Chủ Nhật, 13 tháng 2, 2022

Không thể buông lỏng sự lãnh đạo của Đảng đối với Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh

Ngay sau khi Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 08-CT/TW ngày 20/8/2021 về lãnh đạo đại hội đoàn các cấp và Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh toàn quốc lần thứ XII, nhiệm kỳ 2022-2027, trên không gian mạng, các diễn đàn, tài khoản cá nhân, hội - nhóm kín và cả công khai trên các nền tảng mạng xã hội lại như “nấm độc mọc sau mưa” những luận điệu sai trái, phản động của những kẻ cơ hội chính trị và các thế lực thù địch khi phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với đại hội đoàn các cấp và Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XII. Không khó để nhận diện âm mưu, thủ đoạn phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với đại hội đoàn các cấp và Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XII. Âm mưu thâm độc của những kẻ cơ hội chính trị và các thế lực thù địch không ngoài mục đích xấu xa là nhằm tách sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, làm cho Đoàn không còn là đội dự bị tin cậy của Đảng, thường xuyên bổ sung lực lượng trẻ cho Đảng, kế tục sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; trước mắt, là làm cho đại hội đoàn các cấp và Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XII mất phương hướng chính trị khi chuẩn bị và tiến hành thảo luận các Báo cáo chính trị trình đại hội các cấp cũng như công tác chuẩn bị nhân sự cơ quan lãnh đạo các cấp của Đoàn… Đây là những “luồng gió độc” với âm mưu làm cho Đoàn là tổ chức chính trị dần dần xa rời sự lãnh đạo của Đảng, độc lập, thậm chí đối lập với Đảng. Thủ đoạn quen thuộc của chúng là liên tục tung ra các luận điệu xuyên tạc khi đưa ra “cái gọi là”: Đảng Cộng sản Việt Nam và Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là một trong 44 thành viên trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nên chỉ chịu sự “lãnh đạo” chung của Mặt trận và thực hiện vai trò, chức năng do điều 9 Hiến pháp đã hiến định, nhất là chức năng phản biện xã hội; hay Đảng lãnh đạo Đoàn làm mất đi tính năng động, sáng tạo, trẻ trung của tổ chức Đoàn; hoặc Đại hội Đoàn các cấp phải tự do lựa chọn “khẩu vị riêng”, tự do lựa chọn con đường, không bị dẫn dắt, phụ thuộc bởi lực lượng chính trị nào. Nguy hiểm hơn, chúng tung ra khẩu hiệu “Đại hội Đoàn để Đoàn cử, Đoàn bầu” nhân sự cơ quan lãnh đạo các cấp của Đoàn giữa hai kỳ Đại hội… Đảng lãnh đạo Đoàn nói chung, lãnh đạo đại hội đoàn các cấp và Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XII là vấn đề có tính nguyên tắc “bất di, bất dịch”. Việc tổ chức và lãnh đạo Đoàn Thanh niên được Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và Đảng ta đặt ra từ rất sớm. Trong Bài nói tại Lễ kỷ niệm lần thứ 35 ngày thành lập Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam (nay là Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh) ngày 25/3/1966, đăng Báo Nhân dân, số 4372, ngày 26/3/1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Năm 1925, Hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí thành lập, nhằm chuẩn bị điều kiện để tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngay sau khi thành lập, Hội đã lo đến việc tổ chức và lãnh đạo đoàn thể riêng của thanh niên cách mạng. Hội đã chọn tám em Việt kiều đ-ưa sang Quảng Châu để bồi dưỡng thành hạt nhân của Đoàn Thanh niên sau này. Trong số các em đó có Lý Tự Trọng, về sau là đoàn viên đầu tiên của Đoàn Thanh niên Cộng sản nước ta, cũng là người cộng sản đã oanh liệt đấu tranh đến hơi thở cuối cùng cho Đảng, cho sự nghiệp cách mạng. Vì vậy, nhiệm vụ cần kíp của cách mạng, ngay sau khi Đảng ta ra đời, từ ngày 20 đến ngày 26 tháng 3 năm 1931, tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 2, Trung ương Đảng đã giành một phần quan trọng trong chương trình làm việc để bàn về công tác thanh niên và đi đến những quyết định có ý nghĩa đặc biệt, như các cấp ủy Đảng từ Trung ương đến địa phương phải cử ngay các ủy viên của Đảng phụ trách công tác Đoàn, với ý nghĩa đó, ngày 26 tháng 3 là ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.- Thấu triệt và vận dụng đúng đắn tư tưởng Hồ Chí Minh, trong các văn kiện của Đảng, Đảng ta luôn nhất quán nguyên tắc Đảng lãnh đạo trực tiếp và bảo đảm cho sự vững mạnh của Đoàn. Quyết nghị của Ban Bí thư số 25-QN/TW, ngày 19/10/1955 về việc đổi tên Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam thành Đoàn Thanh niên Lao động và kế hoạch xây dựng Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam đã chỉ rõ nguyên tắc: “Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam công tác dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng và Đảng cần coi trọng việc lãnh đạo Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam. Sự lãnh đạo của Đảng là bảo đảm vững chắc nhất để Đoàn Thanh niên Lao động phát triển tổ chức được vững mạnh và công tác được thắng lợi”. Chấp hành vô điều kiện sự lãnh đạo đó là trách nhiệm Đoàn là nguyên tắc “bất di bất dịch”: “Đoàn Thanh niên Lao động phải là người chấp hành trung thành và kiên quyết những chỉ thị, nghị quyết của Đảng, đoàn kết, lôi cuốn đông đảo thanh niên để thực hiện nhiệm vụ của Đảng đề ra, Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam là trường học đào tạo, giáo dục thanh niên trở thành nguồn bổ sung lực lượng mới trẻ cho Đảng, cho các tổ chức của giai cấp công nhân và của Nhà nước”. Bước sang thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đảng ta có sự phát triển và hoàn thiện tư duy về công tác thanh niên, về công tác xây dựng Đoàn. Phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ Bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X), ngày 17/7/2008, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh khẳng định: “Đảng lãnh đạo công tác thanh niên và trực tiếp lãnh đạo Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, coi nhiệm vụ xây dựng Đoàn vững mạnh là bộ phận quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, là xây dựng Đảng trước một bước”. Việc Đảng lãnh đạo Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh tiếp tục được quy định tại Điều 44, Chương X, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam như sau: “1. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng, thường xuyên bổ sung lực lượng trẻ cho Đảng, kế tục sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; là lực lượng nòng cốt trong phong trào thanh niên; là trường học xã hội chủ nghĩa; đại diện quyền lợi của thanh niên; phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh. 2. Cấp uỷ đảng lãnh đạo trực tiếp tổ chức đoàn cùng cấp về phương hướng, nhiệm vụ, tư tưởng, tổ chức, cán bộ”. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Đoàn còn được hiến định ở Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2013). Đặc biệt, trước thềm đại hội đại hội đoàn các cấp và Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh toàn quốc lần thứ XII, nhiệm kỳ 2022-2027, Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 08-CT/TW ngày 20/8/2021 về lãnh đạo đại hội đoàn các cấp và Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh toàn quốc lần thứ XII, nhiệm kỳ 2022-2027, một lần nữa khẳng định không khi nào, chưa bao giờ Đảng ta buông lỏng sự lãnh đạo đối với Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh nói chung, lãnh đạo đại hội đoàn các cấp và Đại hội đại biểu Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh toàn quốc lần thứ XII, nhiệm kỳ 2022-2027 nói riêng. Lịch sử ra đời, cống hiến, trưởng thành và chiến đấu vì mục tiêu lý tưởng của Đảng trong hơn 90 năm qua, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh luôn chấp hành sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng - đây là vấn đề có tính nguyên tắc, là quy luật “sống còn” đối với sự tồn tại và trưởng thành của Đoàn. Theo đó, hơn bao giờ hết và không thể khác, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với đại hội đoàn các cấp và Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XII theo tinh thần Chỉ thị số 08-CT/TW ngày 20/8/2021 của Ban Bí thư không chỉ là vấn đề cấp bách trước mắt, còn là vấn đề chiến lược lâu dài.

CHIA BUỒN VỚI GIA ĐÌNH- CHIA VUI CÙNG CỘNG ĐỒNG.

 


Ông Vũ Huynh Trưởng đã qua đời hôm 11/02/2022 (10/02/2022 theo lịch Mỹ) vì Covid 19.

Ông được xem là một nhân vật gạo cội trong làng chống Cộng bằng mồm, kiếm cơm là chính. Cái chết vì Covid 19 của ông khiến các cụ già ở phía bên kia thế giới cảm thấy hoang mang, vì cũng như ông, các cụ đều cho rằng Covid 19 chỉ như cảm cúm thông thường và họ đều tuyên bố tẩy chay Vac-xin.

Các cụ càng hoang mang hơn khi nhận ra thực tế mình đã quá già để có thể làm bất cứ điều gì. Cộng Sản, càng chống họ thì họ càng trường tồn. Càng mong cho họ sụp đổ thì họ càng trơ gan cùng tuế nguyệt. Lớp con cháu của các cụ thì không ai đâu dở hơi, dở hám bày trò đẽo gỗ làm súng, lấy bìa" cát tông" làm tàu chiến rồi tụ tập nhau đi diễu hành như các cụ. Tre già mà măng không muốn theo vết xe đổ nên không thèm mọc. Buồn thay?!

Cơ mà kệ...các cụ!

Vũ Huynh Trưởng đã chết. Nói một câu tuy thô mà thật: Tôi xin gửi lời chia buồn đến gia đình ông, nhưng cũng chia vui cùng cộng đồng vì từ nay chúng ta sẽ không phải nghe những câu chửi đất nước bất chấp đúng sai, chửi theo kiểu Chí Phèo của ông ta nữa!

Trước giờ tôi chưa nghe ai nói ở dưới Âm phủ có chia ra thành từng quốc gia như trên trần gian, để ông lại có thể tự tuyên bố mình là tổng thống thủ tướng hay chủ tịch cộng đồng này kia?! Tôi chỉ nghe nói trùm cuối của Âm phủ là Diêm Vương. Vậy nên mong sao khi xuống dưới ấy rồi, ông ta sớm biết buông bỏ tà niệm, tránh xa những oán thù, để trở về cõi siêu sinh, ngày sau đầu thai chuyển kiếp!

Tất nhiên kiếp gì thì do Diêm Vương quyết định!

Nguồn: Đi trước về sau

NỮ BIỆT ĐỘNG "THÉP" 8 LẦN GẶP BÁC HỒ.!

 


Trần Thị Kim Cúc sinh năm 1936, tại vùng quê nghèo xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang (Đà Nẵng). Bà làm giao liên cho huyện ủy Hòa Vang từ năm 14 tuổi. Năm 1961, bà được tổ chức phân công làm đội trưởng đội công tác đặc biệt, có nhiệm vụ thăm dò tình hình địch, đưa thông tin liên lạc cho cách mạng. 4 năm sau, bà vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng. Dũng cảm, mưu trí, gan dạ, bà đã tham gia nhiều trận đánh “tìm Mỹ mà diệt” làm nức lòng đồng bào và chiến sĩ. Nhiều lần bị địch bắt, tra tấn cực kỳ tàn độc nhưng bà vẫn kiên cường giữ vững khí tiết của người cộng sản. Ra tù, được tổ chức bí mật đưa ra Bắc chữa bệnh, bà vinh dự 8 lần được gặp Bác Hồ.

Bà Cúc bồi hồi nhớ lại: “Một buổi chiều giữa năm 1966, tôi và chị Mười quê ở Mỹ Tho, Tiền Giang nằm điều trị chung một phòng ở Bệnh viện Việt - Xô, được thông báo sắp có người trong Phủ Chủ tịch đến thăm. Tối đó, một chiếc ô tô con đỗ trước hiên Khoa A1. Một ông già dáng dong dỏng, râu tóc bạc, nét mặt đôn hậu, mặc bộ bà ba màu nâu sẫm, chân đi dép cao su và một người trẻ tuổi hơn (về sau tôi mới biết là chú Vũ Kỳ, thư ký của Bác), nhanh nhẹn đi về phía buồng bệnh. Tôi hồi hộp nói với chị Mười: “Đúng là Bác rồi, chị ơi!”. Chúng tôi định chạy ra, thấy thế Bác liền vẫy tay, bảo: “Hai cháu đừng chạy, ngã đấy!” rồi đưa hai tay đỡ chúng tôi. Tôi ôm lấy Bác mà nước mắt cứ trào ra. Ước mơ cháy bỏng ấp ủ bấy lâu, bây giờ đã thành hiện thực!

Chú Trịnh Kim Ảnh, Giám đốc Bệnh viện thưa với Bác: “Cô Cúc ngoài các vết thương trong người còn có 2 vết thương rất nặng: Vết thương ở đầu do bọn địch đóng đinh vào gây chấn thương não, để lại di chứng động kinh kéo dài. Vết thương thứ 2 ở cửa mình vẫn ra máu do mảnh vụn đèn neon địch tra tấn”. Nghe vậy, mắt Bác ngấn lệ. Người đưa tay sờ lên vết thương trên đầu tôi, lo lắng hỏi: “Đau thế, đêm cháu ngủ có được không? Cháu ăn có biết ngon miệng không?” Tôi liền thưa: “Dạ thưa Bác! con ăn và ngủ cũng được ít”. Bác đưa tay vẫy anh Bình, Chủ nhiệm khoa A1 lại gần, căn dặn: “Chú phải theo dõi cả việc ăn uống của các cháu, nhắc nhà bếp phải thường xuyên đổi món và chế biến thức ăn cho hợp khẩu vị. Ở miền trong thường thích món cá nấu chua lắm!”.

Sau lần đó, tôi và chị Mười còn nhiều lần được đón vào Phủ Chủ tịch cùng ăn cơm với Bác và chú Tô (tức Thủ tướng Phạm Văn Đồng). Tình cảm của Bác dành cho chúng tôi sâu nặng, ấp áp như tình thương của người cha vậy. Biết bệnh của chúng tôi không thuyên giảm, Bác quyết định đưa sang Trung Quốc chữa trị và động viên 2 chị em cố gắng học tiếng nước bạn, để nếu có nhà báo đến thì kể cho họ nghe về tội ác của đế quốc Mỹ và ý chí chiến đấu kiên cường của đồng bào ta. Khắc ghi lời Bác, tôi vừa chiến đấu với bệnh tật vừa nỗ lực học hỏi, luyện cách giao tiếp bằng tiếng Trung.

Sau gần 2 năm, các vết thương được chữa lành, trở về Hà Nội, tôi được Bác cho xe đón vào Phủ Chủ tịch. Đó là buổi chiều 30 tết Mậu Thân 1968, tiết trời se lạnh, Bác bảo chú Vũ Kỳ đưa ra một cái khăn và chiếc mũ ấm bảo tôi mang vào kẻo lạnh (Chiếc khăn này tôi đã tặng lại Bảo tàng Hồ Chí Minh - Chi nhánh Quân khu 5). Rồi Bác ân cần hỏi thăm sức khỏe, và bất ngờ hỏi bằng tiếng Trung: “Cháu đã học được tiếng nước bạn đến đâu rồi? Bác hỏi một câu, cháu trả lời Bác nghe thử”. Tôi lúng túng thưa với Bác cũng bằng tiếng Trung, Bác khen và dặn: “Có chí, ở hoàn cảnh nào học cũng được, cháu ạ!”. Tôi trình bày nguyện vọng muốn được trở về miền Nam đánh giặc, mắt Bác rưng rưng. Bác bảo hãy cố gắng giữ gìn sức khỏe, vì người còn yếu thế chưa về được đâu”.

Sau đó, Trần Thị Kim Cúc học văn hoá tại Trường phổ thông lao động Trung ương, đầu năm 1969, được Đài Tiếng nói Việt Nam nêu gương về thành tích học tập. Bà kể: “Nhận được tin ấy, Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ đến trường đón tôi. Bác ôm chầm lấy tôi như một người cha đón đứa con sau bao ngày xa cách. Tình cảm của Bác vẫn nồng ấm, nhưng cử chỉ và giọng nói đã yếu đi nhiều. Bác dặn chú Tô bằng giọng khàn khàn: “Sau này, tôi có mệnh hệ gì, không chăm lo được cho cháu Trần Thị Cúc và cháu Trần Thị Lý (Anh hùng LLVTND, quê Điện Quang, Điện Bàn, Quảng Nam) thì nhờ chú thay tôi chăm lo cho hai cháu đến nơi đến chốn”.

Đến chiều, chú Vũ Kỳ đưa tôi trở lại trường, Bác lấy tay xoa nhẹ lên đầu tôi và bảo: “Cháu về trường, nhớ giữ gìn sức khỏe, Bác gửi lời thăm thầy cô, bạn bè của cháu!”. Nghe thế, tôi cắn môi lại cố không để bật ra tiếng khóc, lòng thầm ao ước: “Cầu mong Bác mạnh khỏe, bình an”. Nào ngờ đó cũng là lần cuối cùng tôi được gặp Bác. Ngày 2-9 năm ấy Bác đã đi xa mãi mãi”.

Sau này, bà Cúc thi đỗ vào Khoa Hóa Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, học đến năm thứ tư thì vết thương tái phát, đôi mắt không nhìn được, phải sang chữa trị tại Cộng hoà Dân chủ Đức. Mãi đến sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, bà mới được trở về quê hương. Các con của bà đều đã trưởng thành, trong đó 2 người con trai đang công tác trong quân đội. Bà bảo: “Tôi thường kể cho các con nghe kỷ niệm về những lần được gặp Bác Hồ. Đó chính là hành trang để các cháu trọn đời vững bước đi theo con đường mà Đảng, Bác Hồ đã lựa chọn”./.

VIỆT NAM HÙNG CƯỜNG

TẠI SAO LẠI TRẢ TỰ DO CHO CHÂU VĂN KHẢM?

 


Vẫn chiêu trò cũ của một số kẻ chống cộng cực đoan, những chân rết của tổ chức khủng bố Việt Tân tại một số nước phương Tây lại đưa ra chiêu trò tập trung tuần hành để đòi chính quyền Việt Nam trả tự do cho những người đã vi phạm pháp luật Việt Nam, bị bắt, xử lý và đang phải chấp hành án phạt tù và lần này vẫn là cái tên quen thuộc đó là Châu Văn Khảm - một kẻ vi phạm pháp luật Việt Nam và đang phải chấp hành án phạt tù 12 năm tù giam về tội “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân” được quy định tại Điều 113, Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Theo như thông tin được trang “Việt Tân” cùng một số kẻ đội lốt dân chủ, những kẻ chống cộng cực đoan chia sẻ, ngày 10/02/2022 vừa qua, một số người “đồng bọn” của Châu Văn Khảm đã đưa những băng rôn, khẩu hiệu đòi chính quyền Việt Nam trả tự do cho Châu Văn Khảm trước công tòa Quốc Hội Canberra, Úc Châu. Vậy nhưng thêm một lần nữa, những chiêu trò này cũng không thể làm thay đổi được bản án phạt tù mới thực hiện được ¼ chặng đường của Châu Văn Khảm và dẫu biết rằng ngoài việc tạo cớ để cho các nước phương Tây, trong đó có Úc can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam thì những kẻ đồng bọn chống cộng cực đoan này đang mong muốn để Châu Văn Khảm được tự do sớm hơn để ‘đoàn tụ” cùng với Nguyễn Văn Đài và những kẻ phản bội Tổ quốc ở trời Tây bấy lâu nay. Vậy Châu Văn Khảm là ai mà được số chống cộng cực đoạn và số chân rết của “Việt Tân” quan tâm đến như vậy?

Theo như thông tin được biết, Châu Văn Khảm, SN 1949, là Việt kiều Úc, được biết đến là người tích cực tham gia hoạt động chống phá Việt Nam, là thành viên của tổ chức khủng bố “Việt tân” từ năm 2010 với bí danh là Hoàng Liêm và trở thành “đại diện cơ sở đảng bộ Sydney” và “Bí thư đảng bộ Úc châu” của tổ chức “Việt tân”. Đến tháng 01/2019, Châu Văn Khảm nhập cảnh Campuchia và sử dụng CMTND lấy tên Chung Chính Phi theo đường bộ từ Campuchia để xâm nhập trái phép vào Việt Nam. Sau đó, Châu Văn Khảm cùng với một số đối tượng như Nguyễn Văn Viễn (48 tuổi, quê Quảng Nam, ngụ quận 12, thành phố Hồ Chí Minh) và Trần Văn Quyền (20 tuổi, quê Hà Tĩnh, ngụ tại thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương) đã câu kết, móc nối, lôi kéo và cung cấp tiền bạc, đào tạo huấn luyện cách thức chống phá chính quyền cho số đối tượng chống đối ở trong nước.

Trên cơ sở thông báo về tổ chức khủng bố “Việt tân” do Bộ Công an Việt Nam công bố ngày 4/10/2016 trên cổng thông tin điện tự Bộ Công an, trong đó xác định cụ thể: “người nào có hành vi tham gia, tuyên truyền, lôi kéo, xúi giục người khác tham gia, tài trợ, nhận tài trợ của “Việt tân”; tham gia các khóa đào tạo, huấn luyện do “Việt tân” tổ chức; hoạt động theo sự chỉ đạo của “Việt tân”… sẽ đồng phạm tội khủng bố, tài trợ khủng bố và sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật Việt Nam”, vào ngày 12/01/2019 Châu Văn Khảm đã bi bắt và đến ngày 02/3/2020, Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân” và tuyên y án đối với Châu Văn Khảm 12 năm tù giam (sẽ bị trục xuất sau khi chấp hành xong bản án), Nguyễn Văn Viễn 11 năm và Trần Văn Quyền 10 năm tù giam về tội “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân” theo Điều 113 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Việc kêu gọi trả tự do cho Châu Văn Khảm không phải là lần đầu tiên được số đối tượng chống đối cực đoan, số đối tượng đội lốt dân chủ, số cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí với Việt Nam như RFA, BBC Tiếng Việt, “Việt Tân” hay kể cả một số nghị, chính giới một số nước như Úc cũng đã nhiều lần gặp gỡ, thậm chí đưa ra những đề nghị đối với chính quyền Việt Nam. Vậy nhưng pháp luật Việt Nam sẽ trừng trị nghiêm minh với những kẻ coi thường, thách thức pháp luật, kể cả người đó có là Việt Kiều hay được sự hậu thuẫn của chính giới một số nước phương Tây. Bản án 12 năm tù giam cho 1 kẻ phản quốc như Châu Văn Khảm là hoàn toàn xứng đáng, đúng quy định pháp luật và là bài học cho những kẻ đang đồng lõa hay “tát nước theo mưa” cho hành vi vi phạm pháp luật của Châu Văn Khảm.

                                                                                         <Tống Giang>

PHẢN BIỆN CÁI GỌI LÀ "VNCH LÀ MỘT CHÍNH THỂ, THỰC THỂ TỪNG TỒN TẠI TRONG LỊCH SỬ" CỦA CÁC NHÀ SỬ HỌC!

     Ông Trần Đức Cường, chủ biên tập 21 (1954-1965) và ông Nguyễn Mạnh Hà, đồng chủ biên tập 22 (1965-1975) của bộ Quốc sử thuyết giảng rằng "bộ Quốc sử sẽ ko viết ngụy quân, ngụy quyền SG, mà viết là chính quyền SG hay chính quyền VNCH, vì nó là một thực thể chính trị, một chính thể đã từng tồn tại trong lịch sử giai đoạn 1954 - 1975".

Vớ được chữ "chính thể" từ đôi miệng mĩ miều của hai nhà sử học này, nhiều kẻ adua, hùa bầy lên fb lớn tiếng chửi những người phản đối thay chữ ngụy quyền bằng "chính quyền", rằng: VNCH là một thực thể, nó đã từng tồn tại.

Khi tôi hỏi rằng: "Thực thể, Chính thể" là gì thì họ im lặng.

Với thiển cận của mình, tôi sẽ chứng minh rằng: Ngụy quyền SG không phải là một chính thể, thực thể chính trị. Cũng chẳng mong bài viết đến với HĐ thẩm định bộ quốc sử, chỉ hy vọng giải bày cùng dư luận về quan điểm cá nhân.

Trước hết đi tìm hiểu thế nào, điều kiện nào thì được gọi là thực thể chính trị (hay gọi là chính thể):

Thực thể (tiếng Anh: entity) là một cái gì đó tồn tại như tự chính nó, như một chủ thể hoặc như một khách thể, một cách thực sự hay một cách tiềm năng, một cách cụ thể hay một cách trừu tượng, một cách vật lý hoặc không.

Thuật ngữ “chính thể” là một từ Hán Việt cổ, dùng để chỉ một chế độ chính trị, cách thức tổ chức nhà nước (regime). Hiện nay, trên thế giới có hai loại hình thức chính thể cơ bản. Đó là chính thể quân chủ và chính thể cộng hoà. Chính thể quân chủ là chính thể mà ở đó nguyên thủ quốc gia do thế tập truyền ngôi, quyền lực nhà nước có nguồn gốc từ cõi “hư vô”, do thiên đình định đoạt. Chính thể cộng hoà là chính thể nguyên thủ quốc gia do bầu cử lập nên và quyền lực nhà nước có nguồn gốc từ nhân dân. Thuật ngữ “cộng hoà” có nguồn gốc từ thành ngữ Hy Lạp “Respublica est res populi”, có nghĩa là “Nhà nước là công việc của nhân dân”.

Như vậy, tiêu chuẩn đơn giản nhất để xác định một thực thể chính trị - chính thể chân chính là thực thể chính trị đó phải được tổ chức bầu cử tự do, bình đẳng! Dân chủ đảm bảo sự chân chính của quyền lực, biến nó thành chính quyền. Tức là chính quyền đó phải có tính nhân dân, có nguồn gốc từ nhân dân. Và nó tồn tại phải tự chính nó, như một chủ thể, như một khách thể - mới bảo đảm chính danh, hợp pháp.

Vậy, ngụy quyền SG có phải là một thực thể chính trị - một thể chế cộng hòa chính danh hay không? Nó do ai lập ra? nó có tồn tại tự thân nó như một chủ thể hay không? nó có phải là một thể chế cộng hòa thực sự - nguồn gốc từ nhân dân không? Xin thống kê quá trình tồn tại của cái gọi là "VNCH" sau đây thì mọi người sẽ rõ:

1. Chính phủ "Quốc Gia" của Bảo Đại chắc chắn không phải là một chính quyền, không là một thực thể chính trị, một chính thể chính danh. Bởi, Sau thất bại của cái gọi là Chính phủ “Nam Kỳ quốc” của Nguyễn Văn Thinh (6-1946) và Chính phủ Lê Văn Hoạch (12-1946), thực dân Pháp lập ra cái gọi là “Chính phủ lâm thời Nam phần Việt Nam (10-1947), do Nguyễn Văn Xuân làm Thủ tướng và xúc tiến mạnh mẽ việc lôi kéo Bảo Đại đứng ra lập Chính phủ “quốc gia”. Theo thỏa ước Auriol, Bảo Đại kí kết tháng 3-1949, đã cho phép Bảo Đại đứng ra lập Chính phủ vào tháng 7-1949 do Bảo Đại làm Quốc trưởng kiêm Thủ tướng, Nguyễn Văn Xuân làm Phó thủ tướng kiêm Tổng trưởng Quốc phòng. Đến tháng 1-1950, Bảo Đại lại cho lập chính phủ mới do Nguyễn Phan Long làm Thủ tướng, Phan Huy Quát làm Bộ trưởng Quốc phòng. Tháng 5-1950, chúng lại lập chính phủ do Trần Văn Hữu làm Thủ tướng kiêm việc ngoại giao, quốc phòng. Từ đó đến năm 1954, Chính phủ “quốc gia” do thực dân Pháp thành lập một cách bất hợp pháp đã liên tục cải tổ và thay đi, đổi lại nhiều lần song vẫn không đạt được ý muốn vì chúng đi ngược lại nguyện vọng độc lập tự do của dân tộc Việt Nam”.

Vì vậy cái gọi là "VNCH là sự kế tiếp của chính phủ Quốc gia" để chứng minh ngụy quyền Sài Gòn là một thực thể chính trị chính danh lại càng phi lịch sử, phi khoa học.

Hãy xem sử gia người Pháp Philippe Devillers nhận xét về cái “quốc gia Việt Nam” của Bảo Đại được Pháp dựng lên nhằm đối lập với chế độ cộng hòa dân chủ Việt Nam: nó “Chẳng phải là một nước quân chủ, cũng chẳng phải là một nước cộng hòa, cái “Quốc gia Việt Nam” này không có cơ sở nhân dân, không có Quốc hội, ngay một Quốc hội tư vấn cũng không có, không có Hiến pháp và trong nhiều năm không có cả ngân sách. Một vài cái gọi là đảng chính trị của nó chỉ là những đoàn thể, những bè phái lộng quyền, những môn khách của những nhân vật tai mắt, nó hoàn toàn phụ thuộc vào quân đội, cảnh sát và ngân khố của nước Pháp. Nó sắp sửa phát triển thành một chế độ cung đình, trong đó những âm mưu sẽ được kết cấu ngay trong lòng hoặc xung quanh “nơi cái hoàng gia” thực chất là một phòng chính trị. Nhà vua ở đây gợi lên ấn tượng mình hầu như chỉ là một biểu tượng mà thôi. Ở đằng sau là những nơi đi săn, những sòng bạc, những đàn bà, những địa vị, đồng bạc”.

2. Còn cái gọi là “chính thể, chính quyền Việt Nam cộng hòa” của các ông: Phan Huy Lê, Trần Đức Cường, Vũ Minh Giang, Nguyễn Mạnh Hà, Vũ Quang Hiển...và các hội "bàn đầy" không thể gọi là một thực thể chính trị hay một chính quyền hợp pháp, nên nó không tồn tại chính danh như một thực thể.

“Ngày 23-10-1955, Ngô Đình Diệm được Mỹ dựng lên lèo lái truất phế Bảo Đại lập ra cái gọi là “Việt Nam cộng hòa”. “Ngày 1-11-1963, đảo chính lật đổ Diệm – Nhu, do Hội đồng tướng lĩnh thực hiện, đứng đầu là Dương Văn Minh. 30-1-1964, đảo chính lật đổ Dương Văn Minh, do “Hội đồng quân lực” thực hiện, đứng đầu là Nguyễn Khánh. Khánh lên làm Thủ tướng kiêm Tổng tư lệnh. Ngày 27-8-1964, “Hội đồng quân lực” lại “chỉnh lý” lập “tam đầu chế”: Minh – Khánh – Khiêm. Ngày 13-9-1964, đảo chính hụt do Lâm Văn Phát và Dương Văn Đức cầm đầu. 1964, Nguyễn Khánh lật đổ Minh- Khiêm. 20-10-1964, do sức ép của Mỹ, Khánh phải ra khỏi chính quyền, đưa Phan Khắc Sửu lên làm Quốc trưởng và Trần Văn Hương làm Thủ tướng. Ngày 25-1-1965, “Hội đồng quân lực” hạ Hương rồi đưa Phan Huy Quát lên làm Thủ tướng. 19-2-1965, “Hội đồng quân lực” do Nguyễn Văn Thiệu cầm đầu, loại Khánh ra khỏi quân đội. 1965, “Hội đồng quân lực” lật đổ chính quyền dân sự của Phan Khắc Sửu, Phan Huy Quát, lập Ủy ban lãnh đạo quốc gia do Thiệu làm Chủ tịch và Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch ủy ban hành pháp trung ương (Thủ tướng) v.v…”.

Rõ ràng, cái gọi là “chính thể, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa” đã bị các nhà sử học hư cấu lên thành chính quyền - chính thể - thực thể chính trị, đã bị Thượng nghị sĩ (4 năm sau trở thành Tổng thống Mỹ) John F. Kennedy tuyên bố vạch trần sự thật vào ngày 1/6/1956: “Nếu chúng ta không phải là cha mẹ của nước Việt Nam bé nhỏ (chỉ đệ nhất “Việt Nam cộng hòa” của Ngô Đình Diệm) thì chắc chắn chúng ta cũng là cha mẹ đỡ đầu của chúng nó. Chúng ta là chủ tọa khi nó ra đời, chúng ta viện trợ để nó sống, chúng ta giúp định hình tương lai cho nó (…). Đó là con đẻ của chúng ta – chúng ta không thể bỏ rơi nó, chúng ta không thể không biết tới những nhu cầu của nó” (Nhìn lại quá khứ. Tấn thảm kịch và những bài học Việt Nam - Robert S. Mc. Namara. NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 43, 44). 

Còn viên Tư lệnh Mỹ ở miền Nam, Tướng John W. O’Daniel thì nói “toạc móng heo”: “Ai chi tiền thì người đó chỉ huy”(Who pays, commands)… 

Trong bản ghi âm được giải mật sau này về cuộc trao đổi giữa Tổng thống Mỹ Richard Nixon và ngoại trưởng Henry Kissinger, Nixon nói rõ việc ông quyết định sẽ bỏ mặc “đứa con Việt Nam cộng hòa” để có thể thoát khỏi cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam:

* Henry Kissinger: “Tôi nghĩ Thiệu nói đúng đấy. Hiệp định Paris sẽ đẫy ngụy quyền Sài Gòn vào thế nguy hiểm”.

* Còn Richard Nixon: “Nó (ngụy quyền Sài Gòn) phải tự chống đỡ thôi… Nếu nó chết thì cứ để cho nó chết. Nó lớn rồi, chúng ta không thể cứ cho nó bú mớm mãi được” (Phim tài liệu “The Vietnam War. PBS. 2017. Tập 9).

* Còn Ngô Đình Diệm (trong bài diễn văn tại buổi tiệc trưa do thị trưởng New York tổ chức tại khách sạn Waldorf-Astoria ngày 13/5/1957) cũng thẳng thắn thừa nhận rằng: “Liên quan tới vấn đề an ninh, biên giới Hoa Kỳ không ngừng ở Đại Tây Dương và Thái Bình Dương, mà kéo dài, ở Đông Nam Á, tới sông Bến Hải, ở vĩ tuyến 17 của Việt Nam, hình thành một biên giới của thế giới tự do, cái mà chúng ta đều trân trọng" (Bản dịch của tác giả Thiên Hạ, Báo Tây Ninh) – “With regard to security, the frontiers of the United States do not stop at the Atlantic and Pacific Coasts, but extend, in South East Asia, to the Ben Hai river, which partitions Viet-Nam at the 17th parallel, and forms the threatened border of the Free World, which we all cherish”.

* Chính tên “đại tướng” Cao Văn Viên – “Tổng tham mưu trưởng” của cái gọi là “quân lực Việt Nam cộng hòa” đã sổ toẹt về bản chất “tầm gửi” của đội quân Sài Gòn vào Mỹ khi phái đoàn nghị sĩ và dân biểu đến gặp để hỏi “về chiến lược quân sự của Bộ Tổng tham mưu”(Viên trả lời): “Chúng ta không có trách nhiệm về chiến tranh (!) Trách nhiệm chiến đấu ở đây là người Mỹ. Chính sách đó do họ đề ra, chúng ta chỉ theo họ mà thôi!”.

* Còn tên “Trung tướng” Trần Văn Đôn, nguyên Tổng tư lệnh của cái gọi là “quân đội Việt Nam cộng hòa” kiêm “Tổng trưởng quốc phòng” thú nhận: “Mỗi khi Mỹ đề nghị điều gì khó khăn, nếu về hành chính thì Tổng thống Thiệu giao cho Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, còn về quân sự thì giao cho Tổng tham mưu trưởng Cao Văn Viên. Dĩ nhiên hai ông này sẽ làm theo đường lối của Mỹ. Hai ông này không hẳn thích Mỹ nhưng trải qua kinh nghiệm của những người đi trước; họ hiểu rằng muốn sống yên trên địa vị cao sang của mình thì phải chiều theo ý Mỹ. Vì vậy mà Mỹ thích hai ông đó nắm trọn lực lượng quân sự và chính trị trong nước. Đó cũng là cách hay nhất để nắm luôn Tổng thống Thiệu bởi vì nếu cần thì… hai người đó sẽ đảo chính dễ dàng!”. 

Trần Văn Đôn đã hỏi, và Thiệu cũng trả lời cho Đôn: “Hai người này (kể thêm Trần Thiện Khiêm, thủ tướng) là người của Mỹ chọn, nếu tôi đổi hai người này thì Mỹ sẽ phản đối, tôi sẽ gặp nhiều khó khăn. Cái khó khăn của tôi ai cũng nghĩ là (chỉ) đối đầu với Cộng sản. Thật ra trở ngại và khó khăn cho tôi là Mỹ. Ví dụ như việc bổ nhiệm người trong nội các, người nào Mỹ không phản đối thì được, còn phản đối thì khó mà làm việc”.(“Đọc hồi ký của tướng tá Sài Gòn xuất bản ở nước ngoài” của tác giả Mai Nguyễn, NXB. Trẻ, trang 294, 295).

* Và tổng thống ngụy quyền Sài Gòn - Nguyễn Văn Thiệu nhiều lần xác nhận bản chất là lính đánh thuê của mình: “Mỹ còn viện trợ, thì chúng ta còn chống cộng”; hoặc: “Nếu Hoa Kỳ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau 3 giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi Dinh Độc Lập!” (Michael Mc Lear. Vietnam, The Ten Thousand Day War. London: Thames Methuen, 1982. trang 895, 896); hoặc: “Sẽ từ chức ngày nào Mỹ ngừng viện trợ cho Việt Nam cộng hòa” (Tâm sự tướng lưu vong của Hoàng Linh Đỗ Mậu - NXB Công an nhân dân, tr.607). 

* Khi trả lời phỏng vấn báo Thanh Niên Xuân Ất Dậu – 2005, ông Nguyễn Cao Kỳ, nguyên Thủ tướng của cái gọi là “Việt Nam cộng hòa” cũng xác nhân: “Mỹ luôn đứng ra trước sân khấu, làm “kép nhất”. Vì vậy ai cũng cho rằng đây là cuộc chiến tranh của người Mỹ và chúng tôi chỉ là những kẻ đánh thuê”.

Rõ ràng, cái “quốc gia Việt Nam” của Bảo Đại, cái ”Chính phủ lâm thời” của Trần Trọng Kim hay cái “Việt Nam cộng hòa” của Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu đều là chế độ do ngoại bang dựng lên, là bộ máy làm thuê, làm tay sai, làm bù nhìn cho thực dân Pháp, phát xít Nhật và đế quốc Mỹ xâm lược chứ làm gì có thể tồn tại như tự chính nó, như một chủ thể, một khách thể hoặc cái có sự tồn tại độc lập được, cũng chẳng phải có nguồn gốc từ nhân dân, phải không thưa các vị sử học!

Khi Mỹ đổ quân vào xâm lược nước ta. Ngày 17-7-1966, trong Lời kêu gọi “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Hỡi đồng bào và chiến sĩ cả nước! Đế quốc Mỹ dã man, gây ra chiến tranh xâm lược hòng ăn cướp nước ta, nhưng chúng đang thua to. Chúng ồ ạt mang gần 30 vạn quân viễn chinh vào miền Nam nước ta. Chúng nuôi dưỡng ngụy quyền, ngụy quân làm công cụ hại dân phản nước. Chúng dùng những phương tiện chiến tranh cực kỳ man rợ, như chất độc hóa học, bom napan, v.v.. Chúng dùng chính sách đốt sạch, giết sạch, phá sạch. Bằng những tội ác ấy, chúng hòng khuất phục đồng bào miền Nam ta…” (Thơ văn Hồ Chí Minh – NXB Giáo Dục tr. 508).

Hành động của các nhà sử học và bọn "bàn đầy" lươn lẹo, hư cấu cho ngụy quyền SG lên thành "thực thể đã từng tồn tại trong lịch sử", chính danh, hợp pháp hóa cho cái gọi là "Chính quyền SG, chính quyền VNCH" trong bộ Quốc sử là phủ nhận tội ác của kẻ làm tay sai, bán nước, phản bội, phủ nhận tội xâm lược của thực dân đế quốc, xóa nhòa khoảng cách: Ta-Bạn-Thù, Chinh-Tà, cứu Nước -phản quốc, nhằm đánh đồng bè lũ bù nhìn, tay sai bán nước, ngụy quyền, ngụy quân SG với Đảng Cộng sản, Quân đội NDVN và Nhân dân Việt Nam là không chấp nhận được. Tuyệt đối không thể chấp nhận./.
Yêu nước ST.

Một số chiêu trò gây nhiễu của các thế lực phản động về công tác phòng chống tham nhũng

 

Với người dân, trước sự việc chính trị, xã hội đang được lan truyền với vô vàn “dị bản” lắp ghép trên mạng, chủ ý có, ác ý có, nhiều khi họ dễ tin và trở thành con rối, tiếp lửa cho những chiêu trò xuyên tạc, đả phá của kẻ xấu.
 

Có câu châm ngôn rằng: “Có hai cách để bị lừa. Một là tin vào điều không đúng và hai là không chịu tin vào điều đúng”. Ngày nay, trong thế giới mạng, người ta luôn có cảm giác bội thực thông tin nhưng điều đáng lo ngại nhất chính là bị nhiễu thông tin để rồi tin vào điều không đúng, điều sai trái, trong khi đó điều đúng, điều là lẽ phải, là sự thật thì lại không tin hoặc không chịu tin.

Với người dân, trước sự việc chính trị, xã hội đang được lan truyền với vô vàn “dị bản” lắp ghép trên mạng, chủ ý có, ác ý có, nhiều khi họ dễ tin và trở thành con rối, tiếp lửa cho những chiêu trò xuyên tạc, đả phá của kẻ xấu.

Tôi muốn mượn ý này để nói thực trạng rất đáng lo ngại trong xa lộ thông tin mạng hiện nay. Hằng ngày, các thế lực thù địch, phản động dòm ngó vào xa lộ thông tin trong nước, bao gồm cả báo chí, truyền thông và các diễn đàn, mạng xã hội để thu lượm thông tin, phục vụ mục đích chống phá.

Cuộc đấu tranh chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước ta với việc kiểm tra, điều tra, xử lý kỷ luật và hình sự những cán bộ sai phạm chính là một tâm điểm mà kẻ địch tìm mọi cách để lợi dụng. Lựa chọn vào tâm điểm này, trước hết chúng nhằm vào tâm lý của người dân vốn dĩ rất bức xúc trước các biểu hiện, hành vi tham ô, tham nhũng, quan liêu, cửa quyền... của bộ phận cán bộ, công chức.

Từ chuyện “quan tham” xà xẻo, ăn hối lộ ở khu phố, bản làng đến những vụ việc lớn, rất lớn ở một số tập đoàn, tổng công ty và cơ quan quản lý Nhà nước ở Trung ương. Tâm lý người dân vốn dĩ tò mò, ưa chuyện, nhất là chuyện càng “thâm cung, bí sử” liên quan cán bộ lãnh đạo cấp cao càng có sức lôi cuốn với người buôn chuyện.

Lợi dụng tâm lý đó, các thế lực thù địch, phản động thừa cơ vẽ hươu, vẽ vượn, bôi nhọ, xuyên tạc cuộc đấu tranh chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước ta. Thủ đoạn phổ biến là tạo dựng các clip, hình ảnh, đưa tin, bài có nội dung sai sự thật, được lắp ghép, bôi vẽ, tạo dựng, bình chế dựa trên những hình ảnh, sự kiện đang gây chú ý dư luận nhằm đánh lừa người nghe, người xem, mục đích làm cho họ tin đó là thật, tưởng thật.

Một số hình ảnh, clip còn được cài đặt tự động trên các trang Zalo, Facebook, YouTobe... có tốc độ lan truyền lớn. Mục đích của các đối tượng chính là đánh vào lòng tin người dân, làm cho người dân tin những thông tin, hình ảnh các đối tượng tung ra, từ đó gây hoài nghi đối với các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Kể từ khi Đảng ta đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng suy thoái, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII), chiêu trò xuyên tạc, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tung hỏa mù được các đối tượng tận dụng triệt để. Khi Hội nghị Trung ương 5 quyết định thi hành kỷ luật, cho thôi Ủy viên Bộ Chính trị đối với ông Đinh La Thăng, trên mạng lan tràn các thông tin xuyên tạc, nói rằng đây là minh chứng cho cuộc “ẩu đả”, “đả hổ” giữa các phe phái trong Đảng.

Một số trang mạng lại chế diễu hình thức xử lý kỷ luật này và nói rằng, đó là kiểu kỷ luật quá nhẹ, “vuốt ve”, “mị dân” chỉ xử lấy cớ chứ sự thực “Đảng vẫn bao che, dung túng”. Nhưng khi ông Đinh La Thăng bị khởi tố, bắt tạm giam, cũng chính những trang mạng đó lại trở bút, đưa ra giọng điệu “bình loạn” rằng “có biến trong Đảng”, “thanh trừng nội bộ”, “ẩu đả phe phái”...

Tương tự, khi bị can Trịnh Xuân Thanh bỏ trốn, không ít trang mạng duy diễn rằng truy nã chỉ là “cái cớ” còn thực tế ông Thanh đã được thế lực “bật đèn xanh” cho trốn. Tuy nhiên, khi Trịnh Xuân Thanh về đầu thú, những thông tin sai lệch nhằm vào nội bộ Đảng, Nhà nước lại tiếp diễn với chiều hướng khác.
Hay khi ông Nguyễn Xuân Anh bị xử lý kỷ luật, cách chức Bí thư Thành ủy Đà Nẵng, các thế lực thù địch lại đẩy vấn đề chống tham nhũng, suy thoái của Đảng thành “nạn nhân phe phái tranh giành quyền lực”, “triệt hạ” nhằm vào các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước để bôi nhọ, xuyên tạc, gây chia rẽ.

Gần đây, khi cơ quan An ninh điều tra khởi tố, phát lệnh truy nã đối với Phan Văn Anh Vũ (Vũ Nhôm), việc xử lý Đinh Ngọc Hệ (Út trọc), rất nhiều thông tin trên internet đã lợi dụng vụ việc này để đánh lận, giở chiêu bài bôi nhọ lực lượng Công an, Quân đội, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

Các đối tượng sử dụng, cắt ghép các hình ảnh của bị can với các đồng chí lãnh đạo cấp cao rồi bình chế, bôi nhọ nhằm làm giảm uy tín, gây hoài nghi trong dư luận. Các thông tin chưa được kiểm chứng, thông tin thất thiệt cũng được tung, lan truyền trên mạng, từ chỗ hành vi của cá nhân lại đánh lận, bôi nhọ cả lực lượng Công an, Quân đội.

Cần thấy rằng, chống tham nhũng, suy thoái là cuộc chiến ngay trong nội bộ, ngay trong đồng chí, ngay trong cấp lãnh đạo của tổ chức Đảng, đụng chạm rất nhiều vấn đề về quan hệ giữa con người với con người. Do đó, việc kiểm tra, kết luận tuân theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước với nguyên tắc khách quan, thận trọng, đúng người, đúng tội, đúng hành vi.

Việc chúng ta phát hiện,  điều tra, xử lý nghiêm minh nhiều vụ án kinh tế, tham nhũng lớn gần đây thể hiện sự quyết tâm của Đảng, Nhà nước, thể hiện rõ sự thống nhất, đoàn kết trong nội bộ, trước hết là trong Bộ Chính trị, trong Ban Chấp hành Trung ương. Hiện thực đó là minh chứng hiển nhiên, phủ nhận những luận điệu xuyên tạc của kẻ địch, bịa chuyện phe cánh, đấu đá trong nội bộ Đảng. 

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng chia sẻ với cử tri rằng, không hay ho gì khi phải xử lý cán bộ, đồng chí của mình nhưng vì sự tồn vong của chế độ, của Đảng đòi hỏi phải làm nghiêm, xử lý nghiêm. Mong muốn của người dân, đảng viên là công cuộc phòng, chống tham nhũng phải mạnh mẽ, triệt để hơn nữa với các hình thức xử lý nghiêm khắc.

Tuy nhiên, đây là công cuộc chống “giặc nội xâm” nên không thể nóng vội, các công việc phải làm từng bước, thận trọng, chắc chắn. Tiếp xúc cử tri tại TP Hồ Chí Minh sau kỳ họp thứ 4 – Quốc hội khóa XIV, Chủ tịch nước Trần Đại Quang cũng khẳng định, kết quả đấu tranh phòng chống tham nhũng thời gian qua đã đạt một số kết quả bước đầu, tích cực, củng cố lòng tin của nhân dân, góp phần xây dựng hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh. Tuy nhiên, so với yêu cầu đặt ra còn chưa đạt được mong muốn, đòi hỏi phải chuyển biến đồng bộ hơn nữa.

“Tham nhũng là “giặc nội xâm”, các đối tượng len lỏi trong bộ máy chúng ta nên công tác điều tra cũng rất khó khăn, đòi hỏi phải hết sức chặt chẽ, chắc chắn” - Chủ tịch nước chỉ rõ. Hiện, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đang chỉ đạo 23 vụ cần tập trung làm rõ, làm xong đến đâu xử lý đến đó, xử lý xong lại tiếp tục làm. Đồng ý với ý kiến cử tri về việc xử lý tham nhũng, Chủ tịch nước Trần Đại Quang khẳng định, đấu tranh chống tham nhũng phải làm kiên quyết, không loại trừ bất kỳ ai, vị trí nào, không có vùng cấm...

Trong bài phỏng vấn Báo CAND gần đây, PGS, TS Nguyễn Trọng Phúc, nguyên Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng cho rằng, hiện trong xã hội, kể cả trong Đảng có những biểu hiện thiếu niềm tin, chẳng hạn như cho rằng chống tham nhũng là quá khó, rồi cho rằng làm sao chống được, làm sao làm được... Ta phải hiểu đây là cuộc đấu tranh rất gian khổ, lâu dài và phải kiên trì, quyết tâm và phải có cách làm bài bản.

Trong khi đó, các thế lực thù địch đưa ra những luận điệu xằng bậy vì chúng không bao giờ ủng hộ những việc làm của ta. Mình làm kém, chúng bới móc ra chửi bới. Nhưng làm kiên quyết, thẳng thắn, đến nơi, đến chốn thì chúng cũng tìm cách xuyên tạc, bảo nội bộ thanh trừng nhau, đấu đá nội bộ, phe nhóm này kia.

Do đó, ông khuyến nghị, người dân cần có sự thanh lọc thông tin, nhất là thông tin gây nhiễu trên mạng internet. Phải tỉnh táo để chọn lọc thông tin đúng, tránh các thông tin độc hại, sai lệch tiêm nhiễm.

Internet, báo điện tử, mạng xã hội đang phát triển chóng mặt. Có hiện thực rằng, nhiều thông tin trên báo chí đang có dấu hiệu chạy theo mạng xã hội, thậm chí bị mạng xã hội dẫn dắt.

Trong khi đó, tính định hướng, thông tin khách quan, chính xác của báo chí là yêu cầu đã được quy định trong Luật Báo chí. Nhà báo vừa viết báo, vừa chơi mạng xã hội, điều đó càng đặt ra tính cẩn trọng trong thu nạp và xử lý thông tin, không thể chạy theo trào lưu, vì sự tò mò của độc giả mà đưa tin thiểu kiểm tra, tin chưa được kiểm chứng. Đồng thời cần sự thống nhất giữa chính bài viết trên báo với bài viết trên facebook, blog bởi nếu không thận trọng, những thông tin của nhà báo cũng dễ bị kẻ địch lợi dụng để chống phá Đảng, Nhà nước.

Trong phiên thảo luận dự án Luật An ninh mạng tại kỳ họp Quốc hội vừa qua, Thượng tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an phát biểu rằng, an ninh mạng là vấn đề an ninh phi truyền thống, lĩnh vực này hiện nhận được sự quan tâm của quốc tế.

“Cơ quan soạn thảo dự án luật quan niệm dòng chảy của thông tin giống như hệ tuần hoàn của cơ thể con người. Mạch máu và hệ tuần hoàn càng lưu thông, càng phát triển tốt thì cơ thể càng khỏe mạnh. An ninh, an toàn phải làm sao để hệ tuần hoàn đó không bị nghẽn mạch, không bị đột quỵ, tắc nghẽn. Dòng máu đó phải làm sao có nhiều oxy, nhiều chất dinh dưỡng thì mới nuôi được cơ thể, chứ máu đỏ ít, máu đen thì nhiều, oxy ít, cacbonic nhiều thì rất nhức đầu, hệ thần kinh bị ảnh hưởng ngay. Tóm lại là an ninh mạng phải đảm bảo, phải giữ được hệ tuần hoàn thông suốt”... 

Cảnh giác trước những thông tin xuyên tác về công tác phòng chống tham nhũng

 Tham nhũng đã có lịch sử lâu đời, nó diễn ra ở mọi nơi trên thế giới, đặc biệt là các lĩnh vực liên quan tới quản lý kinh tế, xã hội. Tham nhũng là trở ngại lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội.

Tháng 12/2003, đại diện của hơn 120 quốc gia trên thế giới đã họp tại Mêxico để thông qua Công ước Chống tham nhũng của Liên hợp quốc. Công ước được đánh giá là bước tiến của cộng đồng quốc tế trong hợp tác chống tham nhũng, với hơn 110 nước tham gia ký kết, trong đó có Việt Nam. Đại hội đồng Liên hợp quốc đã lấy ngày 19-12 hàng năm làm ngày Quốc tế chống tham nhũng để bày tỏ sự quan ngại về vấn đề tham nhũng trên toàn cầu.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, công tác phòng, chống tham nhũng của nước ta đã và đang đạt được những kết quả quan trọng, tạo được hiệu ứng tích cực, làm tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội; được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình ủng hộ, đánh giá cao. Trước những thành quả đó, các thế lực phản động, thù địch hết sức hậm hực, cay cú, tìm mọi cách xuyên tạc, bôi nhọ công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta, chúng không chịu thừa nhận những gì Đảng và Nhà nước ta đã và đang làm để phòng, chống tệ nạn tham nhũng suốt thời gian qua.

Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Quan liêu tham ô, lãng phí là tội ác, phải tẩy sạch nó, phải thực hiện cần, kiệm, liêm, chính để đẩy mạnh thi đua sản xuất và tiết kiệm để đưa kháng chiến đến thắng lợi, kiến quốc đến thành công, để xây dựng thuần phong, mỹ tục trong toàn dân, toàn quốc”. Đảng và Nhà nước ta thời gian qua đã lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt công tác đấu tranh với nạn tham nhũng và đã đạt được những kết quả quan trọng, như phát biểu của Tổng Bí thư, Trưởng Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng Trung ương Nguyễn Phú Trọng: “Từ sau khi thành lập Ban Chỉ đạo đến nay, nhất là trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã được lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, bài bản, đi vào chiều sâu, có bước tiến mạnh, đạt được nhiều kết quả cụ thể, rất quan trọng, toàn diện, rõ rệt, để lại nhiều dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội và thực sự “đã trở thành phong trào, xu thế”, được cán bộ, Đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao, được quốc tế ghi nhận”.

Với tinh thần không có vùng cấm, không có ngoại lệ, những năm gần đây, chúng ta đã đưa ra xét xử nhiều vụ tham nhũng, xử lý hình sự nhiều cán bộ cao cấp, gồm cả Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng, tướng lĩnh... Theo kết quả điều tra dư luận xã hội do Ban Tuyên giáo Trung ương tiến hành, tuyệt đại đa số người dân (93%) bày tỏ tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng trong đấu tranh phòng chống tham nhũng. Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng hiện nay của Đảng và Nhà nước là nhiệm vụ rất quan trọng, được tiến hành thường xuyên, liên tục nhằm làm trong sạch bộ máy, tổ chức của Đảng, Nhà nước, không phải cuộc “đấu đá”, hay “thanh trừng nội bộ” như luận điệu của các đối tượng phản động, cơ hội chính trị rêu rao hòng làm lung lay lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước.   

VĂN HÓA TÂM LINH VÀ PHÒNG, CHỐNG MÊ TÍN, DỊ ĐOAN Phần II

VĂN HÓA TÂM LINH VÀ PHÒNG, CHỐNG MÊ TÍN, DỊ ĐOAN Phần II Do đó, hoạt động tâm linh là một nhu cầu văn hóa tinh thần đặc biệt của con người, trong đó có cán bộ, đảng viên. Hơn nữa, đời sống tâm linh còn là nét văn hóa truyền thống đặc sắc của dân tộc Việt Nam, được hun đúc qua mấy nghìn năm lịch sử, trở thành văn hóa tâm linh, “sợi dây neo” giữ hồn cốt dân tộc. Người cộng sản mang trong mình chủ nghĩa yêu nước, không thể thiếu “sợi dây neo” đó trong phẩm chất, tâm hồn mình. Lênin từng chỉ rõ: “Người ta chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biết làm giàu trí óc của mình bằng sự hiểu biết tất cả những kho tàng tri thức mà nhân loại đã tạo ra”. Với tinh thần đó, người đảng viên cộng sản Việt Nam không chỉ tìm hiểu về đời sống tâm linh của dân tộc mình, mà phải thực sự tham gia một cách tích cực vào hoạt động đó, để lọc bỏ những yếu tố mê tín, dị đoan, kế thừa và phát triển văn hóa tâm linh trở thành giá trị cốt lõi của nền văn hóa mới, nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Các Mác từng nói rằng: “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”; đó là một câu nói rất có giá trị khoa học. Thuốc phiện, nếu được sử dụng hợp lý, đúng lúc, đúng chỗ, luôn là một liều thuốc quý; nhưng nếu sử dụng thái quá, lại trở thành độc dược đối với con người. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7, khóa IX của Đảng ta khẳng định: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. Điều 3, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (năm 2016) quy định: “1. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. 2. Nhà nước tôn trọng, bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với đất nước, với cộng đồng đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân”. Như vậy, từ đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ta đều công nhận và bảo đảm hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, cũng là thừa nhận và tạo điều kiện cho văn hóa tâm linh hoạt động và phát triển. Về phương diện nhận thức và hành động, cán bộ, đảng viên khi tham gia đời sống tâm linh phải xem đó là hoạt động bày tỏ tình cảm thiêng liêng, niềm tin linh thiêng, là sự biết ơn của người đang sống đối với những người thân đã mất, đối với danh nhân, anh hùng liệt sĩ được nhân dân suy tôn làm thánh, làm thần, làm thành hoàng...; là sự thấu cảm về giá trị văn hóa và đạo đức của các biểu tượng tôn giáo. Đó là những điều tốt đẹp, cao cả mà ai cũng khát khao, trông đợi, hướng về. Đi ngược lại mục đích tốt đẹp đó, hoạt động tâm linh, buôn thần, bán thánh... để cầu “vinh thân, phì gia”, cầu chạy tội, cầu che mắt các cơ quan công quyền khi làm những việc trái pháp luật, trái đạo lý... là những hành vi đáng phê phán, cần đấu tranh, loại bỏ. Trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, lối sống thực dụng, coi trọng vật chất, chạy theo đồng tiền là một nguy cơ lớn. Để ngăn ngừa cái xấu, cái ác, ngăn ngừa lối sống thực dụng, Đảng, Nhà nước ta cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp. Trong đó, tác dụng giáo dục lẽ sống hướng thiện của hoạt động văn hóa tâm linh là không thể phủ nhận. Đó cũng là con đường giáo dục chân-thiện-mỹ, giáo dục truyền thống dân tộc rất hiệu quả. Niềm tin vào sự tích “con Rồng, cháu Tiên”, niềm tin vào hồn thiêng sông núi, niềm tin vào linh khí tổ tiên... khi hòa quyện vào niềm tin cộng sản sẽ tạo thành sức mạnh tinh thần to lớn trong mỗi cán bộ, đảng viên để thực hiện khát vọng hùng cường, thịnh vượng, đưa nước ta trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045 như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra.

VĂN HÓA TÂM LINH VÀ PHÒNG, CHỐNG MÊ TÍN, DỊ ĐOAN Phần I

VĂN HÓA TÂM LINH VÀ PHÒNG, CHỐNG MÊ TÍN, DỊ ĐOAN Phần I Một trong những trăn trở của không ít cán bộ, đảng viên hiện nay là tham gia đời sống tâm linh như thế nào cho phù hợp, để không vi phạm Điều 19 của Quy định số 37-QĐ/TW “về những điều đảng viên không được làm”: “Mê tín, hoạt động mê tín, ủng hộ hoặc tham gia các tôn giáo bất hợp pháp hoặc lợi dụng các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng để trục lợi”. Ranh giới giữa hoạt động tâm linh với hoạt động mê tín, dị đoan thường rất mỏng manh. Định hình được ranh giới ấy, cán bộ, đảng viên sẽ thấy thoải mái, tự tin hơn trong tham gia các hoạt động tâm linh... Mỗi dịp Tết đến, những ai là con dân nước Việt đều cảm nhận rõ ràng không khí linh thiêng của ngày Tết. Thời khắc giao thừa, thắp nén hương thơm dâng lên bàn thờ tiên tổ, ai cũng cầu mong tổ tiên phù hộ độ trì cho con cháu mạnh khỏe, may mắn, hạnh phúc. Những người cựu chiến binh dẫn theo con cháu đến nghĩa trang liệt sĩ, nhớ về những đồng đội từng hy sinh cho mình được sống, cảm thấy như đồng đội vẫn đang ở đâu đó trên những tầng mây cao vời vợi dõi theo mình, dẫn dắt mình tránh những tai ương, vận hạn. Đến vãn cảnh khu tưởng niệm các danh nhân, anh hùng dân tộc, đền, miếu, chùa chiền, có ai không xúc động khi dâng hương tưởng nhớ các bậc tiền nhân có nhiều công lao với quê hương, đất nước, khấn cầu các vị thánh thần phù hộ cho quốc thái, dân an, gia đình và bản thân mình an khang, gặp nhiều phúc lộc... Rõ ràng, những hoạt động tâm linh kể trên là rất phổ biến trong đời sống hiện nay, mang lại những giá trị tinh thần cao cả, có tác dụng hướng con người đến chân-thiện-mỹ mãnh liệt. Tuy nhiên, cũng có không ít những hoạt động tâm linh của cán bộ, đảng viên, thậm chí có cả những cán bộ (hoặc vợ con của cán bộ) giữ những vị trí lãnh đạo, quản lý rất quan trọng gây phản cảm trong nhân dân. Đó là những lễ dâng sao, giải hạn rình rang với chi phí hàng trăm triệu đồng, những buổi “gọi hồn, thỉnh vong”, hầu đồng, yểm bùa, cầu cúng, hóa vàng mã... hoành tráng với những niềm tin mù quáng vào số mệnh, thần thánh, ma quỷ. Trước đây, đã có thời kỳ chúng ta cho rằng, người đảng viên với thế giới quan của Chủ nghĩa Mác-Lênin thì không được phép tham gia hoạt động tâm linh. Nhiều người còn cho rằng, tâm linh là “mảng tối”, là mặt tiêu cực trong ý thức con người, nơi chưa được chân lý khoa học soi sáng; cùng với sự phát triển vũ bão của khoa học-công nghệ (KHCN) thì đời sống tâm linh sẽ ngày càng bị thu hẹp. Nhưng thực tế hơn 35 năm đổi mới vừa qua cho thấy, đất nước ta càng phát triển, dân trí càng lên cao, KHCN đã và đang có những bước phát triển rất nhanh thì đời sống tâm linh của nhân dân nói chung, của cán bộ, đảng viên nói riêng càng phong phú, đa dạng. Vậy, đứng vững trên nền tảng tư tưởng của Đảng, chúng ta cần nhìn nhận vấn đề cán bộ, đảng viên tham gia hoạt động tâm linh như thế nào? Có thể thấy, dù KHCN có phát triển đến mấy thì những nỗi đau do thiên tai, nhân tai, dịch bệnh, tai nạn giao thông... vẫn xảy ra. Thậm chí, sẽ có những người ngẫu nhiên gặp phải rất nhiều tai ương, thiếu may mắn, “họa vô đơn chí”... Với mỗi người, khi gặp phải những nỗi đau quá sức chịu đựng như vậy thì sự giúp đỡ, động viên của cơ quan, đơn vị, hàng xóm, người thân là không đủ, họ cần có niềm tin vào một phép màu, một sự cứu rỗi trong tâm hồn để vượt qua. Rõ ràng, hoạt động tâm linh mang bản tính lịch sử tự nhiên, có tác dụng xoa dịu, bù đắp những mất mát, khổ đau; một loại “thuốc” tinh thần đặc biệt đối với con người. (Còn nữa)

NGĂN CHẶN NHỮNG BIẾN TƯỚNG CỦA CHÚC TẾT

NGĂN CHẶN NHỮNG BIẾN TƯỚNG CỦA CHÚC TẾT Chúc Tết, tặng quà vốn là nét văn hóa ứng xử tốt đẹp của dân tộc ta, cần được gìn giữ để gắn bó tình cảm người với người. Song, những năm gần đây, việc chúc Tết đã bị méo mó, nhuốm màu thực dụng, cả trong môi trường công sở. Nhiều người cho rằng, chúc Tết giờ đây là công cụ để một số người trục lợi hoặc hợp thức hóa các hành vi tiêu cực nhằm phục vụ cho mục đích cá nhân. Nỗi ám ảnh ngày cuối năm Mỗi khi Tết Nguyên đán cận kề, thị trường hàng Tết tại các cửa hàng, siêu thị và trên mạng lại nhộn nhịp, trăm giá đua chen. Những món hàng trị giá hàng triệu, thậm chí là chục triệu, trăm triệu đồng được nhiều người săn lùng và trở nên đắt khách hơn thường lệ. Không ai nói ra, nhưng tất cả đều ngầm hiểu rằng, người ta mua cho gia đình, bản thân thì ít, mà để biếu xén đối tác, cấp trên thì nhiều. Cũng vì thế mà trên các diễn đàn mạng xã hội chuyên về hàng Tết, người bán giờ đây chẳng ngần ngại tư vấn cho khách hàng một cách công khai, nào là món này độc, lạ, quý hiếm, phù hợp tặng sếp lớn; món kia sang trọng, đẳng cấp chuẩn “gu” của sếp nhỏ... Ngoài đường là vậy, còn về nhà, các cặp vợ chồng nát óc bàn nhau xem biếu lãnh đạo quà gì sao cho độc đáo, “hoành tráng”. Ở công sở thì đồng nghiệp tìm cách thăm dò nhau xem người ta định biếu sếp thứ giá trị mức nào, phong bì dày cỡ nào để mình biết cách xử thế sao cho không bị “đụng hàng” và quan trọng hơn là không thua anh, kém em. Chọn quà Tết tưởng đơn giản vậy mà lại đau đầu vô cùng! Thực tế, chúc Tết, tặng quà Tết vốn là phép ứng xử rất bình thường từ ngàn xưa của người Việt. Tết xưa, người ta tặng nhau những món quà nhỏ nhưng đầy ý nghĩa, chẳng hạn như cặp bánh chưng, con gà quê, hộp bánh, gói mứt, cành đào... nhằm thể hiện tình cảm chân thành, sự quý trọng và tri ân sự giúp đỡ của cấp trên, đối tác hay bạn hàng sau một năm công tác, hợp tác buôn bán. Cùng với đó là mong muốn gia chủ có một cái Tết vui vẻ, đầm ấm. Quan trọng hơn, khi trao cho nhau những món quà như thế, cả người nhận và người tặng đều cảm thấy thoải mái, gần gũi. Thế nhưng, dường như cuộc sống hiện đại đã và đang khiến mỹ tục chúc Tết bị biến tướng. Một bộ phận đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức nghiễm nhiên coi chúc Tết là “cơ chế xin-cho”. Nói trần trụi ra là nhiều cuộc thăm viếng, tặng quà vào dịp Tết chỉ nhằm mục đích hối lộ, chạy chức, chạy quyền, lo lót, nhờ vả hoặc nịnh hót cấp trên; và cả người đến chúc Tết lẫn người nhận đều ngầm hiểu rằng, đó thực chất chỉ là một cuộc mua bán, trao đổi. Dần dà, việc chúc Tết, tặng quà cấp trên cũng trở thành “luật bất thành văn” ở một số cơ quan, tổ chức. Nếu Tết đến mà không biết “thăm hỏi” sếp có khi bị xem là không biết phép tắc, ngoại giao kém. Và, chả biết đã có tiền lệ hay chưa nhưng người ta thường sợ rằng nếu đứng ngoài dòng chảy này có thể bị “đì” hoặc mất cơ hội phát triển trong công việc. Vô hình trung, Tết ngày nay không còn đúng nghĩa mà đang trở thành gánh nặng, là nỗi ám ảnh với nhiều cán bộ, đảng viên bởi thay vì được nghỉ ngơi, thư giãn, sum họp cùng gia đình sau một năm dài làm việc thì họ phải đắn đo, cân đối xem chúc Tết thủ trưởng nào và “đi” bao nhiêu. Chẳng thế mà một người bạn đang công tác trong cơ quan nhà nước từng nói vui với tôi rằng, hễ cứ Tết đến là anh ta chỉ ước mình được trở thành trẻ con, đơn giản vì trẻ con thì Tết không phải lo biếu sếp này, tặng sếp kia. Hãy trả lại nét đẹp cho chúc Tết! Để ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực trong chúc Tết là việc rất khó, nhưng không có nghĩa là không thể. Trên thực tế, chúng ta vẫn nhìn thấy những nét đẹp vốn có của văn hóa chúc Tết. Bằng chứng là vào mỗi dịp cuối năm, nhiều cơ quan, lãnh đạo, đoàn thể vẫn đến thăm và tặng quà cán bộ đã nghỉ hưu. Cũng là những giỏ quà, những lời thăm hỏi, chúc sức khỏe để thể hiện lòng biết ơn thế hệ đi trước đã có cống hiến cho cơ quan, tổ chức, và tuyệt nhiên không mang màu sắc tiêu cực. Bên cạnh đó, vẫn còn những vị lãnh đạo, cấp trên kiên quyết từ chối nhận quà Tết, đặc biệt là những món quà giá trị cao. Họ coi đó là hành động hối lộ, đút lót, và thậm chí nhân viên nào đến tặng quà còn bị họ đánh giá thấp. Những người này cho rằng cái họ cần ở cấp dưới là năng lực, trách nhiệm trong công việc chứ không phải những chai rượu ngoại đắt tiền hay những chiếc phong bì đầy sức nặng. Đó thực sự là quan điểm rất đáng trân trọng, thể hiện bản lĩnh và sự gương mẫu của người lãnh đạo. Chỉ có điều, chẳng phải lãnh đạo, cấp trên nào cũng biết từ chối và kiên quyết từ chối như thế! Nghiêm cấm, xóa bỏ việc lợi dụng chúc Tết, tặng quà Tết để thực hiện những hành vi trái pháp luật, trái đạo đức và truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc là việc cần làm. Cũng vì thế, ngày 1-7-2019, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 59/2019/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phòng, chống tham nhũng, trong đó quy định rõ: "Cơ quan, tổ chức, đơn vị, người có chức vụ, quyền hạn không được trực tiếp hoặc gián tiếp nhận quà tặng dưới mọi hình thức của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan đến công việc do mình giải quyết hoặc thuộc phạm vi quản lý của mình...". Những năm gần đây, cứ gần tới Tết Nguyên đán, lãnh đạo Đảng, Nhà nước cũng thường quán triệt về việc nghiêm cấm biếu, tặng quà Tết lãnh đạo các cấp dưới mọi hình thức. Gần đây nhất, Thanh tra Chính phủ đã có văn bản gửi các bộ, ngành, các tỉnh, thành phố, các tập đoàn kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước về việc thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; Chỉ thị số 11-CT/TW ngày 8-12-2021 của Ban Bí thư và Chỉ thị số 35/CT-TTg ngày 31-12-2021 của Thủ tướng Chính phủ trong dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022, trong đó nêu rõ không tổ chức thăm, chúc Tết cấp trên và lãnh đạo các cấp. Có thể nói, đây được xem là một trong những giải pháp thiết thực nhằm ngăn chặn nguy cơ dẫn tới nham nhũng, tiêu cực thông qua hoạt động chúc Tết, và sâu xa hơn là góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đồng thời phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Thiết nghĩ, mỗi cơ quan, tổ chức, đơn vị cũng nên đề ra quy định về cách thức chúc Tết và nhận quà Tết phù hợp, lành mạnh, qua đó giải tỏa “áp lực Tết” cho cán bộ, công nhân viên và góp phần tạo không khí vui vẻ, thoải mái, môi trường làm việc chuyên nghiệp cho cơ quan mình. Nhưng, quan trọng hơn cả vẫn là nhận thức của mỗi người về văn hóa chúc Tết, bởi rất khó kiểm soát, phát hiện những tiêu cực liên quan tới hành động này, nhất là khi việc chúc Tết, tặng quà đang ngày càng đi theo hướng “mỏng, nhẹ nhưng to tiền” và cũng “tế nhị” hơn trước nhiều. Trong dòng người hối hả mua sắm chuẩn bị cho Tết Nguyên đán đang đến gần, vẫn còn không ít người băn khoăn tự hỏi: Khi nào thì chúc Tết mới hết là gánh nặng, mới trở lại là văn hóa ứng xử tốt đẹp như đúng bản chất của nó?

ĐẸP GÌ KHI CHỐI BỎ QUÊ HƯƠNG

ĐẸP GÌ KHI CHỐI BỎ QUÊ HƯƠNG Ông bà ta xưa có câu “Con không chê cha mẹ khó”. Ấy thế mà, gần đây lại nổi lên nhân vật Tưởng Năng Tiến tự chối bỏ gốc gác của mình. Trong khi đó, cha mẹ mang nặng đẻ đau, nuôi nấng ông ta khôn lớn; quê hương, đất nước dung dưỡng ông ta thành người. Đến độ tuổi xế chiều-“gần đất xa trời”, đáng lẽ ra ông Tưởng Năng Tiến phải đủ độ chín chắn, làm gương cho con cháu về tri ân cội nguồn của mình. Nhưng không, ông ta lại muốn mình là “người Mã, người Miên, người Thái hay người Tàu... chớ không phải dân An Nam” để rồi lớn tiếng phê phán Đảng ta “không lo cho người dân, để người dân chết đói giữa đại dịch"... Đây là những lời nói hàm hồ, thiếu khách quan, cố tình bôi nhọ, phủ nhận tâm sức, vai trò lãnh đạo của Đảng, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Khoản 2, Điều 4, Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: "...Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình...". Thực tế đã chứng minh, gần 92 năm qua, Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân, toàn quân ta hoàn thành thắng lợi cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đảng cũng lãnh đạo công cuộc đổi mới đạt được nhiều thành tựu nổi bật, vị thế và uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam, của đất nước ta trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Không phải ngẫu nhiên mà Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng đề cập nhiều lần cụm từ “khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”; trong đó, nhấn mạnh đến yếu tố hạnh phúc của nhân dân. Thời gian qua, dù đại dịch Covid-19 diễn biến hết sức phức tạp, nhưng dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt của Đảng, Nhà nước, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã đoàn kết, đồng lòng, chung sức nỗ lực triển khai đồng bộ các giải pháp, đưa Việt Nam trở thành một trong những điểm sáng trên thế giới vì vừa kiểm soát, khống chế hiệu quả đại dịch Covid-19, vừa duy trì tăng trưởng kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội. Liên tục hai năm gần đây, Việt Nam đã tăng 11 bậc trên bảng xếp hạng chỉ số hạnh phúc của Liên hợp quốc, từ 94/156 quốc gia (năm 2019) lên 83/156 quốc gia (năm 2020). Mới đây, tại Hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc năm 2021 (COP26), Thủ tướng Phạm Minh Chính đã nêu rõ: "Nhân quyền lớn nhất là lo cơm ăn, áo mặc cho 100 triệu dân, không để ai thiếu ăn, thiếu mặc, khi khó khăn không bỏ ai lại phía sau". Đây là điều hoàn toàn đúng đắn, được người dân trong nước cũng như cộng đồng quốc tế thừa nhận. Vậy mà, một số kẻ phản động, có âm mưu chống phá cách mạng nước ta không chỉ tự chối bỏ gốc gác quê hương của mình mà còn cố tình xuyên tạc, nói xấu Đảng, Nhà nước, nhân dân ta. Chúng ta luôn nêu cao đạo lý “chim có tổ, người có tông”, vì thế những kẻ tự chối bỏ quê hương, bản quán cũng nên tự vấn.

“ĂN TÀN”, COI CHỪNG BỎNG MIỆNG!

“ĂN TÀN”, COI CHỪNG BỎNG MIỆNG! Từ xa xưa, những kẻ có hành vi a dua, nịnh bợ, ăn theo nói leo để hưởng lợi được ông bà ta ví là “theo đóm ăn tàn”. Cái lợi mà họ thu được từ những hành vi tiêu cực ấy rất nhỏ bé, còn hậu quả của nó thì khó lường. Trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, việc nhận diện để đấu tranh có hiệu quả với những biểu hiện “theo đóm ăn tàn” trong nội bộ Đảng và hệ thống chính trị là vô cùng cần thiết, cấp bách. Ai muốn “theo đóm ăn tàn”? Cạp nong là một loài rắn độc. Chúng có đặc điểm sinh tồn khác biệt so với các loài khác, đó là rất thích ăn tàn tro. Kinh nghiệm bao đời của nhà nông cho thấy, mỗi khi đốt đuốc ra đồng gieo cấy, thu hoạch mùa màng, rắn cạp nong thường theo chân người để ăn tàn đóm. Nếu không cảnh giác đề phòng, con người rất dễ bị rắn cắn. Nhưng với những người thợ săn rắn thì đặc điểm tự nhiên này lại là cơ hội để dễ dàng dụ rắn ra khỏi hang, bắt được những con rắn bự. Theo đóm chỉ nhặt được những mảnh tàn tro nhưng nhiều khi rắn phải trả giá bằng cả tính mạng... Từ hiện tượng của thế giới tự nhiên, bằng cách nói ẩn dụ, tổ tiên, ông bà ta đã truyền thông điệp cho muôn đời hậu thế, rằng trong cuộc sống phải luôn cảnh giác, đấu tranh, tẩy chay những hành vi kiểu rắn cạp nong. Mặt khác, đó cũng là lời cảnh tỉnh, cảnh báo cho những ai có tư tưởng ấy, hãy tự soi mình, tự gột rửa để sửa chữa, chớ vì những cái lợi nhỏ nhoi mà phải trả giá bằng uy tín, danh dự. Càng ngẫm càng thấy rõ, ở xã hội nào, lĩnh vực nào cũng có những con người, những hành vi kiểu như vậy. Từ điển tiếng Việt giải thích thành ngữ “Theo đóm ăn tàn” là: “Hùa theo, a dua theo để mong kiếm chác lợi lộc”. Trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, sự xuất hiện của những hành vi như vậy chính là biểu hiện của suy thoái phẩm chất đạo đức, lối sống. Không khó để nhận diện những biểu hiện ấy trong tổ chức đảng và hệ thống chính trị. Đó là những người cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, yếu lập trường, thiếu bản lĩnh, gió chiều nào che chiều ấy. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng gọi đó là biểu hiện của “lươn, chạch”. Khi đương chức, đương quyền thì xun xoe, nịnh bợ để tiến thân. Khi không đạt được mục đích, nguyện vọng, nhất là trong quy hoạch, bổ nhiệm hoặc dính dáng đến lợi ích nhóm, thì sinh ra tiêu cực, hùa theo các đối tượng bất mãn để chống đối. Tận dụng tiện ích công nghệ thông minh và không gian mạng, sau khi chuyển ngành, nghỉ hưu, nghỉ việc, thậm chí là ra nước ngoài định cư, một số người đã quay lại bới móc, nói xấu tổ chức, bôi nhọ đồng chí, đồng nghiệp. Họ thường theo dõi các kênh truyền thông, tài khoản của các tổ chức, cá nhân có tư tưởng thù địch với Đảng, Nhà nước ta, ăn theo những thông tin xuyên tạc, thất thiệt rồi a dua theo các đối tượng có tư tưởng thù địch bôi nhọ chế độ, quay lưng với lợi ích quốc gia-dân tộc. Tình trạng này đã được Đảng ta chỉ rõ trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), đó là: “Kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ. Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân...”. Ban đầu chỉ là kiểu nói ám chỉ vu vơ, càng về sau càng tăng dần cấp độ, tính chất. Từ việc moi móc những hạn chế, tiêu cực trong nội bộ tổ chức, cơ quan đến hùa theo tư tưởng phản động, phán xét, chỉ trích, hạ bệ lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Dần dần, họ biến mình thành công cụ cho các thế lực thù địch giật dây, móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập, chống phá Đảng và Nhà nước. Từ những vụ việc, vụ án xử lý, xét xử các đối tượng vì tội âm mưu lật đổ chính quyền nhân dân trong những năm vừa qua, chúng ta thấy rõ, nguyên nhân phạm tội của nhiều đối tượng đều bắt đầu từ việc “theo đóm ăn tàn” như đã trình bày. Ở thái cực đối lập, các thế lực thù địch luôn áp dụng chiêu bài “dụ rắn ra khỏi hang”, tha hồ đốt đóm, đốt đuốc, tung tàn để những thành phần mang tư duy, tư tưởng cạp nong lao ra “ăn tàn”. Những cái lợi về tiền bạc, vật chất mà họ được dụ dỗ quá nhỏ bé. Những ngôn từ mà họ được các thế lực thù địch, phần tử phản động tung hô cũng chỉ là thứ danh ảo. Nhưng hậu quả thì thật, rất thật. Khi bị đưa ra xử lý kỷ luật, xét xử trước pháp luật thì khác gì “ăn tàn, bỏng miệng”, mất hết danh dự, uy tín, ảnh hưởng nặng nề đến gia đình, họ tộc, để lại di chứng về tinh thần... Coi trọng phòng ngừa, thường xuyên cảnh báo Trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), Đảng ta đã chỉ rõ, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường... Đó vừa là nhận định thẳng thắn, khách quan, vừa là lời cảnh báo nghiêm khắc đối với thái độ và bổn phận tự tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng trong giai đoạn hiện nay. Lâu nay, trước những vụ việc, vấn đề tiêu cực nảy sinh trong nội bộ Đảng và hệ thống chính trị, không ít người cho rằng đó là do kẽ hở của pháp luật, những bất cập trong hành lang pháp lý và kỷ luật Đảng, rồi thì đổ lỗi do cơ chế... Thực chất, đó là ngụy biện. Tính chiến đấu, tính kỷ luật trong Đảng mang bản chất nhân văn xã hội chủ nghĩa, là “kỷ luật một vài người để cứu muôn người” như cách nói của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Chúng ta lấy giáo dục, thuyết phục, lấy phòng ngừa làm chính, lấy xây để chống, vì vậy, để ngăn chặn, tiến tới thủ tiêu tư duy, hành vi “theo đóm ăn tàn”, trước hết và trên hết phải coi trọng công tác phòng ngừa, thường xuyên cảnh báo để nhắc nhở, răn đe. Công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng của chúng ta đã và đang đi đúng hướng, đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần chấn hưng văn hóa Đảng, đạo đức cán bộ, đảng viên, củng cố niềm tin của nhân dân. Từ Đại hội XII đến Đại hội XIII, Đảng ta đã tạo được bước đột phá mạnh mẽ, sâu sắc về phương thức, giải pháp, hiệu quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII đã mở rộng phạm vi đấu tranh, ngăn chặn suy thoái, không chỉ trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà còn bao gồm cả trong xây dựng hệ thống chính trị. Đảng ta xác định, phải kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Cùng với lấy giáo dục, thuyết phục làm chính, việc đấu tranh, xử lý những hành vi vi phạm của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị cũng phải được tiến hành kịp thời, nghiêm minh, kiên quyết, thường xuyên. Cùng với Kết luận số 21, Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm đã nêu rất cụ thể những hành vi cấm kỵ đối với cán bộ, đảng viên. Đây chính là cơ sở để tổ chức đảng các cấp căn cứ vào thẩm quyền, nhiệm vụ để cụ thể hóa vào công tác lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện phê bình, tự phê bình, duy trì nghiêm kỷ luật Đảng. Mỗi cán bộ, đảng viên phải quán triệt nghiêm túc, lấy đó làm tiêu chí tự tu dưỡng, rèn luyện. Cơ sở nguyên tắc và yêu cầu thực tiễn đã chứng minh, những biểu hiện suy thoái chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống không phải do cơ chế, kỷ luật lỏng lẻo như cách lý giải ngụy biện, mà cái chính đều do ý thức chủ quan, thiếu tu dưỡng, rèn luyện của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Trong bối cảnh hiện nay, không gian mạng là môi trường dễ phát sinh các loại “đóm” nên cũng sẽ có không ít người muốn “ăn tàn”. Sự cảnh báo không chỉ từ phía các vụ án, vụ việc bị phát hiện, điều tra, xử lý, mà quan trọng nhất là phải nhắc nhở để răn đe, ngăn chặn từ gốc. Từ văn hóa sử dụng mạng xã hội đến phát ngôn, ứng xử của cán bộ, đảng viên, công chức... đều phải tuân thủ nghiêm các quy định và Điều lệ Đảng. Đặc biệt, đối với những người nổi tiếng, người có ảnh hưởng trong xã hội, phải coi trọng phòng ngừa và kiên quyết chống các hành vi tác động, lôi kéo, lái dư luận xã hội đi ngược lại đường lối của Đảng; chống việc cổ xúy quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan, thổi phồng mặt trái của xã hội; ngăn chặn việc sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo sự thật, hạ thấp uy tín của Đảng. Cán bộ, đảng viên trong tổ chức đảng các cấp, nhất là người đứng đầu, tuyệt đối không để bị chi phối, tác động bởi các hành vi không lành mạnh của bất cứ tổ chức, cá nhân nào. Chớ bốc đồng, a dua “theo đóm ăn tàn” kẻo rồi “bỏng miệng”...

Cảnh giác trước những phương thức "diến biến hòa bình" mới của các thê lực thù địch

  Thời gian vừa qua, trên mạng xã hội phát tán nhiều bài viết của các nhân vật tự xưng là đấu tranh cho dân chủ với quan điểm cho rằng, nguyên nhân tham nhũng ở Việt Nam là do chế độ độc đảng sinh ra. Đây là một trong những luận điệu phản động mới được các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội chính trị tuyên truyền, bôi xấu nhằm xuyên tạc quyết tâm phòng, chống tham nhũng của Đảng ta.

Chúng ta nhận thức rõ: Tham nhũng là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử, gắn liền với sự ra đời và tồn tại của nhà nước. Nó hiện hữu ở tất cả các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị, giàu nghèo, phát triển hay đang phát triển hoặc kém phát triển. Các nhân vật tự xưng là đấu tranh cho dân chủ đã cố tình “lờ tịt” một sự thật hiển nhiên, tham nhũng đang là vấn nạn chung của toàn cầu và nền chính trị các quốc gia trên thế giới cũng như lịch sử chế độ chính trị Việt Nam thời hiện đại đã chứng tỏ chế độ một đảng cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tệ nạn tham nhũng.

Trong các bài viết của mình, “họ” rêu rao và tuyên truyền rằng, với chế độ độc đảng hiện thời, Việt Nam không thể chống được tham nhũng. Hùa với luận điệu trên, không ít hãng thông tấn quốc tế cùng những kẻ cơ hội chính trị “té nước theo mưa” hô hào, tập trung tuyên truyền, khai thác, thổi phồng, xuyên tạc trắng trợn tình hình tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng đang đạt được nhiều kết quả ở Việt Nam thời gian qua. Đây chính là một phương thức mới của các thế lực phản động và những kẻ cơ hội chính trị thực hiện “diễn biến hòa bình” với hi vọng có thể thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam.

Với lối suy diễn chủ quan, võ đoán, họ cố tình “nhắm mắt” trước một thực tế là ở quốc gia nào cũng vậy, trong mỗi thời điểm đều do một đảng cầm quyền. Khi đảng nào cầm quyền thì người đứng đầu và các chức vụ quan trọng của chính quyền Nhà nước đều do người của đảng đó đảm nhiệm. Mặt khác, tham nhũng luôn gắn với cá nhân có quyền lực và tham nhũng tồn tại ở mọi chế độ có Nhà nước vì nó luôn gắn với Nhà nước và quyền lực.

Theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI) ngày 25/1/2022 đã công bố Chỉ số Cảm nhận tham nhũng (CPI) năm 2021, Việt Nam tăng 3 điểm so với năm 2020. Như vậy, 76 nước có mức độ tham nhũng nhiều hơn Việt Nam và số này chủ yếu là các quốc gia đa đảng.

Nếu ai đã từng tiếp xúc với những thông tin nhảm nhí, xuyên tạc thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Việt Nam hiện nay trên các trang mạng xã hội do các thế lực phản động và cơ hội chính trị ngụy tạo nên, sẽ không khó để nhận ra những âm mưu thâm hiểm đi kèm. Thông qua những bài viết cực đoan, suy diễn không đúng bản chất về vấn đề tham nhũng ở nước ta, các thế lực phản động rắp tâm dựng lên một bức tranh xã hội toàn màu tối, thông qua đó, phủ nhận những nỗ lực, sự quyết liệt trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã và đang tiến hành. 

Tuy nhiên, các nhà “dân chủ”, “thực sự yêu nước” luôn miệng rêu rao, chỉ khi nào ở Việt Nam có chế độ đa đảng thì nạn tham nhũng mới có thể được dẹp bỏ thì quả là hoang đường, phi lý. Thực chất, đây là nấc thang mới của luận điệu tuyên truyền lừa bịp, xuyên tạc nhằm thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” trên cơ sở gieo rắc hoài nghi trong cán bộ, đảng viên, nhân dân đối với quyết tâm chống tham nhũng, qua đó, làm xói mòn, mất lòng tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước, từng bước tạo ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng, trong các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân.

Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định, tham nhũng đang là giặc nội xâm, nếu không được giải quyết triệt để thì tương lai đất nước, tương lai chế độ bị đe dọa. Do vậy, cùng việc hoàn thiện, củng cố hệ thống pháp luật, Đảng, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam đã và đang thể hiện quyết tâm cao trong công tác phòng, chống tham nhũng, đấu tranh không khoan nhượng và xử lý nghiêm minh không có vùng cấm đối với những cán bộ sai phạm theo pháp luật, dù họ là ai ở bất kỳ cương vị nào... Chính vì vậy, công tác phòng, chống tham nhũng đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước. 

Hơn lúc nào hết, việc nhận thức rõ những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch cần phải được coi là vấn đề cấp bách. Những nỗ lực cùng kết quả thực chất trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng cần thường xuyên được cập nhật, lan tỏa trong đời sống xã hội. Đây chính là bằng chứng xác thực nhất bác bỏ những luận điệu tuyên truyền phiến diện, lừa bịp của các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị đang cố tình lợi dụng vấn đề này ở Việt Nam để thực hiện mưu đồ đen tối của chúng.

CÂY MUỐN LẶNG MÀ GIÓ CHẲNG NGỪNG


Với những người ham mê tìm hiểu, nghiên cứu lịch sử thì hẳn chẳng ai còn lạ gì thuốc súng là một trong 4 phát minh vĩ đại của nước Trung Hoa cổ. Thuốc súng chữ Hán có nghĩa là "hỏa dược". Thuốc súng đen gồm ba thành phần cơ bản: lưu huỳnh, kali nitrat và than củi. Hỗn hợp ba loại này cháy rất mạnh. Chính vì vậy người ta mới gọi hỗn hợp trên là "hỏa dược" (thuốc bốc lửa). 

Thuốc súng được phát minh ở Trung Quốc thế kỷ 9 và lan rộng ra hầu hết các vùng của đại lục Á - Âu vào cuối thế kỷ 13. Ban đầu được phát triển bởi các đạo sĩ cho mục đích y học, thuốc súng lần đầu tiên được sử dụng cho mục đích chiến tranh khoảng năm 1000.

Như vậy, Vua Quang Trung - Nguyễn Huệ rõ ràng không phải là người đầu tiên phát hiện ra phosphor cũng như không phải là người đầu tiên chế tạo ra thuốc nổ, thuốc súng. Quân Tây Sơn đã sử dụng súng thần công và những quả cầu lửa để tấn công quân Thanh thì hiển nhiên quân Thanh chúng cũng dư sức có thứ vũ khí ấy. Vậy tại sao ngày nay có một số kẻ lại đang tung hô quá đáng và một cách có chủ đích về cái gọi là "vũ khí hủy diệt" của Vua Quang Trung cứ như thể họ đang ca ngợi sự vĩ đại hơn người của Vua Quang Trung, đồng thời họ suy diễn để quy chụp cho cái chết của Vua Quang Trung?

Với những kẻ khờ khạo, thiếu kiến thức lại hám danh, hám mẽ thì khi nghe thấy bọn người này hết lời ca ngợi thứ "vũ khí hủy diệt" "tuyệt đỉnh" của Vua Quang Trung thì thích thú, tự hào, tự cao, tự đại, tự tôn lắm! Nhưng thực ra những thằng đang gào mồm xạo mõm ca ngợi Vua Quang Trung kia thì chúng lại đang ẩn chứa một âm mưu thâm độc, nham hiểm. Thật ra qua sự việc này chúng đang dụng ý như sau:

1. Phủ nhận tài năng quân sự, tài thao lược của Vua Quang Trung. Chúng gián tiếp cho rằng Vua Quang Trung thắng trận như chẻ tre thực ra là do thứ "vũ khí hủy diệt" đáng sợ ấy chứ Nguyễn Huệ chẳng có tài cán gì đáng kể. Qua đây chúng cũng phủ nhận sự thiện chiến, tinh nhuệ, anh hùng, bất khuất của đội quân Tây Sơn, đội quân đại diện cho nông dân, nhân dân.

2. Chúng đã gián tiếp khẳng định rằng Vua Quang Trung là một kẻ bạo chúa, một tên sát nhân ghê rợn chứ không phải là người đại nhân, đại nghĩa. Vì vậy đã sớm phải chịu quả báo là "chơi với lửa thì phỏng tay", "chơi với dao thì đứt tay", "dùng độc thì chết vì độc". 

3. Hạ bệ được tượng đài Quang Trung thì chúng sẽ dựng lên được tượng đài Nguyễn Ánh.

Đây chính là âm mưu bôi nhọ nhằm để hạ bệ tượng đài Vua Quang Trung, song song với đó chúng cũng ca tụng tên bán nước hại dân, "cõng rắn cắn cắn gà nhà, rước voi dày mả tổ" là Gia Long - Nguyễn Ánh, mà bao năm nay chúng đã thực hiện nhiều lần. Giờ đây chúng đang nhân danh khoa học để xét lại theo lối suy diễn, võ đoán một cách thiếu cơ sở khoa học, lịch sử xác thực. 

Trong câu chuyện đang gây sự chú ý của dư luận xã hội này, mới đây còn có sự xuất hiện của một ông Tướng quân đội rất "tên tuổi" đã nghỉ hưu, như thể để tăng sức nặng, bảo kê cho hành động suy diễn, võ đoán của bọn xét lại. 

Tôi thật không muốn "vạch áo cho người xem lưng" nhưng đời lại mới xuất hiện cái câu: "dĩ vãng dơ dáy dễ gì giấu diếm". Vì vậy nên tôi hy vọng ông sớm đứng ngoài cuộc vụ này, bởi tôi không muốn phải đào bới lại câu chuyện nhận vơ công trạng chiến dịch thành cổ Quảng Trị mà ông là một kẻ hám danh đã bị các CCB thành cổ Quảng Trị bộp thẳng mặt cho tím tái, ê chề, không có chỗ chui.

TỰ HÀO LÀ NGƯỜI CỘNG SẢN

Trên mạng xã hội, các thế lực thù địch ra rả tuyên truyền, xuyên tạc rằng Cộng sản thế nọ, thế kia. Nào là độc ác, độc tài, không có tự do ngôn luận, không có tự do dân chủ. Xin thưa, chúng chỉ là những con vẹt, những con vẹt không hơn không kém vì bản thân chúng chỉ là loài nhai lại, nhại lại chứ không hề có một chút hiếu biết nào về cộng sản cả. Để tôi nói cho mà nghe: Những người cộng sản Việt Nam, trước tiên họ đấu tranh cho một Việt Nam hòa bình, tự do và toàn vẹn lãnh thổ. Sau gần 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng đến nay họ vẫn làm tốt điều. Những người cộng sản họ không đứng ngoài dân tộc, họ chỉ là giai cấp tiên phong đoàn kết với các giai tầng khác đế xây dựng một đất nước hòa bình, dân chủ, công bằng và văn minh. Minh chứng cho điều ấy, Việt Nam hiện nay đã là một nền kinh tế phát triển năng động hấp dẫn nhất thế giới. Những người cộng sản họ đấu tranh cho một xã hội công bằng, phấn đấu không còn áp bức, bóc lột giữa người với người, giữa giai cấp này với giai cấp khác, con người sống với nhau tình nghĩa hơn, nhân văn hơn, yêu thương nhau hơn và được chia sẻ đều lợi ích theo sự đóng góp. của mỗi người. Những người cộng sản họ đấu tranh để 54 dân tộc luôn chung sống vui vẻ, hòa đồng, đều chung sức đồng lòng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, không có một dân tộc nào là thượng đẳng, mọi người không phân biệt đều có khả năng, có cơ hội, có môi trường tốt nhất đế khẳng định mình. Những người cộng sản đấu tranh đế xây dựng một đất nước có nền văn hóa được kết hợp từ những giá trị nền tảng của truyền thống và tiếp thu những tinh thúy của nhân loại đế làm giầu thêm bản sắc văn hóa của dân tộc. Những người Cộng sản là những người yêu hòa bình, họ mong muốn một thế giới hòa bình, không còn chiến tranh, chết chóc. Nhưng họ cũng là những người vô cùng dũng cảm sẵn sàng chết đế giành lại hòa bình cho đất nước, quê hương của họ. Còn rất nhiều những điều tốt đẹp về những người cộng sản mà chưa thể kế hết. Nhưng tựu chung lại đó là, nếu bạn là một người cộng sản thì hãy tự hào về điều đó. Những ai chưa là cộng sản thì hãy phấn đấu vì điều đó vì lý tưởng cộng sản luôn đẹp. Hướng tới cái đẹp là quy luật tất yếu và nó là chân lý của cuộc đời mỗi con người./.

MỘT SỐ KỸ NĂNG NHẬN BIẾT THÔNG TIN XẤU ĐỘC TRÊN MẠNG XÃ HỘI

Rèn luyện kỹ năng cần thiết để chống thông tin xấu, độc trên mạng xã hội sẽ góp phần phát huy những tác động tích cực, hạn chế, ngăn ngừa những tác động tiêu cực của mạng xã hội, góp phần ổn định chính trị - xã hội của đất nước. Khi tham gia vào mạng xã hội, chúng ta dường như “ngập chìm” trong thông tin từ rất nhiều nguồn, rất nhiều mục đích khác nhau. Bên cạnh những thông tin đúng đắn, tích cực, có không ít những thông tin sai trái, bịa đặt, xuyên tạc sự thật, thù địch, phản động, kích động bạo lực,… được gọi chung là thông tin xấu, độc. Vì vậy, nếu người tiếp cận thông tin không tỉnh táo, sáng suốt, thì có thể bị tiêm nhiễm, ảnh hưởng tiêu cực bởi những thông tin xấu, độc đó. Để tích cực phòng, chống thông tin xấu, độc trên mạng xã hội, người tham gia mạng xã hội cần cần tự trang bị cho mình vốn hiểu biết và những kỹ năng cần thiết như sau: Thứ nhất, kỹ năng chọn lọc thông tin để nhận diện các thông tin xấu, độc Khi tham gia vào mạng xã hội, người đọc thường tiếp xúc với vô số những thông tin được chia sẻ bởi bạn bè, người thân, những người nổi tiếng,… vì vậy các bạn cần có khả năng chọn lọc thông tin để xác định đâu là thông tin đúng đắn, khách quan, đâu là thông tin xấu, độc. Thứ hai, người tham gia mạng xã hội cần có kỹ năng công nghệ - thông tin ở mức cơ bản để chặn, lọc, xóa, (báo xấu),… các thông tin xấu, độc trên mạng xã hội để không cho các thông tin đó lan tràn dễ dàng trên mạng xã hội. Khi nhận lời mời kết bạn với ai, người tham gia mạng xã hội cần xác định được danh tính của người đó hoặc xác định đó là những trang, nhóm tin cậy trước khi chấp nhận tham gia. Thứ ba, khi tham gia mạng xã hội cần cần nắm vững các quy định của pháp luật cũng như những quy tắc ứng xử văn hóa trên mạng xã hội của từng mạng xã hội để tránh vô tình vi phạm. Tiêu biểu đó là các quy định của Luật An ninh mạng. Nếu tất cả các bạn trẻ tuân thủ các quy định an ninh mạng cần thiết chúng ta sẽ an toàn hơn khi tham gia vào mạng xã hội và các chủ thể phát tán thông tin xấu, độc sẽ ít có cơ hội ảnh hưởng đến chúng ta. Thứ tư, cần rèn luyện cho mình một tư duy biện chứng, tư duy phản biện khi tiếp xúc với các thông tin trên mạng xã hội. Một tư duy biện chứng với cách xem xét sự vật, hiện tượng một cách khách quan, đa chiều, lịch sử - cụ thể, phát triển, thống nhất giữa lý luận và thực tiễn,… sẽ giúp các bạn trẻ nhìn thấu được bản chất ẩn giấu sau những hiện tượng bề ngoài, thấy được mục đích sâu sa ẩn đằng sau những câu chữ, hình ảnh, từ đó dễ dàng phát hiện ra những thông tin xấu, độc để có biện pháp phòng, chống.

CẢNH GIÁC TRƯỚC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA KẺ THÙ VỀ ĐƯỚNG LỐI ĐỔI MỚI KINH TẾ CỦA ĐẢNG TA

Vấn đề đổi mới kinh tế ở Việt Nam luôn bị các thế lực cơ hội, thù địch quan tâm, chống phá. Bởi đây là vấn đề hệ trọng, liên quan đến sự ổn định và phát triển đất nước, đặc biệt là vào những thời điểm khó khăn. Mục tiêu sâu xa của chúng là phủ nhận thành quả cách mạng của đất nước, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng; thông qua việc chống phá, gây mất ổn định, mất lòng tin, làm cho kinh tế không phát triển; chính trị, xã hội tất yếu dẫn tới rối loạn, khủng hoảng và sụp đổ. Chúng tấn công thẳng vào những vấn đề mang tính ý thức hệ, như quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Chúng phủ định quy luật này, “lớn tiếng” rằng, các nước tư bản chủ nghĩa không thừa nhận quy luật này nhưng vẫn phát triển, hay quy luật này chỉ đúng thời của Mác-Lênin, khi khoa học và công nghệ chưa phát triển; ngày nay người lao động gắn bó với tư bản, có cổ phần trong các doanh nghiệp tư bản, không bị bóc lột như trước đây, được quan tâm nhiều đến lợi ích, chủ nghĩa tư bản đã có nhiều điều chỉnh, do đó không còn mâu thuẫn đối kháng giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản. Từ đó, chúng cho rằng, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân là lỗi thời. Về các thành phần kinh tế, chúng nhấn mạnh rằng, cho dù đến nay, chế độ cộng sản đã có những đổi mới về kinh tế, các thành phần kinh tế, nhưng không căn bản, không thực chất, do vẫn giữ kinh tế nhà nước có vị trí chủ đạo. Lập luận của chúng là các thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật, nhưng trên thực tế, các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh vẫn bị phân biệt đối xử, không công bằng trong môi trường kinh doanh, trong tiếp cận nguồn lực. Cơ chế phân chia lợi ích chưa rõ ràng ngay trong doanh nghiệp nhà nước, trong việc thực hiện nghĩa vụ đóng góp đối với xã hội của các thành phần kinh tế. Tuy coi kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất, nhưng kinh tế tư nhân vẫn bị phân biệt đối xử, chưa minh bạch trong chính sách, vẫn còn tình trạng “vỗ béo để thịt”, bị sách nhiễu, kiểm tra, vòi vĩnh vô lý. Chúng lập luận rằng, việc chấp nhận kinh tế thị trường đối với các nước đi lên chủ nghĩa xã hội vẫn còn khiên cưỡng, nửa vời. Đã chấp nhận kinh tế thị trường, tuân thủ theo quy luật thị trường lại còn “ định hướng xã hội chủ nghĩa”, trên thực tế chưa rõ về mô hình, hoặc chỉ danh nghĩa, thực chất đã chuyển sang theo mô hình chủ nghĩa tư bản. Một số nước xã hội chủ nghĩa còn lại, kinh tế gặp nhiều khó khăn, nhìn chung đó là sự mâu thuẫn. Cần phải thấy rõ rằng, sự chống phá của các thế lực cơ hội, thù địch là cuộc đấu tranh ý thức hệ, diễn ra lâu dài, với nhiều phương thức, thủ đoạn thâm độc. Cho dù trong thực tiễn, chúng ta làm tốt, chúng vẫn điên cuồng chống phá và không ngừng xuyên tạc. Biện pháp phản bác hữu hiệu nhất là nỗ lực góp phần xây dựng đất nước ổn định, kinh tế phát triển, đời sống người dân không ngừng được nâng lên. Sức mạnh tổng hợp của đất nước được tăng cường, vị thế quốc gia ngày càng tăng trên trường quốc tế. Nhìn lại thực tiễn lịch sử nước ta, những thành tựu đất nước đã đạt được trong những năm qua, càng khẳng định tính đúng đắn, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mô hình phát triển đất nước do Đảng, nhân dân ta lựa chọn là đúng đắn. Thực tiễn thành tựu qua hơn 35 năm đổi mới là minh chứng rõ nhất cho sự thất bại của các luận điệu xuyên tạc của kẻ thù. Qua hơn 35 năm đổi mới; kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã định hình rõ nét và vận hành có hiệu quả với sự hình thành tương đối đồng bộ các loại thị trường, các yếu tố thị trường, sự đan xen các hình thức sở hữu, các thành phần kinh tế, các loại hình sản xuất kinh doanh, trong đó kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể có những chuyển biến mới, kinh tế tư nhân và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển mạnh. Trong thực tiễn xuất hiện những mô hình liên kết, đối tác giũa các hình thức sở hữu, các doanh nghiệp - hợp tác xã - hộ gia đình, đối tác công - tư...; kinh tế hỗn hợp bước đầu hình thành. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển theo hướng ngày càng đầy đủ hơn, từng bước hiện đại hóa và có khả năng hội nhập kinh tế quốc tế, tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Quan hệ nhà nước - thị trường - xã hội, giữa tuân theo các qui luật thị trường với đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa được nhận thức và bước đầu giải quyết. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa tiếp tục được đẩy mạnh, nổi bật là triển khai tích cực đổi mới mô hình tăng trưởng, chú trọng nâng cao trình độ phát triển của lực lượng sản xuất theo hướng hiện đại. Cơ cấu lại tổng thể nền kinh tế, cơ cấu lại các ngành kinh tế, cơ cấu các doanh nghiệp trên cơ sở thực hiện các đột phá chiến lược, nhờ vậy, năng xuất lao động, chất lượng phát triển, giá trị tăng thêm và khả năng cạnh tranh được cải thiện. Một số lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp công nghệ cao, dịch vụ chất lượng cao... phát triển, tạo diện mạo mới của kinh tế đất nước. Trong bối cảnh có nhiều khó khăn, thách thức, kinh tế vĩ mô giữ được ổn định, tốc độ tăng trưởng được duy trì ở mức cao, tiềm lực kinh tế đất nước được nâng lên, tạo tiền đề cho những bước phát triển tiếp theo. Từ thực tiễn thành tựu trong thực hiện đường lối đổi mới kinh tế của Đảng tác động đến sự phát triển của đất nước cho thấy, những kết quả đạt được trong phát triển của đất nước là cơ bản, to lớn và có ý nghĩa lịch sử, càng khẳng định con đường, mô hình phát triển và những đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị của Việt Nam là đúng hướng; những hạn chế, thiếu sót khuyết điểm không làm thay đổi bản chất, tính đúng đắn, ưu việt của chế độ chính trị, nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng./.