Thứ Năm, 10 tháng 2, 2022

LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, BỊA ĐẶT CỦA PHẠM NHẬT BÌNH

 


Trên trang Bureau CTM Media – Á Châu Phạm Nhật Bình đăng tải bài viết với tựa đề: “Báo CAND: Dân chủ không đồng nghĩa với đa nguyên, đa đảng”. Theo đó, y cho rằng từ khi có sự xuất hiện nhà nước cộng sản, hai chữ dân chủ trở thành món hàng trang trí, … nguyên nhân là do một đất nước độc đảng, đây là quan điểm hoàn toàn xuyên tạc, bịa đặt của Phạm Nhật Bình về nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mà nhân loại đang hướng đến xây dựng. Bởi vì:

Thứ nhất, dân chủ là một giá trị xã hội mang tính toàn nhân loại.

Dân chủ đã xuất hiện từ thời cổ xưa. Dân chủ là khát vọng của con người. Xuất phát từ một từ Hy Lạp cổ đại demokratia, dân chủ có nghĩa là quyền lực nhân dân, quyền lực của nhân dân, toàn bộ quyền lực thuộc về nhân dân.

Dân chủ là một phạm trù lịch sử. Theo C. Mác và Ph.Ăng-ghen, dân chủ là phương tiện tất yếu để con người đạt tới tự do, giải phóng toàn diện những năng lực vốn có của mỗi cá nhân, tức quyền con người được bảo đảm và thực hiện đầy đủ. Đặc trưng cơ bản của dân chủ là, tất cả các công dân đều có quyền tham dự vào đời sống chính trị, quyền lực cao nhất của đất nước thuộc về đại diện của nhân dân; mọi công dân đều có quyền bình đẳng trước pháp luật.

Dưới chế độ nô lệ và phong kiến, tư tưởng thần quyền và phân biệt đẳng cấp hà khắc đã tước bỏ tự do, dân chủ của nhân dân. Giai cấp tư sản đã lật đổ chế độ chuyên chế quân chủ, xác lập chế độ nghị viện, phổ thông đầu phiếu, hai đảng (hoặc chế độ đa đảng), phân quyền, bình quyền…, đây là những nội dung chủ yếu của chế độ dân chủ tư sản. Dân chủ tư sản được xây dựng trên cơ sở phủ định chế độ chuyên quyền phong kiến, vì thế, trong sự phát triển chung của lịch sử, nó có những đóng góp tích cực, thể hiện sự tiến bộ nhất định. Nhưng, dân chủ tư sản được xây dựng trên cơ sở chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, chỉ những nhà tư bản lớn mới là những người nắm giữ vai trò quyết định, điều đó có nghĩa dân chủ không bao giờ thuộc về quảng đại nhân dân. Do đó, dân chủ xã hội chủ nghĩa mới thực sự là nền dân chủ ưu việt, phát triển cao hơn dân chủ tư sản.

Thứ hai, xét về bản chất, dân chủ xã hội chủ nghĩa là chế độ quyền lực thuộc về nhân dân, do nhân dân quản lý và điều hành xã hội.

Chế độ đó do liên minh công nhân, nông dân và đội ngũ trí thức làm nòng cốt, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản lãnh đạo. Nhân dân làm chủ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội thông qua các hình thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp. Đảng Cộng sản lãnh đạo nhà nước và xã hội thông qua nguyên tắc tập trung dân chủ, gắn dân chủ với kỷ cương, đảm bảo bằng luật pháp trên nguyên tắc thượng tôn pháp luật. Bên cạnh đó, dân chủ xã hội chủ nghĩa còn là chế độ gắn kết và đảm bảo tính dân tộc kết hợp với tính nhân loại sâu sắc, đảm bảo mọi quyền lợi thực tiễn của mọi cá nhân gắn liền với nghĩa vụ và trách nhiệm của cá nhân đối với cộng đồng xã hội.

Mỗi một quốc gia có quyền lựa chọn chế độ dân chủ phù hợp, không nhất thiết mô phỏng chế độ dân chủ của quốc gia khác. Chế độ dân chủ của một quốc gia phù hợp với đặc điểm lịch sử, văn hóa, thể chế chính trị, kinh tế… của từng nước. Thực tiễn chứng minh, chế độ chính trị phương Tây cũng đầy rẫy những bất công và tình trạng vi phạm dân chủ, không “hoàn hảo”, khác với nhiều người vẫn ra sức tán dương, ca tụng, chỉ nhìn bề ngoài mặt nạ (?!). Trái lại, một số quốc gia đã phải trả giá đắt cho việc bê nguyên xi mô hình dân chủ phương Tây, dẫn tới những bất ổn, thậm chí rơi vào vòng xoáy của khủng hoảng và nội chiến kéo dài.

Thứ ba, dân chủ không phụ thuộc vào chế độ một đảng hay đa đảng

Lịch sử hiện đại đã chứng minh, trình độ dân chủ không tỷ lệ thuận với với sự gia tăng số lượng đảng chính trị. Chẳng hạn Ácmênia có khoảng 40 đảng, Hà Lan có khoảng 25 đảng, Na Uy có 23 đảng… nhưng không thể kết luận Ácmênia dân chủ hơn Hà Lan, Na Uy. Hiện nay, trên thế giới có khoảng hơn 30 nước theo chế độ một đảng, như: Ăngtigoa, Arâp Xêút, Baren, Bênanh, Bôxnia, Bốtxoana, CuBa, Cômô, Fiji, Gămbia, Gana, Ghinê, Bítxao, Haiti, Hônđurat, Bờ Biển Ngà, Giamaica, Lào, Libi, Cộng Hoà Dân Chủ nhân dân Triều Tiên, Mônacô, Namibia, Ruanđa, Xômali, Tátgikixtan, Tôgô và Việt Nam… Trong các nước trên, chỉ có ba nước Triều Tiên, Lào, Việt Nam là do Đảng Cộng sản giữ vai trò cầm quyền. Điều đó nói lên: Thứ nhất, Chế độ chính trị do một đảng cầm quyền không phải là đặc điểm chỉ có ở các nước xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Thứ hai, không phải các nước theo chế độ một đảng không bảo đảm dân chủ.

Ngay trong chủ nghĩa tư bản, có những thời kỳ một số quốc gia, vùng lãnh thổ theo chế độ một đảng duy nhất cầm quyền vẫn đảm bảo dân chủ và phát triển mạnh mẽ. Như cuối những năm 1980, Xingapo, Hàn Quốc, Đài Loan… Vẫn theo chế độ một đảng duy nhất cầm quyền, nhưng vươn lên phát triển mạnh mẽ. Ngược lại, ở các nước đa đảng, dân chủ cũng không được thực hiện tốt.

Như vậy chúng ta thấy rằng, toàn bộ nội dung trong bài viết của Phạm Nhật Bình rõ ràng là sự vu cáo, bịa đặt, xuyên tạc 100%, xét về cả phương diện lý luận và thực tiễn. Bài viết của y, hòng lừa bịp, đánh tráo quan niệm và gây tâm lý hoang mang, phá hoại niềm tin của quần chúng nhân dân vào sự nghiệp cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đã lựa chọn./.

T3.

 

“NHÓM BÁO SẠCH” VÀ NHỮNG MIẾNG BÁNH VẼ

 


Với mong muốn tiếp tục “sự nghiệp” còn dang dở của Phạm Chí Dũng và đồng bọn của y đang phải trả giá vì tội chống phá Đảng, Nhà nước, Phạm Lê Đoan trong bài viết “Doanh nghiệp xã hội về lãnh vực báo chí” đăng trên Vietnamthoibao đã vọng tưởng về tương lai của “Hội nhà báo độc lập” – một tổ chức núp bóng “xã hội dân sự” vốn dĩ không có tư cách pháp nhân và không được pháp luật Việt Nam thừa nhận, trở thành “doanh nghiệp xã hội”, để rồi lên tiếng về “tự do tôn giáo”, “giáo dục đạo đức cho giới trẻ”, “hỗ trợ người dân yếu thế”…

Có thể thấy “miếng bánh vẽ” do Đoan vẽ ra hết sức thâm độc, đây thực chất là thủ đoạn của những kẻ lợi dụng “tự do báo chí”, “tự do ngôn luận” chống phá Đảng, Nhà nước ta, hòng chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây xói mòn niềm tin của quần chúng nhân dân với Đảng Nhà nước và chế độ.

Trên thực tiễn, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, trong đó: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình, việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” như Hiến pháp 2013 và Luật Tiếp cận thông tin và Luật Báo chí sửa đổi năm 2016, góp phần bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí được thực thi trong thực tế đời sống, xã hội. Những số liệu ở Việt Nam cho thấy có khoảng 41.000 nhân sự đang tham gia hoạt động trong lĩnh vực báo chí; 779 cơ quan báo chí, 72 cơ quan được cấp phép hoạt động phát thanh truyền hình; ngoài ra còn có khoảng 70% dân số sử dụng điện thoại di động, tỷ lệ dân số sử dụng Internet qua thiết bị di động chiếm khoảng 95%. Cũng theo số liệu thống kê của NapoleonCat tính tới tháng 6 – 2021, tổng số người dùng Facebook tại Việt Nam là gần 76 triệu người, chiếm hơn 70% dân số toàn quốc. Những minh chứng trên cho thấy, người dân Việt Nam có đầy đủ quyền tự do ngôn luận, việc thực thi dân chủ ở Việt Nam còn tốt hơn nhiều nước “dân chủ” khác, đâu cần mấy “doanh nghiệp xã hội báo chí” hay các tổ chức “xã hội dân sự” như Phạm Lê Đoan tưởng tượng ra.

Hơn nữa, “nhóm báo sạch”  luôn rêu rao “tự do báo chí”, “tự do ngôn luận” nhưng thực sự đã giúp ích được gì cho dân, cho nước hay chỉ tung tin giả mạo, bôi nhọ, nói xấu chính quyền, kích động, gây hoang mang trong quần chúng. Đơn cử, trong khi Nhà nước đang nỗ lực ngăn chặn, kiểm soát và đẩy lùi dịch bệnh Covid-19, thì bọn chúng lại dựng chuyện về số người mắc bệnh, số ca tử vong và loan tin tốc độ lây lan dịch bệnh lớn hơn nhiều lần con số do Chính phủ công bố, tạo tâm lý sợ hãi cho cộng đồng, làm xáo trộn đời sống xã hội. Bản thân trong nội bộ nhóm báo sạch cũng tự phân hóa, rã đám khi phát hiện sự không “sạch” như tiêu chí họ đề ra. Những hành vi của “nhóm báo sạch” và một số kẻ khởi xướng thành lập “Hội Nhà báo độc lập Việt Nam” đã phải trả giá bằng hình phạt nghiêm minh của pháp luật. Từ đó, có thể khẳng định những vọng tưởng mà “nhóm báo sạch” đưa ra là không thực tế, “miếng bánh vẽ đó” rốt cuộc chỉ là âm mưu thâm độc hại nước, hại dân mà thôi.

          Từ tình hình trên cho thấy, các thế lực thù địch đã và đang tập trung tiến hành hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước trên không gian mạng. Đáng chú ý, là vấn đề nhân quyền, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Do vậy, mỗi người dân cần nâng cao ý thức trách nhiệm, tinh thần cảnh giác và năng lực tự sàng lọc thông tin trước tin đồn phát tán trên không gian mạng. Mỗi cơ quan chức năng cần làm tốt công tác quản lý, kịp thời, nhận diện, đấu tranh bác bỏ mọi âm mưu của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí nhằm đưa ra những thông tin sai trái, xuyên tạc, tác động tiêu cực dư luận xã hội; chủ động phối hợp với các nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội lớn từ nước ngoài, như Facebook, Google, Twitter, Youtube để kịp thời ngăn chặn, xử lý, loại trừ những nguy cơ ảnh hưởng đến an toàn xã hội, an ninh quốc gia./.

T3.

 

NGUYỄN DÂN – KẺ XUYÊN TẠC, VU CÁO VAI TRÒ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 


Vừa qua, trên trang Danlambao, Nguyễn Dân có bài viết với tựa đề: “Niềm tin và gian dối”. Theo đó, y cho rằng: Tám mươi năm vẫn với luận điệu tuyên truyền: do dân, vì dân phục vụ dân là dối gian, tráo trở, là gian manh lừa mị, Với giọng điệu này, Nguyễn Dân hoàn toàn phủ nhận, xuyên tạc, bịa đặt trắng trợn vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng của Nhân dân ta. Bởi vì:

Thứ nhất, Đảng ra đời, đấu tranh phấn đấu vì hạnh phúc của Nhân dân và Đảng thuộc về Nhân dân.

Đảng ra đời và phát triển không vì mục đích tự thân, mà vì mục đích đấu tranh giành độc lập cho dân tộc, tự do, hạnh phúc cho Nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của giai cấp, dân tộc và của Nhân dân. Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã đảm nhận trọng trách lớn lao mà Tổ quốc và Nhân dân giao phó, đó là lãnh đạo Nhân dân tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc, thực hiện độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Với Cương lĩnh chính trị đúng đắn, phù hợp điều kiện cụ thể của Việt Nam và xu thế của thời đại, Đảng đã không chỉ hấp dẫn, quy tụ mà còn lãnh đạo nhân dân Việt Nam, những người đang bị đọa đày trong đêm trường nô lệ kiên cường vượt mọi khó khăn, thử thách tiến hành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, giành lại độc lập, tự do vào mùa Thu năm 1945; tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội 1945-1975; tiến hành công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng 1986 đến nay.

Thứ hai, thực tiễn đã minh chứng không thể phủ nhận được vị trí, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng.

Hơn 91 năm với 13 kỳ Đại hội, có thể khẳng định rằng, nội dung các văn kiện của 13 kỳ Đại hội và các nghị quyết chuyên đề của Đảng đều khẳng định rõ; Quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đều vì lợi ích của Nhân dân. Tinh thần, hành động của mỗi cấp ủy, chính quyền từ Trung ương đến cơ sở đều nhằm mục tiêu phục vụ Nhân dân, lấy sự hài lòng, niềm tin tưởng của người dân làm thước đo hiệu quả công tác lãnh đạo toàn diện sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đó là sự thật, chứ không phải: Sự lãnh đạo của Đảng là “dối gian tráo trở”, “là gian manh lừa mị”, “dân tộc chưa bao giờ hết khổ”; “đất nước trở nên tụt hậu nghèo nàn chỉ vì người cs cầm quyền… , toàn dân không có được ấm no hạnh phúc” như Nguyễn Dân vu cáo, bịa đặt một cách thô thiển. Thực tiễn hơn 91 năm qua đã kiểm chứng sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định đem lại cuộc sống ấm no, tự do hạnh phúc cho Nhân dân trở thành chân lý không ai có thể chối cãi được.

Thứ ba, trên thực tế Nhân dân được thụ hưởng những thành quả của sự nghiệp cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Nhân dân đi theo Đảng, hưởng ứng phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng trước hết vì những mục tiêu rất thực tế, để đáp ứng những nhu cầu thiết thân hằng ngày và nâng cao chất lượng cuộc sống ngày càng tốt hơn, cả về vật chất và tinh thần. Đặc biệt, sau hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, từ một đất nước nghèo nàn, có cơ sở vật chất – kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội lạc hậu, trình độ thấp. Đến nay, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; văn hóa, xã hội tiếp tục phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân được cải thiện; công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị có bước đột phá; khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng – an ninh, độc lập, chủ quyền được giữ vững; vị thế và uy tín của đất nước ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế. Với những kết quả đó, “Liên hợp quốc đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các Mục tiêu Thiên niên kỷ. Năm 2019, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,704, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển”.

Về kinh tế, tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2021 ước tính tăng 2,58%. Trong bối cảnh dịch COVID-19 ảnh hưởng nghiêm trọng tới mọi lĩnh vực của nền kinh tế, đây là một thành công lớn của Việt Nam trong việc phòng, chống dịch bệnh, duy trì sản xuất kinh doanh. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) phục hồi khi nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục tin tưởng vào môi trường đầu tư của Việt Nam. CPI bình quân tăng 1,84% so với năm 2020, mức tăng bình quân năm thấp nhất kể từ năm 2016. Xuất nhập khẩu duy trì tốc độ tăng trưởng cao khi đạt 668,5 tỷ USD, tăng 22,6% so với năm trước, quy mô nền kinh tế tăng 1,4 lần so với đầu nhiệm kỳ, trở thành nền kinh tế có quy mô đứng thứ 4 trong ASEAN.

Như vậy, chúng ta thấy rằng toàn bộ nội dung trong bài viết của Nguyễn Dân là vu cáo, bịa đặt một cách trắng trợn, lời lẽ hằn học, thù hận hòng lừa bịp và gây tâm lý hoang mang, chia rẽ Đảng với Nhân dân, phá hoại niềm tin của quần chúng nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn. Vì vậy, mỗi chúng ta cần nêu cao cảnh giác, không để mắc mưu các thế lực thù địch./.

T3.

 

Phát huy vai trò, nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại nhân dân trong tình hình mới

 Trong  bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ: “Bên cạnh việc xác định chủ trương, đường lối đúng, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, phải phát huy mạnh mẽ vai trò sáng tạo, sự ủng hộ và tham gia tích cực của nhân dân... Sức mạnh nhân dân là cội nguồn sâu xa của thắng lợi, của phát triển”). Đại hội Đảng lần thứ XIII đã xác định rõ nhiệm vụ của đối ngoại. Hơn lúc nào hết, chúng ta cần phát huy vai trò của đối ngoại nhân dân để xây dựng nền tảng xã hội, đưa quan hệ giữa các quốc gia đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững vì xây dựng môi trường hòa bình, hữu nghị, xây dựng lòng tin chính là để ngăn ngừa nguy cơ xung đột, chiến tranh từ sớm, từ xa. Đối ngoại nhân dân có đóng góp to lớn trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc, vừa là nét đặc sắc, sáng tạo, vừa là vốn quý, kinh nghiệm quý báu của đối ngoại Việt Nam. Trong môi trường quốc tế phức tạp, đối tượng, đối tác đan xen, vừa đấu tranh, vừa hợp tác trên cơ sở lợi ích, đối ngoại nhân dân với lợi thế riêng, linh hoạt, mềm dẻo, có khả năng tiếp cận và thiết lập quan hệ rộng rãi các đối tượng, có thể hỗ trợ hiệu quả cho đối ngoại đảng và ngoại giao nhà nước. 

Bối cảnh tình hình hiện nay tạo ra nhiều lợi thế cho công tác đối ngoại nhân dân. Trên thế giới, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn. Cùng với sự phát triển của khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, và xu hướng dân chủ hóa đời sống quốc tế, vai trò, tiếng nói và sự tham gia của các tổ chức nhân dân ngày càng được coi trọng cả ở cấp độ quốc gia, khu vực và toàn cầu. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong hơn 35 năm đổi mới vừa qua đã tạo nên thế và lực mới, tăng cường sức mạnh tổng hợp của đất nước, bạn bè quốc tế tiếp tục dành cho Việt Nam những tình cảm tốt đẹp. Đảng ta đặc biệt nhấn mạnh vai trò tiên phong của đối ngoại, cũng như vị trí quan trọng của đối ngoại nhân dân.

Bên cạnh những thuận lợi cơ bản đó, những chuyển biến sâu sắc, nhanh chóng trong tình hình thế giới và khu vực, đặc biệt là đại dịch COVID-19 cũng đặt công tác đối ngoại nhân dân trước nhiều thách thức mới, như: cạnh tranh nước lớn, chủ nghĩa đơn phương, tư tưởng cực hữu, dân tộc vị kỷ, tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biển, đảo và những thách thức an ninh phi truyền thống. Một số thế lực tăng cường sử dụng kênh hợp tác nhân dân để can thiệp vào công việc nội bộ của ta, đẩy mạnh hoạt động chống phá Việt Nam.

Trong bối cảnh đó, đối ngoại nhân dân phải đảm nhiệm tốt vai trò “trụ cột”, cùng đối ngoại đảng và ngoại giao nhà nước phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại, đóng góp thiết thực vào việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; huy động các nguồn lực bên ngoài, nâng cao hơn nữa vị thế và uy tín của đất nước, góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi. Để thực hiện được nhiệm vụ đó, đối ngoại nhân dân cần được tạo điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách và nguồn lực để phát huy thế mạnh của mình, phát triển vững mạnh, tương xứng với vị trí, vai trò, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Ba trụ cột của đối ngoại cần có sự phối hợp chặt chẽ, toàn diện, điều phối, phân vai, hỗ trợ, bổ sung cho nhau để phát huy được vai trò và thế mạnh đặc thù của mỗi trụ cột và sức mạnh tổng hợp của cả ba trụ cột.

Để phát huy vai trò “trụ cột”, nâng cao hiệu quả đối ngoại nhân dân, cần thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, tuyệt đối của Đảng và sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với công tác đối ngoại nhân dân. Quán triệt sâu sắc đường lối đối ngoại của Đại hội XIII của Đảng, tạo chuyển biến sâu sắc và sự thống nhất cao trong toàn bộ hệ thống chính trị về vai trò, vị trí, tầm quan trọng của đối ngoại nhân dân, xác định rõ triển khai công tác đối ngoại nhân dân là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị.

Thứ hai, đổi mới mạnh mẽ tư duy, nội dung và phương thức hoạt động đối ngoại nhân dân theo hướng đa dạng hóa, mở rộng phạm vi hoạt động, đối tác, lực lượng tham gia, tạo đan xen lợi ích và độ tin cậy, thúc đẩy quan hệ với nhân dân các nước láng giềng, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), đối tác chiến lược, toàn diện, bạn bè truyền thống đi vào chiều sâu, thực chất, phục vụ các lợi ích an ninh, phát triển và vị thế của đất nước, làm tốt vai trò “cầu nối” xúc tiến hợp tác kinh tế - thương mại, du lịch, đầu tư, văn hóa, giáo dục, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, khắc phục hậu quả chiến tranh... phù hợp với thế mạnh và nhu cầu của từng đối tác, từng địa phương. Phát huy vai trò tích cực, có trách nhiệm, tăng cường sự tham gia rộng rãi, hiệu quả của các tổ chức nhân dân Việt Nam tại các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế, đóng góp phù hợp vào các nỗ lực của cộng đồng quốc tế ứng phó với những thách thức chung đối với hòa bình, an ninh và phát triển, thể hiện vai trò, vị thế của Việt Nam. Chăm lo hỗ trợ đồng bào Việt Nam ở nước ngoài, phát huy vai trò tích cực của đồng bào trong công tác đối ngoại nhân dân và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Thứ ba, tích cực hội nhập quốc tế, huy động nguồn lực bên ngoài phục vụ các yêu cầu, mục tiêu phát triển bền vững của đất nước đến năm 2025, năm 2030 và năm 2045. Nâng cao hiệu quả công tác phi chính phủ nước ngoài, mở rộng, thúc đẩy hợp tác với các đối tác tiềm năng, đặc biệt là trong các lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển xanh và bền vững, ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống...

Thứ tư, hỗ trợ hiệu quả cho đối ngoại đảng và ngoại giao nhà nước trong việc bảo vệ và thúc đẩy lợi ích quốc gia - dân tộc, đặc biệt là trong các vấn đề dân chủ, nhân quyền, chủ quyền biển, đảo, tham gia giải quyết các vấn đề nảy sinh, góp phần tăng cường và thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước.

Thứ năm, tăng cường chất lượng công tác nghiên cứu, dự báo tình hình, phát huy vai trò của đội ngũ chuyên gia đối ngoại trong nghiên cứu, tham mưu, đóng góp vào việc xây dựng chính sách và triển khai đường lối đối ngoại. Đổi mới nội dung và phương thức thông tin đối ngoại, ứng dụng thành tựu của công nghệ thông tin, truyền thông để tăng cường thông tin tích cực về đất nước, con người và thành tựu của Việt Nam, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, đấu tranh với những luận điệu sai trái về Việt Nam.

Thứ sáu, hoàn thiện cơ chế, nâng cao hiệu quả chỉ đạo, quản lý, phối hợp trong công tác đối ngoại nhân dân, bảo đảm phối hợp chặt chẽ giữa các trụ cột của đối ngoại, giữa Ban Đối ngoại Trung ương Đảng, Bộ Ngoại giao, Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam trong xây dựng chủ trương và triển khai các hoạt động đối ngoại. Tăng cường phối hợp giữa các tổ chức nhân dân ở Trung ương và giữa Trung ương với địa phương, chú trọng phát huy vai trò của các tổ chức đối ngoại nhân dân ở địa phương.

Thứ bảy, chăm lo xây dựng, đầu tư nguồn lực tài chính và con người cho đối ngoại nhân dân. Kiện toàn, củng cố tổ chức, bộ máy, đội ngũ cán bộ theo hướng tinh gọn, hiệu quả, chuyên nghiệp hóa, trẻ hóa, chú trọng thu hút nhân tài, đào tạo, bồi dưỡng để xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại nhân dân chuyên trách ổn định, “mạnh” ở cả Trung ương và địa phương, có bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, tâm huyết, có năng lực chuyên môn và ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ./.

LẠI THÊM LUẬN ĐIỆU CỐ NGƯỢC DÒNG LỊCH SỬ

 


Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản về tổ chức và hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN). Từ bỏ nguyên tắc này là từ bỏ Đảng về bản chất. Chính vì vậy, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị không từ thủ đoạn nào, luôn tìm cách chống phá, đòi ĐCSVN phải chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, hòng xóa bỏ bản chất và vai trò lãnh đạo của Đảng. Gần đây, trên trang Thongluan-rdp, Lê Hữu Khóa lại có bài viết “Đừng trông chờ độc đảng toàn trị tổ chức và hòa giải dân tộc” gây bức xúc dư luận xã hội.

Với những lời lẽ xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, Lê Hữu Khóa cho rằng “Đảng CSVN là độc tài, độc đoán, chuyên quyền, độc trị, là nguyên nhân dẫn đến đói nghèo, tụt hậu… và kêu gọi phải đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập để “hòa hợp dân tộc”, để “đất nước được phát triển”. Vậy ở Việt Nam có cần thiết phải thực hiện “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” không?

1. Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. 

Như chúng ta đã biết, vào những thập niên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, đất nước ta chìm trong lầm than nô lệ của thực dân Pháp. Nhiều phong trào yêu nước đã xuất hiện nhưng tất cả đều bị thất bại và bị dìm trong biển máu bởi thiếu đường lối cách mạng đúng đắn. Trước hoàn cảnh đó, Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm đường cứu nước, tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin và truyền bá vào Việt Nam, cùng với phong trào công nhân và phong trào yêu nước, thành lập ra ĐCSVN – Đảng duy nhất lãnh đạo cách mạng đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đó là một thực tiễn không thể bàn cãi.

2. Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự lựa chọn của lịch sử và sự lựa chọn của nhân dân Việt Nam

Thực tế cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam chưa bao giờ tự cho mình quyền độc tôn lãnh đạo. Sau khi cách mạng tháng 8 thành công, tại Việt Nam, ngoài Đảng Cộng sản còn xuất hiện hai đảng khác là đảng Việt Quốc và đảng Việt Cách. Tuy nhiên, về thực chất lãnh đạo cách mạng Việt Nam vẫn chỉ có Đảng Cộng sản, còn hai đảng Việt Quốc và Việt Cách “theo đuôi Tưởng Giới Thạch” không hề đứng về lợi ích dân tộc. Cho đến khi quân Tưởng rút khỏi Việt Nam, hai đảng này cũng ra đi theo quân Tưởng, trên vũ đài chính trị chỉ còn lại duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Thời kỳ sau đó, bên cạnh Đảng Cộng sản cũng tồn tại hai đảng khác: là Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam. Tuy nhiên, cả hai đảng này đều thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và sau đó tuyên bố tự giải thể. Sự xuất hiện và rút lui của đảng Việt Cách, Việt Quốc hay tự giải thể của Đảng dân chủ và đảng xã hội đã cho thấy, chỉ có Đảng Cộng sản là được nhân dân và lịch sử Việt Nam lựa chọn, còn những đảng phái không đứng về nhân dân hoặc đã bị chính lịch sử và nhân dân ta loại bỏ. Như vậy, Việt Nam đã từng có chế độ đa đảng, nhưng chính lịch sử và nhân dân Việt Nam đã phủ định chế độ đó.

3. Hãy thử hỏi rằng, nếu hiện nay Việt Nam thực hiện đa nguyên, đa đảng, đất nước sẽ ra sao? 

Câu trả lời đã có sẵn đáp án từ thực tiễn Liên bang Xô viết và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu. Việt Nam sẽ rơi vào tình trạng hỗn loạn, mất ổn định chính trị do sự tranh giành quyền lực giữa các đảng phái. Thực tiễn, nhiều nước trên thế giới hiện nay đang phải đối mặt với sự bất ổn nghiêm trọng về chính trị do sự cạnh tranh quyền lực giữa các đảng phái, từ đó dẫn tới kinh tế suy giảm, đời sống nhân dân cực kỳ khó khăn. Điều đó cũng có nghĩa rằng, những quan điểm đòi “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” thực chất là quan điểm sai trái, phản động hòng muốn xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, thay đổi chế độ chính trị tại Việt Nam nhằm tạo điều kiện, tiền đề cho việc ra đời và công khai hóa, hợp pháp hóa các tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, từ đó cạnh tranh vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và tiến tới thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng. Thực tiễn tại Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đã chứng minh rất rõ âm mưu, ý đồ thâm độc này.

4. Một Đảng lãnh đạo không đồng nhất với độc tài, mất dân chủ. 

Dân chủ và phát triển không đồng nghĩa với đa nguyên, đa đảng và thực hiện đa nguyên, đa đảng không đồng nghĩa với sẽ có dân chủ và phát triển. Một đảng lãnh đạo không đồng nhất với độc tài lãnh đạo, mất dân chủ. Và không nhất thiết cứ “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” mới có dân chủ và phát triển. Thực tiễn hiện nay đã cho thấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, chính trị ổn định, kinh tế phát triển, quốc phòng an ninh được giữ vững, đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay.

Từ thực tế trên cho thấy, những luận điệu đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập như Lê Hữu Khóa thực chất là tư tưởng “ngược dòng lịch sử”, phản động, hại nước, hại dân. Mọi người hãy hết sức cảnh giác và kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch, phản động để ĐCSVN “mãi mãi là mùa xuân của dân tộc”./.

T3.

 

CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHẢN ĐỘNG

 


Lợi dụng vấn đề “tự do ngôn luận”, các thế lực thù địch tăng cường sử dụng những phần tử bất mãn, phản động ở trong nước và nước ngoài để hòng chống phá cách mạng nước ta từ bên trong.

Trên trang Baoquocdan, bút danh Điệp Mỹ Linh đã tải bài viết “Cộng sản Việt Nam, chờ đó!”. Sự thật cho thấy, Điệp Mỹ Linh là một nghệ sĩ cùng chồng là sĩ quan Thủy quân Lục chiến Ngụy Sài Gòn; là những kẻ phản bội hèn mạt ôm mối thù hận chạy trốn trước sự tiến công như vũ bão trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 của quân và dân ta.

Trong bài viết lợi dụng sự kiện “Hội nghị thượng đỉnh dân chủ” do Mỹ đơn phương phát động và tổ chức trực tuyến, Điệp Mỹ Linh cho rằng: Việt Nam là một trong những nước không được mời tham dự là “bẽ bàng”; “quê xệ nặng nề”, để nhằm kích động, xuyên tạc, bôi nhọ nói xấu đất nước.

Trong khi đó, theo đánh giá của chuyên gia quốc tế, việc Mỹ lần đầu tiên đứng ra tổ chức Hội nghị thượng đỉnh về dân chủ cũng không phải là căn cứ hay thước đo gì về dân chủ với các nước. Ngay cả các nước phát triển như nước Nga, Trung Quốc và các nước khác cũng không được mời đã chỉ trích ý tưởng Mỹ tổ chức hội nghị thượng đỉnh dân chủ này trong bối cảnh tình trạng dân chủ và nhân quyền ở Mỹ và ở phương Tây đang đối mặt với nhiều vấn đề. Những hành động can thiệp vào công việc của các nước có chủ quyền, áp đặt các biện pháp trừng phạt kinh tế, tạo bất ổn, gây ra các cuộc chiến tranh xâm lược với danh nghĩa bảo vệ dân chủ, đã để lại những hậu quả nghiêm trọng với nhân dân tại các nước đó và ảnh hưởng tới cộng đồng quốc tế. Để rồi, khi những khẩu hiệu dân chủ rời đi thì chỉ còn lại một đất nước hoang tàn, loạn lạc, bất ổn như Iraq, Afghanistan, Lybia… Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Nga Maria Zakharova gọi nỗ lực của Washington nhằm xác định ai là quốc gia dân chủ và ai không phải là quốc gia dân chủ, là ý tưởng đáng thương và đáng ngờ; Bộ Ngoại giao Trung Quốc cho rằng hội nghị thượng đỉnh do Mỹ tổ chức gây ra sự chia rẽ và đối đầu trên thế giới; Bộ trưởng Ngoại giao Hungary, là nước cũng không được mời tham dự sự kiện đã lưu ý rằng Budapest không cần “thẩm phán” để đánh giá trạng thái dân chủ. Nhưng với các tổ chức thù địch, phản động thì coi hội nghị này như cái cớ để thúc đẩy chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, để tìm kiếm sự tài trợ, hậu thuẫn về vật chất lẫn tinh thần.

Đối với Việt Nam, đến nay là một trong 6 quốc gia thành viên Liên hợp quốc đã hoàn thành phần lớn các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ trước thời hạn năm 2015. Những đóng góp tích cực, hiệu quả của Việt Nam là thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, giữ vững các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế về nhân quyền, là sự chứng thực Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng, bảo đảm các quyền của người dân không chỉ thể hiện ở việc kiện toàn hệ thống chính sách, pháp luật liên quan đến quyền con người, mà được thực hiện trên tất cả các mặt: Tự do ngôn luận, báo chí, thông tin; tự do tín ngưỡng, tôn giáo; bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo, y tế, giáo dục…

Trên trường quốc tế, Việt Nam được tín nhiệm rất cao khi gia nhập Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 – 2016 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Trong khu vực, Việt Nam là Chủ tịch Ủy ban liên chính phủ ASEAN về nhân quyền (AICHR). Trong cuộc họp đặc biệt lần hai của AICHR cuối tháng 11/2020, các nước đánh giá cao vai trò của Việt Nam đã dẫn dắt hoạt động của AICHR trong giai đoạn đặc biệt khó khăn do tác động của đại dịch COVID-19, không chỉ giúp duy trì đà hợp tác của AICHR và ứng phó hiệu quả trước đại dịch, mà còn thúc đẩy soạn thảo và thông qua một loạt các văn kiện quan trọng định hướng hợp tác trong thời gian tới. Với những nỗ lực chung trong thúc đẩy, bảo vệ quyền con người trong phạm vi quốc gia và khu vực, quốc tế, các nước thành viên ASEAN chính thức đề cử Việt Nam là ứng cử viên duy nhất đại diện cho ASEAN làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2023-2025.

Như vậy, dân chủ, nhân quyền là từ ý chí, hành động và thực tiễn đời sống tại mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, thực tiễn đó được chứng minh bằng đời sống người dân được nâng lên cả về vật chất lẫn tinh thần và được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Việc một hội nghị diễn ra ở nơi nào đó như Hội nghị thượng đỉnh về dân chủ nêu trên không phải là thước đo, là cơ sở đánh giá nền dân chủ của một quốc gia, vùng, lãnh thổ. Nó đơn giản chỉ là một sự kiện, Việt Nam hay những quốc gia khác, dù được mời hay không được mời tham dự là do “ý gia chủ”, do quan điểm, ý nghĩ của người tổ chức, do vậy không thể căn cứ vào những lý do như vậy để phủ nhận thành tựu về dân chủ, nhân quyền mà Việt Nam đã và đang đảm bảo cho nhân dân. Chúng ta hết sức cảnh giác và kiên quyết đấu tranh loại bỏ những tư tưởng như Điệp Mỹ Linh./.

T3.

 

Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” hiện nay

 


Những năm qua, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta luôn đề cao cảnh giác, tích cực đấu tranh phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, giữ vững ổn định chính trị – xã hội, tạo môi trường thuận lợi để tiến hành sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng XHCN. Tuy nhiên, trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, vẫn còn bộc lộ không ít hạn chế, còn biểu hiện mơ hồ, mất cảnh giác về âm mưu, thủ đoạn của chiến lược “diễn biến hòa bình”, nội dung, biện pháp đấu tranh chưa toàn diện trên các lĩnh vực, còn lúng túng, thiếu nhạy bén trong công tác tuyên truyền, định hướng cũng như cách thức tổ chức sử dụng lực lượng và các hình thức đấu tranh nên tính hiệu quả chưa cao.

Những năm tới, tình hình quốc tế, khu vực và trong nước, bên cạnh những thuận lợi là cơ bản, sẽ có những diễn biến rất phức tạp, khó lường với những khó khăn, thách thức mới đối với nước ta. Đặc biệt là, khi chúng ta đang tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng và các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII,… lợi dụng những vấn đề này, các thế lực thù địch sẽ quyết liệt đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” với nhiều âm mưu, thủ đoạn, hình thức, phương tiện tinh vi, xảo quyệt để chống phá nước ta trên tất cả các lĩnh vực, nhằm phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta, tiến tới thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Do vậy, thời gian tới để nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, cần tập trung vào một số nội dung, biện pháp sau đây:

Một là, nâng cao nhận thức của các chủ thể về “diễn biến hòa bình” và đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”. Cần làm cho quần chúng nhân dân nhận thức rõ, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc rất gay go, quyết liệt, phức tạp và lâu dài. Vì vậy, cuộc đấu tranh này dành được thắng lợi hay không phụ thuộc vào lực lượng cách mạng có nhận thức đúng và đủ mạnh để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng của mình hay không. Muốn vậy, phải tập trung nâng cao chất lượng giáo dục chính trị tư tưởng, trên cơ sở nền tri thức được giáo dục, bồi dưỡng, đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân sẽ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có ý chí quyết tâm cao và niềm tin sắt đá vào độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Nhờ đó, có sức đề kháng tốt trước các luận điệu xuyên tạc, làm cho họ không bị thẩm thấu, xâm nhập của các luận điệu xuyên tạc của kẻ thù. Đồng thời, mỗi người sẽ tự chủ động đoàn kết chặt chẽ trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”.

Hai là, phát huy sức mạnh của các tổ chức, các lực lượng trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”. Trước hết, công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” là trách nhiệm của các tổ chức đảng và mọi cán bộ, đảng viên. Các tổ chức đảng cần phát huy tốt vai trò lãnh đạo của mình trong thực hiện các nhiệm vụ được giao và đấu tranh có hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch, tư tưởng cơ hội, thực dụng, chủ nghĩa cá nhân; phòng, chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Bên cạnh đó, cần phát huy tốt vai trò của các cơ quan chức năng, lực lượng chuyên trách được giao nhiệm vụ phòng, chống “diễn biến hòa bình”. Duy trì thường xuyên hoạt động của ban chỉ đạo các cấp; củng cố, kiện toàn và nâng cao trách nhiệm của thành viên các ban chỉ đạo, nhất là Ban chỉ đạo Đề án 609 của Trung ương. Làm tốt công tác kiểm tra của cấp trên đối với cấp dưới trong nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”; đồng thời, phát huy tốt vai trò của các tổ chức trong đề ra các chủ trương, biện pháp đấu tranh phù hợp với tình hình và điều kiện cụ thể.

Ba là, tăng cường phối hợp, kết hợp giữa các tổ chức, các lực lượng trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”. Các tổ chức, các lực lượng có sự chỉ đạo chung thống nhất sẽ tạo nên sự thống nhất trong hành động, tạo nên sức mạnh của một khối thống nhất đủ sức để đấu tranh bác bỏ các luận điệu sai trái, xuyên tạc. Do đó, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” cần phải được tiến hành đồng bộ trên tất cả các mặt công tác và phải huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, phân công trách nhiệm hợp lý, bảo đảm sự phối hợp giữa các lực lượng một cách hợp lý nhất. Có sự phối hợp một cách hiệu quả giữa các Ban Chỉ đạo đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch trên các lĩnh vực, giữa trung ương với địa phương, giữa các bộ, ngành và giữa các bộ phận trong từng ban chỉ đạo được đồng bộ, nhịp nhàng. Cần có cơ chế phối hợp giữa các tổ chức, các lực lượng, khắc phục những sự bất cập, chồng chéo trong công tác lãnh đạo, quản lý.

Bốn là, kết hợp giữa đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” với đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Để góp phần giữ vững an ninh quốc gia, giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN cần đấu tranh làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình” kết hợp với ngăn chặn có hiệu quả “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đây là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta dưới sự lãnh đạo thường xuyên, tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước, sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, các tổ chức chính trị – xã hội. Đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Chỉ thị số 05/CT-TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị (Khóa XII) về học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Năm là, tăng cường cơ sở vật chất, kinh phí cho hoạt động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”. Thường xuyên đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho công tác đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”. Có chủ trương đúng trong việc ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ mới, nhất là công nghệ thông tin trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”. Mặt khác, những người tham gia đấu tranh trên mặt trận tư tưởng cũng cần được quan tâm thỏa đáng cả về vật chất lẫn tinh thần để họ có thể hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, đập tan các luận điệu xuyên tạc của kẻ thù. Có chế độ thù lao tương xứng cho những công trình, chuyên đề chuyên sâu về đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” để thu hút những người tâm huyết tham gia viết bài đấu tranh trên mặt trận tư tưởng lý luận, nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” hiện nay./.

T3.

 

ANH ĐỀ XUẤT GỬI QUÂN, TÀU CHIẾN HỖ TRỢ NATO ĐỐI PHÓ VỚI NGA!

         Trước cuộc gặp với người đứng đầu NATO, Thủ tướng Boris Johnson đề xuất tăng cường hiện diện quân sự của Anh trong nỗ lực hỗ trợ liên minh quân sự này đối phó Nga.
Trước chuyến thăm của Thủ tướng Boris Johnson đến trụ sở NATO tại Brussels, Văn phòng Thủ tướng Anh cho biết, London sẽ đề nghị NATO tăng số lượng quân nước này ở Estonia, triển khai thêm các chiến đấu cơ thuộc Không quân Hoàng gia (RAF) đến nam Âu và tàu chiến của Hải quân Hoàng gia đến phía đông Địa Trung Hải.

Theo Văn phòng Thủ tướng Anh, đề nghị của Anh sẽ bao gồm “tăng gấp đôi số binh sĩ của Anh ở Estonia để hỗ trợ cho NATO, triển khai thêm các chiến đấu cơ đến nam Âu, điều tàu tuần tra HMS Trent và khu trục hạm lớp Type 45 tới đông Địa Trung Hải”.

“Khi NATO được thành lập, các nước đưa ra cam kết lịch sử là bảo vệ quyền tự do của mọi quốc gia thành viên. Vương quốc Anh vẫn kiên định với cam kết đối với an ninh châu Âu", tuyên bố của Văn phòng Thủ tướng Anh cho biết.

Hiện tại quân đội Anh đã được triển khai đến Ba Lan và một vài đơn vị khác cũng sẽ đến Estonia "trong những tuần tới". "Điều này sẽ giíup Ba Lan và các nước Đông Âu khác đối phó với tác động từ nguy cơ quân sự của Nga", Văn phòng Thủ tướng Anh nhấn mạnh.

Ngoài ra, thông báo từ Văn phòng Thủ tướng Anh cũng cho biết 1.000 binh sĩ Anh sẽ được điều động để hỗ trợ liên minh quân sự NATO và các đồng minh “trong trường hợp xảy ra khủng hoảng nhân đạo”.

Trong chuyến thăm tới Brussels, Thủ tướng Boris Johnson được cho sẽ nhấn mạnh đến việc kêu gọi các thành viên NATO “thể hiện tình đoàn kết trước nguy cơ từ các hành động quân sự của Nga".

Chuyến đi của Thủ tướng Boris Johnson diễn ra đồng thời với chuyến thăm của các Bộ trưởng Ngoại giao Liz Truss và Bộ trưởng Quốc phòng Anh Ben Wallace tới Moskva. Tại Nga, ông Liz Truss và ông Ben Wallace sẽ kêu gọi Moskva tham gia vào “các cuộc đàm phán có ý nghĩa”, giảm leo thang căng thẳng hiện nay./.

Ảnh: Thủ tướng Anh Boris Johnson.
Môi Trường ST.

Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về vai trò, vị trí của đối ngoại nhân dân

Đối ngoại nhân dân là một trong những sáng tạo độc đáo của cách mạng Việt Nam. Việc quán triệt sâu sắc tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về đối ngoại nhân dân là nhân tố có ý nghĩa quyết định, bài học kinh nghiệm quan trọng hàng đầu, đúc rút được từ thực tiễn cách mạng nước ta và hoạt động đối ngoại nhân dân trong suốt chiều dài lịch sử của đất nước.

Một trong những nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của cách mạng Việt Nam là đoàn kết dân tộc phải gắn liền với đoàn kết quốc tế, chủ nghĩa yêu nước chân chính phải gắn liền với chủ nghĩa quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân, đoàn kết nhân dân trong nước gắn với đoàn kết nhân dân thế giới. Coi trọng và phát huy vai trò của đoàn kết quốc tế và đối ngoại nhân dân là chủ trương nhất quán, xuyên suốt của Đảng ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”(2) và chính Người đã đặt nền móng, lãnh đạo và trực tiếp triển khai đối ngoại nhân dân.

Ngay trong những ngày tháng đầu tiên sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, khi nước ta chưa thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo thành lập các tổ chức đối ngoại nhân dân đầu tiên của Việt Nam là Hội Việt - Mỹ thân hữu (ngày 17-10-1945) và Hội Việt - Trung hữu hảo (năm 1946), đề ra và tổ chức thực hiện những quyết sách về đoàn kết, liên minh với hai nước láng giềng Lào và Cam-pu-chia. Cùng với việc thiết lập quan hệ ngoại giao với nhiều quốc gia, nhiều tổ chức hữu nghị với nhân dân các nước đã được thành lập trong những năm sau đó nhằm tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế.

Tầm quan trọng, vai trò và nhiệm vụ của đối ngoại nhân dân đã được Đảng ta chính thức đưa vào các văn kiện Đại hội Đảng từ rất sớm. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ II (tháng 2-1951) về chính sách ngoại giao đã nhấn mạnh phát triển ngoại giao nhân dân rộng rãi, đặc biệt chú trọng tham gia các cuộc vận động lớn trên thế giới và thắt chặt liên hệ tổ chức các hoạt động giữa những đoàn thể nhân dân Việt Nam với các đoàn thể nhân dân thế giới. Sau khi đất nước thống nhất, quan điểm của Đảng ta về đối ngoại nhân dân và chủ trương triển khai đồng bộ ba trụ cột đối ngoại đã tiếp tục được phát triển và hoàn thiện. Văn kiện Đại hội IV của Đảng (năm 1976) đã xác định nhiệm vụ đối ngoại với từng nhóm đối tượng cụ thể. Văn kiện Đại hội VI của Đảng (năm 1986) làm rõ chủ thể và sự phối hợp giữa các chủ thể của hoạt động đối ngoại, gồm Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Với tư duy mới về đối ngoại, Đại hội VII của Đảng (năm 1991) đã nhấn mạnh chủ trương “đoàn kết với các lực lượng đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội”, tạo bước đột phá và mang lại sức sống mới cho công tác đối ngoại nhân dân(3).

Văn kiện các Đại hội VIII, IX, X, XI, XII của Đảng đều có các nội dung yêu cầu mở rộng hơn nữa công tác đối ngoại nhân dân, làm rõ nội hàm, nhiệm vụ của đối ngoại nhân dân và sự cần thiết phải “phối hợp chặt chẽ hoạt động ngoại giao của Nhà nước, hoạt động đối ngoại của Đảng và hoạt động đối ngoại nhân dân... làm cho thế giới hiểu rõ hơn đất nước, con người, công cuộc đổi mới của Việt Nam, đường lối chính sách của Đảng và nhà nước ta”(4).

Chỉ thị số 44-CT/TW, ngày 20-9-1994, của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VII, “Về mở rộng và đổi mới hoạt động đối ngoại nhân dân”, là văn bản đầu tiên của Đảng dành riêng cho hoạt động đối ngoại nhân dân, xác định rõ đối ngoại nhân dân là bộ phận cấu thành của công tác đối ngoại chung của nước ta, nêu rõ yêu cầu, mục tiêu và biện pháp tiến hành công tác đối ngoại nhân dân(5). Sau khi tổng kết Chỉ thị số 44-CT/TW, Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI ban hành Chỉ thị số 04-CT/TW, ngày 6-7-2011, “Về tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại nhân dân trong tình hình mới”, khẳng định quan điểm đối ngoại nhân dân là bộ phận cấu thành của công tác đối ngoại chung của Đảng và Nhà nước ta. Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại nhân dân là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và của toàn dân mà nòng cốt là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, các đoàn thể và các tổ chức nhân dân.

Đối với lực lượng chuyên trách về đối ngoại nhân dân là Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam (Liên hiệp Hữu nghị), Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 27-CT/TW, ngày 27-7-1993, “Về nhiệm vụ và tổ chức của Liên hiệp các tổ chức hòa bình, đoàn kết, hữu nghị Việt Nam”, Chỉ thị số 28-CT/TW, ngày 2-12-2008, “Về tiếp tục đổi mới và nâng cao kết quả hoạt động của Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam”, và gần đây nhất là Chỉ thị số 38-CT/TW, ngày 19-9-2019, “Về tiếp tục đổi mới, phát huy vai trò và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam trong tình hình mới”. 

Một số giải pháp thời gian tới đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực văn hóa hiện nay

 

        

        Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, sự phát triển của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư hay những yếu tố bất ngờ như dịch bệnh COVID-19 vừa qua, tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước sẽ gia tăng các hoạt động thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn, nhất là hoạt động tuyên truyền phá hoại trên không gian mạng. Trước tình hình đó, việc thấm nhuần quan điểm của Đảng về chống “diễn biến hòa bình”, nhất là trên tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật”, kết hợp giữa “xây” và “chống”, “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách làm vũ khí lý luận sắc bén, góp phần làm thất bại âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước, chống phá chế độ, chống phá thành quả cách mạng, là trách nhiệm hàng đầu của mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân Việt Nam hiện nay. Để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

             Một là, nâng cao nhận thức, ý thức cảnh giác, bám sát định hướng chỉ đạo, hướng dẫn trong các chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị đối với công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận; gắn với thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, để xây dựng các chương trình, kế hoạch, giải pháp công tác cụ thể; đưa công tác phòng, chống “diễn biến hòa bình”, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ đi vào nền nếp và đạt hiệu quả cao.

              Hai là, công tác tuyên truyền về đấu tranh phòng, chống âm mưu “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa cần được thực hiện với chất lượng, hiệu quả tốt hơn. Tăng cường các chương trình, bài viết giàu sức thuyết phục, tính chiến đấu cao trên các phương tiện thông tin và truyền thông về chủ đề này. Bên cạnh đó, cấp ủy, chính quyền các cấp cần tích cực thông tin và tăng cường đối thoại với nhân dân; chủ động, linh hoạt giải quyết các vấn đề nóng, đang đặt ra của xã hội. Thường xuyên duy trì, thực hiện có hiệu quả việc phối hợp với các cơ quan chức năng, các cơ quan báo chí, tạo thế trận rộng khắp, chặt chẽ trong đấu tranh phản bác quan điểm, luận điệu sai trái thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Từ tác động đến nhận thức để thay đổi hành vi của công chúng trong những vấn đề liên quan đến văn hóa.

              Ba là, tăng cường vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu; phát huy tốt vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, Ban Chỉ đạo 35, cơ quan chức năng các cấp. Đây là giải pháp quan trọng bởi thực tiễn cho thấy thông qua những tấm gương người tốt, việc tốt, các mô hình, điển hình tiên tiến, công tác tuyên truyền mới thực sự có hiệu quả.

             Bốn là, nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa các bộ, ngành và tổ chức đoàn thể, đi đầu là sự phối hợp giữa Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, tạo ra sức mạnh tổng hợp trong phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa. Xây dựng môi trường lành mạnh để phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước./.

            T3.

Tác động của “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực văn hóa

 

 

“Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa là sự chuyển hóa văn hóa, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa theo quỹ đạo và các giá trị không phù hợp, từ đó làm biến đổi theo chiều hướng tiêu cực, làm tha hóa con người, dẫn tới biến chất xã hội.

Thời gian qua, nhiều biểu hiện của “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” xuất hiện trong đời sống, ở các tầng lớp xã hội. Đó là hiện tượng suy đồi đạo đức, gia tăng lối sống vị kỷ, sự vô cảm, tâm lý cũng như hành động sùng ngoại... Đặc biệt, với sự phổ biến của các phương tiện truyền thông mới, trên mạng xã hội, một bộ phận giới trẻ đã có nhiều lời nói, hành động, thái độ cổ xúy cho những biểu hiện lệch lạc trong lối sống. Tệ nạn mê tín dị đoan, việc lợi dụng tín ngưỡng, tâm linh, ngoại cảm để trục lợi, các hủ tục, nhất là trong việc cưới, việc tang, lễ hội… có chiều hướng gia tăng. Trong sáng tác, biểu diễn, phổ biến các tác phẩm văn học, nghệ thuật có không ít tác phẩm và hoạt động chưa thể hiện được tính tiên tiến và bản sắc dân tộc. Dù số lượng tác phẩm văn học, nghệ thuật xuất hiện ngày một nhiều, song còn ít tác phẩm đạt đỉnh cao, tương xứng với sự nghiệp cách mạng vĩ đại của dân tộc và thành tựu của công cuộc đổi mới. Trong một số tác phẩm, lý tưởng xã hội, thẩm mỹ chưa rõ nét. Một số tác phẩm có nội dung tư tưởng lệch lạc, thiên về khai thác những mặt tiêu cực, thậm chí phủ nhận quá khứ hào hùng của dân tộc cũng như xuyên tạc sự thật lịch sử. Không ít tác phẩm còn thể hiện sự dễ dãi, chiều theo thị hiếu tầm thường của một bộ phận công chúng. Một bộ phận văn nghệ sĩ tỏ ra lúng túng trong tiếp cận, nhận thức về những biến đổi và những vấn đề mới nảy sinh trong cuộc sống hiện đại, có biểu hiện lệch lạc trong khuynh hướng sáng tác và biểu diễn. Một số tác phẩm và sản phẩm có biểu hiện bắt chước, mô phỏng, chạy theo hình thức và các thủ pháp mới, đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc. Tính giáo dục, định hướng thẩm mỹ cho giới trẻ chưa được quan tâm đúng mức và chưa thực sự có hiệu quả. Trước tình hình này, văn hóa được Đảng và Nhà nước xác định là lĩnh vực quan trọng trong công tác đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, trong đó xây dựng đạo đức, lối sống con người Việt Nam là một trong những nội dung thiết yếu.

            T3.

Về mối quan hệ giữa nghệ sỹ (cá nhân) và công chúng (cộng đồng), giữa sáng tạo và giá trị trong nghệ thuật Xã hội chủ nghĩa của chủ nghĩa Mác

 C.Mác cho rằng với tư cách là hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, sự phản ánh của nghệ thuật không chỉ là sự sao chép thuần tuý mà có sức tác động to lớn đến đời sống xã hội; triết học không chỉ giải thích thế giới mà quan trọng là cải tạo thế giới. Điều này đã nói lên vai trò to lớn của các hình thái ý thức xã hội, trong đó có nghệ thuật. Thực tiễn cho thấy, từ khi ra đời đến nay, nền nghệ thuật XHCN đã có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp đấu tranh vì sự tiến bộ của nhân loại. Thông qua nghệ thuật, mỗi quốc gia, dân tộc bộc lộ sức sống và bản sắc văn hóa của mình trong tiến trình lịch sử. Các nhân vật trong tác phẩm nghệ thuật đã ảnh hưởng rất lớn đến thái độ, niềm tin và hành động của nhân dân, có nhiều hình tượng nghệ thuật trở thành lẽ sống cho các thế hệ thanh thiếu niên. Hình tượng Paven Coócaghin trong tác phẩm “Thép đã tôi thế đấy” trong văn học hiện thực XHCN ở Liên Xô trước đây và Anh Núp ở Việt Nam... đã cảm hóa hàng triệu con tim yêu nước, khơi dậy sức mạnh tiềm ẩn trong mỗi cá nhân, trở thành động lực to lớn cho cách mạng.

Ở nước ta, nền nghệ thuật XHCN đã có những đóng góp lớn lao vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Những hình tượng nghệ thuật như Anh Núp, chị Sứ, chị Út Tịch, anh Trỗi... đặc biệt là hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ có sức sống mạnh mẽ, đã khắc sâu vào tâm thức của toàn dân tộc.

 Động lực to lớn của nghệ thuật không chỉ thúc đẩy sự phát triển trong những thời điểm giai cấp thống trị hướng vào lợi ích nhân dân mà còn thể hiện ở chỗ sẵn sàng trở thành “lực lượng đối lập” nếu như sự tồn tại của giai cấp thống trị đi đến chỗ bảo thủ, thối nát, xa rời lợi ích dân tộc, nhân dân. Trong những trường hợp này, sự “nổi loạn” của nghệ thuật là cần thiết để đấu tranh tìm sự công bằng cho đa số người dân. Nghệ thuật chân chính luôn đứng về phía nhân dân trong những thời điểm như vậy.

Bên cạnh những tác động tích cực, C.Mác cũng chỉ ra một số ảnh hưởng trái chiều của nghệ thuật đối với xã hội. Lịch sử nghệ thuật có những giai đoạn suy thoái nhất định khi một số nghệ sĩ bị tha hóa, bị cám dỗ bởi quyền lực và tiền bạc. Trong những trường hợp đó, hình tượng nghệ thuật bị bóp méo, các nhân vật trong tác phẩm không còn là biểu tượng của cái tốt, cái đúng và cái đẹp mà là hiện thân của cái xấu, cái sai. Một số nghệ sĩ sáng tác nghệ thuật không xuất phát từ nhu cầu của nhân dân, của dân tộc mà nhằm thỏa mãn thị hiếu tầm thường của một nhóm người nào đó trong xã hội. Trong những thời điểm như vậy, giá trị của nền nghệ thuật XHCN đã bị đánh cắp và bị xuyên tạc.

Sản phẩm nghệ thuật sẽ không có giá trị nếu như người nghệ sĩ chỉ tập trung vào cái tôi nhỏ bé và ích kỷ của mình. Những tác phẩm cổ súy cho bạo lực, văn hóa phẩm đồi trụy... sẽ làm thui chột hy vọng của con người, biến con người trở thành nô lệ cho bản năng, cái ác và cái xấu xa. Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây, một số nghệ sĩ đã đi vào con đường đó nhằm phô trương, đánh bóng tên tuổi của mình. Mạng xã hội cùng với công nghệ lăng - xê hiện đại đã tô vẽ một số nghệ sĩ như “một phát hiện” nhưng không thể che đậy được bản chất của vấn đề.

Trong quy luật của văn hóa nói chung và nghệ thuật nói riêng, sáng tạo thuộc về cá nhân nhưng những sáng tạo đó chỉ có ý nghĩa khi được cộng đồng thừa nhận giá trị. Mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng là mối liên hệ giữa sáng tạo và lưu giữ. Sẽ không có một tác phẩm nghệ thuật nào có giá trị thực sự mà lại không được cộng đồng chấp nhận. Ngược lại, dù nghệ sĩ có sáng tạo ra bao nhiêu tác phẩm đi nữa mà không đi vào tâm thức cộng đồng, không phản ánh tâm tư, nguyện vọng người dân thì cũng trở nên vô nghĩa và bị đào thải. Thực tiễn nghệ thuật thế giới đã chứng minh điều đó khi có nhiều tác phẩm nghệ thuật bất hủ đã được công chúng và cộng đồng lưu giữ như một tài sản chung.

Nhìn chung, sự phát triển đạt đến đỉnh cao của nền nghệ thuật XHCN, đặc biệt là trong văn học hiện thực XHCN ở thế kỷ XX là một thành tựu đáng trân trọng trong kho tàng nghệ thuật thế giới. Sự thoái trào của hệ thống XHCN trong cuối thế kỷ XX tác động rất lớn đến sự phát triển nền nghệ thuật XHCN. Tuy nhiên, hệ thống lý luận của C.Mác về tính độc lập tương đối của nghệ thuật vẫn được xem là chân lý trong di sản văn hóa nhân loại.

Tác động của “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực văn hóa

 

 

“Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực văn hóa là sự chuyển hóa văn hóa, đạo đức, lối sống xã hội chủ nghĩa theo quỹ đạo và các giá trị không phù hợp, từ đó làm biến đổi theo chiều hướng tiêu cực, làm tha hóa con người, dẫn tới biến chất xã hội.

Thời gian qua, nhiều biểu hiện của “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” xuất hiện trong đời sống, ở các tầng lớp xã hội. Đó là hiện tượng suy đồi đạo đức, gia tăng lối sống vị kỷ, sự vô cảm, tâm lý cũng như hành động sùng ngoại... Đặc biệt, với sự phổ biến của các phương tiện truyền thông mới, trên mạng xã hội, một bộ phận giới trẻ đã có nhiều lời nói, hành động, thái độ cổ xúy cho những biểu hiện lệch lạc trong lối sống. Tệ nạn mê tín dị đoan, việc lợi dụng tín ngưỡng, tâm linh, ngoại cảm để trục lợi, các hủ tục, nhất là trong việc cưới, việc tang, lễ hội… có chiều hướng gia tăng. Trong sáng tác, biểu diễn, phổ biến các tác phẩm văn học, nghệ thuật có không ít tác phẩm và hoạt động chưa thể hiện được tính tiên tiến và bản sắc dân tộc. Dù số lượng tác phẩm văn học, nghệ thuật xuất hiện ngày một nhiều, song còn ít tác phẩm đạt đỉnh cao, tương xứng với sự nghiệp cách mạng vĩ đại của dân tộc và thành tựu của công cuộc đổi mới. Trong một số tác phẩm, lý tưởng xã hội, thẩm mỹ chưa rõ nét. Một số tác phẩm có nội dung tư tưởng lệch lạc, thiên về khai thác những mặt tiêu cực, thậm chí phủ nhận quá khứ hào hùng của dân tộc cũng như xuyên tạc sự thật lịch sử. Không ít tác phẩm còn thể hiện sự dễ dãi, chiều theo thị hiếu tầm thường của một bộ phận công chúng. Một bộ phận văn nghệ sĩ tỏ ra lúng túng trong tiếp cận, nhận thức về những biến đổi và những vấn đề mới nảy sinh trong cuộc sống hiện đại, có biểu hiện lệch lạc trong khuynh hướng sáng tác và biểu diễn. Một số tác phẩm và sản phẩm có biểu hiện bắt chước, mô phỏng, chạy theo hình thức và các thủ pháp mới, đánh mất bản sắc văn hóa dân tộc. Tính giáo dục, định hướng thẩm mỹ cho giới trẻ chưa được quan tâm đúng mức và chưa thực sự có hiệu quả. Trước tình hình này, văn hóa được Đảng và Nhà nước xác định là lĩnh vực quan trọng trong công tác đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, trong đó xây dựng đạo đức, lối sống con người Việt Nam là một trong những nội dung thiết yếu.

            T3.