Thứ Tư, 16 tháng 2, 2022

Bộ mặt mới của chiến lược “diễn biến hòa bình” trong cục diện thế giới hiện nay


Trong những thập niên đầu thế kỷ XXI, thế giới có nhiều thay đổi sâu sắc. Cùng với sự dịch chuyển trọng tâm quyền lực, các nước lớn cạnh tranh gay gắt, thực hiện can thiệp linh hoạt hơn, kiềm chế, ngăn chặn lẫn nhau để xác lập vị thế. Trong bối cảnh đó, để thực hiện mưu đồ của mình, các thế lực thù địch tiếp tục điều chỉnh chiến lược “diễn biến hòa bình” trên nhiều phương diện ngày càng tinh vi hơn. Nhận diện đúng và vạch trần bộ mặt mới của chiến lược này có ý nghĩa định hướng chiến lược trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam hiện nay.

Cục diện quan hệ quốc tế mới - nguyên nhân của sự điều chỉnh chiến lược “diễn biến hòa bình”

“Diễn biến hòa bình” là chiến lược cơ bản của các thế lực thù địch nhằm lật đổ chế độ chính trị - xã hội của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong, chủ yếu bằng các biện pháp phi quân sự(1). Nhìn lại quá trình hình thành, phát triển của chiến lược “diễn biến hòa bình”, có thể thấy không những là một bộ phận quan trọng trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng của các thế lực thù địch, mà còn chịu sự chi phối, tác động trực tiếp của cục diện quan hệ quốc tế qua các thời kỳ. Ngay từ những năm cuối thập niên 40 của thế kỷ XX, khi trật tự thế giới hai cực đối đầu dần hình thành, những tư tưởng về “diễn biến hòa bình” đã ra đời để hỗ trợ cho các đòn tiến công quân sự là chủ yếu, nằm trong chiến lược toàn cầu “ngăn chặn” sự phát triển của chủ nghĩa xã hội. Theo thời gian, những tư tưởng về “diễn biến hòa bình” tiếp tục được điều chỉnh và đến cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, khi các nước xã hội chủ nghĩa gặp nhiều khó khăn, nội bộ phát sinh những vấn đề phức tạp, các thế lực thù địch nhận thấy “thời cơ lịch sử” đã đến và thời điểm này, “diễn biến hòa bình” được đẩy mạnh thực hiện, phát triển, chính thức trở thành một chiến lược - bộ phận quan trọng, chủ yếu trong chiến lược toàn cầu “vượt trên ngăn chặn”.

Đến đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, sau khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, Chiến tranh lạnh kết thúc, trật tự thế giới hai cực đối đầu bị phá vỡ, lợi thế tạm thời nghiêng về phía các lực lượng đối lập với chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, nhân loại đang dần bước vào thời kỳ hội nhập trong xu thế toàn cầu hóa dưới sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ. Đây là lúc các thế lực thù địch rút kinh nghiệm, quá trình tiến hành và chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có những bước điều chỉnh cơ bản về phương thức, thủ đoạn cho phù hợp với những thay đổi mới của tình hình, khoét sâu thoái trào của chủ nghĩa xã hội hiện thực, chủ yếu thông qua “thẩm thấu hòa bình”, “ngoại giao thân thiện”, hợp tác kinh tế, trao đổi thương mại... để “hoàn thành nốt mục tiêu” là xóa bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, xác lập lại trật tự thế giới mới do các nước tư bản lãnh đạo, chi phối.

Hiện nay, thế giới đang chứng kiến nhiều sự thay đổi sâu sắc. “Do tác động của đại dịch COVID-19, thế giới rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng nhiều mặt. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, mang đến cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia. Các nước điều chỉnh chiến lược và phương thức phát triển nhằm thích ứng với tình hình mới”(2). Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục diễn biến phức tạp, dưới nhiều hình thức mới, phức tạp và quyết liệt hơn, làm gia tăng rủi ro đối với môi trường kinh tế, chính trị, an ninh quốc tế. Hợp tác, cạnh tranh, sự va chạm, cọ xát, đấu tranh và sự tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước, các trung tâm quyền lực ngày càng gia tăng. Trong cách thức tiến hành, các nước lớn coi trọng sử dụng “quyền lực thông minh”, kết hợp giữa “quyền lực cứng” (chỉ huy, cưỡng bức, định đoạt dựa trên sức mạnh kinh tế, quân sự) với “quyền lực mềm” (khả năng thuyết phục, thu hút, tạo ảnh hưởng dựa trên sự hấp dẫn của giá trị) một cách uyển chuyển, khôn khéo. Trong bối cảnh quốc tế và các khu vực diễn biến phức tạp, khôn lường đó, để thực hiện mưu đồ của mình, các thế lực thù địch tiếp tục điều chỉnh chiến lược “diễn biến hòa bình” dưới một bộ mặt mới, ngày càng bộc lộ rõ sự tinh vi, xảo quyệt và vô cùng thâm độc.

Bộ mặt mới của chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay

Thứ nhất, chủ thể và lực lượng tiến hành “diễn biến hòa bình” trong bối cảnh mới rất đa dạng, phức tạp, đan xen, không đồng nhất. Nếu như trước kia, chủ thể tiến hành “diễn biến hòa bình” là chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch thì nay, bên cạnh lực lượng này còn có cả các nước theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi với tư tưởng bành trướng, bá quyền. Để xác lập vị thế vượt trội hoặc tranh giành lợi ích, ảnh hưởng trong trật tự thế giới mới, một số nước lớn thâu tóm hoạt động của các tổ chức, diễn đàn quốc tế, khu vực để lôi kéo, khống chế các nước khác vào vòng kiềm tỏa của mình. Trong một số trường hợp cụ thể, có những nước bất chấp luật pháp quốc tế, trắng trợn xâm phạm chủ quyền, can thiệp sâu vào nội bộ các nước khác bằng các biện pháp tổng hợp nhằm thay đổi bộ máy chính quyền hoặc lật đổ chế độ chính trị nước khác theo hướng có lợi cho mình. Với chủ thể được mở rộng, lực lượng tiến hành sẽ là “đại quân công chúng” ngay trong nội bộ đối phương. Trước kia, khi thực hiện “diễn biến hòa bình”, những kẻ chủ mưu, thù địch, hiếu chiến bên ngoài trực tiếp tiến hành chống phá. Nay, họ chuyển sang hành động “sau bức màn che”, “bí mật giật dây”, tập trung “nhồi nhét” tư tưởng chống đối, đào tạo, huấn luyện những kẻ “theo đóm ăn tàn”, nội gián, tay sai một cách khá bài bản, trở thành những “kỹ sư lành nghề” lật đổ chế độ chính trị ngay trong nội bộ đối phương. Từ đó, họ ngụy biện rằng, nguyên nhân sụp đổ chế độ chính trị do sự tự thân vận động bên trong chứ không phải do sự chống phá từ bên ngoài (?!). Họ móc nối với những đối tượng cơ hội chính trị, thoái hóa, biến chất nhen nhóm thành các tổ chức chính trị đối lập hoạt động công khai, được “ngụy trang” dưới danh nghĩa các hội, đoàn, tổ chức xã hội dân sự... và rêu rao đó là “đại diện của người dân”; tập hợp các phần tử phản động, lưu manh, bất mãn đội lốt các chức sắc, chức việc, già làng, trưởng nhóm, trưởng hội... chỉ chờ cơ hội là “ngóc đầu”, “lột xác”; mua chuộc, lừa gạt, ép buộc quần chúng nhẹ dạ tham gia làm bình phong, lá chắn. Lực lượng này khi bị lôi kéo, kích động hợp thành “đại quân công chúng” tại chỗ, luôn chịu sự chỉ đạo của các “chuyên gia chống cộng” bên ngoài và đương nhiên đó hoàn toàn không phải là quần chúng theo đúng nghĩa là lực lượng cách mạng. Đây là vấn đề hết sức nguy hiểm, nhất là trong trường hợp số đông quần chúng nhân dân bị mê hoặc, tin theo lời hứa hão huyền bằng các khẩu hiệu lòe bịp, bị “sập bẫy” giương sẵn của các trung tâm quyền lực, các tổ chức phản động quốc tế luôn rắp tâm “đục nước béo cò”, tạo cớ can thiệp, chống phá.

Thứ hai, đối tượng chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” được mở rộng và phương thức tiến hành đã có sự chuyển đổi. “Diễn biến hòa bình” trong tình hình mới không những nhằm vào các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa, mà còn chuyển sang chống phá các nước có chế độ chính trị mà chủ thể tiến hành cho là không phù hợp với lợi ích, giá trị, “khuôn mẫu” của họ. Đó là những nước độc lập, có chủ quyền nhưng “cứng đầu”, “không cùng quỹ đạo”, không tuân theo sự chỉ huy, chỉ đạo của họ, không có lợi cho họ trong giải quyết các vấn đề quốc tế. Đặc biệt, trọng tâm chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay là các nước có vị trí địa chính trị - kinh tế - quân sự chiến lược quan trọng, phức tạp, nhạy cảm hoặc ở những khu vực hội tụ sự cạnh tranh chiến lược, tranh chấp gay gắt về lợi ích, chủ quyền trên thế giới. Tính đa dạng, phức tạp, đan xen không đồng nhất giữa chủ thể và đối tượng được thể hiện trong mối quan hệ này, phạm vi này là chủ thể tiến hành, nhưng có thể trong mối quan hệ khác, phạm vi khác, chủ thể đó lại là đối tượng chống phá.

Phương thức chống phá của chiến lược “diễn biến hòa bình” đã chuyển trọng tâm từ bên ngoài tác động vào bên trong sang tiến hành các hoạt động chống đối tại chỗ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ngay trong nội bộ đối phương. Nếu như những năm qua, “diễn biến hòa bình” coi trọng “dính líu để khuếch trương”, “can dự để mở rộng”, trực tiếp tiếp xúc để thẩm thấu các hành động chống phá từ bên ngoài vào bên trong nước khác thông qua thủ đoạn đặc trưng như “xóa bỏ cấm vận”, xúc tiến “bình thường hóa quan hệ”... thì nay đã chuyển sang tìm mọi cách khai thác và khoét sâu mâu thuẫn nội tại; triệt để lợi dụng những sơ hở, yếu kém trong công tác lãnh đạo, quản lý, điều hành xã hội của các nước để chống phá. Như đã thành quy luật, mỗi khi ở các nước là đối tượng chống phá diễn ra các sự kiện chính trị trọng đại, xuất hiện các “điểm nóng”, các vấn đề xã hội phức tạp, nhạy cảm... thì đó là “cơ hội vàng” để các thế lực thù địch đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình”. Họ sử dụng chính lực lượng, phương tiện của đối phương; kết hợp công khai với bí mật; thực hiện đánh ngầm, mềm, sâu, hiểm, tiến công toàn diện, có trọng điểm; thường núp dưới danh nghĩa “hiến kế”, “chống tham nhũng”, “góp ý kiến xây dựng”... để lũng đoạn đối phương. Trong đó, lĩnh vực chính trị, tư tưởng được họ xác định là khâu trọng tâm, đột phá; kinh tế là mũi nhọn; dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền là “ngòi nổ”; ngoại giao để hỗ trợ; quân sự để răn đe, hậu thuẫn. Trong quá trình thực hiện, khi có điều kiện, thời cơ và cần thiết sẽ kết hợp với bạo loạn lật đổ, gây xung đột, nội chiến, can thiệp vũ trang, chiến tranh ủy nhiệm... để nhanh chóng đạt được mục tiêu chiến lược. Cách thức tiến hành rất công phu, bài bản để che đậy tính chất chính trị phản động, “ru ngủ” tinh thần cảnh giác cách mạng, làm cho đối phương mơ hồ, mất cảnh giác; mưu toan từng bước tạo sự suy thoái về tư tưởng chính trị, mục ruỗng về bộ máy, xuất hiện các mầm mống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở từng cá nhân, trong nội bộ các tổ chức và toàn xã hội và cuối cùng là sự sụp đổ chế độ chính trị giống như sự vận động “tự thân”, “tất yếu”, “hợp quy luật”.

Thứ ba, mục tiêu và động cơ chính trị của chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có sự dịch chuyển và mở rộng hơn. Mặc dù mục tiêu cao nhất, suy đến cùng của chiến lược “diễn biến hòa bình” là lật đổ chế độ chính trị xã hội của các nước “không cùng quỹ đạo”, nhưng hiện nay, do sự tác động của các mối quan hệ quốc tế phức tạp, đa tầng nấc, nhiều cấp độ giữa các nước, các tổ chức, sự chế ước của các quy tắc, chế định quốc tế, khu vực; khi chưa lật đổ được chế độ chính trị thì “diễn biến hòa bình” sẽ nhằm đến mục tiêu thấp hơn là thay đổi đường lối, chính sách; cài cắm lực lượng thân cận vào bộ máy cầm quyền; làm phức tạp hóa thành phần lãnh đạo; thay đổi tính chất quốc gia, dân tộc khác theo hướng phục vụ lợi ích của chủ thể tiến hành. Trong đó, thay đổi bộ máy cầm quyền nước khác là mục tiêu trọng yếu hiện nay và để làm được điều này, chiến lược “diễn biến hòa bình” đã có những điều chỉnh mới gắn với “công nghệ lật đổ” cực kỳ tinh vi, phản động.

Từ sự ra đời của học thuyết chính trị “phản kháng phi bạo lực” (phản kháng hòa bình)(3), ngay lập tức, các “nhà dân chủ”, “nhà tiến bộ xã hội” phương Tây coi đó là “bảo bối thần kỳ”, “công cụ hữu hiệu” để lật đổ chính quyền ở nhiều quốc gia trong không gian hậu Xô-viết thông qua cái gọi là “cách mạng sắc màu” vào những năm 2004 - 2006; sau đó thay đổi chính thể của hàng loạt quốc gia ở khu vực Trung Đông, Bắc Phi vào năm 2011 với cái tên mĩ miều “Mùa xuân Ả rập”. Đó không có gì khác là bạo loạn phi vũ trang bắt nguồn từ “diễn biến hòa bình”, là “kỹ năng lật đổ” thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh - một “dị bản” của việc kết hợp “diễn biến hòa bình” với bạo loạn lật đổ. Và hiện nay, “dị bản” ấy tiếp tục được “hoàn thiện”, phát triển thành một kịch bản dựng sẵn với “công thức” lật đổ qua các bước: Một là, hình thành các hoạt động “phản kháng mềm” trong nội bộ đối phương do sự cộng hưởng theo các phương tiện truyền thông; kích động tâm lý đám đông, tổ chức người dân tụ tập, tuần hành, biểu tình, “bất tuân dân sự”, đi ngược lại chính sách hiện hành, chống đối chính phủ, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tạo ra các “điểm nóng”, bất ổn. Hai là, nội công ngoại kích, bên trong thì biểu tình, bạo động; bên ngoài thì tập hợp đồng minh, các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ... đồng loạt gây sức ép trên tất cả các lĩnh vực buộc chính quyền đương thời phải từ chức, giải tán. Ba là, tạo cớ để can thiệp, tiến hành bạo loạn trực tiếp lật đổ chính quyền nhưng núp dưới danh nghĩa “bảo vệ người dân”, “đấu tranh vì tự do, dân chủ”, “vì công lý”... Bốn là, cài cắm lực lượng đối lập, nhanh chóng tổ chức một cuộc trưng cầu ý dân, bầu cử; công khai ủng hộ, công nhận chính quyền mới của lực lượng đối lập chịu sự kiểm soát của họ. Điểm mấu chốt trong kịch bản này là họ cố tình “bới móc”, lôi ra điểm yếu trong bộ máy cầm quyền của đối phương; thậm chí không ngần ngại thêm thắt, bịa đặt các khuyết điểm; sẵn sàng gán tất cả những sai trái, tiêu cực trong xã hội; châm ngòi cho làn sóng chống đối trong nước và làm cho bộ máy ấy dường như đã biến chất, “lỗi thời, không phù hợp”, do đó sẽ bị thay thế và đó là “lẽ thường tình” theo đúng quy luật(?!). Cho nên, một bộ máy cầm quyền thân cận do họ dựng lên nhưng lại được “hợp pháp hóa” thông qua một cuộc bầu cử theo luật định vô cùng tinh vi và họ luôn tự hào coi đây là sản phẩm sáng tạo của “công nghệ lật đổ” thông qua biểu tình, đảo chính bằng mô hình “bạo lực đường phố”. Theo đó, có tới “198 hành động phản kháng phi bạo lực”(4), nhưng trong đó bao hàm cả các hành động vô nhân đạo, bị pháp luật nhiều nước nghiêm cấm như làm tiền giả, in sao tài liệu giả, cướp bóc, ám sát, khủng bố... chứ không hoàn toàn phi bạo lực và không loại trừ sau đó sẽ lan rộng, bùng phát thành một kiểu dạng “chiến tranh lai ghép”(5) mới.

Từ sự mở rộng về mục tiêu làm cho động cơ chính trị của chiến lược “diễn biến hòa bình” trong sự dịch chuyển và cạnh tranh quyền lực cũng có sự mở rộng và thay đổi theo. Nếu như “diễn biến hòa bình” trước đây chủ yếu là đấu tranh ý thức hệ chính trị giai cấp; đấu tranh giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa; thì hiện nay nó đã được mở rộng và chuyển sang cả “đấu tranh” vì lợi ích dân tộc cục bộ, hẹp hòi; cạnh tranh chiến lược để xác lập vị thế ảnh hưởng.

Thứ tư, đối với biện pháp tiến hành “diễn biến hòa bình” hiện nay, các thế lực thù địch sử dụng “công cụ mềm”, “quyền lực thông minh” thay cho chính sách “cây gậy và củ cà rốt” kém hiệu quả trước đây. Đây là những biện pháp mới, rất linh hoạt, mang tính tổng hợp trên các phương diện và nảy sinh trong xu thế các nước thay đổi cách thức sử dụng quyền lực và sự trỗi dậy của trào lưu dân túy, xu hướng bảo hộ thương mại trong quan hệ quốc tế. Thực hiện tiến công toàn diện, có trọng điểm song “diễn biến hòa bình” ngày càng coi trọng các “công cụ mềm” và “quyền lực thông minh” nhằm vào các lĩnh vực chính trị tư tưởng, kinh tế, văn hóa - xã hội, ngoại giao, nhất là vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo để từng bước chuyển hóa đối phương, giành “chiến thắng mà không cần chiến tranh”. Trọng tâm ở bên trong các nước thì họ tìm mọi cách khoét sâu mâu thuẫn, phân hóa nội bộ, tạo ra những “khoảng trống” quyền lực, đẩy đối phương vào vòng bất ổn. Bên ngoài, vẫn hỗ trợ bằng việc tạo áp lực, tăng cường lôi kéo, khống chế, từng bước gây ảnh hưởng có lợi cho họ. Cách thức tiến hành rất tinh vi, khó nhận diện; có lúc dụ dỗ, mua chuộc bằng vật chất; lúc thì núp dưới danh nghĩa hoạt động từ thiện, nhân đạo; có khi kêu gọi mở rộng tự do, dân chủ, nhân quyền, thúc đẩy quan hệ đối tác; đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; nhiều khi lại ngấm ngầm thao túng, khống chế về tài chính, từng bước ép buộc đối phương lệ thuộc về chính trị. Chiến lược chống phá từ từ, dần dần theo cách “mưa dầm thấm lâu”. Phương châm hành động mềm dẻo, linh hoạt, “đối thoại thay đối đầu”, “bắt tay thay súng đạn”, không phô trương rầm rộ, nhìn hình thức biểu hiện bên ngoài ít khốc liệt, không tàn phá như chiến tranh vũ lực; thậm chí có vẻ “gần gũi”, “thân thiện” trong một “thế giới phẳng” nhưng bản chất thì đang âm thầm đẩy đối phương xuống đáy “vũng lầy” của sự khủng hoảng và dẫn đến đổ vỡ ngay từ bên trong.

Thứ năm, về công cụ mới để thực hiện “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch coi trọng sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông. Trước sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trong kỷ nguyên thông tin của thời đại toàn cầu hóa và với quan điểm “một đài phát thanh cũng có thể bình định được một nước, một đô la chi cho tuyên truyền có hiệu quả hơn năm đô la chi cho quân sự” nên thứ “vũ khí” hữu hiệu được các thế lực thù địch coi trọng sử dụng trong chiến lược “diễn biến hòa bình” hiện nay là các phương tiện thông tin, truyền thông, báo chí, xuất bản, nhất là các phương tiện có chương trình tiếng Việt để thực hiện bôi nhọ, vu cáo, đả kích Việt Nam(6). Trong đó, họ ngày càng coi trọng các trang mạng xã hội, internet - một phương tiện truyền thông có tốc độ nhanh, sức lan tỏa mạnh đối với công chúng. Thực tế ở nước ta gần đây đã xuất hiện khá nhiều các website, blog, phát tán quan điểm trái chiều, xuyên tạc. Với cách thức tiến hành khá công phu, tinh xảo; dựa vào một số sự kiện đã diễn ra, họ nhào nặn bằng các chi tiết “sặc mùi” chính trị phản động; thêm bớt những “số liệu” không thể kiểm chứng, kèm theo trích dẫn “kim, cổ, đông, tây”, giả danh khoa học; sử dụng công nghệ chèn các tư liệu, hình ảnh đã bị cắt ghép, chỉnh sửa, “live stream”... tạo ra những sự kiện “giật gân”, thông tin “câu khách”, gợi trí tò mò của dư luận; cố tình đổi trắng thay đen, biến không thành có, rồi suy diễn, bình luận theo kiểu làm “sáng tỏ vấn đề”. Tần suất các luận điệu thâm độc đó ngày càng gia tăng cả về lưu lượng, cấp độ, mật độ; thực hiện “bôi nhiều sẽ bẩn”, “nói lắm phải tin”, tung “hỏa mù” nhằm gây tâm lý hoài nghi, dao động trong xã hội; từng bước hướng cộng đồng đến những suy nghĩ lệch lạc, dẫn đến “tự diễn biến”, dần xuất hiện những hành vi “lệch chuẩn” và rơi vào “tự chuyển hóa” lúc nào không hay.

Việt Nam vẫn là trọng điểm chống phá của “diễn biến hòa bình”

Cho dù có “khoác tấm áo mới” thì bản chất thực sự của chiến lược “diễn biến hòa bình” vẫn là hoạt động chống phá của các lực lượng thù địch; vẫn là một kiểu “chiến tranh không có tiếng súng” nhưng vô cùng nguy hiểm với tính chất chính trị phản động, dân tộc chủ nghĩa, toàn cầu, phi vũ trang. Đã từng cay đắng thất bại trong chiến tranh, nay các thế lực thù địch lớn tiếng tuyên bố sẽ “thắng trong hòa bình”, “thắng bằng kinh tế thị trường” và Việt Nam vẫn là tiêu điểm, vẫn hội tụ đủ các yếu tố là trọng tâm chống phá của những thủ đoạn mới trên đây. Bởi lẽ, là một nước xã hội chủ nghĩa luôn tiên phong trong phong trào độc lập dân tộc, không chịu lệ thuộc vào bên ngoài, Việt Nam nắm giữ vị trí địa kinh tế - chính trị - quân sự chiến lược quan trọng trong khu vực, lại nằm ở vị trí địa - chiến lược, trung tâm của cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các nước lớn. Hơn nữa, những thành tựu hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế đã tăng cường vị thế, uy tín, tiềm lực, thực lực và sức mạnh tổng hợp của đất nước ta, tuy nhiên trong nội bộ, hiện tượng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tiêu cực, tệ nạn xã hội... còn diễn biến khá phức tạp. Thêm vào đó, thay đổi được chế độ chính trị, bộ máy cầm quyền ở Việt Nam, các thế lực thù địch sẽ có nhiều lợi thế khi thực hiện các mưu đồ chính trị mới trong thế giới đương đại. Vì vậy, đấu tranh phòng, chống chiến lược “diễn biến hòa bình” vẫn là cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, tiếp tục diễn ra vô cùng phức tạp, quyết liệt trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Vấn đề quan trọng có ý nghĩa định hướng chiến lược trong cuộc chiến này là phải tăng cường nghiên cứu, dự báo, đánh giá và nhận diện đúng bộ mặt thật, “bình mới, rượu cũ” của chiến lược “diễn biến hòa bình”; đồng thời, xác định đấu tranh phòng, chống, làm thất bại “diễn biến hòa bình” là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách hàng đầu trong các nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của mọi tổ chức, mọi lực lượng, các cấp, các ngành, các địa phương. Về cơ bản lâu dài, kiên quyết đấu tranh, kiên trì quán triệt, thực hiện tốt mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, phương châm, giải pháp đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của Đảng và Nhà nước đã xác định, trong đó, tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, thống nhất nhận thức và tư tưởng, hành động, đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân là cơ sở nền tảng. Thực hiện đồng bộ các giải pháp ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là giải pháp đột phá, nhất là khi “diễn biến hòa bình” đã chuyển trọng tâm, thay vì tác động từ bên ngoài vào sang tiến hành các hoạt động chống đối tại chỗ, thúc đẩy chúng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Mũi nhọn xung kích chính là vũ khí phê phán thông qua đẩy mạnh đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Và cho dù “diễn biến hòa bình” có thay đổi phương thức, điều chỉnh thủ đoạn, diễn biến theo chiều hướng nào, mang bộ mặt nào đi nữa thì mục tiêu cuối cùng của họ không có gì khác là hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, hòng xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Vì vậy, tập trung xây dựng Đảng vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” gắn với ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là vấn đề mang tính nguyên tắc, giữ vai trò quyết định trong bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam trong tình hình mới./.

TRẦN ĐỨC TIẾN - LƯU MẠNH HÙNG

Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

---------------------

(1) Từ điển bách khoa quân sự Việt Nam, Nxb. Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2004, tr. 303
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I,
tr. 30 - 31
(3) Học thuyết này dựa trên nội dung cuốn sách “Từ độc tài đến dân chủ” (From dictatorship to democracy) do Giên Sáp-pơ - một nhà hoạt động xã hội ở Mỹ, Giáo sư Đại học Massachusettes Dartmouth (Mỹ) viết về phong trào dân chủ ở Mi-an-ma năm 1993 sau khi bà A-ung San Su Ky, lãnh tụ phe đối lập, Chủ tịch Đảng Liên minh quốc gia vì dân chủ Mi-an-ma bị chính quyền cầm tù
(4) “198 methods of nonviolent action” - Đây cũng là một cuốn sách đã xuất bản của Giên Sáp-pơ
(5) Một dạng thức chiến tranh mà chủ thể tiến hành sử dụng chủ yếu các biện pháp phi quân sự được hỗ trợ bằng hành động quân sự với mục đích lật đổ chính quyền đương nhiệm của một quốc gia không cùng quỹ đạo; bắt đầu bằng “diễn biến hòa bình” tạo bất ổn, gây biến động, bạo loạn, khủng bố, xung đột, nội chiến, can thiệp quân sự... và kết thúc bằng hành động xâm lược quy mô lớn 
(6) Theo số liệu thống kê của Cục Bảo vệ an ninh quân đội, hiện nay, các thế lực thù địch đang sử dụng trên 40 đài phát thanh, truyền hình; 400 tờ báo và tạp chí tiếng Việt; 66 nhà xuất bản để tuyên truyền chống phá Việt Nam

Tapchicongsan.org.vn

Những luận điệu sai lệch về vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng

 

Những ngày qua, đất nước phấn khởi chào đón mùa xuân mới, cũng là dịp kỷ niệm 92 ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Vai trò, vị trí lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự lựa chọn tất yếu của lịch sử. Thực tiễn quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc khẳng định, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Tuy nhiên, vào mỗi dịp kỷ niệm ngày thành lập Đảng, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản động lại gia tăng các hoạt động tuyên truyền chống phá, đưa ra những luận điệu xuyên tạc hòng làm lung lạc về nhận thức, niềm tin đối vai trò, vị trí cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội. Từ đó, chúng tích cực vận động, tập trung lực lượng, đẩy mạnh hoạt động chống phá hòng làm thay đổi chế độ chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng. Đây là âm mưu, luận điệu nguy hiểm, cần được nhận diện, đấu tranh, phản bác trong công tác tư tưởng hiện nay. Những luận điệu này tập trung ở những điểm sau đây:

Một là, các đối tượng xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, phủ  nhận cơ sở lý luận về vị trí, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Những chiêu bài mà chúng sử dụng không mới nhưng ngày càng tinh vi và thâm độc hơn. Các đối tượng lập luận, tuyên truyền, cổ vũ cho việc từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin, cho rằng đây là sự sai lầm về ý thức hệ; rêu rao học thuyết Mác - Lênin là một “lý thuyết suông” về CNXH không tưởng, không bao giờ thực hiện được.

Cho rằng sự sụp đổ của CNXH ở Đông Âu, Liên Xô và trên toàn thế giới là một tất yếu, là sự cáo chung đã được báo trước; xuyên tạc lý luận về CNXH đã lỗi thời, không còn phù hợp với thế kỷ XXI, đặc biệt không phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam hiện nay và cần loại bỏ. Tầm thường hóa, phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh; cố tình xuyên tạc Hồ Chí Minh du nhập chủ nghĩa Mác - Lênin với học thuyết đấu tranh giai cấp là nguyên nhân gây ra cảnh “huynh đệ tương tàn, nồi da nấu thịt” trước đây, làm đất nước nghèo nàn, lạc hậu…

Vị trí, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự lựa chọn của lịch sử dân tộc. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX, trong điều kiện khủng hoảng về đường lối cứu nước, đã xuất hiện nhiều khuynh hướng đấu tranh, nhiều lực lượng cách mạng, tuy nhiên đều không thể giành lại độc lập cho dân tộc, tự do cho nhân dân. Chỉ khi Nguyễn Ái Quốc tìm ra chân lý con đường cách mạng vô sản của chủ nghĩa Mác - Lênin, sự ra đời, lãnh đạo, đoàn kết, tập hợp lực lượng của Đảng đã dẫn dắt dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, đem lại vị thế, cơ đồ đất nước như ngày hôm nay. Thực tiễn khách quan là minh chứng khẳng định rõ, không thể nói chủ nghĩa Mác - Lênin là sai lầm ý thức hệ, sai lầm lịch sử như các luận điệu chống phá.

Hai là, các đối tượng cố gắng lập luận, quy kết thể chế chính trị ở Việt Nam tạo lập vị trí của Đảng đứng trên Hiến pháp, cho rằng Đảng đã và đang tham nhũng quyền lãnh đạo, cai trị đất nước, chuyên quyền, độc đoán.

Chúng ta đều biết, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua bao giông tố, thác ghềnh, đưa dân tộc Việt Nam tới những thắng lợi hiển hách, thống nhất non sông đất nước, mang lại độc lập cho dân tộc. Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”. Với cơ sở như vậy thì luận điệu rêu rao “trong thể chế chính trị ở Việt Nam, Đảng đứng trên Hiến pháp, tham nhũng quyền lãnh đạo, và bám giữ quyền cai trị đất nước; một thể chế độc đảng là chuyên quyền, độc đoán” là hoàn toàn sai trái. Rõ ràng, luận điệu này nhằm mục đích phá hoại, lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng.

Ba là, dưới chiêu bài góp ý về đổi mới thể chế chính trị Việt Nam, các đối tượng đưa ra những luận điệu chống phá núp dưới dạng kiến nghị, đòi hỏi phải “đổi mới chính trị” bằng cách phải thực hiện thể chế đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

Trước hết, cần thấy rằng, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nằm trong âm mưu thực hiện “diễn biến hòa bình” mà mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, thay đổi thể chế chính trị, hướng lái cách mạng Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa. Từ đó, chúng đòi hỏi phải thực hiện xóa bỏ ngay Điều 4 của Hiến pháp. Thực chất luận điệu này là tạo điều kiện, tiền đề cho việc ra đời và công khai hóa, hợp pháp hóa các tổ chức chính trị đối lập, từ đó cạnh tranh vai trò lãnh đạo, tiến tới thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng rêu rao nước ta vẫn còn tình trạng khủng hoảng, đói nghèo là hậu quả của chính sách cai trị độc tài dựa trên nền tảng tư tưởng chính trị là chủ nghĩa Mác-Lênin mà Đảng Cộng sản áp đặt trên đất nước Việt Nam. Chúng tập trung xuyên tạc vào các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ, vu cáo rằng đó là chiếm quyền để cai trị nhân dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền, "độc đoán, đảng trị"… Luận điệu này xuyên tạc bản chất chính trị, hạ thấp vai trò, uy tín của Đảng, đẩy quần chúng, nhân dân xa rời, đối lập với Đảng, thúc đẩy thể chế đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

Lịch sử diễn ra tại Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu đã chỉ ra bài học xương máu, chứng minh rõ âm mưu, ý đồ thâm độc này. Sau khi Điều 6 Hiến pháp Liên Xô bị xóa bỏ, ngay lập tức, các đảng phái xuất hiện “như nấm sau mưa”, ngoài Đảng Cộng sản Liên Xô còn có tới 153 tổ chức đảng phái khác ra đời và cạnh tranh vai trò lãnh đạo với Đảng Cộng sản. Đến đầu năm 1991, sự tồn tại của Đảng Cộng sản Liên Xô chỉ còn trên danh nghĩa và sự sụp đổ của Liên bang Xô viết vào cuối năm 1991 là tất yếu, khi Đảng Cộng sản đã mất quyền lãnh đạo. Không đi theo “vết xe đổ của Liên Xô”, bảo vệ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, không để hình thành tổ chức chính trị đối lập, đối trọng với Đảng và Nhà nước là yêu cầu có tính nguyên tắc. 

Bốn là, các đối tượng lợi dụng những vấn đề mang tính tiêu cực nảy sinh trong đời sống xã hội như thiếu sót, bất cập trong cơ chế, chính sách, tình trạng tham nhũng... để hướng lái, xuyên tạc bản chất của chế độ, quy tiêu cực do hệ quả sự lãnh đạo của Đảng.

Trong quá trình đổi mới, các lĩnh vực của đời sống xã hội vừa được xây dựng, tổng kết, rút kinh nghiệm và từng bước hoàn thiện về mặt lý luận và thực tiễn. Những vấn đề như kinh tế thị trường định hướng XHCN còn những hạn chế, hoàn thiện còn chậm; hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách chưa hoàn chỉnh và đồng bộ; nhiều cơ chế, chính sách chưa đáp ứng được yêu cầu của công cuộc đổi mới. Cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa chưa đạt mục tiêu. Kinh tế nhà nước, doanh nghiệp nhà nước hiệu quả hoạt động chưa cao; công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí mặc dù đạt được những kết quả tích cực song còn nhiều tồn tại, hạn chế; hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước còn những bất cập… Dựa vào những hạn chế, tồn tại nói trên, các thế lực thù địch lợi dụng để suy diễn, xuyên tạc, thổi phồng dưới nhiều hình thức khác nhau. Chúng lập luận, quy chụp bằng những luận điệu chính trị hóa, cho rằng đó là bản chất của chế độ XHCN và là hậu quả của Đảng. Những luận điệu này làm cho những người không có tư tưởng chính trị vững vàng dễ bị lầm tưởng, hồ nghi, thậm chí xét lại, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, suy thoái về tư tưởng chính trị.

Tổng kết 35 năm đổi mới, Đại hội XIII của Đảng đánh giá:“Đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN”. Có được những thành tựu trên đây là do Đảng ta có đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo, phù hợp lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, được nhân dân tin tưởng, kiên định, đấu tranh, hy sinh, thực hiện con đường độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn mình” mà Đảng lựa chọn.

Lê Thế Cương

Cand.com.vn

Nhận diện hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước Việt Nam


Trong quá trình thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống Việt Nam, các thế lực thù địch, đối tượng phản động trong và ngoài nước luôn chú ý lợi dụng vấn đề tôn giáo, coi đây là một trong những mũi tiến công chủ đạo nhằm thay đổi thể chế chính trị tại Việt Nam. Do đó, việc nhận diện và đấu tranh với hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước có ý nghĩa quan trọng trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Tính đến tháng 9/2021, Việt Nam có 43 tổ chức tôn giáo thuộc 16 tôn giáo được công nhận và cấp đăng ký hoạt động, với gần 26 triệu tín đồ, chiếm khoảng 27% dân số cả nước. Ngoài ra, còn có khoảng 140 tổ chức tôn giáo chưa được công nhận tư cách pháp nhân với khoảng 1 triệu tín đồ, đa phần sinh hoạt tại gia hoặc thuê, mượn địa điểm sinh hoạt tôn giáo, không có cơ sở thờ tự. Thời gian qua, Đảng, Nhà nước luôn nhất quán chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, tình hình tôn giáo và công tác tôn giáo tại Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả hết sức quan trọng, được dư luận trong nước và quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.

Hệ thống chính sách, pháp luật về tôn giáo được kịp thời bổ sung, hoàn thiện, đáp ứng thực tiễn đời sống tín ngưỡng, tôn giáo và phù hợp với những điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia. Các tổ chức tôn giáo được tạo thuận lợi trong hoạt động và ngày càng phát triển về mọi mặt; đồng bào các tôn giáo ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tích cực tham gia phát triển kinh tế - xã hội, gắn bó, đồng hành với dân tộc. Một số lễ trọng của các tôn giáo lớn như: Lễ Phật đản, Lễ Giáng sinh… đã trở thành lễ hội chung của đông đảo nhân dân, góp phần xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch không chấp nhận thực tế trên và chúng ráo riết tìm mọi cách lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước ta. Đặc biệt, những năm gần đây, lợi dụng chính sách đối ngoại và chính sách tôn giáo của ta ngày càng cởi mở hơn, các đối tượng gia tăng lợi dụng vấn đề tôn giáo để tạo sức ép từ bên ngoài, tìm cách gây mất ổn định an ninh chính trị ở bên trong, nhằm tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nổi lên hiện nay là một số hoạt động sau:

Một là, tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước ta vi phạm quyền tự do tôn giáo. Lợi dụng tính chất nhạy cảm của tôn giáo và một số hạn chế, thiếu sót của chính quyền các địa phương trong công tác tôn giáo, thời gian qua, các thế lực thù địch cùng với bọn phản động trong và ngoài nước đã ra sức tuyên truyền xuyên tạc về tình hình tôn giáo và chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Các đối tượng cho rằng, hệ thống chính sách pháp luật về tôn giáo của Việt Nam không tương đồng với luật pháp quốc tế về quyền con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo; thậm chí, chúng còn trắng trợn xuyên tạc việc xây dựng, ban hành quy định pháp luật về tôn giáo là "thòng lọng" đối với hoạt động của các tôn giáo; xuyên tạc việc xử lý các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực đất đai, xây dựng, hành chính, dân sự… liên quan chức sắc, tín đồ tôn giáo là "đàn áp tôn giáo". Một số cá nhân, tổ chức bên ngoài nhiều lần đơn phương đưa ra cái gọi là "Báo cáo", "Phúc trình" thường niên về tình hình tôn giáo quốc tế; trong đó có nhiều nội dung sai sự thật về tình hình, kết quả công tác tôn giáo tại Việt Nam, qua đó gây áp lực đòi ta phải thay đổi chính sách pháp luật về tôn giáo, lấy vấn đề "tự do tôn giáo" làm điều kiện trong đàm phán hợp tác, đầu tư phát triển tại Việt Nam.

Đáng chú ý, những năm gần đây, lợi dụng sự phát triển mạnh mẽ trên lĩnh vực thông tin, truyền thông, một số đối tượng cực đoan trong các tôn giáo triệt để lợi dụng Internet, mạng xã hội để tán phát, chia sẻ nhiều tài liệu có nội dung vu cáo Đảng, Nhà nước "đàn áp tôn giáo"; công kích số chức sắc, tín đồ tôn giáo tiến bộ, yêu nước, tham gia các tổ chức chính trị - xã hội; kêu gọi các nước lấy vấn đề tự do tôn giáo để làm điều kiện trong việc đàm phán, ký kết các thỏa thuận hợp tác song phương cũng như đa phương, qua đó tìm cách can thiệp công việc nội bộ của Việt Nam. Đặc biệt, có chức sắc còn công khai đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản tại Việt Nam, tuyên truyền, cổ xúy quan điểm đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, cho rằng "tự do tôn giáo" là quyền, không chịu sự quản lý của Nhà nước, đòi phi chính trị hóa lực lượng vũ trang và xây dựng xã hội dân sự Việt Nam theo mô hình các nước phương Tây.

Hai là, lợi dụng các vấn đề tiêu cực trong xã hội, các vụ việc phức tạp liên quan tôn giáo để kích động chức sắc, tín đồ gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay, bên cạnh những thành tựu là cơ bản, không tránh khỏi một số hạn chế, khiếm khuyết trong công tác điều hành, quản lý Nhà nước trên một số lĩnh vực như: kinh tế, y tế, môi trường, giáo dục, đất đai, tư pháp…

Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, đối tượng phản động trong và ngoài nước đã và đang ráo riết triển khai nhiều chiến dịch tuyên truyền nhằm thổi phồng các tiêu cực trong xã hội, quy chụp mọi tồn tại, hạn chế hiện nay là do sai lầm trong công tác lãnh đạo của Đảng, yếu kém trong công tác điều hành, quản lý của Chính phủ; từ đó, chúng móc nối, lôi kéo, kích động chức sắc, tín đồ các tôn giáo tổ chức các cuộc tập trung đông người tuần hành, biểu tình với danh nghĩa bảo vệ cuộc sống của người dân, bảo vệ người yếu thế để chống chính quyền; tăng cường phát triển lực lượng chống đối trong các tôn giáo, tạo thế liên tôn, liên kết trong - ngoài nhằm âm mưu tiến hành các cuộc tập dượt cho "cách mạng màu", "cách mạng đường phố" tại Việt Nam.

Điển hình như, lợi dụng sự cố ô nhiễm môi trường biển miền Trung do Công ty TNHH gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh gây ra năm 2016, một số chức sắc cực đoan trong Công giáo với sự hậu thuẫn của các tổ chức phản động bên ngoài đã tổ chức cho hàng ngàn giáo dân tuần hành, biểu tình gây rối an ninh trật tự, chống người thi hành công vụ, chiếm giữ quốc lộ, tỉnh lộ… Các hoạt động này đã gây tình hình phức tạp nghiêm trọng về an ninh trật tự, trực tiếp xâm hại đến hoạt động bình thường của chính quyền cơ sở, làm giảm sút niềm tin của một bộ phận chức sắc, tín đồ tôn giáo đối với vai trò lãnh đạo của Đảng, công tác quản lý Nhà nước của các cấp chính quyền.

Đặc biệt, những năm gần đây, trước tình hình tranh chấp, khiếu kiện và vi phạm pháp luật về đất đai, xây dựng liên quan tôn giáo diễn ra phức tạp, một số đối tượng cực đoan trong tôn giáo đã lợi dụng chiêu bài "bảo vệ quyền lợi của giáo hội" để kích động số đông quần chúng tín đồ gây rối an ninh trật tự, chống người thi hành công vụ, gây ảnh hưởng để việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội ở nhiều địa phương. Thậm chí, nhiều vụ việc bị "chính trị hóa", "quốc tế hóa", từ vụ việc khiếu kiện đất đai đơn thuần đã trở thành điểm nóng về an ninh trật tự, điển hình như vụ 178 Nguyễn Lương Bằng, 42 Nhà Chung (Hà Nội), vụ giáo xứ Cồn Dầu (Đà Nẵng), vụ chùa Liên Trì (TP. Hồ Chí Minh)… đã bị các thế lực thù địch lợi dụng can thiệp công việc nội bộ của Việt Nam.

Ba là, gắn vấn đề tôn giáo với vấn đề dân tộc để kích động tư tưởng ly khai, tự trị. Lợi dụng một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế, văn hóa, xã hội, trình độ dân trí thấp, phong tục tập quán lạc hậu…, thời gian qua các thế lực thù địch và bọn phản động lập ra nhiều tổ chức núp bóng dưới danh nghĩa tôn giáo để tập hợp, lôi kéo đồng bào dân tộc; để từ đó, dùng thần quyền, giáo lý chi phối họ tham gia các hoạt động chống Đảng, Nhà nước.

Điển hình như: tại Tây Nguyên, năm 1999, số đối tượng FULRO lưu vong ở Mỹ đã tuyên bố thành lập cái gọi là “Nhà nước Đềga”, đồng thời chúng móc nối với số đối tượng phản động trong các dân tộc thiểu số ở hai tỉnh Đắk Lắk, Gia Lai lập ra cái gọi là “Tin lành Đề ga” để lôi kéo, tập hợp đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Nguyên tham gia “Nhà nước Đề ga” dưới ngọn cờ tôn giáo và dân tộc để kích động ly khai thành lập nhà nước cho người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên; tại Tây Nam Bộ, số đối tượng phản động tăng cường sử dụng Internet, báo, đài nhằm kích động tư tưởng “ly khai” vào vùng đồng bào dân tộc Khmer theo Phật giáo Nam tông, lập “Chính phủ Khmer Krôm lưu vong”, tiến đến thành lập “Nhà nước Khmer Krôm” trên vùng đất Tây Nam Bộ…; tại vùng dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc, số đối tượng phản động, cốt cán hoạt động “Nhà nước Mông” chủ trương phát triển cơ sở trong đạo Tin lành để tập hợp lực lượng, ráo riết móc nối, lôi kéo số chức sắc, số cầm đầu các điểm nhóm đạo Tin lành tham gia thành lập “Nhà nước Mông” tự trị…

Trên cơ sở nhận diện hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước nói trên, thời gian tới để góp phần đấu tranh làm thất bại âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, các ban ngành chức năng và cấp ủy, chính quyền các địa phương cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, tăng cường công tác tuyền truyền về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo và âm mưu, hoạt động lợi dụng tôn giáo chống Đảng, Nhà nước để cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân nâng cao cảnh giác, tuân thủ nghiêm pháp luật về tín ngưỡng tôn giáo cũng như quy định khác liên quan. Công tác tuyên truyền cần được tiến hành thường xuyên, liên tục và với nhiều hình thức đa dạng, đi vào đời sống của người dân.

Hai là, tiếp tục quan tâm củng cố hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo. Làm tốt công tác kiểm tra, giám sát thực hiện đường lối, chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước về tôn giáo để chủ động phát hiện những sơ hở, thiếu sót và kịp thời có biện pháp khắc phục. Tổ chức tốt việc nắm bắt tâm tư, giải quyết những nguyện vọng chính đáng của đồng bào chức sắc, tín đồ các tôn giáo.

Ba là, đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ An ninh Tổ quốc, nhất là địa bàn trọng điểm, phức tạp về tôn giáo. Phải coi đây là một công tác trọng tâm, cơ bản đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của cấp ủy Đảng, sự điều hành quản lý của chính quyền và huy động được các ngành, các cấp cùng tham gia.

Bốn là, thực hiện tốt công tác tranh thủ chức sắc, người có uy tín trong các tôn giáo nhằm thúc đẩy xu hướng hoạt động tôn giáo thuần túy, tuân thủ pháp luật và đồng hành cùng dân tộc. Chú trọng phát huy vai trò của chức sắc, người có uy tín trong tôn giáo trong công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn làm thất bại âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước và góp phần giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh trong tôn giáo.

Năm là, kiên quyết đấu tranh với các hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước. Trong đó, tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; kiên quyết xử lý các hành vi lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật, đảm bảo tính thượng tôn pháp luật.

Thiếu tá Đỗ Xuân An, Cục An ninh nội địa, Bộ Công an

Cand.com.vn

ĐẠI SỨ VIỆT NAM, PHÓNG VIÊN THƯỜNG TRÚ TỪ NƠI TÔI LÀM ĐẠI SỨ!

      Tình hình căng thẳng biên giới giữa Nga và Ukraine chúng ta đều đã thấy rằng do Mỹ, Phương Tây một tay đạo diễn thông qua hệ thống truyền thông hùng mạnh của mình. Ai đánh ai, đánh như thế nào, đánh vào giờ nào thì lực lượng tình báo phương Tây lại phải vác giấy bút ra hỏi mấy ông nhà báo của nước họ. Và như thường lệ, báo chí Việt Nam tiếp tục trích dẫn các bài báo thổi phồng nguy cơ chiến tranh giữa Nga và Ukraine của báo chí phương Tây.

Mới nhất, đại sứ Việt Nam tại Ukraine Nguyễn Hồng Thạch đã phải trực tiếp lên tiếng về những tin tức, hình ảnh về tình hình căng thẳng giữa Nga và Ukraine là hoàn toàn không đúng thực tế, cuộc sống của người dân Ukraine vẫn diễn ra bình thường chứ không phải như miêu tả của báo chí phương Tây và được báo chí phương Ta trích dẫn, lược dịch lại. Việc đăng tải các thông tin không đúng sự thật trên không khác gì báo chí phương Ta của chúng ta lại trở thành cơ quan ngôn luận của báo chí phương Tây, trở thành công cụ xuyên tạc, bôi xấu hình ảnh nước Nga của chúng. Bởi phương Tây đang xây dựng một hình ảnh nước Nga xấu xí, hiếu chiến, bất chấp luật pháp quốc tế trong mắt công chúng thế giới và báo chí nước ta đang giúp họ một tay.

Trước đó, đại sứ Việt Nam tại Triều Tiên Lê Bá Vinh cũng không dưới 2 lần phải trực tiếp lên tiếng vì những thông tin báo chí trong nước trích dẫn các thông tin sai trái, bịa đặt từ báo chí phương Tây. Nó vừa làm ảnh hưởng quan hệ ngoại giao giữa hai nước cũng như làm méo mó nhận thức, góc nhìn của người dân Việt Nam đối với đất nước Triều Tiên. 

Có lẽ, bây giờ các đại sứ Việt Nam ở các nước, nhất là các nước mà Mỹ và phương Tây cảm thấy không mấy thân thiện phải làm thêm nhiệm vụ đọc kỹ tin tức báo chí nước nhà, lên tiếng, hiệu đính lại các thông tin viết về các nước mà mình đang công tác. Có khi Bộ Ngoại giao nên lập một kênh truyền hình riêng cho các đại sứ này và chúng ta sẽ được nghe một câu nói quen thuộc sau mỗi bản tin rằng:

“Đại sứ Việt Nam, phóng viên thường trú từ nơi tôi làm đại sứ”./.

Yêu nước ST.

NGA TUNG VIDEO VỀ RÚT THIẾT BỊ QUÂN SỰ KHỎI CRIMEA!

Bộ Quốc phòng Nga ngày 16-2 công bố đoạn video quay cảnh xe tăng và xe quân sự rời khỏi bán đảo Crimea.
Theo Reuters, đoạn video do Bộ Quốc phòng Nga công bố cho thấy một đoàn xe tăng, xe chiến đấu bộ binh và các đơn vị pháo binh tự hành đã rời khỏi bán đảo Crimea thông qua một cây cầu đường sắt sau khi tập trận. Bộ này cho biết thêm rằng một số binh sĩ Nga cũng sẽ trở lại căn cứ thường trực của họ.

Nga sáp nhập bán đảo Crimea hồi năm 2014.
Trước đó, ngày 15-2, Tổng thống Mỹ Joe Biden lưu ý hơn 150.000 binh sĩ Nga vẫn tập trung gần biên giới Ukraine sau khi Moscow tuyên bố "rút quân".
Điện Kremlin khẳng định nhiều lực lượng Nga xung quanh Ukraine đã rút khỏi đây vào ngày 16-2 song Anh và Mỹ "không tin đó là sự thật". Bộ trưởng Quốc phòng Anh Ben Wallace tuyên bố họ chưa thấy bất kỳ bằng chứng nào cho thấy Nga rút quân.
Các lực lượng Nga được huy động tới phía Bắc, Đông và Nam Ukraine kể từ tháng 11 năm ngoái khiến London và Washington cảnh báo Moscow "sắp tấn công nước láng giềng".
Tuy nhiên, Nga bác bỏ cáo buộc này và chỉ trích Anh và Mỹ thực hiện "tuyên truyền chiến tranh bất hợp pháp".
Theo giới phân tích quân sự, việc Nga rút quân khỏi biên giới Ukraine chỉ được xem là đáng kể nếu các đơn vị từ vùng Viễn Đông - đang tham gia tập trận ở Belarus tuần này - trở về căn cứ cách đó hàng ngàn km.
Trong khi đó, Bộ Quốc phòng Ukraine ngày 16-2 nói rằng tin tặc vẫn đang tấn công trang web của bộ này và tìm ra các lỗ hổng trong mã lập trình.
Mặc dù không chỉ đích danh người đứng sau vụ tấn công mạng nhưng Kiev dường như ám chỉ Moscow. Cơ quan An ninh Liên bang Nga (FSS) không bình luận khi được Reuters liên lạc.
Phát biểu từ Nhà Trắng ngày 15-2, Tổng thống Biden cảnh báo: "Nếu Nga tấn công Mỹ hoặc các đồng minh của chúng tôi thông qua các phương tiện bất đối xứng như tấn công mạng chống lại các công ty hoặc cơ sở hạ tầng quan trọng, chúng tôi sẵn sàng đáp trả".
Sau cuộc gặp Thủ tướng Đức Olaf Scholz ngày 14-2, Tổng thống Putin phàn nàn rằng phương Tây đang bỏ qua những yêu cầu chính của Nga nhưng Moscow vẫn để ngỏ khả năng tiếp tục đối thoại về các vấn đề an ninh.
Chủ tịch Hội đồng Liên minh châu Âu Charles Michel ngày 15-2 kêu gọi Nga thực hiện các bước hữu hình để xuống thang căng thẳng./.


Một số hình ảnh về việc rút quân của Nga.
Yêu nước ST.

KHÔNG THỂ LÀM GÌ ĐƯỢC GẤU NGA!

         - Mỹ và Châu Âu thường xuyên sử dụng chiêu bài cấm vận, để bóp chết hoặc buộc các quốc gia không theo quỹ đạo phải thần phục họ. Nhưng với Nga thì không thể dùng chiêu bài này được. 

- Nga là quốc gia có diện tích rộng nhất thế giới ( 17 triệu cây số vuông), với dân số 145 triệu người cùng với hơn chục triệu người Nga đang sinh sống ở các quốc gia thuộc Liên Xô cũ. Không phải quá đông nhưng cũng không phải quá ít.

- Dân tộc Nga là một dân tộc thông minh trên thế giới. Nga có hầu hết các khoáng sản mà loài người cần, đặc biệt là năng lượng như, than, dầu mỏ, khí đốt, uranium... vv. Có thể nói thế giới phụ thuộc khá nhiều vào tài nguyên của Nga, đặc biệt là Châu Âu phụ thuộc vào nguồn năng lượng từ Nga. 

Về nông nghiệp, lương thực thực phẩm thì Nga có nguồn tài nguyên đất đai bát ngát, chỉ là chưa khai thác mà thôi.

Về quốc phòng thì Nga có đủ công nghệ để sản xuất tất cả các loại đồ chơi xịn và hầu như không lệ thuộc về quốc phòng.

- Việc cấm vận Nga để hòng khuất phục người Nga là điều không tưởng. - Nước Nga chỉ cần một chính sách phù hợp và một nhà lãnh đạo tầm cỡ như ông Putin thì chả có ai đụng tới Nga được./.

Yêu nước ST.

CĂNG THẲNG NGA-UKRAINE: MỸ KIẾM LỢI TRÊN NƯỚC MẮT NGƯỜI CHÂU ÂU!

   Căng thẳng Nga-Ukraine và vấn đề Nord Stream 2 khiến Nga và châu Âu thiệt hại nặng nề trong lĩnh vực năng lượng, trong khi Mỹ là kẻ thủ lợi chính.

Liên quan đến vấn đề này, giới truyền thông Đức đã tiết lộ những lợi ích mà Mỹ thu được từ “cuộc chiến” của Nga với Ukraine, có liên quan đến cuộc khủng hoảng năng lượng châu Âu, khiến giá khí đốt ở “Lục địa già” leo thang chóng mặt kể từ mùa thu năm ngoái đến nay.

Theo tờ Der Spiegel, việc lan truyền những tin đồn vô căn cứ về “cuộc xâm lược của Nga đối với Ukraine” trên các phương tiện truyền thông phương Tây là một cách để ép buộc châu Âu bỏ khí đốt đường ống của Nga, mua khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) của Mỹ.

Tác giả bài báo là ông Ines Zettl lưu ý rằng, trong bối cảnh sự cuồng tín chống Nga trên các phương tiện truyền thông Mỹ và châu Âu, ngành công nghiệp năng lượng hóa thạch ở Mỹ đang hết sức vui mừng, vì viễn cảnh về một cuộc chiến sắp xảy ra giữa Moscow và Kiev làm các nước EU sợ hãi và đình chỉ khởi động dự án “Dòng chảy phương Bắc 2” (Nosd Stream 2).

Điều này đã giúp ngành công nghiệp khai thác dầu đá phiến và xuất khẩu LNG Mỹ có cơ hội vượt qua các đối thủ cạnh tranh trực tiếp về nguồn cung cấp khí hóa lỏng cho châu Âu, trong bối cảnh cuộc khủng hoảng năng lượng ở EU đã khiến giá khí đốt châu Âu tăng lên hơn 1000USD/1000m3.

Theop tác giả bài báo, nền chính trị Mỹ là “tù nhân của năng lượng”, thực tế đã cho thấy Mỹ là nước xuất khẩu năng lượng được hưởng lợi chính từ những căng thẳng giả tạo trên biên giới Nga-Ukraine. Vào tháng 12 năm ngoái, Mỹ đã vượt qua Qatar và Australia để trở thành nhà xuất khẩu LNG lớn nhất thế giới.

Rystad ước tính lượng hàng đến châu Âu từ cuối tháng 11 đến tháng 12 năm 2021 đã tăng 75% so với tháng 11. Kết quả này đã khiến châu Âu trở thành khách mua lớn nhất LNG - loại hàng hóa mà chính quyền Donald Trump vào thời điểm đó gọi là “các phân tử của tự do Mỹ”.

Chuyên gia Ines Zettl nhắc lại, ngay cả trước chiến thắng bầu cử của Joe Biden, các chuyên gia Đức vẫn rất lạnh nhạt về LNG. Các đại diện EU cũng cho biết, theo tính toán của họ, khí đốt Nga rẻ hơn nhiều.

Nhà báo Đức đồng thời cho biết thêm, việc tổng thống Mỹ tiền nhiệm yêu cầu “giải thoát châu Âu khỏi sự giam cầm năng lượng” của Nga đã khiến nước Đức bị sốc. Theo giới chức Berlin, chiến lược của Trump dường như là buộc EU phải mua khí đốt đắt tiền hơn của Mỹ.

Theo Viện Khoa học Địa chất và Tài nguyên Liên bang Đức (BGR), khối lượng nhiên liệu cung cấp từ Nga cho nước này chiếm khoảng 34% khối lượng nhập khẩu dầu, hơn 50% khí đốt và 45% than. Trong trường hợp Đức tìm được nguồn cung thay thế thì lợi ích kinh tế bị mất đi cũng là quá lớn, bởi tất cả các nguyên, nhiên liệu mà Moscow cung cấp cho Berlin đều có giá thấp hơn so với các nước xuất khẩu năng lượng khác, đặc biệt là LNG Mỹ.

Tác giả đồng trích dẫn tuyên bố của người đứng đầu liên minh vận động hành lang LNG Allies là ông Fred Hutchison rằng, Mỹ quan tâm trực tiếp việc đẩy lùi khí đốt đường ống của Nga cả ở châu Âu và đặc biệt là thị trường năng lượng Đức.

Ông Hutchison thừa nhận rằng, công ty Nga Gazprom đã đúng khi chỉ trích châu Âu phụ thuộc quá nhiều vào thị trường giao ngay ngắn hạn cùng với giá cả biến động của nó, mà thiếu những định hướng chiến lược dài hạn và ổn định về nguồn cung cũng như giá cả.

Vị quan chức Mỹ chỉ ra cho châu Âu rằng, giải pháp cho vấn đề nằm ở việc ký kết các thỏa thuận dài hạn, nhưng không phải với Moscow, mà với các đối tác khác, mà tối ưu nhất là với các công ty Mỹ.

Hiện nay, Nga đang chiếm gần 40% thị phần khí đốt cung cấp cho châu Âu, nếu Washington đánh bật được Moscow, hoặc chỉ cần làm giảm một nửa nguồn cung của Nga tới thị trường EU thì Mỹ sẽ thống trị thị trường năng lượng thế giới, mang lại nguồn lợi khổng lồ cho các tập đoàn năng lượng Mỹ.

Trong khi đó, các nước châu Âu sẽ phải mua LNG với giá "cắt cổ", bởi khí tự nhiên đường ống của Nga trong các hợp đồng dài hạn có giá rẻ hơn tới 5 lần so với giá khí đốt trên thị trường châu Âu. Và cuối cùng, chỉ có Nga và người châu Âu là gánh chịu thiệt hại, còn Mỹ chính là kẻ thủ lợi!

Yêu nước ST.

CUỘC CHIẾN TRANH BẢO VỆ BIÊN GIỚI PHÍA BẮC CỦA VIỆT NAM 1979: CÓ MỘT CUỘC TẬP TRẬN ÍT BIẾT CỦA LIÊN XÔ NGAY SÁT BIÊN GIỚI TRUNG QUỐC!

         Năm 1979, quân đội Liên Xô đã có một cuộc tập trận trên đất Mông Cổ, sát biên giới Trung Quốc để gây sức ép với Bắc Kinh, khi đó đang tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Thông tin từ báo Nga cho biết:

"Từ 12/3 - 26/3/1979, nhằm kiên quyết tạo áp lực quân sự lên Trung Quốc, theo chỉ thị của BCH TW Đảng Cộng sản Liên Xô, các Quân khu biên giới phía Đông (vùng đất tiếp giáp với Trung Quốc), tại lãnh thổ Mông Cổ và Hạm đội Thái Bình Dương đã tiến hành tập trận...

....Các cuộc diễn tập quy mô lớn nhất diễn ra trên lãnh thổ Mông Cổ, huy động tới 6 sư đoàn bộ binh cơ giới và sư đoàn tăng, trong đó có 3 sư đoàn được điều động tới Mông Cổ từ Sibir và Zabaikal.

Trong khuôn khổ cuộc diễn tập này còn có sự góp mặt gần 3 sư đoàn không quân, 2 lữ đoàn độc lập và một số liên binh đoàn và đơn vị tăng cường".

Dưới đây là những tư liệu trên báo Nga về cuộc tập trận của quân đội Liên Xô trên đất Mông Cổ, sát với biên giới Trung Quốc để gây sức ép, nhằm buộc Trung Quốc rút quân khỏi Việt Nam. Đây là cuộc tập trận mà chúng ta biết được rất ít thông tin.

Thật đau buồn khi được biết, đã có nhiều chiến sĩ Xô viết đã hy sinh trong cuộc tập trận này, trong điều kiện thời tiết cực ngặt nghèo trên sa mạc Gobi.

Chỉ huy cuộc tập trận chính là Thứ trưởng thứ nhất Bộ quốc phòng Liên Xô - Nguyên soái Sergey Sokolov.

Và tên của sư đoàn lính dù tập trận trên sa mạc Gobi cách đây 37 năm cũng đã được rõ, đó chính là sư đoàn lính dù tinh nhuệ bậc nhất Liên Xô thời đó: Sư đoàn cận vệ số 106, từ Tula, đã từng được thử thách khi đảm nhiệm những nhiệm vụ quan trọng của quốc gia.

Năm 1957, chính Sư đoàn này đã đảm bảo việc hạ cánh của "các nhà du hành vũ trụ bốn chân" - các chú chó Belka, Strelka và Chernushka.

Mấy năm sau, sư đoàn Tula đã có vinh dự chào đón phi công vũ trụ đầu tiên của thế giới Yury Gagarin khi anh trở về Trái đất sau chuyến bay lịch sử.

Nhận lệnh báo động, cả sư đoàn vượt qua hàng nghìn cây số sang Mông Cổ tập trận. Theo cuốn "Lính dù đổ bộ Nga", đến nay, địa điểm tập trận vẫn không được xác định chính xác. Chỉ biết đó là một nơi trên sa mạc Gobi, cách biên giới với Trung Quốc vài km.

Cựu sĩ quan V.G.Domrachev (В.Г. Домрачев) sau này nhớ lại hôm tập trận đổ bộ, gió trên sa mạc Gobi thổi cực mạnh, các cánh tà máy bay rung phần phật như tiếng cánh chim vỗ.

Với kinh nghiệm của mình, Domrachev cho rằng không thể tiến hành đổ bộ được trong thời tiết đó.

Tuy nhiên, khi được Tư lệnh lính dù đổ bộ D.Sukhorukov báo cáo về tình hình thời tiết không thuận lợi, thứ trưởng thứ nhất BQP, nguyên soái Sokolov kiên quyết vẫn giữ nguyên kế hoạch. Ông đề nghị đổ bộ theo cách một máy bay chở người, còn máy bay khác ở vũ khí khí tài.

Quân lệnh như sơn. Cuộc tập trận đổ bộ vẫn được tiến hành.

Kết quả, trong điều kiện thời tiết băng giá, với sức gió lên đến 40m/s, phải đổ bộ trên nền sa mạc cứng như đá, sư đoàn cận vệ 106 đã chịu những tổn thất nặng nề về người.

Trong số 108 chiến sĩ tham gia đổ bộ hôm đó, có phân nửa bị thương nặng và hy sinh. Cuộc diễn tập bị ngưng lại ngay lập tức.

Đây là một trong những trang đen tối nhất trong lịch sử lực lượng lính dù đổ bộ Xô viết. Sự kiện bi thảm vào tháng 2/1979 sẽ còn khiến cho nhiều người nhức nhối và tốn nhiều giấy mực để viết về nó.

Sau này, nguyên soái Sokolov lên thay Ustinov làm Bộ trưởng quốc phòng Liên Xô. Ông mất năm 2012, thọ 102 tuổi.

Chắc hẳn sau sự kiện bi thảm ở Gobi, ông sẽ còn ân hận vì quyết định của mình, dù sau này cuộc tập trận được coi như một thành công, bởi chứng tỏ được khả năng không vận nguyên một sư đoàn với đầy đủ vũ khí, khí tài, vượt một khoảng cách xa trong thời gian cực ngắn.

Tháng 2 này, khi chúng ta hồi tưởng Cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới thiêng liêng của Tổ quốc, tưởng nhớ các liệt sĩ ngã xuống khi giữ gìn cương vực lãnh thổ, hãy dành một phút để nhớ về họ, những chiến sĩ Xô viết đã hy sinh khi làm nhiệm vụ để ủng hộ chúng ta từ xa./.

Ảnh 1: Nguyên soái Sergey Sokolov, cố Bộ trưởng Quốc phòng Liên Xô.

Ảnh 2: Lính dù thuộc Sư đoàn cận vệ số 106 tham gia một cuộc tập trận ở Kazakhstan.

Môi Trường ST.

Vùng an toàn cho trẻ trên không gian mạng

 


Đừng “tặc lưỡi” dễ dàng

Nhiều cha mẹ thừa nhận, dịp nghỉ lễ, con trẻ có xu hướng sử dụng thiết bị điện tử nhiều hơn. Phần vì được nghỉ học, phần vì cha mẹ bận rộn nên không có thời gian chơi cùng con… Đến chúc Tết nhau, không lạ gì cảnh mỗi đứa trẻ cầm một máy để chơi.

Bên cạnh những lợi ích, việc trẻ em sử dụng Internet quá mức sẽ ảnh hưởng xấu tới sức khỏe tinh thần, hay khả năng gặp nhiều rủi ro trên môi trường mạng.

Cụ thể là mất thông tin cá nhân, lừa đảo, bị quấy rối, nghiện game online, xem các ấn phẩm không phù hợp. Thậm chí, trẻ có thể đối mặt với các thông tin sai lệch, hay các nguy cơ bị xâm hại tình dục trên môi trường mạng. Có trường hợp, trẻ bị lôi kéo tham gia những thử thách nguy hại đến tính mạng…

Chuyên gia Nguyễn Thành Tiến, CEO Công ty Phần mềm thiết bị số hóa Việt Nam cho biết, trên môi trường mạng hiện nay, các công ty bảo mật đã phát hiện nhiều mã độc, phần nhiều là liên quan đến các ứng dụng cho trẻ em.

Những nội dung độc hại với trẻ em được lồng ghép rất tinh vi. Nếu chỉ nhìn thoáng qua, phụ huynh sẽ chỉ thấy là con đang xem điện thoại, tivi, máy tính… từ đó mà quên mất sự cảnh giác.

Ngoài ra, hiện tượng kẻ xấu xâm nhập vào địa chỉ lớp học/phòng học trực tuyến, đăng tải nội dung xấu, phản cảm, phản giáo dục gây ra mối nguy hại lớn cho học sinh. Chưa kể đến những dấu hiệu lạm dụng, quấy rối, bắt nạt trẻ em, học sinh, sinh viên trên mạng.

Tuy nhiên, trong thời đại 4.0, Internet là một phương tiện cung cấp thông tin, giải trí, không thể thiếu trong đời sống, kể cả với trẻ em. Vì thế phụ huynh, người làm giáo dục, những nhà hoạch định chính sách cần có trách nhiệm chung tay bảo vệ hệ sinh thái, đảm bảo an toàn trên môi trường mạng. Những cái “tặc lưỡi” dễ dàng, những sự kiểm duyệt qua loa về thế giới mạng vô tình sẽ để con mình tiếp cận mỗi ngày với cái xấu mà không hay biết.

Cục trưởng Cục Trẻ em (Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội) Đặng Hoa Nam cho biết, trong thời gian giãn cách xã hội do đại dịch, Tổng đài quốc gia bảo vệ trẻ em 111 nhận được rất nhiều cuộc gọi của trẻ em và các bậc phụ huynh.

Trong đó, nhiều cha mẹ bày tỏ băn khoăn, lo lắng về việc con em sử dụng các thiết bị công nghệ truy cập mạng trong thời gian dài. Những năm trước, dịp nghỉ lễ Tết cũng gia tăng mối quan tâm này của cha mẹ với mong muốn nhận được hỗ trợ.

Từ thực tế trên cho thấy, những tác động và ảnh hưởng từ “thế giới ảo” đang ngày càng gia tăng và nguy hiểm. Trẻ em có thể là nạn nhân, người đón nhận, người tham gia hoặc người khởi xướng các hành vi có nguy cơ bị xâm hại trên Internet. Do đó, vấn đề đảm bảo an toàn không gian mạng cho trẻ em đang trở nên cấp bách hơn bao giờ hết.

Điều chỉnh thông điệp phù hợp

Đối với phụ huynh cần nâng cao trách nhiệm, dành nhiều thời gian quan tâm, hỗ trợ học sinh kết nối, sử dụng phòng học trực tuyến an toàn. Đồng thời, cần có biện pháp quản lý trong thời gian con em tham gia học trực tuyến và sử dụng Internet.

Bên cạnh việc học tập, vui chơi giải trí trên môi trường Internet cũng đang gióng lên những hồi chuông cảnh báo về đảm bảo an toàn đối với trẻ em. Nhiều người nghĩ thanh thiếu niên hay trẻ em ngày nay đang ở trong thời đại công nghệ nên họ sử dụng những sản phẩm công nghệ thành thạo hơn rất nhiều những lớp người đi trước.

Thật vậy, đến ngay cả một đứa trẻ cũng có thể sử dụng điện thoại và máy tính bảng nhanh hơn cả người lớn. Tuy nhiên, để tham gia môi trường mạng an toàn, các em cần phải được học cách lên mạng trực tuyến cũng như biết cách xử lý khi phát sinh vấn đề.

“Ngay từ nhỏ, các em cần được hướng dẫn những kỹ năng để truy cập vào môi trường mạng một cách an toàn, giúp các em có thể tự bảo vệ chính mình. Điều này đòi hỏi một quá trình lâu dài để những kiến thức đó trở thành kỹ năng sống cho các em.

Đặc biệt trong những dịp nghỉ lễ dài hay thời điểm giãn cách do dịch bệnh, cha mẹ càng phải kiểm soát chặt thời gian sử dụng thiết bị điện tử của con”, cô giáo Lê Vân Anh, Trường Tiểu học Ngọc Khánh (Hà Nội) cho biết.

Theo các chuyên gia, trẻ em và gia đình cần học hỏi các kiến thức và kỹ năng số thiết yếu. Những quy định về hành vi, chuẩn mực trong cuộc sống thật cũng nên được áp dụng cho môi trường ảo để các em có thể trở thành những công dân số chuẩn, có trách nhiệm. Bên cạnh đó, nhằm góp phần bảo đảm bảo an toàn cho trẻ trên không gian mạng, Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) cũng đã đưa ra một số khuyến nghị về vấn đề này.

Đó là những mẹo công nghệ giúp cha mẹ bảo vệ trẻ trên môi trường mạng như cài đặt chế độ kiểm soát của cha mẹ. Đồng thời bật tính năng Tìm kiếm An toàn trên trình duyệt. Phụ huynh cũng có thể cài đặt bảo mật riêng tư nghiêm ngặt trên các ứng dụng và trò chơi trực tuyến. Bên cạnh đó, cần che/tắt webcam khi không sử dụng.

Cha mẹ cũng cần tạo lập thói quen trực tuyến và an toàn như khuyến khích trẻ tham gia xây dựng các quy định trong gia đình về sử dụng thiết bị lành mạnh. Hướng dẫn trẻ cách giữ kín thông tin cá nhân. Thậm chí, người lớn cần nhắc nhở trẻ rằng những gì đăng tải lên môi trường mạng sẽ không thể thu hồi.

Theo cô giáo Lê Vân Anh, việc giao tiếp cởi mở với con sẽ góp phần giúp trẻ an toàn. Vì vậy, phụ huynh cần trò chuyện với trẻ rằng nếu có trải nghiệm trên mạng khó chịu, không thoải mái hoặc sợ hãi… thì có thể nói chuyện với bố mẹ. Đồng thời, cần chú ý đến các dấu hiệu phiền muộn ở trẻ, đặc biệt các biểu hiện như thu mình, buồn bã, giữ bí mật, bị ám ảnh bởi các hoạt động trực tuyến.

BÀI HỌC TỪ UKRAINA

 

Báo chí loan tin 1.500 tấn vũ khí, đạn dược do Mỹ và các nước phương Tây viện trợ đã ồ ạt đưa đến Ukraina để hỗ trợ nước này để “tự vệ” trước nguy cơ bị Nga tấn công quân sự. Nếu chỉ nhìn vào truyền thông, chúng ta sẽ thấy một cuộc chạy đua vũ trang giữa Nga với Mỹ và phương Tây trong thế giới hiện đại và Ukraina chính là quân cờ.

Ukraina là một quốc gia địa chính trị, nằm trên ngã tư đi châu Âu và châu Á. Từ cuộc “cách mạng màu cam” diễn ra bằng những cuộc biểu tình phản đối kết quả bầu cử Tổng thống bị cho là gian lận năm 2005 đến nay, cứ chu kỳ 05 năm là đất nước Ukraina lại nổ ra chính biến và bất ổn. Đất nước này đã trải qua những đợt khủng hoảng kinh tế - xã hội đen tối nhất khi lạm phát tăng mà số người thất nghiệp, thu nhập thực tế của người dân giảm; mặc dù được Mỹ và phương Tây viện trợ hàng chục tỷ Mỹ kim. Một thực tế cho thấy, hơn 15 năm nay, người dân Ukraina chưa một ngày được “tận hưởng” những thành quả do cái gọi là “cách mạng đường phố” và “giá trị phương Tây” mang lại. Một tương lai bất định cho cả chính quyền và người dân xứ “giỏ bánh mì của châu Âu”. 

Chiến tranh hay chạy đua vũ trang thì chỉ có người dân là khổ. Bài học của Ukraina cũng như bài học của các nước ở Trung Đông, Bắc Phi còn nguyên giá trị cho đến ngày nay.

Ukraina đã trải qua nhiều cuộc lật đổ, nhưng đất nước vẫn thiếu đi một định hướng phát triển ổn định và đúng đắn. Thực tế Ukraina cho thấy sự đúng đắn của chiến lược đối ngoại và sự khéo léo trong ứng xử với các nước lớn của Việt Nam khi chúng ta vẫn giữ được sự độc lập, ổn định như ngày nay. Thực tế này cũng phủ định hoàn toàn luận điệu của đám dân chủ và những kẻ có ý đồ xấu khi lợi dụng các thời điểm quan hệ Việt Nam - Trung Quốc căng thẳng để kêu gọi, kích động gây hấn quân sự hoặc theo nước này, bài nước kia.

Chính trị có ổn định thì kinh tế mới có cơ hội phát triển, người dân mới có điều kiện để làm ăn và hưởng thụ cuộc sống.

CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN PHẢI LUÔN TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH

 


Quán triệt và thực hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình, trong suốt quá trình xây dựng và hoạt động của Đảng, Đảng ta luôn coi trọng phê bình và phê bình, Đảng ta khẳng định tự phê bình và phê bình là quy luật phát triển của Đảng, là thước đo trình độ sinh hoạt dân chủ trong Đảng và là ý thức trách nhiệm của Đảng với nhân dân. Tự phê bình và phê bình là phương pháp để giáo dục, rèn luyện đảng viên, là vũ khí sắc bén để chống tả khuynh và hữu khuynh; uốn nắn những lệch lạc trong nhận thức; ngăn chặn suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; khắc phục tư tưởng ngại khó, ngại khổ; tư tưởng chủ quan, nóng vội, duy ý chí của cán bộ, đảng viên.

Hiện nay vẫn còn những biểu hiện xem nhẹ, chưa thực sự nghiêm túc thực hiện tốt nguên tắc tự phê bình và phê bình. Vì vậy, các tổ chức Đảng cần làm tốt công tác chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên để thấy được mục đích, ý nghĩa, tác dụng của tự phê bình và phê bình chính là để giúp nhau cùng tiến bộ, từ đó có giải pháp để thực hiện tự phê bình và phê bình đạt kết quả tốt, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiếu đấu của tổ chức đảng, giữ gìn phẩm chất, tư cách đảng viên, nâng cao uy tín của Đảng và củng cố niềm tin của quần chúng đối với Đảng để thực hiện tốt mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam dân giầu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.

Là người cán bộ cao cấp của Đảng trong Quân đội luôn nhận thức sâu sắc vai trò, vị trí tầm quan trọng của nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong đảng. Do vậy, luôn gương mẫu thực hiện tốt nguyên tắc, góp phần xây dựng chỉnh đốn đảng trong tình hình mới.

 

NÊU GƯƠNG LÀ TRÁCH NHIÊM CỦA CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN

 

Đảng viên tự giác nêu gương chính là làm gương cho mọi hành động, việc làm và thực hiện nghiêm chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tự giác nêu gương của cán bộ, đảng viên luôn là chuẩn mực đạo đức để quần chúng soi rọi, noi theo. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy: Cán bộ là cái gốc của mọi việc. Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém. Người cũng căn dặn: "Muốn dân tin, dân yêu, dân làm theo, thì mỗi cán bộ, đảng viên cần thải làm gương trước. Cán bộ, đảng viên là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Vì vậy, sự nêu gương của cán bộ, đảng viên có vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những biện pháp để đội ngũ cán bộ, đảng viên thực hiện chức trách, nhiệm vụ của mình chính là làm gương, nêu gương trong mọi lúc, mọi nơi cho cấp dưới và cho quần chúng nhân dân. Có thể khẳng định, thực hiện tốt biện pháp này sẽ góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, đồng thời thực hiện có hiệu quả việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong giai đoạn hiện nay.

Trong tình hình hiện nay trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ chiến dịch, chiến lược là yêu cầu khách quan và là biện pháp quan trọng để nâng cao uy tín, vị thế của mình trước tập thể và nhân dân. Đồng thời, phải tự giác, gương mẫu và rèn luyện, thực hiện tốt các biện pháp, chế tài của Đảng và pháp luật. Vì vậy, công tác giáo dục, trách nhiệm nêu gương, rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng là nhiệm vụ vừa cấp bách vừa lâu dài, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên thật sự trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

 

 

 

NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC KIỂM TRA GIÁM SÁT TRONG ĐẢNG BỘ QUÂN ĐỘI

 


Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng là một trong chức năng lãnh đạo của Đảng, có vai trò sống còn của Đảng ta. Do đó, khi các kết luận kiểm tra được thực hiện nghiêm túc có tác dụng phát huy ưu điểm, khắc phục các khuyết điểm, hạn chế sai phạm, nâng cao nhận thức của tổ chức đảng, đảng viên góp phần tăng cường kỷ cương, kỷ luật, tạo sự đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng.

Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, Đảng bộ Quân đội phải không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu và tăng cường đổi công tác kiểm tra, giám sát. Đó là một nội dung rất quan trọng trong công tác xây dựng Đảng bộ Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức trong thời kỳ mới. Do vậy, công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng phải được tăng cường với nhận thức và yêu cầu mới. Công tác kiểm tra, giám sát nhằm trước hết là nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; phòng ngừa, ngăn chặn sự suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng; kịp thời phát huy ưu điểm của tổ chức đảng và đảng viên, phát hiện chỉ rõ thiếu sót, khuyết điểm để uốn nắn, khắc phục. Theo yêu cầu đó, công tác kiểm tra, giám sát phải góp phần phát hiện và khắc phục được những khuyết điểm, thiếu sót khi mới manh nha. Kiểm tra, giám sát để chủ động phòng ngừa vi phạm, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy xây là chính. Trong đó có trách nhiệm rất lớn của đội ngũ cán bộ chiến dịch, chiến lược trong Quân đội. Vì vậy, phương pháp, hình thức, nội dung kiểm tra, giám sát từng bước được đổi mới phù hợp với tình hình mới; đồng thời, chủ động phối hợp với cơ quan chức năng, triển khai kịp thời chương trình, kế hoạch kiểm tra giám sát nhiệm kỳ, hàng năm cụ thể để đạt hiệu quả chất lượng tốt.

 

 

 

SỰ CẦN THIẾT KHẮC PHỤC BỆNH KINH NGHIỆM, GIÁO ĐIỀU

 

Bệnh kinh nghiệm, là khuynh hướng tư tưởng tuyệt đối hóa kinh nghiệm, coi thường lý luận khoa học; thỏa mãn với với vốn kinh nghiệm của bản thân, ngại học lý luận, không chịu khó nâng cao trình độ lý luận; tiếp xúc với lý luận ở trình độ tư duy kinh nghiệm, từ đó đơn giản hóa, kinh nghiệm hóa lý luận.

Bệnh giáo điều là khuynh hướng tư tưởng cường điệu hóa vai trò của lý luận, coi nhẹ thực tiễn, tách rời lý luận khỏi thực tiễn, thiếu quan điểm lịch sử - cụ thể. Nắm lý luận chỉ dùng ở câu chữ, không nắm được thực chất khoa học của lý luận; coi lý luận như những tín điều, không thấy được sức sống của lý luận là luôn sửa đổi, bổ sung; không biết vận dụng lý luận vào thực tiễn, không biết đem lý luận vận dụng vào thực hành.

   Để khắc phục bệnh kinh nghiệm, giáo điều là tuân thủ nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong nhận thức và hành động với các yêu cầu cơ bản đó là: Phải nhận thức đúng vai trò của lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, có trình độ hiểu biết hệ thống lý luận khoa học. Đồng thời, phải vận dụng lý luận sáng tạo vào thực tiễn luôn phải có quan điểm thực tiễn đúng đắn, tích cực hoạt động thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn, tích cực sơ, tổng kết thực tiễn để rút kinh nghiệm, phát triển lý luận một cách toàn diện.

Trong giai đoạn hiện nay sự cần thiết phải khắc phục, ngăn ngừa bệnh kinh nghiệm, giáo điều là nhiệm vụ tất yếu; vì vậy, cần phải từng bước khắc phục, ngăn ngừa có hiệu quả. Chúng ta cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp, để nâng cao năng lực tư duy lý luận khoa học cho đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược, quán triệt sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, để dấp ứng với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

 

 

 

Cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội (CNXH) và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”

 


Cuốn sách vừa được xuất bản của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thực sự là nguồn năng lượng mới, ánh sáng mới tiếp tục soi sáng con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. Qua các bài viết, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã trả lời thấu đáo những vấn đề lớn đang đặt ra hiện nay đối với cách mạng Việt Nam bằng lập luận sắc sảo và đầy chất thép.

Ngay từ Đại hội lần thứ VI, sau này là Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH năm 1991, đặc biệt là Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) và Văn kiện Đại hội XIII, Đảng luôn khẳng định: "Đi lên CNXH là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử". Đổi mới là để nhận thức rõ hơn về CNXH và con đường đi lên CNXH, đổi mới để có nhiều CNXH hơn. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, dẫu có lúc vận mệnh dân tộc như “ngàn cân treo sợi tóc”, thì chính bản lĩnh và sức sáng tạo của Đảng đã quyết định thắng lợi của cách mạng. Vì vậy, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định hàng đầu đến thắng lợi của cách mạng, bài học này đã được chứng minh trong thực tiễn lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc và công cuộc xây dựng CNXH hiện nay.

Những giải pháp, biện pháp được Tổng Bí thư đưa ra trong các bài viết thực sự là tiếng nói của Đảng về sự cấp bách phải xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị-những nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa quyết định. Thông điệp của Tổng Bí thư trong các bài viết còn thể hiện rõ quan điểm về tầm quan trọng của việc hoạch định đường lối lãnh đạo phải luôn sáng tạo và gắn sát thực tiễn; tuyệt đối không được giáo điều, máy móc dẫn đến tình trạng xơ cứng trí tuệ và lạc hậu. Chỉ có như vậy chúng ta mới được “truyền thêm sinh lực mới”, giúp khắc phục được những khó khăn và đạt được mục tiêu xây dựng CNXH, mà trước mắt là đến năm 2045 nước ta trở thành nước phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa có thu nhập cao.

HAIVAN