trường hợp lạm dụng tự do tôn giáo…, một số tín đồ tôn giáo tiếp tục bị đàn áp hoặc sách nhiễu…”.

Các đối tượng còn tuyên truyền, chỉ trích, vu cáo “chính quyền Việt Nam cấm đoán nhiều tổ chức, hệ phái tôn giáo hoạt động” và “kiểm soát chặt chẽ” hoạt động của các tổ chức tôn giáo đã được Chính phủ công nhận, “cấm mục sư Tin lành đi lại truyền đạo, cấm con em những người theo đạo đến trường”, yêu cầu chính quyền “chấm dứt sự phủ quyết đối với việc bổ nhiệm các giám mục Công giáo” (thực tế, Vatican đã thỏa thuận với Chính phủ Việt Nam về việc bổ nhiệm giám mục ở Việt Nam phải được Nhà nước Việt Nam chấp thuận). Trong vấn đề đào tạo chức sắc tôn giáo, các đối tượng vu cáo “chính quyền hạn chế một cách “độc đoán” về số lượng sinh viên được phép đào tạo thành linh mục”. Một số tổ chức, cá nhân trên các danh nghĩa khác nhau đã gặp gỡ, tiếp xúc số chức sắc, tín đồ có tư tưởng cực đoan, quá khích trong các tôn giáo như: Thích Không Tánh (Phật giáo), Nguyễn Văn Lý (Công giáo), Nguyễn Hồng Quang (Tin lành), Hứa Phi (Cao Đài),... để hậu thuẫn, kích động, hỗ trợ cho số này tiến hành hoạt động vi phạm pháp luật. Khi những đối tượng này có hành vi vi phạm pháp luật và bị xử lý (bắt, giam giữ, truy tố, tù giam), họ thường có phản ứng quyết liệt để bênh vực, bảo vệ họ như: Phản đối, lên án ta đàn áp tôn giáo, yêu cầu ta phải trả tự do cho những người mà họ gọi là “tù nhân tôn giáo”, “tù nhân lương tâm”.

Quản lý Nhà nước về tôn giáo là yêu cầu khách quan

Thực tế cho thấy, không thể có quyền tự do tôn giáo tuyệt đối. Xét về bản chất, tôn giáo là một tổ chức tập hợp những người tin theo một đối tượng tôn thờ, được sắp xếp theo cơ cấu nhất định. Mọi tổ chức tồn tại, hoạt động trong xã hội đều phải chịu sự quản lý, giám sát của Nhà nước, tuân thủ quy định của pháp luật. Do vậy, các tôn giáo phải chịu sự quản lý của Nhà nước, phải chấp hành quy định của pháp luật. Việc ban hành các văn bản pháp luật để tiến hành quản lý nhà nước đối với các tôn giáo là nhu cầu tất yếu, khách quan của mọi quốc gia trên thế giới. Điều 18 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị quy định: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội hoặc để bảo vệ quyền và tự do cơ bản của người khác”. Ở nhiều nước trên thế giới, hoạt động tôn giáo cũng phải tuân thủ luật pháp như: Điều 26, Luật của Cộng hòa Pháp về tách Giáo hội khỏi Nhà nước quy định: “Việc tụ tập để thực hiện các nghi lễ tôn giáo phải báo cáo và chịu sự kiểm soát của các cơ quan chính quyền có chức năng gìn giữ trật tự công cộng. Ở những nơi chuyên vào việc thờ tự và thực hành nghi lễ tôn giáo cấm việc hội họp có tính chất chính trị”.

Điều 27 quy định: “Các nghi lễ, các cuộc rước tôn giáo tiến hành bên ngoài khu vực nhà thờ và việc kéo chuông phải tuân theo những quy định của chính quyền tỉnh, thành phố”. Luật pháp Cộng hòa Bỉ quy định trách nhiệm hình sự đối với những giáo sĩ có hành vi và lời nói xúc phạm tới Chính phủ, luật pháp, sắc lệnh của nhà vua cũng như đối với các hoạt động của chính quyền. Ở Cộng hòa Liên bang Đức, giáo sĩ cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự như công dân khác trong trường hợp vi phạm hiến pháp, pháp luật. Cũng ở Đức, các giám mục Thiên chúa giáo khi nhậm chức phải tuyên thệ: “Tôi xin thề và hứa sẽ tôn trọng Chính phủ hợp hiến. Chiểu theo nghĩa vụ phải quan tâm tới lợi ích của Nhà nước Đức trước bất kỳ sự gì khả dĩ tác hại tới lợi ích đó”. Ở Mỹ, hoạt động của các tổ chức tôn giáo được quản lý theo luật pháp của các bang. Luật của các bang quy định về hoạt động tôn giáo có những điểm khác nhau về chi tiết, song nhìn chung đều dựa trên yêu cầu thống nhất trong toàn liên bang như: Việc đăng ký thủ tục bắt buộc đối với các tổ chức tôn giáo trong toàn liên bang, lệ phí phải nộp cho chính quyền về việc đăng ký là 15 đô la; các cơ quan chính quyền của bang trực tiếp thi hành việc giám sát các hoạt động của các tổ chức tôn giáo trên địa bàn hành chính của bang. Chỉ sau khi được chính quyền xem xét, đồng ý cho phép thành lập thì các tổ chức tôn giáo mới được phép hoạt động và có tư cách pháp nhân. Ở Nhật Bản, Luật về các tổ chức tôn giáo có tư cách pháp nhân quy định rõ: Các cấp chính quyền quản lý các tổ chức tôn giáo là Bộ Văn hóa, tỉnh, huyện. Các tổ chức tôn giáo đều phải đăng ký ở Bộ Văn hóa và chỉ sau khi đã được đăng ký mới được hoạt động tại nơi đặt văn phòng của tổ chức đó.

Tôn trọng tôn giáo, tín ngưỡng và bảo đảm trên thực tế

Tại Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của người dân được đảm bảo. Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách về tôn giáo, trong đó đều khẳng định “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân”; “Đồng bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc”; “Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật. Các tôn giáo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật”... Thể chế hóa các quan điểm của Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo như Hiến pháp năm 2013, Luật Tín ngưỡng tôn giáo năm 2016, Nghị định số 162/NĐ-CP ngày 31/12/2017 về biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng tôn giáo... Trong các văn bản pháp luật này đều khẳng định Nhà nước tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Điều 24, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật”. Điều 3, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 quy định: “Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật”.

Thực tiễn tại Việt Nam cho thấy, các tôn giáo ở Việt Nam ngày càng đa dạng, được Đảng, Nhà nước bảo đảm hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Cùng với sự mở cửa, phát triển của đất nước, tôn giáo ở Việt Nam có sự phục hồi, phát triển mạnh mẽ, đa dạng hơn. Năm 1990, Việt Nam có 6 tôn giáo, 3 tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận, cùng với một số loại hình tín ngưỡng dân gian gắn với các dân tộc. Từ năm 2003, thực hiện Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo, Nhà nước đã công nhận tư cách pháp nhân cho 15 tổ chức tôn giáo thuộc 6 tôn giáo với khoảng 19 triệu tín đồ (chiếm 23,5% dân số). Đến năm 2020, đã có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động, khoảng 26,5 triệu tín đồ, sinh hoạt tôn giáo ở 29.660 cơ sở thờ tự. Về chức sắc, năm 1990, nước ta có khoảng 38 nghìn chức sắc, nhà tu hành, đến nay tăng lên 61,2 nghìn chức sắc, 147,1 nghìn chức việc (tổng số chức sắc, chức việc khoảng 208,3 nghìn), trong đó tăng nhanh và nhiều nhất là chức sắc Phật giáo và đạo Tin lành.

Trước năm 2003, trung bình hằng năm có khoảng 7 nghìn lượt người tốt nghiệp hoặc hoàn thành các khóa đào tạo chức sắc do các tôn giáo tổ chức, nhưng từ 2003 đến năm 2018, trung bình hằng năm có khoảng 15 nghìn lượt người (tăng 215%). Với 56 cơ sở đào tạo của các tôn giáo hiện có (gấp 3 lần so với năm 1990), cùng với nhiều hình thức đào tạo đa dạng, linh hoạt, tăng cường các hình thức đào tạo ngắn hạn, cả ở trong nước và ở nước ngoài (đối với các tôn giáo ngoại nhập, có quan hệ quốc tế như Công giáo, đạo Tin lành, Phật giáo, Hồi giáo) nên hàng ngũ chức sắc, chức việc tôn giáo ở Việt Nam ngày càng được đào tạo bài bản, nâng cao trình độ và uy tín, vai trò, ảnh hưởng đối với quần chúng tín đồ, không chỉ trong đời sống tinh thần mà cả trong đời sống xã hội. Lợi dụng tôn giáo để chống phá Việt Nam về dân chủ, nhân quyền là hoạt động xuyên suốt của những tổ chức, cá nhân và quốc gia thiếu thiện chí với Việt Nam. Trong khi thực tiễn là Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của người dân; nỗ lực bảo đảm cho các tôn giáo được hoạt động bình thường trong khuôn khổ pháp luật.

 

Lợi dụng dịch Covid-19 để xuyên tạc vấn đề nhân quyền ở Việt Nam

 Trước diễn biến phức tạp và tác động tiêu cực của đại dịch Covid-19 đối với nền kinh tế và đời sống xã hội, Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các lực lượng và toàn dân đã sẻ chia, chung sức, đồng lòng, huy động mọi nguồn lực phòng, chống dịch bệnh, ổn định cuộc sống nhân dân. Thế nhưng, dưới vỏ bọc “dân chủ”, “nhân quyền”, các thế lực thù địch tìm mọi cách xuyên tạc, bôi nhọ nhằm phủ nhận những thành quả phòng, chống dịch của đất nước. Đó là điều không thể chấp nhận.

Suốt thời gian vừa qua, lợi dụng tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp trên phạm vi cả nước, tạo nhiều phát sinh mới, chưa có tiền lệ, gây nhiều khó khăn, xáo trộn nền kinh tế và đời sống nhân dân, các nhà “dân chủ” vin cớ “bảo vệ nhân quyền” đẩy mạnh dàn dựng các “kịch bản” tuyên truyền, xuyên tạc một cách công phu, tỉ mỉ, với nhiều thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt, nhằm đánh lạc hướng dư luận, nói xấu Đảng, Nhà nước, tạo tâm lý bi quan, hoài nghi, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Họ rêu rao: “Việt Nam đối diện khủng hoảng kinh tế, xã hội toàn diện, chỉ biết phong tỏa mặc dân sống chết ra sao”; “không hỗ trợ cứu đói cho dân mà còn tận thu vơ vét tiền của dân”; thâm hiểm hơn, họ còn tung ra những video phỏng vấn ý kiến của những người lao động nghèo chưa được nhận hỗ trợ từ chính quyền để vu khống rằng “người nghèo không được hỗ trợ”, “chỉ có dân giúp dân, không thấy chính quyền đâu”, v.v. Từ đó, họ quy chụp là “Việt Nam đang lợi dụng Covid-19 để vi phạm nhân quyền”.

Vậy sự thật ở đây là gì? Đằng sau sự xuyên tạc ấy nhắm vào ai; mưu đồ của họ ra sao,… thực tiễn sẽ là minh chứng xác thực nhất. Như mọi người thấy rõ, đại dịch Covid-19 đã không chừa một quốc gia nào, nó không chỉ gây ra nhiều hệ lụy tiêu cực về kinh tế - xã hội trên khắp thế giới, mà còn khiến cho sự nỗ lực đảm bảo cuộc sống cũng như quyền con người ở các quốc gia, dù ở mức độ phát triển nào, đều bị ảnh hưởng nghiêm trọng, đặc biệt là ba quyền cơ bản: quyền sống, quyền lao động và quyền tự do. Ở Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, với chủ trương sát đúng cùng các giải pháp phù hợp, với tinh thần đoàn kết của dân tộc, chúng ta đã cơ bản kiểm soát được tình hình dịch bệnh, đưa đất nước vào trạng thái bình thường mới; qua đó, đẩy mạnh thực hiện “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch có hiệu quả, vừa phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an sinh xã hội. Nhờ đó, các quyền cơ bản của con người luôn được coi trọng và đảm bảo.

Về quyền sống, trong khi nhiều quốc gia trên thế giới còn đang lúng túng trong việc lựa chọn chiến lược để đối phó với Covid-19 thì Việt Nam xác định: Bảo vệ sức khỏe, tính mạng nhân dân là trên hết, trước hết. Với quan điểm vì nhân dân phục vụ, “không để ai bị bỏ lại phía sau”, Đảng và Nhà nước ta đã có những biện pháp mạnh mẽ, toàn diện, trước mắt có thể chịu thiệt hại về kinh tế, song bằng mọi giá phải bảo vệ tính mạng nhân dân. Thực hiện nhất quán quan điểm đó, Đảng và Nhà nước không để cho các nhóm người yếu thế bị thiệt thòi, chúng ta đã phát huy sức mạnh tổng hợp của mọi tổ chức, mọi lực lượng, huy động mọi nguồn lực trong xã hội với phương châm “3 trước”, “4 tại chỗ”1. Một mặt, các gói an sinh xã hội, phúc lợi xã hội được nhanh chóng quyết định và triển khai một cách đồng bộ, thiết thực. Mặt khác, hưởng ứng sự chỉ đạo, lãnh đạo đúng đắn của Đảng và Nhà nước, phong trào tương thân tương ái, sẻ chia, đùm bọc đã lan tỏa rộng khắp cả nước. Những thuật ngữ mới, mang tính nhân văn đã xuất hiện và đi thẳng vào truyền thông quốc tế, như: “ATM gạo”, “ATM ô xy”, “Cửa hàng 0 đồng”,… đã làm cho cả thế giới thán phục với tinh thần và tấm lòng người Việt Nam. Chính phủ luôn bám sát thực tiễn, nắm chắc diễn biến, bất kể ngày đêm và trong nhiều tình huống khẩn cấp, kịp thời ban hành chỉ thị, nghị quyết, công điện, “thực hiện quyết liệt, đồng bộ, linh hoạt các nhiệm vụ, giải pháp phòng, chống phù hợp với tình hình diễn biến dịch Covid-19. Đồng thời, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và sự tham gia tích cực của các tổ chức, cộng đồng doanh nghiệp, nhân dân cả nước,... từng bước kiểm soát tình hình dịch bệnh Covid-19, sớm đưa cuộc sống trở lại trạng thái “bình thường mới”. Ban Chỉ đạo phòng, chống các cấp luôn tận tâm, tận lực, túc trực chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện liên tục 24/24 giờ cho đến khi mọi việc được kiểm soát an toàn. Tất cả các cấp, ngành, địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội đã vào cuộc đồng bộ, quyết tâm cao nhất, đoàn kết, đồng lòng và hành động quyết liệt vì mục tiêu tối thượng là bảo vệ tính mạng, sự bình yên và hạnh phúc của nhân dân. Bất chấp mọi gian nguy, vất vả, hàng vạn y, bác sĩ, tình nguyện viên, cán bộ, chiến sĩ Quân đội, Công an, Dân quân tự vệ luôn xung kích, có mặt trên tuyến đầu chống dịch, ở tâm điểm của những nơi khó khăn nhất cùng chính quyền cơ sở, trực tiếp tiến hành và hướng dẫn, động viên nhân dân phòng, chống dịch bệnh Covid-19, trở thành điểm tựa niềm tin, gắn kết chặt chẽ tình cảm quân - dân, khắc sâu hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, người chiến sĩ Công an nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân dân phục vụ. Trong bất kỳ tình huống nào, Đảng, Nhà nước luôn hành động vì lợi ích quốc gia - dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Vì vậy, mọi luận điệu xuyên tạc, bịa đặt dẫu có tinh vi đến đâu cũng đều bị chính những kết quả thực tiễn sinh động bác bỏ.

Về quyền lao động, trước những diễn biến vô cùng phức tạp của dịch bệnh Covid-19 với số lượng ca nhiễm, ca tử vong cao, Đảng, Chính phủ thực hiện nhất quán quan điểm “lấy tính mạng, sức khỏe của người dân là trên hết, trước hết”2, bằng mọi biện pháp không để đứt gãy chuỗi cung ứng lao động, lưu thông, vận chuyển hàng hóa, bảo đảm phân phối lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm, ổn định đời sống của người dân, nhất là người dân ở những khu vực phong tỏa, cách ly, giãn cách. Thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ, bảo đảm an sinh xã hội; thường xuyên rà soát, cập nhật, không bỏ sót đối tượng cần cứu trợ, không để ai bị thiếu đói, rơi vào cảnh “màn trời chiếu đất” hoặc tính mạng bị đe dọa. Đặc biệt, luôn coi trọng chăm lo cho các đối tượng chính sách, hộ nghèo, phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, người yếu thế, người có hoàn cảnh khó khăn, người mất việc làm do dịch bệnh Covid-19 và lực lượng trên tuyến đầu chống dịch. Ngày 01/7/2021, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 68/NĐ-CP, “về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19” với tổng số tiền hỗ trợ lên đến 26.000 tỉ đồng. Các gói hỗ trợ này đã nhanh chóng đến tận tay người lao động, người yếu thế trong xã hội, giúp họ vượt qua khó khăn trong dịch bệnh. Dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, hàng trăm nghìn túi hàng an sinh, gói thực phẩm cứu trợ được trao trực tiếp đến từng hộ gia đình; hàng chục nghìn tỉ đồng mà doanh nghiệp, người dân cả nước quyên góp đã được chuyển đến đúng người, đúng nơi. Sát cánh, đồng hành cùng chính quyền và cả hệ thống chính trị, đồng bào, chiến sĩ cả nước, kiều bào ta ở nước ngoài luôn hướng về các địa phương nơi tâm dịch với tất cả tình cảm chân thành, tinh thần tương thân, tương ái và sự góp sức, sẻ chia sâu sắc nhất để cùng chiến thắng dịch bệnh. Mục tiêu “không ai bị bỏ lại phía sau” là xuyên suốt, nhất quán, được Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị thực hiện triệt để, hiệu quả ngay từ khi đại dịch Covid-19 xuất hiện. Hơn thế, Đảng, Nhà nước ta luôn xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, “lấy người dân là trung tâm phục vụ, là chủ thể phòng, chống dịch”, “chiến thắng dịch bệnh là chiến thắng của Nhân dân”. Không chỉ trong thiên tai, thảm họa, dịch bệnh mà bất luận trong hoàn cảnh nào, người dân luôn được cấp ủy, chính quyền và các lực lượng chức năng bảo vệ, bảo đảm cả về tính mạng, tài sản và điều kiện sống.

Về quyền tự do, đại dịch Covid-19 đã gây ra sự rối loạn, hạn chế, và thậm chí là tê liệt các quyền: đi lại, học tập, hội họp, tín ngưỡng,… của người dân ở các quốc gia mà nó lan tới. Hầu hết các quốc gia, kể cả các quốc gia có độ mở cao, thậm chí ban đầu có sự lựa chọn thiên về miễn dịch cộng đồng, rút cuộc đều phải tạm đóng cửa biên giới. Ở các mức độ khác nhau và ở các thời điểm khác nhau, các nước buộc phải ban bố lệnh phong tỏa, hạn chế đi lại, yêu cầu giãn cách xã hội. Đây là thực trạng chưa từng có tiền lệ, nó tác động sâu sắc, tiêu cực đến tâm lý xã hội, con người trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng đã là xu thế lớn trong nhiều thập kỷ qua. Trong điều kiện như vậy nhưng đối với công dân Việt Nam ở nước ngoài, Chính phủ đã chủ động liên hệ, sắp xếp và tổ chức hàng trăm chuyến bay trợ giúp kiều bào rời khỏi vùng dịch về nước an toàn. Ở trong nước các phương án giãn cách, cách ly, thể hiện sự quyết đoán, quyết tâm của nhà nước để dập dịch, đảm bảo an ninh xã hội và sức khỏe người dân. Tuy nhiên, có thời điểm, do dịch diễn biến nhanh, với nhiều biến thể phức tạp, đe dọa trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của cả cộng đồng và kèm theo nhiều vấn đề mới phát sinh, chưa có tiền lệ, v.v. Trước tình hình đó, Chính phủ chủ trương mạnh dạn áp dụng nhiều biện pháp phòng, chống dịch theo phương châm: không cầu toàn, làm đến đâu rút kinh nghiệm đến đó, lấy việc kịp thời cứu chữa, bảo vệ an toàn sức khỏe cho nhân dân là trên hết, trước hết. Đặc biệt, thời gian gần đây, để phù hợp với trạng thái bình thường mới, các phương án phòng, chống dịch đã thể hiện tính linh hoạt, vừa thực hiện phong tỏa, cách ly “diện hẹp” những nơi có yếu tố dịch tễ, vừa bảo đảm đi lại, sinh hoạt và sinh kế của doanh nghiệp, người dân, v.v. Song những nhà “dân chủ” lại xuyên tạc rằng: việc thực hiện siết chặt giãn cách ở một số địa phương là “biện pháp sai lầm, phi khoa học”, cho rằng quyết định này sẽ là thảm họa; không thể coi “chống dịch như chống giặc” để nhốt dân, “tra tấn dân”,… từ đó vu cáo cách làm này “chỉ làm dịch lan rộng, dân chưa chết vì dịch bệnh thì đã chết vì đói”. Đó còn là nạn tin giả, kẻ “nối giáo cho giặc” - với những đánh giá thiếu khách quan, đi ngược lại các tiêu chí bảo đảm quyền con người. Thực chất, việc áp dụng giãn cách xã hội là một trong những giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn sự lây lan của dịch bệnh được hầu hết các nước trên thế giới áp dụng. Thực tế các đợt dịch trước ở Việt Nam đã chứng minh, thực hiện thông điệp 5K, áp dụng giãn cách xã hội vẫn là giải pháp chủ đạo để ngăn chặn sự lây lan bệnh, cùng với nỗ lực tiêm phòng vắc xin. Đây là cách thức khoa học, đúng đắn đã được các cấp chính quyền quyết liệt thực hiện, được nhân dân đồng tình ủng hộ, qua đó đã hạn chế sự lây lan của dịch bệnh. Nhiều nước trên thế giới cũng áp dụng quyết liệt phương pháp này và đã thành công ở từng mức độ cụ thể, cùng với việc tăng cường tiêm phòng vắc xin. Tại Việt Nam, với kết quả phòng, chống dịch hiệu quả, người dân Việt Nam vẫn được hưởng mọi quyền tự do một cách bình thường, đặc biệt là việc tự do đi lại và tự do thông tin. Người dân Việt Nam được tiếp nhận đầy đủ thông tin cập nhật từng ngày, từng giờ, thậm chí là từng phút về tình hình thế giới, nhất là tình hình dịch bệnh; Chính phủ luôn công khai, minh bạch mọi thông tin, mọi biện pháp phòng chống dịch để dân biết, dân hiểu và hưởng ứng, làm theo. Do đó, việc Việt Nam xử phạt các cá nhân, tổ chức phát tán thông tin sai lệch gây hoang mang cho nhân dân làm ảnh hưởng xấu đến công tác phòng, chống dịch Covid-19 là nhằm ngăn chặn, làm cho nạn tin giả không còn “đất dụng võ”, bảo đảm cho người dân hiểu và tin vào các giải pháp phòng, chống dịch của Chính phủ, chính quyền các cấp. Đó không phải là Việt Nam vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt, vi phạm nhân quyền như luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Trong bức tranh chung toàn cầu, Việt Nam, một quốc gia ở mức phát triển trung bình thấp đã phòng, chống dịch Covid-19 hiệu quả và hơn thế nữa, đảm bảo tốt quyền con người cho nhân dân. Là người Việt Nam chân chính, không ai là không hiểu được sự thâm hiểm và ý đồ phá hoại của những nhà “dân chủ” và các thế lực thù địch phản động. Cho dù cuộc chiến phòng, chống đại dịch Covid-19 còn nhiều khó khăn, phức tạp, nhưng với quyết tâm của toàn Đảng, các cấp, ngành, cả hệ thống chính trị và toàn dân chúng ta nhất định thắng lợi, như niềm tin mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đưa ra trong Lời kêu gọi phòng, chống đại dịch Covid-19: “Tôi tin tưởng sâu sắc rằng, cả nước góp sức, toàn Đảng, toàn dân đồng lòng, thống nhất ý chí và hành động, cùng với sự giúp đỡ chí tình của đồng bào ta ở nước ngoài và bạn bè quốc tế, nhất định chúng ta sẽ chiến thắng đại dịch Covid-19 và phải chiến thắng cho bằng được, góp phần xứng đáng vào sự nỗ lực chung của toàn nhân loại vì một thế giới an toàn, lành mạnh, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và thịnh vượng, xứng đáng với truyền thống anh hùng vẻ vang của Đất nước ta, Dân tộc ta”.

Chuyện tình đẹp về cây sáo tơm của người Khơ Mú

 

 Sáo tơm là nhạc cụ phổ biến của cộng đồng người Khơ Mú. Nhạc cụ này có thể độc tấu, hòa tấu và thường xuyên nhất là đệm cho các làn điệu hát tơm và còn gắn với một chuyện tình đẹp.

Cũng như nhiều bản làng người Khơ Mú khác ở  miền núi Nghệ An, cư dân ở Na Bè, xã Xá Lượng, huyện Tương Dương (Nghệ An) cũng rất coi trọng đời sống tinh thần, trong đó có các làn điệu dân ca Tơm và Re ré. Trong khi Re ré chỉ được hát tại các tang lễ thì hát Tơm lại là món ăn tinh thần phổ biến được truyền khẩu qua nhiều thế hệ.

Chuyện tình đẹp về cây sáo tơm của người Khơ Mú - 1

Sáo tơm có kết cấu đơn giản gồm 2 hoặc 3 khúc nứa nhỏ nối lại với nhau. Trên thân sáo có từ 2 đến 4 lỗ, tùy mục đích dùng mà chế tác (Ảnh: Thúy Quỳnh).

Hát Tơm là một thể loại dân ca gồm nhiều làn điệu như hát đón khách, hát xin dâu, trai gái giao duyên, hát ghẹo nhau giữa nam và nữ hay giữa những người bạn trong tiệc rượu, hát mừng lúa mới, nhà mới hay chào đón năm mới…

Cũng như các làn điệu của dân ca Thái, một bài Tơm của người Khơ Mú ở Nghệ An thường bắt đầu bằng câu "ơ hời". Độ dài của câu này thường từ 3 đến 5 nốt nhạc tùy người hát. Câu mở đầu này gần như lời dạo đầu trong các điệu hò của người Nghệ - Tĩnh, Huế hay vùng Nam Bộ. Sau lời dạo đầu này mới đến phần nội dung chính của bài hát. Lời ca của các làn điệu Tơm thường mộc mạc, ít xa xôi, hình tượng. Lời ca khỏe khoắn và gần gũi với không gian sống hoang sơ chốn rừng núi.

Nhưng có một thứ không thể thiếu khi hát Tơm là tiếng sáo. Người Khơ Mú và Thái ở Nghệ An gọi nhạc cụ này là "pí tơm" (sáo tơm). Sáo tơm có kết cấu đơn giản gồm 2 hoặc 3 khúc nứa nhỏ nối lại với nhau.

Trên thân sáo có từ 2 đến 4 lỗ, tùy mục đích dùng mà chế tác. Chính vì thế mà độ dài ngắn của các cây sáo cũng sẽ khác nhau. Một bộ phận quan trọng của sáo tơm là lưỡi gà ở đầu sáo. Lưỡi gà này chủ yếu làm bằng nứa. Để tiếng sáo được trong và vang hơn, người ta cũng có thể dùng lưỡi gà bằng đồng hoặc sắt. Sau khi cây sáo hỏng, người ta có thể cất riêng lưỡi gà ra để dùng cho những lần sau.

Chuyện tình đẹp về cây sáo tơm của người Khơ Mú - 2

Để tiếng sáo được trong, vang xa và giữ được lâu thì đòi hỏi thêm một số yếu tố đó là cây nứa phải nhỏ và già, có độ mỏng.

Theo một số người nghiên cứu âm nhạc dân tộc thiểu số thì sáo tơm chỉ có 2 nốt chính là la và rê. Khi chơi, người nhạc công chủ yếu dùng hai nốt này và những biến tấu quanh chúng để tạo các âm vực khác nhau. Chính vì thể, cây sáo tơm có thể dùng độc tấu, hòa tấu và thường xuyên để đệm cho các điệu hát.

Ông Moong Văn Cường, một người chơi sáo tơm giỏi ở bản Na Bẻ chia sẻ, để tạo ra một nhạc cụ chỉ cần một vài đoạn nứa, một con dao nhọn. Tuy nhiên, để tiếng sáo được trong, vang xa và giữ được lâu thì đòi hỏi thêm một số yếu tố đó là cây nứa phải nhỏ và già, có độ mỏng. Nếu thân nứa lớn sẽ khó thổi, tốn hơi sức và tiếng không trong. Nứa dày quá tiếng sáo sẽ nhỏ và không vang xa. Những ống sáo làm từ cây nứa già khi khô sẽ không méo mó và tiếng sáo luôn trong trẻo...

Có một câu chuyện dân gian liên quan đến cây sáo tơm của người Khơ Mú mà hầu như người chơi sáo nào cũng biết đó là chuyện tiếng sáo của Cụt Phò Ri. Vợ chồng Gưn Cung (trưởng bản) đã nhiều tuổi nhưng vẫn hiếm muộn. Lần nọ, vợ Gưn Cung đi vào rừng bỗng nhiên có một con nai nói vẳng vào tai: "Mẹ ơi! cho con về nhà với".

Sau đó không lâu bà vợ mang bầu và sinh hạ một bé gái. Họ đặt tên là nàng Nai. Nàng Nai càng lớn càng xinh đẹp. Nhiều trai bản đến xin Gưn Cung cho ở rể để cưới nàng về làm vợ. Thế mà nàng chẳng đồng ý lấy ai. Chẳng ai biết Nai đã phải lòng chàng trai nghèo tên là Cụt Phò Ri.

Ri mồ côi, nghèo khổ, cơm không đủ ăn, áo chẳng đủ mặc nhưng là người hiền lương khó ai sánh kịp. Ngày lên rừng, tối đến Cụt Phò Ri lại đem cây sáo tơm ra thổi. Tiếng sáo tơm khiến tâm can nàng Nai rung động. Một đêm, nàng lần theo tiếng sáo tìm đến gặp Cụt Phò Ri và hai người trở thành bạn tình.

Chuyện tình đẹp về cây sáo tơm của người Khơ Mú - 3

Làn điệu tơm là "món ăn" tinh thần phổ biến được truyền khẩu qua nhiều thế hệ.

Gưn Cung biết con gái yêu chàng trai nghèo nên gọi Cụt Phò Ri đến đánh mắng và đuổi ra khỏi bản. Nàng Nai bị ép phải hứa hôn với con trai một tù trưởng khác. Dù bị đuổi đi, nhưng tiếng sáo của Cụt Phò Ri vẫn luôn vang lên, trong trẻo đầy lạc quan. Một đêm, nàng Nai lại lần theo tiếng sáo và tìm thấy Cụt Phò Ri người chỉ quấn vỏ cây đang thổi sáo trong một hốc cây lớn, nàng liền xé vạt áo dài của mình cho chàng làm khố và hai người thành vợ chồng.

Gưn Cung ra điều kiện nếu muốn lấy con gái ông và ở lại bản thì trong ba ngày phải kiếm về 30 sọt măng đắng, 30 hũ mật ong và săn được 30 con lợn rừng. Nhờ tài thổi sáo, Cụt Phò Ri được các con thú trong rừng như: Nhím, gấu, hổ... giúp đỡ đã đem về đủ lễ vật. Sau này, Gưn Cung còn nhường ngôi vị cho anh lên thay mình khi về già.

Từ đó, người Khơ Mú càng thêm yêu tiếng sáo. Mỗi khi có đám cưới, làng bản lại ngân vang tiếng nhạc và những điệu tơm. Tuy nhiên, ngày nay, không còn nhiều người trẻ của cộng đồng Khơ Mú còn yêu thích sáo cũng như hát tơm. Cũng như nhiều loại hình dân ca khác, hát Tơm và sáo tơm đang đứng trước nguy cơ mai một, mặc dù chính quyền địa phương ở các địa bàn có người Khơ Mú cư trú đã ra sức bảo tồn loại hình dân ca độc đáo này.