Thứ Hai, 14 tháng 2, 2022

ĐỒN THỔI SAI VỀ “CHIẾN LƯỢC TIÊM VAC-XIN”

 

Tin giả là ảo (bấm like “thích”; share “chia sẻ”), là sự phản ánh xuyên tạc hiện thực, sai sự thật, áp đặt ý muốn chủ quan của người đưa tin; là chiêu trò “đánh tráo khai niệm” nhằm biến trắng thành đen, đúng thành sai, phải thành trái để lừa bịp người dân. Sự sai trái, lệch lạc, độc hại của tin giả về “chiến lược tiêm vaccine” được che đậy khá kỹ dưới cái vỏ bọc “bảo vệ lợi ích nhân dân”, “vì dân” của một nhóm người bất mãn, thiếu thiện chí với Đảng, Nhà nước ta đã khiến không ít người dân được tiêm vaccine và chưa được tiêm vaccine “lời vào tiếng ra”, bàn tán với tâm trạng nghi ngờ, thậm chí hoang mang, lo ngại về công dụng, hiệu quả đích thực của tiêm vaccine. Hơn thế, không ít người đã xuyên tạc bản chất của “chiến lược tiêm vaccine”, phủ nhận những cố gắng “ngoại giao vaccine” của Đảng, Nhà nước ta về việc kêu gọi toàn dân, các doanh nghiệp ủng hộ chủ trương “lập quỹ vaccine” của Đảng, Chính phủ. Cần thấy rằng những thông tin giả, sai lệch, phản ánh không đúng sự thật, bôi đen cuộc sống, phủ nhận “chiến lược tiêm vaccine”, xuyên tạc chủ trương “chống dịch như chống giặc” của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta chỉ là “bình cũ rượu mới” - một trong những chiêu trò chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta. Đây là một hành vi “tát nước theo mưa” để “đục nước béo cò” nhằm “đổ dầu vào lửa” để chống phá Đảng, Nhà nước, được các thế lực thù địch chủ tâm “chế biến, ngụy tạo thông tin” cố tình tán phát, để tạo các lớp sóng “lây lan” nhanh trong cộng đồng. Bản chất các tin giả, luận điệu sai trái là “phi nhân tính” nhưng nó lại có tính thời sự vì nhắm trúng đích sự quan tâm, hiếu kỳ, tâm lý nghi ngại của một bộ bộ người dân về những đều mới lạ, hấp dẫn và tác hại của nó có liên quan đến sự sống, cái chết do Covid-19 gây ra, ví như: tiêm vaccine để sống hay là chết; tiêm vaccine ngừa Covid-19 có thể gây vô sinh, hủy hoại tương lai, lú lẫn, mất trí tuệ hay thậm chí, có thể gây tử vong. Loại tin xấu, độc, nhảm nhí như thế đã xuất hiện tràn lan trên các trang mạng xã hội mang tính cộng đồng, quốc tế bởi tính trực tiếp, hiếu kỳ, sự tò mò của một bộ phận người dân. Do chưa hiểu biết đầy đủ bản chất vấn đề lại thiếu thông tin về công dụng, giá trị, ý nghĩa của vaccine, của tiêm vaccine và sự xuyên tạc về phòng, chống dịch Covid-19, về “chiến lược tiêm vaccine” của Đảng, Nhà nước nên khi tiếp nhận thông tin này, không ít người dân đã bị “sốc”, bị “choáng”, bột phát vô tình đã tiếp tay cho việc đồn thổi sự nghi ngờ về công hiệu, tác dụng, sức mạnh phòng, chống dịch Covid-19 của vaccine, cũng như sự xuyên tạc bản chất, ý nghĩa của “ngoại giao vaccine”, “lập quỹ vaccine” sự quan tâm đầu tư mua sắm, chủ động nguồn vaccine của Chính phủ, bọn người xấu đã tru tréo, tung tin buộc tội, vu khống Chính phủ, chính quyền các cấp “thờ ơ với vaccine”, “chậm mua vaccine” để dịch bệnh lan tràn để kích động tâm lý bất bình của một số người dân.

Từ sau đợt dịch thứ tư bùng phát đến nay, nhất là sau khi nhiều loại vaccine cùng đến Việt Nam, Đảng, Nhà nước đã có chủ trương tận dụng mọi thời cơ, dùng mọi biện pháp, tổ chức mọi lực lượng, sử dụng mọi phương tiện tốt nhất để tiến hành tiêm vaccine cho người dân sớm nhất, nhanh nhất. Đảng ta khẳng định: Chiến lược vaccine tốt nhất là tiêm vaccine sớm nhất cho người dân và coi đây là điều kiện tiên quyết để ngăn chặn, đẩy lùi căn bệnh quái ác này. Thế nhưng, bọn xấu lại làm ngơ, trơ táo phớt lờ điều ấy. Chúng lại “ngựa quen đường cũ”, tiếp tục chế biến, tạo dựng tin, bài, hình ảnh giả mạo, xuyên tạc sự thật để chống đối “chiến lược tiêm vaccine” của Đảng, Nhà nước. Vì thế, trên các mạng xã hội như YOUTUBE, VIBER, ZALO, BBC, RFA, RFI, FACEBOOKS…lại xuất hiện các “làn sóng tin giả” mới, gây tâm lý lo lắng, nghi ngại về tiêm vaccine; đáng kể là tâm lý so sánh về chất lượng, hiệu quả, sự an toàn của từng loại vaccine: AstraZeneca, Pfizer, BioNTech…Hơn thế, chúng cố tình phủ nhận những cố gắng trong “ngoại giao vaccine” của Đảng, Nhà nước, xuyên tạc mối quan hệ giữa Việt Nam với Mỹ, Trung Quốc, châu Âu - những nước, tổ chức, danh nghiệp đã và đang hỗ trợ, bán vaccine theo yêu cầu của Chính phủ Việt Nam…Đây là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tâm lý do dự, trần chừ, ngại làm xét nghiệm, đi tiêm phòng trong một bộ phận dân chúng, nhất là khi họ biết sẽ được tiêm loại vaccine nào và ảnh hưởng của nó đến sức khỏe ra sao.

Tất cả các tin giả, xấu, độc, xuyên tạc bản chất, giá trị, ý nghĩa “chiến lược tiêm vaccine” của Đảng, Nhà nước ta do bọn xấu chủ mưu đều gây hại cho xã hội, cộng đồng dân cư, nhất là khi nó được hướng lái sang lĩnh vực chính trị nhằm vào sự so sánh, phao tin về sự phân biệt đối xử của Đảng, Nhà nước ta khi phân phối, cấp phát vaccine theo vùng, miền, đối tượng sử dụng, nhất là sự ưu tiên cấp phát vaccine tốt cho miền Bắc, điều caccine xấu, kém hiệu quả cho các tỉnh miền Nam; cho cán bộ cao cấp và cho nhân dân; không quan tâm đến người nghèo; dân thường còn lâu mới được tiêm. Một số đối tượng xấu đã lợi dụng tình thế nghi ngại, trần chừ của người dân, quay sang tuyên truyền, xuyên tạc, thổi phồng sự đối xử của Đảng trong thực hiện “chiến lược vaccine” nhằm đối lập Đảng, Nhà nước với nhân dân, chia rẽ miền Bức với miền Nam, cán bộ với nhân dân; khối đại đoàn kết, thống nhất của nhân dân ta. Rõ ràng, các thế lực thù địch đã và đang cố tình chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta; chúng không từ bỏ một thủ đoạn nào, kể cả thủ đoạn hèn hạ, thâm độc, tàn ác nhất.

Ngay ở miền Bắc, chúng cũng phao tin nhảm nhí, sằng bậy rằng các loại vaccine tốt, an toàn, hiệu quả cao được Đảng, Nhà nước chỉ định sử dụng ưu tiên tiêm phòng cho cán bộ Trung ương, cán bộ cao cấp, cho quân đội, công an, y tế, người giàu có nhiều tiền và chỉ sử dụng ở miền Bắc. Từ đó, chúng xiên sẹo rằng các loại vaccine kém chất lượng, không an toàn, gần hết hạn sử dụng thì được chỉ đạo cấp phát, sử dụng tiêm phòng cho người dân miền Nam. Bỉ ổi hơn, chúng còn cho rằng Chính phủ không cho các doanh nghiệp mua vaccine vì sợ mất uy tín, vì Chính phủ muốn ăn “100% hoa hồng”, v.v.. Sự bịp bợm, xuyên tạc trắng trợn, phi lý này là rất nguy hiểm, không thể chấp nhận, đã bị các cơ quan chức năng vạch mặt, bóc trần sự thật. Đặc biệt, một số kẻ tung tung giả, xấu, độc đã bị xử lý theo pháp luật, bị xã hội lên án gay gắt. Nạn tin giả về vaccine có giảm đi. Thế nhưng, đó đây vẫn còn một bộ phận người dân “nhẹ dạ cả tin”, chưa thoát ra được sự “mê hoặc” của bọn người xấu. Đây là một trong những thách thức lớn, một rào cản đối với việc thực hiện mục tiêu tăng tỷ lệ bao phủ tiêm vaccine của Đảng, Nhà nước và Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Nam Bộ hiện nay. Vì vậy, tiếp tục đấu tranh vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn xấu xa, sớm “hạ màn xuyên tạc bỉ ổi” của bọn người xấu, bảo vệ tính đúng đắn, sáng tạo của “chiến lược vaccine” vì dân do Đảng, Nhà nước ta khởi xướng và lãnh đạo, toàn dân chúng sức đồng lòng thực hiện, là trách nhiệm và nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi người dân yêu nước lúc này. Mỗi việc làm tốt trong phòng, chống đại dịch Covid-19 là thiết thực góp phần đóng góp công sức, trí tuệ của mình để chiến thắng đại dịch Covid-19, sớm đưa cuộc sống trở lại bình thường mới trên quê hương - đất nước Việt Nam yêu dấu

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Quân đội

Trong quá trình hoạt động cách mạng, tìm đường cứu nước, cứu dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức và hình thành tư tưởng xây dựng một quân đội kiểu mới, mang bản chất giai cấp cách mạng, của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; sử dụng mọi phương thức, biện pháp cách mạng để giành độc lập, tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân; trong đó có vấn đề dùng bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực phản cách mạng. Người chỉ rõ: “Trong cuộc đấu tranh gian khổ chống kẻ thù của giai cấp và của dân tộc, cần dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng, giành lấy chính quyền và bảo vệ chính quyền”. Từ đó, Người đã trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện Quân đội nhân dân Việt Nam. Những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Quân đội, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân mà “hồn cốt” là quan điểm: Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân đã trở thành kim chỉ nam, nhân tố quyết định sự lớn mạnh, trưởng thành và chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam trong các thời kỳ cách mạng.


Chính bởi tính đúng đắn, khoa học cùng sự tồn tại khách quan, là nền tảng tạo nên sức mạnh của Quân đội và cơ đồ, vị thế lớn mạnh của đất nước, con người Việt Nam, mà tư tưởng Hồ Chí Minh nói chung, tư tưởng của Người về xây dựng Quân đội nói riêng là dấu ấn không thể phai mờ. Cũng chính vì thế mà tư tưởng đó, luôn bị các thế lực thù địch, phản động xuyên tạc, chống phá quyết liệt; trong đó, bản chất giai cấp, bản chất chính trị của Quân đội là một trọng điểm. Với chiêu bài kêu gọi “phi chính trị hóa” quân đội, chúng ra sức rêu rao quan điểm: quân đội là “của quốc gia, dân tộc, không cần đặt dưới sự lãnh đạo của đảng phái, lực lượng chính trị nào”,... nhằm chuyển hóa Quân đội về chính trị, tước bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội; làm cho Quân đội ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, suy yếu, biến chất về chính trị, từ bỏ mục tiêu, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, những luận điệu thù địch đó không thể xuyên tạc, phủ nhận được quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội đã được đúc rút thành lý luận nền tảng và kiểm nghiệm, chứng minh tính khách quan, khoa học trong thực tiễn cách mạng Việt Nam.


Tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội


Từ thực tiễn hoạt động cách mạng, tiếp thu, phát triển sáng tạo tư tưởng của V.I. Lênin về xây dựng quân đội kiểu mới - “một đội quân có trình độ giác ngộ chính trị cao” do Đảng Cộng sản tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, Hồ Chí Minh rút ra nhận thức sâu sắc về quyền lãnh đạo của Đảng cách mạng đối với Quân đội. Trong bài giảng “Công tác quân sự của Đảng trong nông dân” tại trường quân sự của những người cộng sản Đức ở Mátxcơva vào cuối năm 1927 và được xuất bản lần đầu tiên ở Đức vào năm 1928, Hồ Chí Minh khẳng định quan điểm “…phải làm sao cho Đảng thực hiện quyền lãnh đạo về chính trị và tác chiến của mình” đối với các đội du kích - lực lượng vũ trang đầu tiên của quân đội cách mạng. Bởi vậy, khi quyết định thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân, bên cạnh việc trực tiếp chọn cán bộ chỉ huy, Người còn căn dặn: Tổ chức Đội phải lấy chi bộ làm hạt nhân lãnh đạo. Quan điểm đó đã đặt nền móng vững chắc cho sự hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về tổ chức sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội.


Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo khởi nghĩa vũ trang, chiến tranh cách mạng và xây dựng lực lượng vũ trang, cùng với việc giải quyết đúng đắn các mối quan hệ có tính nguyên tắc, như: giữa quân sự với chính trị, Quân đội với Nhà nước cách mạng, Quân đội với Nhân dân,... Người đã giải thích rõ mối quan hệ giữa Quân đội với Đảng. Người nêu quan điểm: Đảng “Phải xây dựng và lãnh đạo vững chắc lực lượng vũ trang cách mạng của nhân dân, bảo đảm đánh thắng bất cứ kẻ thù nào, bất cứ trong hoàn cảnh nào”. Điều đó có nghĩa là, một mặt, Đảng tổ chức ra Quân đội, nên tất yếu Đảng phải nắm quyền lãnh đạo Quân đội, quyền lãnh đạo đó phải được giữ vững và tăng cường, không chia sẻ cho bất cứ giai cấp nào; mặt khác: “Quân đội phải tôn trọng sự lãnh đạo của Đảng và Chính phủ, phải giúp đỡ các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương”, Quân đội phải nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng giao cho. Đó là nội dung cốt lõi nhất của mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với Quân đội nhân dân Việt Nam.


Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò quyết định trong mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam; giữ vai trò quyết định đối với sự ra đời, phát triển, trưởng thành, chiến đấu và chiến thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam; quyết định bản chất cách mạng của Quân đội, bảo đảm cho Quân đội luôn đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng. Đó là quy luật ra đời và phát triển của Quân đội ta - một quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân ở một nước thuộc địa, nông nghiệp lạc hậu - mà Hồ Chí Minh đã khẳng định là: nó chỉ có thể ra đời và phát triển trong phong trào cách mạng sâu rộng của quần chúng nhân dân và muốn có phong trào như vậy, trước hết phải có sự lãnh đạo của Đảng. Người Viết: “Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục”. Tư tưởng của Hồ Chí Minh về xây dựng Quân đội nhân dân, về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với quân đội là hoàn toàn khoa học, trên cơ sở kế thừa, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, không ai có thể bóp méo, xuyên tạc. 


Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội trong thực tiễn là minh chứng hùng hồn bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Quân đội nhân dân.


Lịch sử cách mạng Việt Nam từ khi Đảng ta ra đời đến nay đã minh chứng: sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định sự trưởng thành và chiến thắng của Quân đội. Đảng Cộng sản Việt Nam là người tổ chức và lãnh đạo Quân đội và Quân đội luôn phục tùng sự lãnh đạo của Đảng là hai mệnh đề song hành trong suốt quá trình xây dựng, phát triển, trưởng thành và chiến thắng của Quân đội. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội cùng với toàn dân lập nên nhiều chiến công hiển hách, giành độc lập, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Sự lãnh đạo của Đảng trước hết bảo đảm cho Quân đội luôn mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc. Từ khi ra đời, Đội Việt Nam tuyên truyền Giải phóng quân đã là đội quân mang bản chất của giai cấp công nhân, làm nòng cốt trong thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, của nhân dân và của dân tộc Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng. Quân đội là công cụ bạo lực vũ trang của một giai cấp, nhà nước nhất định, nhưng chỉ có quân đội của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản như Quân đội nhân dân Việt Nam mới có thể phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân theo đúng nghĩa của nó và gắn bó chặt chẽ sự trung thành với Đảng, với Tổ quốc, Nhà nước và Nhân dân trong chỉnh thể thống nhất, không tách rời. Chiến đấu vì nhân dân, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc là lý do tồn tại và phát triển; là lý tưởng và phương châm hành động của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam.


Sự lãnh đạo của Đảng bảo đảm cho Quân đội luôn kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, Nhà nước và  với Nhân dân. Đó là những nội dung cơ bản, cốt lõi gắn bó chặt chẽ trong bản chất, truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam, được thể hiện bằng sự hy sinh, phấn đấu trong mọi công việc cách mạng của Ðảng; trong suy nghĩ, việc làm cụ thể vì nước, vì dân, vì lợi ích quốc gia dân tộc của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Trong quá trình xây dựng, trưởng thành, dù công tác ở đâu, đi đến đâu, làm những nhiệm vụ gì, trong điều kiện chiến tranh hay trong hòa bình, cán bộ, chiến sĩ Quân đội đều ra sức bảo vệ, giúp đỡ nhân dân; tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; giúp dân phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói giảm nghèo; xả thân vì nhân dân trong bão lũ, dịch bệnh,... tất cả vì tự do, hạnh phúc của nhân dân, v.v.


Những thành tựu, phẩm chất, truyền thống tốt đẹp mà Quân đội có được là nhờ sự tổ chức, lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, tách vấn đề tuyệt đối trung thành với Đảng và Nhân dân là không đúng với bản chất chính trị - xã hội của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đó là sự cố tình xuyên tạc, bóp méo thực tiễn lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, cũng như thực tiễn mối quan hệ giữa Quân đội với Đảng, Nhà nước và Nhân dân, nhằm thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, xuyên tạc quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Quân đội.


Trước sự xuyên tạc đó, một mặt, chúng ta cần đẩy mạnh đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đối với Quân đội và sự nghiệp quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Mặt khác, cần thực hiện tốt việc xây dựng Quân đội thực sự vững mạnh, trước hết là vững mạnh về chính trị, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu. Xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị là tạo sức mạnh nội sinh, khả năng và sức “đề kháng” làm thất bại, phá sản mọi mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch. Mối quan hệ biện chứng giữa “xây” và “chống” này cần phải được nhận thức đúng và giải quyết tốt trong thực tiễn xây dựng Quân đội, cũng như thực tiễn đấu tranh phòng, chống âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội trong tất cả các giai đoạn. Theo đó, cần quán triệt, thực hiện nghiêm nội dung Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng xác định: “Giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân”. Đồng thời, đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; đặc biệt là xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, đảm bảo Quân đội thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc, Nhà nước và Nhân dân, có đủ sức mạnh hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ sẽ là minh chứng thuyết phục bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam.

-----------------

TƯ TƯỞNG CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT TÔN GIÁO

Đoàn kết tôn giáo là một nội dung quan trọng trong chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Với Người, đại đoàn kết dân tộc, trong đó có đoàn kết tôn giáo là vấn đề xuyên suốt, cốt yếu của cách mạng, không phải là một thủ đoạn chính trị nhất thời. Điều mà Người luôn hướng đến là sự đoàn kết lâu dài, tự giác, tự nguyện, chân thành, thực sự theo phương châm “Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”. Như vậy, mục tiêu của đoàn kết là nhằm tập hợp mọi lực lượng yêu nước, phát huy tối đa sức mạnh các nguồn lực để giành lại độc lập cho dân tộc và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Đoàn kết là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng.


Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo, vì vậy vấn đề đoàn kết tôn giáo có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống xã hội và tác động mạnh mẽ đến tiến trình cách mạng. Giải quyết vấn đề này không chỉ là thực hiện đoàn kết giữa đồng bào có đạo và không có đạo, mà còn cần thực hiện đoàn kết trong nội bộ các tôn giáo, đoàn kết giữa đồng bào có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau. Trong thực hiện đoàn kết tôn giáo, Hồ Chí Minh chú trọng cả đoàn kết giữa những người cộng sản với đồng bào các tôn giáo. Theo Người, mặc dù thế giới quan của những người cộng sản và những người có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau, song đều có điểm chung về lợi ích của quốc gia, dân tộc, do đó phải sát cánh cùng nhau để đấu tranh cho mục tiêu chung của dân tộc. Hơn nữa, là người lãnh đạo cách mạng, những người cộng sản phải là hạt nhân để quy tụ, tập hợp, thu hút quần chúng, trong đó có quần chúng theo đạo tham gia cách mạng.


Về phương thức thực hiện đoàn kết tôn giáo, Hồ Chí Minh đã nêu lên một số vấn đề mang tính định hướng như sau:


Lấy lợi ích quốc gia, dân tộc và quyền lợi cơ bản của con người làm mẫu số chung trong việc giải quyết vấn đề dân tộc - tôn giáo: Trong điều kiện của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân chỉ được thực hiện khi đất nước độc lập, bởi: “Nước không độc lập thì tôn giáo không được tự do nên chúng ta phải làm cho nước độc lập đã”. Đồng thời, Người chỉ rõ chỉ trên cơ sở lợi ích chung vì độc lập dân tộc, vì quyền tự do, hạnh phúc của mỗi con người không phân biệt giai tầng, giới tính, dân tộc, tôn giáo, thì mới có thể giải quyết thỏa đáng mối quan hệ dân tộc - tôn giáo.


Trong mối quan hệ giữa dân tộc và tôn giáo, Hồ Chí Minh luôn đặt vấn đề dân tộc là ưu tiên hàng đầu, song không bao giờ xem nhẹ vấn đề tôn giáo. Từ quan điểm và cách thức của Người, giáo hội các tôn giáo đề ra tôn chỉ, mục đích hành đạo theo hướng gắn bó với dân tộc như: “sống phúc âm giữa lòng dân tộc” (Công giáo); “sống phúc âm phụng sự Thiên chúa, phụng sự Tổ quốc và dân tộc” (Tin lành); “đạo pháp - dân tộc và chủ nghĩa xã hội” (Phật giáo); “nước vinh, đạo sáng” (đạo Cao đài), “chấn hưng nền đạo gắn bó với dân tộc; phù hợp với chính sách và pháp luật của Nhà nước góp phần tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Phật giáo, Hoà Hảo).


Trân trọng các giá trị tốt đẹp trong các tôn giáo; chấp nhận sự khác biệt, phát huy những điểm tương đồng giữa các tôn giáo, giữa triết lý tôn giáo và lý tưởng cộng sản: Hồ Chí Minh không bao giờ có thái độ thiên kiến, bài xích, mà nhìn nhận tôn giáo trên bình diện văn hóa, đạo đức, với quan niệm tôn giáo mang những giá trị gắn chặt với con người, vì con người, vì thế mang giá trị nhân văn sâu sắc. Người tổng kết: “Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi. Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa” và nhận ra những tư tưởng, quan điểm đó có những nét tương đồng với lý tưởng xã hội chủ nghĩa mà Người đang hướng tới. Với cái nhìn rộng mở và nhân ái, Hồ Chí Minh nhận thấy những ước mơ về một xã hội bình đẳng, tự do, nhân ái của những người sáng lập ra tôn giáo là phù hợp với lí tưởng của những người cộng sản và cuộc kháng chiến của dân tộc trong đó có sự tham gia của đồng bào các tôn giáo là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với tinh thần của Chúa và Phật là phải thương yêu, đùm bọc nhau để chống lại kẻ thù tàn bạo, hung ác.


Trong điều kiện Việt Nam, Hồ Chí Minh chủ trương không tiến hành cuộc đấu tranh trực diện với giáo lý của các tôn giáo, tránh việc kẻ địch sẽ lợi dụng để vu khống, để tuyên truyền luận điệu “cộng sản là vô thần”, “cộng sản nắm chính quyền sớm muộn gì cũng sẽ tiêu diệt tôn giáo”. Người chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt; đề cao, phát huy những điểm tương đồng giữa giữa giáo lý tôn giáo và chủ nghĩa cộng sản; ghi nhận, động viên, khích lệ những đóng góp đồng bào các tôn giáo trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Người nêu rõ: “Mục đích Chính phủ ta theo đuổi là chiến đấu vì nền độc lập và đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Song, để đạt tới hạnh phúc đó cho mọi người thì cần phải xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nếu Đức Chúa Giêsu sinh ra vào thời đại chúng ta và phải đặt mình trước những nỗi khổ đau của người đương thời, chắc ngài sẽ là một người xã hội chủ nghĩa đi theo con đường cứu khổ loài người”. Đó là sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, thể hiện tư duy rộng mở và tinh thần nhân văn cao cả của Hồ Chí Minh.


Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và đối xử bình đẳng với các tôn giáo: Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, nhân dân có quyền tự do lựa chọn, tin hoặc không tin, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; các tôn giáo bình đẳng với nhau không phân biệt lớn nhỏ, không vì đề cao niềm tin tôn giáo của mình mà nhạo báng, coi khinh tôn giáo của người khác.


Dưới sự chỉ đạo của Người, quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân đã được khẳng định trong chủ trương, đường lối của Đảng và thể chế hóa trong văn bản pháp luật của Nhà nước. Hiến pháp đầu tiên nước ta năm 1946, Chương II, mục B đã ghi rõ: “Mọi công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng”. Tôn trọng các tổ chức và hoạt động tôn giáo, Người nhấn mạnh: “Chính quyền không can thiệp vào nội bộ tôn giáo; riêng về Công giáo, quan hệ về tôn giáo giữa giáo hội Việt Nam với Tòa thánh La Mã là vấn đề nội bộ của Công giáo”. Bên cạnh đó, Người gắn việc thực hiện quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của nhân dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân: “không tách rời bổn phận kính Chúa của người Công giáo với bổn phận yêu nước của người công dân”, “Hoạt động tôn giáo không được cản trở sản xuất của nhân dân, không được trái với chính sách và pháp luật của Nhà nước”. Người yêu cầu các nhà tu hành, các chức sắc tôn giáo khi truyền bá tôn giáo “có nhiệm vụ giáo dục cho các tín đồ lòng yêu nước, nghĩa vụ của công dân, ý thức tôn trọng chính quyền nhân dân và pháp luật của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”.


Đấu tranh chống âm mưu lợi dụng tôn giáo của các thế lực phản động: Tôn trọng tự do tín ngưỡng của nhân dân, nhưng Hồ Chí Minh luôn đặt ra vấn đề phải phân biệt được nhu cầu tín ngưỡng chân chính của quần chúng với âm mưu lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch. Đối với bọn đầu sỏ, ngoan cố và những kẻ lợi dụng và giả danh tôn giáo để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá cách mạng, Hồ Chí Minh nêu rõ: phải quyết liệt “trừng trị theo pháp luật” và “Chính phủ sẽ nghiêm trị những kẻ lừa bịp, cưỡng bức đồng bào phải lìa bỏ quê hương, sa vào một đời sống tối tăm cực khổ về phần xác cũng như phần hồn”.


Đối với đồng bào các tôn giáo, Hồ Chí Minh chỉ ra rằng, tự do tín ngưỡng là một vấn đề nhạy cảm, dễ bị lực lượng phản cách mạng lợi dụng nhằm xuyên tạc, phá hoại tình đoàn kết gắn bó giữa đồng bào lương - giáo, giữa đồng bào theo các tôn giáo khác nhau. Bởi vậy, đồng bào các tôn giáo cần nâng cao cảnh giác “chớ mắc mưu những kẻ tuyên truyền lừa bịp”.


Đối với cán bộ Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể quần chúng, Hồ Chí Minh yêu cầu cần gương mẫu chấp hành chính sách tôn giáo; ra sức giải thích cho đồng bào các tôn giáo hiểu chính sách của Đảng, Nhà nước; đồng thời kiên quyết sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm trong việc thực hiện chính sách tôn giáo. Người phê phán những hiện tượng như “Đối với nông dân Công giáo, có đội đã đưa chủ nghĩa Mác - Lênin ra giải thích. Nhiều cán bộ, hễ nói đến cha cố, không phân biệt tốt xấu, cứ gọi là thằng, làm cho nông dân Công giáo khó chịu”. Đó là nguyên nhân khiến đồng bào có đạo hiểu sai về chính sách của Đảng, tạo cớ cho kẻ thù kích động, xuyên tạc, phá hoại.


Tôn trọng các chức sắc tôn giáo và quan tâm đến giáo dân, hướng họ vào các hoạt động lợi ích chung của toàn dân tộc: Hồ Chí Minh luôn đánh giá cao vai trò, uy tín của hàng ngũ giáo sĩ, nhà tu hành - những người có tầm ảnh hưởng rất lớn đối với các tín đồ tôn giáo. Bởi vậy, Người cho rằng tôn trọng, vận động, thuyết phục hàng ngũ chức sắc tôn giáo là biện pháp quan trọng để thực hiện chính sách đoàn kết lương giáo, hòa hợp dân tộc. Bằng thái độ trân trọng, tin tưởng, chân thành, cầu thị, Hồ Chí Minh đã quy tụ được nhiều chức sắc có uy tín lớn trong các tôn giáo như linh mục Phạm Bá Trực, ông Cao Triều Phát - lãnh tụ Cao Đài vùng Hậu Giang, v.v. tích cực tham gia đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc, xây dựng khối đoàn kết tôn giáo.


Bên cạnh đề cao vai trò của vị giáo chủ, giáo sĩ, Hồ Chí Minh dành sự quan tâm sâu sắc đến đời sống của đồng bào tín đồ tôn giáo, nhất là tín đồ thuộc các dân tộc thiểu số. Người đã gửi nhiều thư, điện đến đồng bào Công giáo, đồng bào các dân tộc, biểu dương công trạng và tinh thần hăng hái tham gia kháng chiến của đồng bào, thăm hỏi nhân dịp các ngày lễ lớn của các tôn giáo. Đặc biệt, đối với đồng bào lầm đường lạc lối, đã từng quay lưng với cách mạng và dân tộc, Người bày tỏ thương xót với những cực khổ của bà con ở nơi đất khách, quê người, đồng thời chủ trương “Không được báo thù báo oán. Đối với những kẻ đi lầm đường lạc lối, đồng bào ta cần phải dùng chính sách khoan hồng. Lấy lời khôn lẽ phải mà bày cho họ”, bởi “Trừ một bọn rất ít đại Việt gian, đồng bào ta ai cũng có lòng yêu nước. Tuy có một số đồng bào lầm lạc, qua một thời gian, những người ấy dần dần giác ngộ và quay trở về với Tổ quốc”.


Với chủ trương và những biện pháp đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải quyết sáng tạo, phù hợp vấn đề tôn giáo, đoàn kết chặt chẽ lương - giáo, đồng bào các tôn giáo khác nhau, cùng góp sức cuộc đấu tranh giải phóng và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó là nền tảng lý luận, định hướng cho Đảng trong việc giải quyết vấn đề tôn giáo ở Việt Nam trong giai đoạn cách mạng trước đây và hiện nay.

-------------------

KHÔNG NGỪNG NỖ LỰC ĐỂ BẢO ĐẢM NHÂN QUYỀN

 

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục khẳng định “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân là mục tiêu phấn đấu”; “Phát triển con người toàn diện và xây dựng văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”; “…con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng của đất nước”.

Quyền con người được khẳng định trong bản Hiến pháp các năm 1946, 1959, 1992 và 2013. Hiến pháp năm 2013 có 11 chương, 120 Điều. Trong đó, chương về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là chương có điều luật nhiều nhất, gồm 36 điều (từ Điều 14 đến Điều 49).

Để có cơ sở pháp lý thúc đẩy và bảo vệ, bảo đảm quyền con người, Nhà nước Việt Nam đã có những nỗ lực không ngừng cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người. Tính từ năm 2014 đến nay, Quốc hội nước ta đã sửa đổi, bổ sung, ban hành mới hơn 100 văn bản luật, pháp lệnh liên quan đến việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân phù hợp với Hiến pháp 2013. Trong số đó có những luật cơ bản, quan trọng như: Bộ luật Hình sự 2015, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015, Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015, Luật Trưng cầu dân ý 2015, Luật Tín ngưỡng tôn giáo 2016, Luật Trẻ em 2016, Luật Báo chí 2016, Luật Tiếp cận thông tin 2016, Luật An ninh mạng 2018, Luật Đặc xá 2018… Việc hoàn thiện khung pháp luật về quyền con người, quyền công dân nói trên đã phản ánh đúng bản chất của chế độ ta, đó là xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tăng cường cơ chế dân chủ, công khai để mọi cá nhân trong xã hội đều có thể tham gia xây dựng, quản lý xã hội, giám sát các hoạt động của cơ quan nhà nước, cũng như tạo ra khuôn khổ pháp lý để các cơ quan nhà nước hoạt động tốt hơn, phục vụ tốt hơn nhu cầu của mọi tầng lớp nhân dân.

Hiện nay, Việt Nam là một trong những nước tích cực, chủ động tham gia vào hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người do Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác ban hành. So với nhiều nước trong khu vực và các nước phát triển, Việt Nam không thua kém về số lượng là thành viên các công ước quốc tế về quyền con người. Tính đến năm 2021, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người; phê chuẩn, gia nhập 25 công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), trong đó có 7/8 công ước cơ bản. Việt Nam đã phê chuẩn hoặc tham gia nhiều điều ước quốc tế về nhân quyền. Việt Nam luôn khẳng định trên thực tế là thành viên nỗ lực tham gia các công ước quốc tế với tinh thần, trách nhiệm cao nhất, được nhiều tổ chức quốc tế, các quốc gia đánh giá cao.

Mặc dù nước ta đang gặp không ít những trở ngại, thách thức do thiên tai, dịch bệnh và từ sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị nhưng vấn đề nhân quyền của Việt Nam luôn được thực thi trên thực tế. Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn và vững chắc về nhân quyền. Điều đó không chỉ thể hiện ở những nỗ lực của chúng ta trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, mà còn được thể hiện ở việc bảo đảm quyền còn người, quyền công dân trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Điển hình như, Việt Nam là một trong sáu quốc gia thành viên Liên hợp quốc đã hoàn thành phần lớn các Mục tiêu Phát triển thiên niên kỷ trước thời hạn năm 2015 và được xem là tấm gương điển hình của cộng đồng quốc tế trong thực hiện mục tiêu phát triển bao trùm, không ai bị bỏ lại phía sau của Liên hợp quốc. Theo Báo cáo “Phát triển con người năm 2019” được Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) công bố ngày 9/12/2019, với chỉ số HDI là 0,63, Việt Nam xếp thứ 118 trong tổng số 189 nước… Với những thành tựu trong việc tôn trọng, bảo đảm về quyền của con người, Việt Nam được tín nhiệm là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014 - 2016). Tại khóa họp lần thứ 73, tại trụ sở Liên hợp quốc vào ngày 7/6/2019, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã bầu Việt Nam làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021 với số phiếu gần như tuyệt đối (192/193 phiếu). Gần đây, Việt Nam đã thực hiện tốt vai trò Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc với nhiều dấu ấn, đóng góp sáng tạo, thiết thực, trong đó có vấn đề bảo đảm quyền con người trước những thách thức do đại dịch COVID-19 gây ra, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao và làm cho vị thế và uy tín của Việt Nam ngày càng tăng trên trường quốc tế.

Thành tựu đảm bảo nhân quyền tại Việt Nam trên các lĩnh vực đời sống văn hóa, kinh tế, xã hội, đặc biệt là những thành tựu của Việt Nam trong việc phòng, chống dịch COVID-19 và bảo đảm quyền sống là quyền cao nhất trong đại dịch COVID-19 là những minh chứng rõ nét nhất trong bảo đảm quyền của con người trước những biến cố, đại dịch mà người dân trên toàn thế giới phải trải qua.

Đánh giá về nhân quyền cần phải đảm bảo cách nhìn khách quan, toàn diện, không thể phán theo kiểu “thầy bói xem voi”, không thể lấy một số vụ việc tiêu cực, những hiện tượng sai lệch mà quy chụp thành bản chất. Những thông tin để làm căn cứ đánh giá, báo cáo, xếp loại nhân quyền Việt Nam của một số tổ chức quốc tế thiếu thiện chí đều khai thác từ số đối tượng thù địch, phản động, bất mãn, cơ hội chính trị, số này luôn có những hành động hủy hoại mọi nỗ lực, thành tựu của Việt Nam trong vấn đề nhân quyền. Khi không có bất kỳ các hoạt động khảo sát, trải nghiệm vấn đề nhân quyền của một quốc gia thì mọi đánh giá về nhân quyền của quốc gia đó đều mang tính chủ quan, thiếu tính thực tiễn, sai lệch. Mặt khác, không thể mượn danh nhân quyền để tung hô cho lối sống tự do “vô pháp” để biện minh việc làm sai trái, quay lưng lại Tổ quốc, dân tộc.

Âm mưu thủ đoạn của chiến lược diễn biến hòa bình ở Việt Nam:

 

Quá trình chủ nghĩa đế quốc thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình ở VIỆT NAM như sau:

Từ đầu năm 1950-1975: “bao vây cấm vận kinh tế”, “cô lập về ngoại giao” kết hợp với diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ. Năm 1975-1994: các thế lực thù địch càng ráo riết đẩy mạnh diễn biến hòa bình đối với Việt Nam. Sau năm 1995 đẩy mạnh”dính líu”,”ngầm”,”sâu,hiểm” nhằm chống phá cách mạng Việt Nam.

Mục tiêu của chúng nhằm : Xóa bỏ vai trò lãnh đạo của ĐCS tiến tới xóa bỏ chủ nghĩa xã hội; Đưa nước ta vào quỹ đạo chủ nghĩa tư bản và dần dần lệ thuộc vào chủ nghĩa đế quốc.

Thủ đoạn của chiến lược diễn biến hòa bình ở Việt Nam:

- Thủ đoạn về kinh tế:

+ Chuyển hóa nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam dần dần theo quỹ đạo kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.

+ Khích lệ thành phần kinh tế tư nhân phát triển, từng bước làm mất vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước.

+ Lợi dụng sự giúp đỡ, viện trợ kinh tế, đầu tư vốn, chuyển giao công nghệ cho Việt Nam để đặt ra các điều kiện và gây sức ép về chính trị, từng bước chuyển hóa Việt Nam theo con đường TBCN.

- Thủ đoạn về chính trị:

+ Đòi đa “nguyên chính trị, đa Đảng đối lập”,”tự do hóa”.

+ Tập hợp nuôi dưỡng các tổ chức, phần tử phản động trong và ngoài nước lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để chia rẽ vấn đề quan hệ giữa Đảng với nhân dân và khối đại đoàn kết dân tộc=> mất đi vai trò lãnh đạo của Đảng.

+ Tận dụng những sơ hở trong đường lối, chính sách của Đảng-nhà nước, sẵn sàng can thiệp trắng trợn bằng sức mạnh quân sự.

- Thủ đoạn về tư tưởng văn hóa:

+ Xóa bỏ chủ nghĩa Mác-lenin, tư tưởng HỒ CHÍ MINH.

+ Phá vỡ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng Sản Việt Nam, ra sức truyền bá tư tưởng tư sản vào các tầng lớp nhân dân.

+ Lợi dụng mở rộng hợp tác quốc tế, du nhập những sản phẩm văn hóa đồi trụy, lối sống phương Tây để kích động lối sống tư bản trong thanh niên từng bước làm phai mờ bản sắc văn hóa và giá trị văn hóa của dân tộc Việt Nam.

- Thủ đoạn về dân tộc tôn giáo:

+ Chúng lợi dụng những khó khăn ở những vùng đồng bào dân tộc ít người, những tồn tại do lịch sử để lại, trình độ dân trí của 1 bộ phận đồng bào còn thấp.

+ Lợi dụng chiến tranh tự do tôn giáo của Đảng – Nhà nước ta để truyền đạo trái phép.

- Thủ đoạn về lĩnh vực quốc phòng an ninh:

+ Lợi dụng xu thế mở rộng hợp tác quốc tế, thực hiện xâm nhập, tăng cường hoạt động tình báo, thu thập bí mật quốc gia.

+ Kích động đòi phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng trong lĩnh vực quốc phòng an ninh đối với lực lượng vũ trang .

+ “Phi chính trị hóa” với lực lượng vũ trang và quân đội( trên 5 vấn đề):

        Tự diễn biến trong quân đội.

        Gây chia rẽ quân đội với công an, quân đội với nhân dân.

        Tạo ra sự thờ ơ về chính trị trong cán bộ, chiến sĩ.

        Tiến hành chiến tranh tâm lí trong cán bộ, chiến sĩ quân đội.

        Đưa tài liệu có nội dung xấu, độc vào quân đội.

- Thủ đoạn trên lĩnh vực đối ngoại:

+ Lợi dụng chủ trương Việt Nam hội nhập quốc tế để tuyên truyền và hướng Việt Nam theo quỹ đạo chủ nghĩa tư bản.

+ Hạn chế mối quan hệ hợp tác Việt Nam đối với các nước lớn trên thế giới, tìm cách ngăn cản những dự án đầu tư quốc tế vào Việt Nam.

+ Tăng cường chia rẽ tình đoàn kết hữu nghị giữa Việt Nam với Lào, Campuchia, và các nước XHCN, hạ thấp uy tín của nước ta trên trường quốc tế.

 

 

KHÔNG ĐỂ ''LỢI ÍCH NHÓM'' TRONG XÂY DỰNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT

 

1. Lâu nay, một vấn đề được dư luận xã hội quan tâm là việc lồng ghép, cài cắm “lợi ích nhóm” trong các văn bản quy phạm pháp luật để trục lợi, hay còn gọi là tình trạng “tham nhũng chính sách”.

“Lợi ích nhóm” có thể hiểu là một nhóm người nào đó lấy lợi ích của nhóm mình làm trung tâm, làm mục tiêu duy nhất để hành động, xa rời lợi ích chung của đất nước, của xã hội... Lợi ích nhóm bản chất là hành vi tham nhũng và luôn có mối quan hệ chặt chẽ với tham nhũng. Mối quan hệ này được hình thành bởi mối câu kết giữa những người có quyền lực trong hệ thống chính trị với cá nhân, doanh nghiệp hoặc một nhóm người bên ngoài, nhằm tạo ra các quyết định hoặc tìm cách tác động vào chính sách để đạt được lợi ích riêng.

Kết luận số 21-KL/TƯ ngày 25-10-2021 của Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã yêu cầu siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đề cao trách nhiệm, nhất là người đứng đầu trong công tác xây dựng pháp luật. Qua đó, không để xảy ra tình trạng lồng ghép “lợi ích nhóm”, lợi ích cục bộ của cơ quan quản lý nhà nước trong văn bản pháp luật.

Thực tế cho thấy, việc để “lọt” một số quy định có tính chất “lợi ích nhóm” chủ yếu nằm ở văn bản dưới luật như nghị định, thông tư hoặc các nghị quyết, quyết định của các địa phương. Những dấu hiệu này đã từng xuất hiện trong một số điều khoản quy định về thủ tục xuất nhập khẩu hàng hóa, dự án đổi đất lấy hạ tầng...

Từ hành vi lồng ghép những quy định có tính chất “lợi ích nhóm”, lợi ích cục bộ (một dấu hiệu của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”) trong văn bản pháp luật hoặc chỉ nghiêng về tạo thuận lợi cho cơ quan quản lý, mà thiếu đồng hành với người dân, doanh nghiệp đến vi phạm pháp luật là không xa. Điển hình mới đây, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hà Nội đã khởi tố, bắt giam 8 bị can về tội: “Vi phạm quy định về hoạt động bán đấu giá tài sản”, “lợi dụng chức vụ quyền hạn” xảy ra tại huyện Đông Anh, gây thiệt hại cho Nhà nước khoảng 200 tỷ đồng.

Nguyên nhân của tình trạng này ngoài “lòng tham” của các cá nhân trong bộ máy công quyền, không thể không nhắc đến kỹ năng quản lý, lãnh đạo; năng lực, kiến thức về pháp luật của một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức còn nhiều hạn chế. Theo báo cáo tại Hội nghị của Chính phủ về công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế ngày 16-9-2021, một số bộ, ngành, địa phương chưa nhận thức đúng mức, nên chưa đầu tư đúng tầm cho công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế. Vẫn còn tình trạng lồng ghép, cài cắm lợi ích hoặc “không quản được thì cấm”, “cắt giấy phép mẹ, đẻ giấy phép con” trong các thông tư, nghị định, quyết định…

2. Từ nhiều năm nay, vấn đề xây dựng thể chế để tháo gỡ các rào cản trong sản xuất, kinh doanh, phù hợp với thông lệ quốc tế được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Chính phủ nhiệm kỳ 2021-2026 tháng nào cũng tổ chức một cuộc họp chuyên đề về xây dựng pháp luật cho thấy điều đó.

Để làm tốt công việc này, xem đây là dư địa cho tăng trưởng bền vững, việc đầu tiên cần làm là siết chặt kỷ luật, kỷ cương, đề cao trách nhiệm, nhất là người đứng đầu trong xây dựng pháp luật, giám sát, phản biện quá trình lập pháp và thực thi pháp luật; chống tiêu cực ngay trong công tác xây dựng pháp luật; tuyệt đối không được lồng ghép “lợi ích nhóm”, lợi ích cục bộ của cơ quan quản lý nhà nước trong văn bản pháp luật hoặc không cân bằng giữa cơ quan quản lý nhà nước, người dân và doanh nghiệp.

Cùng với đó là tập trung xử lý, khắc phục ngay tình trạng văn bản pháp luật tính dự báo yếu, thiếu ổn định, “luật khung, luật ống”, chậm ban hành văn bản hướng dẫn thi hành. Không được để xảy ra tình trạng luật mới được ban hành đã phải sửa đổi, bổ sung, xa rời thực tiễn; luật chờ nghị định, nghị định chờ thông tư, gây lo ngại của các nhà đầu tư...

Đặc biệt, việc rà soát, sửa đổi văn bản quy phạm pháp luật có quy định lạc hậu là rất cần thiết song phải thực sự tháo gỡ được những “nút thắt”, rào cản trong các quy định, tạo động lực cho sự phát triển. Tránh tình trạng chỉ chăm chăm sửa đổi, bổ sung những quy định có lợi cho bộ, ngành mình.

Để nói “không” với văn bản có cài cắm lợi ích, rất cần sự liêm chính trong xây dựng pháp luật. Bởi, sự liêm chính sẽ giúp xây dựng được văn bản khách quan, không chồng chéo, không có lợi ích xung đột với nhân dân. Muốn làm được điều này, đòi hỏi mỗi bộ, ngành khi được giao chủ trì soạn thảo phải hướng tới sự phát triển chung. Người đứng đầu trực tiếp phụ trách và chịu trách nhiệm về công tác xây dựng pháp luật. Cơ quan thẩm định, thẩm tra phải kiên quyết bác những văn bản kém chất lượng, có quy định cài cắm lợi ích. Phải gắn trách nhiệm đến cùng những cá nhân, tổ chức khi xây dựng và thực hiện văn bản quy phạm pháp luật; đề cao hơn nữa việc lấy ý kiến người dân, doanh nghiệp, những chủ thể chịu sự tác động trực tiếp của văn bản quy phạm pháp luật.

Ngoài ra, từng cán bộ, đảng viên làm công tác thể chế, kể cả cấp chuyên viên, cấp vụ đều phải nâng cao trách nhiệm, công tâm, khách quan; tham mưu, đề xuất phải xuất phát từ yêu cầu thực tiễn; phải tháo gỡ giải quyết được những khó khăn, vướng mắc về thể chế đang gặp phải, không cài cắm lợi ích công vụ, lợi ích ngành, địa phương.

Ngăn chặn từ trứng nước, không để xảy ra tình trạng lồng ghép, cài cắm lợi ích trong văn bản pháp luật cũng là nhằm bảo vệ cán bộ có năng lực, dám nghĩ dám làm, góp phần vào công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay.

Chống ''tiêu cực phí'' trong triển khai công việc

 

1. Việc chi tiền, tài sản giá trị nhằm “bôi trơn, lót tay” (tiêu cực phí) cho cán bộ có chức, có quyền để thực hiện hoặc không thực hiện một việc gì đó đã không còn là chuyện lạ.

Thường ẩn dưới tên gọi mỹ miều là “hoa hồng”, "lại quả", việc chi “tiêu cực phí” đã trở thành lệ, thành “chế định” bất thành văn, là một trong những tác nhân làm tha hóa cán bộ, gây ra tình trạng “chạy” dự án, “chạy” thầu, thậm chí “chạy” chức quyền, bằng cấp, thành tích, khen thưởng...; là nguồn cơn gây ra mất dân chủ, cạnh tranh bất bình đẳng, làm suy yếu đội ngũ cán bộ, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đó là những hành vi bị pháp luật ngăn cấm và xử lý rất nghiêm nếu bị phát hiện.

Thực tế, dư luận rất phẫn nộ và phản ứng gay gắt về vấn đề cán bộ có chức có quyền nhận “hoa hồng” để cá nhân, doanh nghiệp trúng thầu hoặc được chỉ định thầu các dự án; thậm chí, có người nhận “tiêu cực phí” cực lớn để bảo kê, tiếp tay cho buôn lậu, đánh bạc, chạy án...

Ví dụ, vụ án cán bộ quân đội nhận “bôi trơn” để làm ngơ, tiếp tay cho các đối tượng buôn bán xăng giả tại một số tỉnh phía Nam đã và đang được điều tra cho thấy phần nào thực trạng này. Hay như Phan Quốc Việt (Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Công nghệ Việt Á) bị khởi tố vì “bắt tay” với các đối tác, nâng khống giá kit xét nghiệm Covid-19 thu lời 500 tỷ đồng; chi "hoa hồng" gần 800 tỷ đồng càng cho thấy việc đưa và nhận “tiêu cực phí” như một tảng băng chìm đang tồn tại rất nghiêm trọng, gây ra độc quyền, đặc quyền và làm băng hoại đạo đức của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên.

Chi “tiêu cực phí” là một kiểu “vận động” bất hợp pháp theo phương thức “ông có chân giò, bà thò chai rượu”. Dưới góc độ pháp lý, đó thực chất là hành vi “đưa và nhận hối lộ”. “Hoa hồng”, “tiêu cực phí” càng lớn, càng nhiều thì càng dễ, càng nhanh chóng xô đổ cán bộ, đảng viên có chức, có quyền nếu họ không kiên định, vững vàng bản lĩnh chính trị. Vì lẽ ấy mà không ít doanh nghiệp làm ăn, kinh doanh không đàng hoàng, thiếu trung thực đã đua nhau chi “tiêu cực phí” để có được hợp đồng, dự án...

Chi "tiêu cực phí" càng lớn thì hệ quả càng tai hại: chất lượng dự án, công trình xuống cấp sau khi sử dụng không lâu, thậm chí chưa đưa vào khai thác đã hỏng; ngân sách nhà nước không được sử dụng hiệu quả, đúng mục đích mà thất thoát vào túi cá nhân hoặc một nhóm người. Đặc biệt, “tiêu cực phí” làm hư hỏng, tha hóa cán bộ, hại cho uy tín của Đảng, sút giảm nghiêm trọng niềm tin của nhân dân vào bộ máy công quyền.

 

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” đã đánh giá: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước”.

2. Chỉ tính từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đến nay, đã có hàng chục cán bộ, đảng viên giữ vị trí cao trong bộ máy chính quyền bị khởi tố, bị kỷ luật về Đảng ở các hình thức khác nhau vì tham nhũng, tiêu cực, trong đó có cả hành vi nhận “tiêu cực phí”. Điều này cho thấy biểu hiện được nêu trong Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII): “Tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với doanh nghiệp, với đối tượng khác để trục lợi. Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực” vẫn còn rất nhức nhối.

Để ngăn ngừa và xóa bỏ hiện tượng chi “tiêu cực phí” trong triển khai công việc ở các cơ quan, đơn vị, địa phương, vấn đề quan trọng nhất là phải mở rộng dân chủ, công khai, minh bạch các công việc có tính chất dịch vụ. Cần quán triệt và thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật, nhất là trong thực hiện Luật Đấu thầu, trong mua sắm các vật tư, trang bị.

Ở tầm vĩ mô, để cán bộ không vướng vào những khoản “bôi trơn”, “lót tay”; muốn cho “tiêu cực phí” không còn tồn tại gây thiệt hại tới uy tín cơ quan, đơn vị, địa phương và uy tín của Đảng, Nhà nước thì việc quan trọng là tiến hành rà soát, tổng kết, đánh giá, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật. Qua đó, kịp thời khắc phục những hạn chế, bất cập, bịt kín những khoảng trống, kẽ hở dễ làm nảy sinh tham nhũng, tiêu cực; bảo đảm công khai, minh bạch, để “nhóm lợi ích”, “sân sau”, “tư duy nhiệm kỳ” không có cơ hội tác động tiêu cực.

Bên cạnh đó, các chủ trương, chính sách của Đảng về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực phải được nhanh chóng thể chế hóa thành pháp luật. Nhà nước cũng cần nghiên cứu, có biện pháp nâng cao thu nhập cho cán bộ, công chức, viên chức. Cần kiên trì giáo dục, tạo ra ý thức không muốn tham nhũng, rèn luyện đức tính liêm khiết, xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng, lãng phí trước hết trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Đặc biệt, phải thực hiện việc kiểm tra Đảng thường xuyên, liên tục, chặt chẽ, hiệu quả, xác định đúng các lỗi vi phạm và xử lý quyết liệt để mỗi cán bộ, đảng viên luôn luôn suy nghĩ “không muốn” tham nhũng.

Dân chủ, minh bạch trong thực thi công vụ là biện pháp gốc nhằm ngăn ngừa tham nhũng, tiêu cực trong các cơ quan công quyền và cũng là biện pháp quan trọng để hạn chế tối đa việc nhận “tiêu cực phí”. Bằng việc áp dụng các biện pháp và chế tài thật sự mạnh mẽ, sẽ ngăn ngừa được tệ "bôi trơn", nạn nhận "tiêu cực phí", để mọi công việc được thực thi công khai, rõ ràng trong một bộ máy hành chính trong sạch và hiệu quả.

BẢO VỆ CÁN BỘ DÁM NGHĨ, DÁM LÀM

 

1. Cán bộ “dám nghĩ, dám làm” là những người không ngại khó, ngại khổ; dám thể hiện bản lĩnh, luôn trách nhiệm với công việc; dám “mở đường” ở những lĩnh vực mới, khó và sẵn sàng tìm giải pháp tạo đột phá, vì lợi ích của cơ quan, đơn vị, vì lợi ích của Nhà nước, của nhân dân...

Thực tế thời gian qua, bên cạnh việc xử lý nghiêm những cá nhân sai phạm, Đảng ta đồng thời luôn giữ vững quan điểm bảo vệ cán bộ, đảng viên năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm. Vì thế, trong giai đoạn cách mạng nào cũng có những cán bộ, đảng viên có tầm nhìn vượt lên trước, cho dù “sóng gió” với họ không ít.

Ví như trong sự nghiệp đổi mới, đường dây 500KV Bắc - Nam được Chính phủ quyết chủ trương xây dựng năm 1992 nhưng đã gặp không ít rào cản, bởi nghi ngờ dự án thất bại, gây lãng phí ngân sách. Tuy nhiên, lúc đó, Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt đã dám đứng ra bảo lãnh, dám chịu trách nhiệm với câu nói: “Nếu đóng điện không thành công thì xin từ chức”. Rồi công trình lịch sử ấy đã phát huy hiệu quả và được chứng minh trên thực tiễn.

Nhưng chúng ta cũng thấy, tâm lý đùn đẩy trách nhiệm, an phận thủ thường đang tồn tại ở trong không ít các cơ quan, tổ chức. Không ít nơi vẫn xuất hiện tình trạng công việc đình trệ mà người đứng đầu không dám quyết đáp. Cấp xã đùn đẩy công việc cho cấp huyện, cấp huyện đẩy cho cấp tỉnh, cấp tỉnh “kính chuyển” cấp Trung ương. Điển hình là ở đâu cũng thiếu vốn cho đầu tư xây dựng hạ tầng nhưng tình trạng giải ngân vốn đầu tư công tại nhiều địa phương lại rất chậm. Ngoài lý do khách quan là hệ thống văn bản pháp lý còn bất cập, chồng chéo thì không thể phủ nhận rằng năng lực điều hành của một bộ phận cán bộ chưa tốt. Đã có việc một số bộ, ngành, địa phương trả lại hàng nghìn tỷ đồng vốn đầu tư công cho Chính phủ, cho thấy vẫn còn những cán bộ, đảng viên ngại khó, ngại khổ và không dám nghĩ, dám làm. Không chỉ vậy, trong nhiều trường hợp đã có không ít cán bộ chọn giải pháp an toàn là “xin ý kiến cấp trên” dù vấn đề hoàn toàn thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp mình. Ngay trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 ở Hà Nội hiện nay cũng vẫn còn tình trạng trông chờ cấp trên đối với những việc thuộc thẩm quyền của mình, bao gồm cả việc mua sắm trang thiết bị, vật tư y tế, túi thuốc loại A-B...

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” xác định, đó là những cán bộ, đảng viên “không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao”.

2. Để bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, Bộ Chính trị (khóa XIII) đã ban hành Kết luận số 14-KL/TƯ, ngày 22-9-2021 về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung. Kết luận số 21-KL/TƯ ngày 25-10-2021 của Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cũng yêu cầu thực hiện tốt chủ trương khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, luôn nỗ lực hành động vì lợi ích chung.

Trước hết cần thống nhất quan điểm, với những cái mới, bao giờ cũng gặp lực cản từ lối tư duy bảo thủ trì trệ và sẽ có cả thành công, thất bại ngoài mong muốn. Vì vậy, các cấp ủy Đảng cần khuyến khích những nỗ lực sáng tạo, đổi mới của cán bộ, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm với động cơ trong sáng, thực sự vì dân. Khi cán bộ thực hiện thí điểm mà kết quả không đạt hoặc chỉ đạt một phần mục tiêu hoặc gặp rủi ro, xảy ra thiệt hại thì cấp có thẩm quyền phải kịp thời xác định rõ nguyên nhân, đánh giá công tâm để có cách xử lý phù hợp; nếu thực hiện đúng chủ trương, động cơ trong sáng, vì lợi ích chung thì được xem xét miễn hoặc giảm nhẹ trách nhiệm. Đồng thời với đó là xử lý nghiêm việc lợi dụng chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ để thực hiện hoặc bao che hành vi vụ lợi, tham nhũng, tiêu cực.

Đặc biệt, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã chỉ rõ: Nhân tài không phải là sản phẩm tự phát mà phải được phát hiện và bồi dưỡng công phu. Vì thế, cần tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp có phẩm chất, năng lực, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, có khả năng sáng tạo, quyết liệt, đột phá mạnh mẽ trong suy nghĩ và hành động. Muốn vậy, phải bắt đầu từ khâu phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo, quy hoạch và đề bạt bổ nhiệm theo hướng trọng dụng nhân tài. Duy trì chế độ định kỳ lấy phiếu tín nhiệm các chức danh chủ chốt để phân loại, đánh giá đúng, làm căn cứ thực hiện chiến lược cán bộ cả trước mắt và lâu dài. Kiên quyết đấu tranh, loại bỏ cán bộ “an phận thủ thường”, giữ mình, “tư duy nhiệm kỳ”, không dám nghĩ, không dám làm, sợ trách nhiệm.

Cuối cùng, cần định kỳ sơ kết, tổng kết, đẩy mạnh tuyên truyền, nhân rộng những mô hình, giải pháp thí điểm có hiệu quả; đồng thời biểu dương, khen thưởng xứng đáng và ưu tiên bố trí, sử dụng cán bộ có tư duy đổi mới, cách làm đột phá, sáng tạo, hiệu quả cao.

Năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm đi liền với dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động và dám hy sinh lợi ích cá nhân vì lợi ích chung của nhân dân, của Tổ quốc, của Đảng là những phẩm chất cần và đủ, đồng thời là một chỉnh thể trong nhân cách của người cán bộ, đảng viên ở nước ta hiện nay và giai đoạn sắp tới.

Nguy hiểm từ fanpage mạo danh

 

   Fanpage là một trang được tạo ra từ một tài khoản Facebook, nhằm tập hợp một nhóm cộng đồng có cùng một sở thích cụ thể nào đó. Phần lớn các thông tin (hình ảnh, bài viết, video,…) trên trang fanpage sẽ được mọi người trên face book nhìn thấy do sự phân phối ngẫu nhiên của hệ thống Facebook. Với sự tiện ích của mạng xã hội, nhiều cơ quan, tổ chức đã lập ra fanpage để phục vụ cho công việc, mang lại lợi ích cho xã hội thì cũng không ít các fanpe mạo danh cơ quan, chức năng để thực hiện các mưu đồ xấu xa.

   Theo Trung tâm xử lý tin giả Việt Nam – VAFC (Cục Phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử - Bộ Thông tin và Truyền thông, thời gian gần đây, đơn vị đã phát hiện, gỡ bỏ nhiều trang fanpage giả mạo của các cơ quan chức năng, tổ chức nhà nước. Để tạo dựng lòng tin của mọi người, các trang fanpge mạo danh đã sử dụng một số chiêu trò như dùng logo biểu tượng của các cơ quan chức năng để tạo lập các fanpage trên mạng xã hội hay dùng hình đại diện, tên tuổi của các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước để đặt tên cho fanpage. Từ những hình thức bên ngoài, các fanpage này đã thu hút được nhiều lượt người theo dõi, thích, chia sẻ, bình luận… Ví dụ như fanpage giả mạo trên facebook như: fanpage “Ban Tuyên giáo Trung ương” giả mạo Ban Tuyên giáo Trung ương; fanpage “Cảnh Sát Hình Sự” giả mạo kênh thông tin của Bộ Công an; fanpage “Tin tức thời sự VTV3” giả mạo tài khoản kênh VTV3 của Đài Truyền hình Việt Nam...  Đây đều là những fanpage có đến hàng trăm nghìn lượt người thích và chia sẻ. Do vậy khi các tin giả xuất hiện trên các trang này sẽ gây ảnh hưởng đến hàng trăm nghìn người.

   Khi đưa thông tin lên fanpage, chúng kết hợp thật – giả lẫn lộn. Ngoài các thông tin chính thống từ các tờ báo, các kênh thông tin của nhà nước, chúng kết hợp chèn các tin giả, tin sai sự thật. Khi mọi người vào truy cập, đọc tin tức sẽ hiểu nhầm đó là thông tin từ các cơ quan, tổ chức nhà nước. Chúng thường nhắm vào các nội dung về tình hình chính trị, xã hội, chính sách của Đảng, Nhà nước, các thông tin về dịch bệnh Covid - 19, hoạt động từ thiện…

   Để làm trong sạch hệ thống môi trường mạng, các cơ quan chức năng cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm minh các hành vi mạo danh, đăng tin sai sự thật trên không gian mạng. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức, kỹ năng, trách nhiệm của các cơ quan chức năng, người dân trong việc đấu trang, xử lý các fanpage giả.

   Ngoài ra người dùng mạng xã hội cần phải “thông thái” để nhận biết các thông tin không chính thống, thông tin sai sự thật. Không tiếp tay, chia sẻ các thông tin chưa được kiểm chứng. Kiên quyết loại bỏ các trang không chính thống trên tài khoản cá nhân của mình. Đồng thời, không truy cập vào các trang từ những người lạ gửi, chia sẻ, bởi đó còn nguy cơ tiềm ẩn chứa các mã độc có thể gây hại làm lộ thông tin, mất tài khoản ngân hàng của cá nhân…

   Thực tế cho thấy, việc thiết lập và duy trì những fanpage giả mạo các cơ quan chức năng luôn tiềm ẩn những hệ lụy tiêu cực đối với môi trường mạng xã hội, cũng như nhận thức, hành vi của nhiều người khi truy cập vào các fanpage này. Vì vậy, mỗi người dùng mạng xã hội cần thực sự là “người dùng thông thái” để vừa phát hiện, đấu tranh, loại bỏ những fanpage giả mạo, vừa làm chủ thông tin trên mạng xã hội.

“Cách mạng sắc màu” từ lối sống phương Tây

 

Lợi dụng việc mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực của Việt Nam, các thế lực thù địch đã tập trung truyền bá tư tưởng đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, các học thuyết về dân chủ, nhân quyền tư sản; truyền bá, đề cao, tuyệt đối hóa các quyền tự do theo mẫu hình tư sản, đặc biệt là các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội, quyền tự do tôn giáo...; tuyên truyền trào lưu tự do hóa phương Tây nhằm thẩm thấu vào mọi tầng lớp trong xã hội, đặc biệt là trong giới trẻ.

Bên cạnh việc tuyên truyền “giá trị”, tư tưởng, văn hóa, lối sống phương Tây, các thế lực thù địch còn tăng cường công kích vào hiến pháp, pháp luật và thể chế chính trị; tập trung khoét sâu vào một số vấn đề, lĩnh vực nhạy cảm như tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền. Tuyên truyền phá hoại tư tưởng, kích động tâm lý hoài nghi với chính quyền hiện tại, thổi bùng những bức xúc trong nhân dân. Lợi dụng sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, chúng mua chuộc tác động để chuyển hóa nội bộ hệ thống chính trị Việt Nam nhằm thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, hình thành lực lượng chống đối ngay trong nội bộ ta. Đồng thời, thúc đẩy tư tưởng ly khai như “Nhà nước Đề Ga độc lập”, “Nhà nước Khmer Krôm”... để kích động tư tưởng hận thù, tự trị, nhằm phá vỡ sự thống nhất quốc gia ở Việt Nam. Qua đó, nhằm tạo điều kiện, môi trường để thực hiện “cách mạng sắc màu” ở Việt Nam, để lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Cách mạng sắc màu là gì? Có thể hiểu Cách mạng sắc màu là các cuộc lật đổ chế độ hiện tại bằng phương pháp bất bạo động giữa những kẻ ủ mưu bên trong với các thế lực thù địch bên ngoài. Những kẻ chủ mưu giương ngọn cờ “dân chủ”, lôi kéo người dân tham gia vào các cuộc biểu tình tuần hành khiến đời sống xã hội bị tê liệt, Chính phủ dần mất kiểm soát xã hội. Khi những cuộc biểu tình tác động xấu đến đời sống xã hội và sự điều hành của Chính phủ ở mức độ nào đó, sẽ xuất hiện các thế lực bên ngoài thông qua các tổ chức phi chính phủ, thậm chí Chính phủ của một quốc gia khác lên tiếng ủng hộ. Từ đây, xung đột giữa người dân và chính quyền ngày càng đẩy lên và rồi hậu quả của nó là rất nặng nề.

Ví dụ Cuộc “cách mạng hoa hồng” ở Gruzia năm 2003. Nhân cuộc bầu cử Quốc hội Gruzia tháng 11/2003, lực lượng đối lập Gruzia do Mikhai Saacashvilli cầm đầu được Mỹ và Phương Tây hậu thuẫn đã phát động chiến dịch lật đổ tổng thống Shevardnadze. Để thực hiện kế hoạch, Mỹ công khai gia tăng sức ép về ngoại giao, kinh kế đối với chính quyền Shevardnadze, như tuyên bố cắt khoản viện trợ cho Gruzia, gây sức ép với Ngân hàng thế giới hoãn các chương trình hỗ trợ năng lượng và xã hội cho nước này. Tháng 11/2003, Gruzia tiến hành bầu cử Quốc hội và kết quả kiểm phiếu ban đầu cho thấy Liên minh cầm quyền của tổng thống Shevardnadze đã giành chiến thắng. Tuy nhiên, Đảng đối lập ở Gruzia và chính phủ các nước phương Tây tuyên truyền kết quả bầu cử có giân lận, đòi ông Shevardnadze phải từ chức và tổ chức cuộc bỏ phiếu mới. Ngày 22/11/2003, khi Quốc hội khóa mới họp phiên đầu tiên, phe đối lập đã tổ chức các cuộc biểu tình rầm rộ, bao vây phủ tống thống và các cơ quan công quyền, gây áp lực buộc Tổng thống Shevardnadze phải ban bố tình trạng khẩn cấp. trước sức ép của phe đối lập và nguy cơ có thể xảy ra một cuộc nội chiến đẫm máu, sau đó tổng thồng Shevardnadze phải đọc đơn từ chức.

Thực tế cho thấy, cách mạng sắc màu có thể xảy ra ở bất cứ nước nào. Nguyên nhân xảy ra bắt nguồn từ sự sụp đổ của chính quyền các quốc gia. Đó là tình hình chính trị - xã hội trong nước khủng hoảng; lãnh đạo đất nước, chính quyền thiếu sự nhất trí; luật pháp bị buông lỏng; tình trạng tham nhũng khó kiểm soát… bên cạnh nguyên nhân nội tại, còn nguyên nhân phối hợp chặt chẽ giữa các thế lực bên ngoài với các phe đối lập ở những nước diễn ra kiểu “cách mạng” này.

Đối với đất nước Việt Nam, cuộc cách mạng sắc màu đã có manh nha xuất hiện trong nước. Đó là những cuộc tụ tập đông người dưới nhiều lý do, hình thức, trong đó có cả tụ tập biểu tình, đập phá, gây bất ổn.

Năm 2017, lợi dụng việc khiếu nại đòi bồi thường thiệt hại sự cố môi trường biển, khoảng 2.000 người kéo vào sân UBND huyện Lộc Hà, nhiều đối tượng quá khích đã kéo vào phòng làm việc trong trụ sở treo băng rôn biểu ngữ, cắm cờ hội, ngăn cản hoạt động của toàn bộ cơ quan UBND huyện. Một số đối tượng cầm đầu vụ việc hô hào vu khống "Công an ném đá vào dân" rồi tạo cớ đánh và giữ một Cán bộ Công an Hà Tĩnh đang làm nhiệm vụ tại hiện trường và bao vây không cho đưa đi cấp cứu.

Năm 2018, những thế lực thù địch lợi dụng cớ phản đối luật đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt để lôi kéo, kích động người dân tụ tập trái phép, đập phá trụ sở cơ quan công quyền. Chúng còn trả mỗi người vài trăm nghìn đồng để tham gia hưởng ứng, nếu đả thương công an, số tiền còn lớn hơn nữa.

Năm 2019, tổ chức khủng bố có tên Chính phủ Quốc gia Việt Nam lâm thời lôi kéo những người nhẹ dạ cả tin bằng cách tổ chức trưng cầu dân ý và cấp phát nhà miễn phí. Chúng hứa hẹn sẽ hỗ trợ tài chính, cấp đất, cấp nhà cho người nghèo. Đổi lại những người ai đăng ký nhận hỗ trợ sẽ phải tham gia chiến dịch trưng cầu dân ý, thể hiện quan điểm chống đối chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Ảo tưởng về miếng bánh vẽ không có thật, hàng trăm nạn nhân đã dính bẫy và cứ chờ đợi trong hy vọng.

Để giải quyết những manh nha cuộc “các mạng sắc màu” như trên, không có liều thuốc nào hữu hiệu bằng việc tự đề kháng và ngăn ngừa các nguy cơ từ sớm, từ xa. Trong đó, chúng ta phải loại bỏ tiêu cực, tham nhũng trong bộ máy công quyền, xử lý các cá nhân thoái hóa biến chất, tự diễn biến, tự chuyển hóa… Làm tốt những việc này, không những đất nước càng trở nên phát triển giàu mạnh mà niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, điều hành của Chính phủ ngày càng được nâng cao. Khi nhân dân có niềm tin thì những yếu tố gây nên cuộc cách mạng sắc màu ở Việt Nam sẽ tự triệt tiêu.

Luận điệu suy diễn quy định mới về những điều Đảng viên không được làm

 

Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động xuyên tạc những nội dung trong Quy định số 37, từ đó suy diễn, tự cho mình vai trò “người phát xét” để quy kết, chỉ trích chế độ, chỉ trích vị trí, vai trò của Đảng.

Trên nhiều trang mạng của cá nhân, tổ chức thù địch, phản động, hội đoàn chống cộng hải ngoại xuyên tạc rằng, việc Đảng ban hành quy định mới chứng tỏ sự mục nát, là “vá những lỗ thủng quá nhiều của chế độ”. Các đối tượng vu cáo gốc rễ của tham nhũng là “do lỗi của thể chế chính trị”, lỗi hệ thống tạo ra chứ không phải do biện pháp thực hiện, từ đó quy kết việc Đảng đưa ra hết biện pháp này đến biện pháp khác để chống tham nhũng mà không thay đổi chế độ thì không bao giờ chống tham nhũng được. Đưa ra luận điệu “Đảng đứng trên pháp luật”, các đối tượng suy diễn “Đảng loay hoay, mò mẫm soạn ra các văn bản giấy tờ quy định cấm cho thêm rắc rối, chồng lấn pháp luật, vì những điều ấy pháp luật cũng cấm rồi, đảng viên cũng là công dân, thêm điều cấm là Đảng đứng trên, đứng ngoài pháp luật”!

Điển hình như đối tượng Nguyễn Vũ Bình (từng có thời gian công tác tại một tạp chí ở Việt Nam) suy diễn trên RFA rằng: “Chắc chắn là không thể kiểm soát được, những quy định cấm đảng viên người ta đưa ra chỉ là những chiêu bài chứ nó không có hiệu quả trong thực tế”. Hay đối tượng Nguyễn Huy Vũ cũng “tát nước theo mưa”, xuyên tạc: “Mục đích duy nhất hiện nay chỉ vì lợi ích vật chất và địa vị, đã qua rồi cái thời mà người ta tham gia vào Đảng Cộng sản chỉ vì những lý tưởng thơ ngây”. Xuyên tạc những nội dung mới, số này tập trung khoét sâu vào một số quy định như cấm đảng viên nhập quốc tịch nước ngoài, cấm chuyển tài sản hay cấm thực hiện các giao dịch tài sản ở nước ngoài nhằm quy kết, rêu rao là vi phạm Hiến pháp…

Thực chất, đây là những luận điệu hòng hạ thấp mục tiêu, vai trò, ý nghĩa của Quy định mới về những điều đảng viên không được làm, tạo ra diễn biến tư tưởng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, làm giảm niềm tin đối với công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phủ nhận thành tựu to lớn trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Và cuối cùng là làm suy giảm niềm tin, hạ thấp, thúc đẩy, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.

Trước hết cần khẳng định, quy định về kỷ luật Đảng là công tác hệ trọng để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.Đây là công việc thường xuyên, liên tục và mang tính kế thừa. Việc bổ sung một số quy định mới để đảm bảo đáp ứng yêu cầu thực tiễn, đảm bảo tính khách quan, khoa học. Từ đó, tổ chức Đảng, đảng viên có cơ sở, căn cứ để rèn luyện, tu dưỡng, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ. Do đó, không thể lợi dụng vào một số quy định mới để xuyên tạc, suy diễn.

Quy định đảng viên không được “Phản bác, phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; không thực hiện trách nhiệm nêu gương; chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, vụ lợi; "tư duy nhiệm kỳ", đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, xa rời quần chúng” (Điều 3). Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Mỗi người khi vào Đảng đều phải rèn luyện, phấn đầu vì mục đích lý tưởng cách mạng của Đảng, kiên định, trung thành nền tảng tư tưởng, chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng… Việc bổ sung, phát triển quy định như trên là yêu cầu, đòi hỏi khách quan trong công tác xây dựng Đảng về chính trị.

Hay quy định đảng viên không được “nhập quốc tịch, chuyển tiền, tài sản ra nước ngoài, mở tài khoản và mua bán tài sản ở nước ngoài trái quy định”. Điều lệ Đảng ghi rõ: “Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân” (Điều 1). Nếu thừa nhận một công dân có 2 quốc tịch là lẽ thường tình, song đối với đảng viên, lý tưởng suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, giai cấp, nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân sẽ phải giải thích thế nào khi một đảng viên nhập quốc tịch nước ngoài, chuyển tiền ra nước ngoài. Vậy trung thành với nhân dân, Tổ quốc thế nào nếu đảng viên có thêm quốc tịch khác?Đảng viên vào Đảng trên tinh thần tự nguyện, phấn đấu, hy sinh vì lý tưởng cộng sản, hạnh phúc của nhân dân. Việc bổ sung nội dung này nhằm đáp ứng những yêu cầu mới của công cuộc xây dựng chỉnh đốn Đảng, phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong bối cảnh hiện nay.

Không phải bây giờ mà ngay từ khi Đảng mới ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu từng tổ chức Đảng phải duy trì chặt chẽ kỷ luật, giữ nghiêm kỷ cương, nền nếp tổ chức, làm cho Đảng ta ngày càng xứng đáng với vai trò, vị trí và sứ mệnh lãnh đạo sự nghiệp cách mạng. Hơn 90 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, Đảng ta luôn tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đảm bảo chấp hành kỷ cương, kỷ luật. Thực hiện tốt kỷ luật Đảng để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đầu, hoàn thành trọng trách của mình.

Trong những năm qua, đứng trước đòi hỏi của thực tiễn, Đảng ta đã tập trung lãnh đạo thực hiện xây dựng, chỉnh đốn Đảng, quyết tâm siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức; xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật, suy thoái, biến chất, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tham nhũng, tiêu cực. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được thực hiện quyết liệt, kiên trì, bài bản, nghiêm minh và cũng rất nhân văn. Nhiều vụ việc tham nhũng, tiêu cực được đưa ra ánh sáng. Qua đó, kỷ luật Đảng được thực hiện nghiêm minh; đồng thời cảnh tỉnh, giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên không ngừng tiến bộ, trưởng thành, như khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Giữ nghiêm kỷ cương phép nước để cảnh tỉnh, cảnh báo, giáo dục, răn đe người khác tránh xa vết xe đổ của đồng chí mình”. Việc bổ sung, ban hành Quy định mới về những điều đảng viên không được làm thể hiện quyết tâm cao, đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Mặt khác, việc tăng cường kỷ luật trong Đảng còn góp phần cảnh tỉnh, khắc phục, sửa chữa dứt điểm nhiều hạn chế, khuyết điểm trong mỗi tổ chức và từng đảng viên.Từ đó từng bước ngăn chặn và đẩy lùi tiêu cực, lập lại trật tự, kỷ cương trong Đảng và hệ thống chính trị.Nhiều tổ chức Đảng kịp thời nhận diện, khắc phục được một số hạn chế, khuyết điểm. Đội ngũ cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đã quan tâm, coi trọng việc rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực công tác; chú trọng nâng cao tinh thần trách nhiệm, sửa đổi lề lối, phong cách, tác phong làm việc; nghiêm khắc tu dưỡng, rèn luyện bản thân.

Việc Đảng ta sửa đổi, bổ sung Quy định về những điều đảng viên không được làm không chỉ thể hiện sự quyết tâm của Đảng mà còn tạo niềm tin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Đại đoàn kết toàn dân tộc - chiến lược quan trọng

      

Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc vì lợi ích của Nhân dân, lợi ích của quốc gia - dân tộc Việt Nam. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đoàn kết của ta không những rộng rãi mà còn lâu dài. Đoàn kết là một chính sách dân tộc... để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc, ta cần đoàn kết để xây dựng nước nước nhà. Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ”.

Trước sau như một, Đảng Cộng sản Việt Nam nhất quán xác định đoàn kết là giá trị cốt lõi trong kho tàng truyền thống quý báu của dân tộc và đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, là cội nguộn sức mạnh, là động lực chủ yếu mang đến thành công cho cách mạng Việt Nam. Đây cũng là giá trị cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh, là nền tảng tư tưởng, là kim chỉ nam cho chiến lược đại đoàn kết của Đảng Cộng sản Việt Nam đi tới thắng lợi.

Vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định đại đoàn kết toàn dân tộc “là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đại hội lần thứ XIII của Đảng xác định: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”.

Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giương cao ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân. Đó là đường lối chiến lược tạo ra sức mạnh để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Đảng luôn chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân gắn với việc phát huy dân chủ trong đời sống xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng; thực hiện dân chủ trên lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ở tất cả các cấp các ngành. Mọi hoạt động của hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải phục vụ lợi ích của nhân dân. Trong đó, tăng cường vai trò nòng cốt chính trị, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tập hợp, vận động nhân dân đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước. Thực hiện tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội, đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên, tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, tăng cường đối ngoại nhân dân. Xây dựng thế trận lòng dân, phát huy sức mạnh đoàn kết, đồng thuận của nhân dân trong và ngoài nước để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khẳng định vấn đề có tính nguyên tắc: lấy dân làm gốc, phát huy quyền làm chủ của dân, nguồn lực nhân dân, thực hiện đoàn kết toàn dân; lấy liên minh công - nông - trí thức làm nền tảng và do Đảng Cộng sản lãnh đạo; bảo đảm lợi ích cao nhất của quốc gia - dân tộc, quyền lợi cơ bản của nhân dân lao động; tổ chức đại đoàn kết dân tộc là mặt trận dân tộc thống nhất; lấy tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục làm phương thức hoạt động chủ yếu./.

“DÂN CHỦ” CỦA NGƯỜI BUÔN SÚNG

 

Đây là hình ảnh người biểu tình bên ngoài đại sứ quán Mỹ đòi Mỹ ngừng can thiệp vào Ukraine và ngừng thúc đẩy chiến tranh với Nga được chụp bởi nhiếp ảnh gia Dmitri Kovalevich. Những người biểu tình đã trưng biểu ngữ: "Hoa Kỳ là một quốc gia của chiến tranh, không phải dân chủ" và "Đây là kẻ thù của người dân Ukraine. Hãy trở về Washington và đừng bao giờ quay trở lại!"

Những người này cho rằng Hoa Kỳ luôn có vẻ như muốn cuộc chiến tranh xảy ra và nhiều người Ukraine bị cuốn vào vòng xoáy như vậy. Họ cho rằng Ukraine hoàn toàn có thể trở thành quốc gia trung lập, chính Mỹ đã khống chế chính quyền Kiev và bắt người dân Ukraine trở thành phe chống Nga.

Chẳng ai muốn số phận của quốc gia, dân tộc và cuộc sống của mình bị nước ngoài quyết định cả. Đây là bài học rất lớn cho các quốc gia có vị trí địa chính trị như Việt Nam ta.HV