Thứ Ba, 8 tháng 3, 2022

NGHIÊN CỨU NẮM VỮNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC, TÔN GIÁO CÓ Ý NGHĨA QUAN TRỌNG TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY

 


Dân tộc, tôn giáo là những vấn đề phức tạp có liên quan chặt chẽ với nhau không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, nhất là các quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo. Lịch sử thế giới cho thấy, khi nào vấn đề dân tộc, tôn giáo đ­­ược giải quyết thành công thì xã hội mới có sự ổn định và phát triển; nếu giải quyết không tốt sẽ dẫn đến xung đột, làm mất ổn định xã hội. Đảng, Nhà nước Việt Nam thường xuyên quan tâm thực hiện tốt công tác dân tộc, tôn giáo, tạo động lực to lớn góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trong những năm vừa qua.

Đặc biệt trong tình hình hiện nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hoà bình” chống cách mạng Việt Nam với phương châm lấy chống phá về chính trị, tư tưởng làm hàng đầu, kinh tế làm mũi nhọn, ngoại giao làm hậu thuẫn, tôn giáo, dân tộc làm ngòi nổ, kết hợp với bạo loạn lật đổ, uy hiếp, răn đe, gây sức ép về quân sự.  Vì vậy, công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta chỉ có thể thành công trên cơ sở lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động, đồng thời phải xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của đất nước và gắn với đặc điểm của thời đại hiện nay. Tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, trước hết đòi hỏi Đảng phải đổi mới tư duy, nhìn nhận và đánh giá đúng những vấn đề lý luận và thực tiễn, trong đó có vấn đề dân tộc và tín ngưỡng, tôn giáo đang và sẽ có nhiều biểu hiện mới, đa dạng, phức tạp, cần giải quyết đúng đắn.

Việc nghiên cứu nắm vững đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về dân tộc, tôn giáo có ý nghĩa vô cùng quan trọng và cấp bách trong tình hình hiện nay, nhất là đối với cán bộ cấp CD-CL trong quân đội.

ĐẢNG TA, ĐẢNG CỦA SỨC MẠNH, ĐẢNG CỦA LÒNG DÂN

 


Đảng Cộng sản Việt Nam- Đảng của sức mạnh, Đảng của lòng dân, Đảng là niềm tin tất thắng. Đây không những sự đánh giá, mà là sự đúc kết gửi chọn niềm tin vào Đảng của nhiều tổ chức, cá nhân trong đó có nhân dân thế giới.

Đúng vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi ra đời đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh giáo dục, rèn luyện; được nhân dân gửi chọn niềm tin; được thực tiễn kinh qua thử lửa, trải qua 92 mũa xuân, Đảng đã cùng nhân dân làm nên nhiều chiến công hiển hách, đưa đất nước, dân tộc Việt Nam từ kiếp nô lệ, trở thành dân tộc độc lập, người dân là những con người làm chủ, có cuộc sống tự do, hòa bình độc lập, ấm no hạnh phúc. Nghiên cứu về Đảng sẽ có nhiều điều khiến chúng ta tâm đắc, trong đó có một yếu tố vừa là nguyên nhân vừa là động lực là càng khó khăn thì Đảng ta càng mạnh mẽ, càng trong sáng hơn.

Các tiền bối có dạy: “Lửa thử vàng, gian lan thử sức”. Vàng phải được thử qua lửa thì mới biêt là vàng tốt, gian lan phải thử sức thì mới biết là sức dẻo dai. Với một tổ chức cũng vậy, phải qua khó khăn, thử thách mới biêt là tổ chức đó vững mạnh hay không. Trong phòng, chống dịch COVID-19 vừa qua, Đảng ta thực sự là một Đảng của dân, do dân, vì dân. Đó là những quyêt sách nhanh chóng khi phát hiện đại dịch COVID-19; đó là những chính sách trong chống dịch với chủ trương: Tất cả vì người dân trong chống dịch; không để ai bị bỏ lại phái sau; đó là chiến lược 5k; chiến lược vắcxin thần tốc v.v…Những chủ trương trên, đã thực sự có hiệu quả trong chống dịch hiện nay, đã mang lại cho nhân dân ta vị thế: Một quốc gia là điểm sáng trong chống dịch và trong phát triển kinh tế- xã hội hiện nay

Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng phát triển


 Tôn trọng lợi ích, truyền thống, văn hoá, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng của các dân tộc. Chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, kỳ thị dân tộc và chia rẽ dân tộc. Các chính sách kinh tế - xã hội phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số.

 Đảng và Nhà nước thực hiện một chiến lược kinh tế chung trong đó ưu tiên đúng mức cho sự phát triển kinh tế ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn lạc hậu. Thực hiện điều đó vừa đáp ứng yêu cầu khai thác tiềm năng to lớn của các vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn lạc hậu, vừa đáp ứng yêu cầu xoá bỏ dần sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế giữa các dân tộc, các vùng để các dân tộc thực sự bình đẳng và hoà hợp với nhau hơn. Tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu số có tốc độ phát triển kinh tế nhanh nhưng bằng những hình thức, bước đi phù hợp với đặc điểm dân tộc. Phát huy hiệu quả của sự giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, trong đó đánh giá đúng mức vai trò tác dụng sự giúp đỡ của các dân tộc đa số, có trình độ phát triển cao hơn đối với các dân tộc thiểu số còn ở trình độ lạc hậu. Thực hiện tốt việc giao đất, giao rừng cho các hộ gia đình, tạo  điều kiện cho nhân dân chủ động sản xuất, gắn bó với đất, với rừng. Chương trình cấp Nhà nước về định canh, định cư cần được đầu tư thoả đáng và tổ chức thực hiện tốt (hiện nay trong cả nước còn 1 triệu người sống du canh, du cư)

 Trên cơ sở phát triển kinh tế, công cuộc cải tạo và phát triển về mặt xã hội ở các vùng dân tộc thiểu số cần gắn chặt với việc thực hiện chương trình phân bổ lại lao động xã hội để hình thành một cơ cấu xã hội dân cư mới ở các vùng này. Điều đó có ý nghĩa xã hội cực kỳ quan trọng, nó sẽ tạo ra một động lực mạnh mẽ thúc đẩy bước tiến của các dân tộc thiểu số còn đang ở trình độ lạc hậu.

 Quan tâm đến sự phát triển văn hoá, giáo dục của mỗi dân tộc, tạo điều kiện để thực hiện xoá mũ chữ, phổ cập giáo dục cũng như tạo điều kiện cho từng dân tộc khai thác, phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc mình bằng khả năng sẵn có. Đồng thời bằng nhiều hình thức, thúc  đẩy một cách hợp lý quá trình giao lưu, hoà hợp tinh hoa văn hoá của các dân tộc mà tác dụng của nó vừa làm cho nền văn hoá xã hội chủ nghĩa Việt Nam đậm đà bản sắc dântộc được thúc đẩy mạnh mẽ.

 Thực hiện và bảo đảm về mặt pháp lý quyền bình đẳng  giữa các ngôn ngữ trên lãnh thổ Việt Nam, tạo điều kiện để có được quyền bình đẳng thực tế của các ngôn ngữ. Nội dung quyền bình đẳng giữa các ngôn ngữ được thể hiện ở chỗ các dân tộc được quyền sử dụng ngôn ngữ của mình trong tất cả các lĩnh vực của đời sống,  các phạm vi giao tiếp, từ nội bộ các dân tộc đến ngoài xã hội, trong giáo dục, trên các phương tiện thông tin đại chúng, trước toà án, trên các giấy tờ hành chính  cũng như thư tín cá nhân…; đồng thời, có chính sách tích cực  để phổ biến nhanh chóng và sâu rộng ở trình độ cao ngôn ngữ phổ thông- tiếng việt- trong tất cả các dân tộc thiểu số ở nước ta. Tiếng Việt  là ngôn ngữ chung, ngôn ngữ quốc gia của tất cả các dân tộc, là phương tiện giao lưu văn hoá giữa các dân tộc ở Việt Nam với các dân tộc khác trên thế giới.

 Quan tâm đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, văn hoá, khoa học… cho từng dân tộc; đồng thời giáo dục tinh thần đoàn kết hợp tác cho cán bộ các dân tộc, bởi vì chỉ tinh thần đó mới phù hợp với đòi hỏi khách quan của công cuộc phát triển dân tộc và xây dựng đất nước. Trong công cuộc đó, không dân tộc nào có thể chỉ sử dụng đội ngũ cán bộ xuất thân từ dân tộc mình, ngược lại, cần sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các đội ngũ cán bộ thuộc mọi dân tộc trong cả nước.

 Đưa vào vị trí trung tâm của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng việc giáo dục cho nhân dân các dân tộc lòng tự hào chân chính về dân tộc mình, đồng thời giáo dục về chủ nghĩa yêu nước, yêu mến Tổ quốc Việt nam, tinh thần quốc tế chân chính. Đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc, thái độ hư vô, xem nhẹ vấn đề dân tộc, tâm lý tự cao của dân tộc lớn; tâm lý hẹp hòi, khép kín của dân tộc nhỏ. 

Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và an ninh- quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, quốc phòng- an ninh

 


Về chính trị, mở rộng, phát huy dân chủ, nâng cao chất lượng tham kiến về chính trị đối với đồng bào các dân tộc thiểu số.

Về kinh tế, quy hoạch lại các điểm dân cư phân tán tại địa bàn Miền núi, đồng bào dân tộc. Nghiên cứu cơ chế quản lý liên kết hợp tác phát triển vùng phù hợp, tạo điều kiện phát triển các khu vực, địa bàn còn nhiều khó khăn, nhất là miền núi, biên giới hải đảo, Tây bắc, Tây nguyên, Tây Nam bộ và  phía tây các tỉnh miền trung.

Về văn hoá - xã hội, quan tâm phát triển giáo dục dạy nghề trong đồng bào dân tộc thiểu số và các vùng khó khăn. Đẩy mạnh giảm nghèo bền vững, nhất là các vùng đặc biệt khó khăn và có chính sách đặc thù để giảm nghèo nhanh hơn trong đồng bào dân tộc thiểu số. Hoàn thiện mạng lưới cơ sở y tế, nhất là miền núi, biên giới, hải đảo. Tăng cường nhân lực y tế cho khu vực nông thôn, miền núi, biên giới, hải đảo. Phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, giữ gìn bản sắc tốt đẹp của các dân tộc. Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Kịp thời di dời đồng bào ra khỏi khu vực sạt lở, lũ lụt. Tăng cường bảo vệ và phát triển rừng bền vững, nhất là rừng phòng hộ, ven biển, rừng đầu nguồn, rừng đặc dụng; bảo tồn thiên nhiên, đa dạng sinh học, bảo vệ và tái tạo nguồn lợi thuỷ sản. Xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Giữ gìn và phát huy truyền thống, tập quán tốt đẹp của làng quê Việt Nam.

Về quốc phòng - An ninh, kết hợp tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội trong các khu vực phòng thủ, phải bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh nhất là ở những vị trí trọng yếu, chiến lược. Xây dựng đường tuần tra biên giới. Nâng cao hiệu quả hoạt động các khu kinh tế- quốc phòng và phát triển bền vững kinh tế- xã hội khu vực dọc biên giới và biển đảo.

Phát huy sức mạnh các tổ chức tôn giáo trong thực hiện công tác tôn giáo

 


 Phải đa dạng hóa các hình thức vận động để phù hơp với từng đối tượng; trước hết thực hiện tốt việc vận động các chức sắc, chức việc, các tín đồ có uy tín; sau đó là việc vận động các tín đồ tôn giáo yêu nước; đồng thời giáo dục, động viên những tín đồ lẫm lỡ quay về với cách mạng. Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức công tác vận động quần chúng, tín đồ các tôn giáo; biết vận dụng khai thác các điểm tốt trong các giáo lý, đạo đức tôn giáo; chỉ rõ âm mưu, thủ đoạn lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch để đồng bào các tôn giáo nhận diện và đấu tranh.

Căn cứ vào đặc điểm của mỗi tôn giáo, tình hình cụ thể của mỗi địa phương, nhất là những nơi có đông đồng bào tôn giáo để có hình thức, biện pháp vận động, tuyên truyền. Thực hiện tốt phương châm: kiên trì, khéo léo, tế nhị, tự tin trong tuyên truyền vận động quần chúng tín đồ, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, thành phần thích hợp trong tiến hành công tác vận động quần chúng, tranh thủ tối đa sự ủng hộ giúp đỡ của các chức sắc, nhà tu hành trong tuyên truyền vận động tín đồ các tôn giáo. Vì vậy, phải có cơ chế, phương thức phối hợp và kế hoạch cụ thể trong công tác vận động quần chúng.

TRUYỀN THỐNG ĐOÀN KẾT CON NGƯỜI VIỆT NAM CẦN ĐƯỢC PHÁT HUY HƠN NỮA TRONG CHỐNG DỊCH COVID-19 HIỆN NAY

 


Đoàn kết, tương thân, tương ái, nghĩa cử đồng bào, tình làng, nghĩa xóm là truyền thống và là nét đẹp văn hóa của con người Việt Nam được tồn tại phát triển từ khi dựng nước, giữ nước đến ngày nay. Đoàn kết là cơ sở, nền móng giúp Việt Nam vượt qua mọi gian lan, mưa bom, bão đạn và phát triển

          Thời gian vừa qua, trong chống dịch COVID-19, Việt Nam đã phát huy tốt tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, giúp đỡ nhau trong chống dịch, đã đạt được kết quả đáng khích lệ. Chính sự tương thân, tương ái đó đã góp phần tạo nên tính tự giác, trách nhiệm, ý chí quyết tâm cao trong chống dịch, đã tạo nên nguồn mạch sống của ý chí yêu nước, kiên cường, bất khuất mà khi bắt gặp sự vào cuộc kịp thời cùng với các giải pháp tổ chức chống dịch chặt chẽ của chính quyền là két quả của sự thăng lợi trong chống dịch. Và với kết quả chống dịch thời gian qua của Việt Nam đã thực sự là điểm sáng để cộng đồng thế giới nghiên cứu, học tập. Tuy nhiên, trong thòi gian gần đây, trong cộng đồng đã xuất hiện tâm lý lơ là, chủ quan, mất cảnh giác, thậm trí một số người còn có biểu hiện trách nhiệm kém trong chống dịch. Điều này được biểu hiện tại một số khu vực đông người còn nhiều hiện tượng người dân không chấp hành nghiêm quy định giãn cách, nhất là trong các khu vực quán ăn, quán nhậu, quán cà phê, quán vui chơi…Chính không thực hiện nghiêm quy định giãn cách này là một trong những nguyên nhân mà dịch bùng phát. Nguyên nhân chính có hiện tượng này là do nhiều người dân nghĩ rằng khi đã tiêm đủ liều vắc xin thì sẽ không bị lây, hoặc có bị lây nhiễm cũng sẽ bị ở dạng nhẹ. Những suy nghĩ lệch lạc trên chính là biểu hiện của tinh thần yêu nước không liên tục được thăp sáng

Thiết nghĩ, thời gian này, khi phần lớn người dân đã tiêm đủ liều vắcxin, thì trong cộng đồng COVID-19 phải được đẩy lùi, nhưng nó lại tiến triển theo chiều ngược lại. Đây là những vấn đề chúng ta phải suy nghẫm. Tuy nhiên theo tôi, ý thức trách nhiệm của người dân ở giai doạn này là yếu tố quyết định nhất trong chống dịch. Chính vì vậy, chúng ta phải tập trung đẩy mạnh xây dựng ý thức trách nhiệm của người dân. Để xây dựng ý thức trách nhiệm của người dân trong chống dịch cần huy động nhiều biện pháp, nhưng trong đó có một biện pháp căn bản nhất đó là thắp sáng lên chủ nghĩa yêu nước, tinh thần cách mạng của mỗi người dân trong chống dịch COVID-19.

NGOẠI TRƯỞNG ĐỨC: CẤM DẦU KHÍ CỦA NGA, CHÂU ÂU CÓ TẮT ĐIỆN CŨNG KHÔNG CẢN ĐƯỢC XE TĂNG!

         Ngày 6.3, Ngoại trưởng Đức Annalena Baerbock cảnh báo việc trừng phạt nhắm vào nhiên liệu hóa thạch của Nga sẽ là vô nghĩa vì biện pháp này không thể duy trì lâu dài.

Bà Baerbock nói: "Sẽ không ích lợi gì nếu ba tuần tới, chúng ta nhận ra rằng số nhiên liệu còn lại chỉ đủ phát điện ở Đức trong vài ngày và rồi chúng ta phải rút lại các lệnh trừng phạt".

Trong một cuộc phỏng vấn khác, Ngoại trưởng Baerbock nói thêm rằng Đức đã sẵn sàng "phải trả một cái giá kinh tế rất, rất cao" nhưng "nếu vài ngày nữa mà Đức hoặc châu Âu phải mất điện thì cũng sẽ không ngăn cản được những cỗ xe tăng". (Có thể ý bà này nói là cản những cỗ xe tăng Nga ở chiến trường hoặc đang nói ẩn dụ về cỗ xe tăng Đức?!)

Đức phụ thuộc rất nhiều vào nhiên liệu hóa thạch của Nga. Ước tính khoảng 55% khí đốt, 42% dầu và than của Đức được nhập khẩu từ Nga.

Bộ trưởng Tài chính Đức Christian Lindner cũng tỏ ra nghi ngờ về lệnh cấm nhập khẩu dầu từ Nga. Giá khí đốt ở châu Âu và ở Anh đã tăng lên mức cao kỷ lục vào tuần trước do lo ngại nguồn cung bị gián đoạn. Giá dầu cũng đang tiếp tục tăng cao, với giá dầu Brent giao sau tăng vọt lên gần 140 USD/thùng, mức cao nhất kể từ năm 2008.

Ông Lindner gợi ý rằng thay vì tẩy chay năng lượng Nga, vòng trừng phạt tiếp theo của G7 sẽ nhằm vào các nhà tài phiệt trở nên giàu có dưới thời Tổng thống Nga Vladimir Putin. Đức là nước hiện giữ chức chủ tịch luân phiên của nhóm G7.

Các phát biểu này được đưa ra sau khi Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky kêu gọi đồng minh phương Tây áp dụng thêm các biện pháp trừng phạt đối với Moscow, bao gồm tẩy chay sản phẩm dầu khí của Nga.

Ngày 6.3, Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken cho biết Mỹ và châu Âu đang "rất tích cực thảo luận" về việc nhắm vào nhiên liệu hóa thạch của Nga trong bối cảnh chiến sự ngày một khốc liệt.

Nga đang phải hứng chịu một làn sóng trừng phạt nhằm cô lập nước này khỏi hệ thống tài chính quốc tế. Tổng thống Putin đã gọi động thái này là một lời tuyên chiến./.

Môi Trường ST.

Đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống đồng bào có đạo trong tình hình hiện nay

 


Nhà nước cần quan tâm đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng sâu, vùng xa, vùng có đồng bào tôn giáo còn gặp nhiều khó khăn; có chính sách ưu tiên về vốn để xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng kinh tế, nâng cao kỹ thuật, áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ, nhất là công nghệ sinh học; hướng dẫn đồng báo tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa phát triển sản xuất hàng hóa… để đồng bào nâng cao dần mức sống, tạo cơ sở kinh tế để nâng cao sức mạnh nội sinh từ cơ sở, địa bàn. Đồng thời làm tốt công tác quy hoạch và thực hiện tốt chính sách định canh, định cư, có giải pháp phù hợp trong nâng cao hiệu quả thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội như chương trình 135, các chương trình xóa đói giảm nghèo, phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, giao thông miền núi…, hạn chế và dần chấm dứt di dân tự do, gắn kết chặt chẽ giữa quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh trong chương trình, kế hoạch, dự án cụ thể ở từng cơ sở, địa bàn.

Đi đôi với đẩy mạnh phát triển kinh tế, phải tích cực xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, nhất là ở các làng bản…đồng bào dân tộc thiểu số có tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa và bảo đảm an sinh xã hội. Do vậy cần quan tâm đầu tư, phát triển kết cấu hạ tầng văn hóa, giáo dục, y tế như trường học, trạm xá, nhà văn hóa thôn bản…để nâng cao dân trí, phòng chống dịch bệnh, chăm sóc sức khỏe cho đồng bào. Đổi mới hoàn thiện chính sách về định canh, định cư, chính sách đào tạo nguồn nhân lực, tạo việc làm, chính sách chăm lo cho những người có công, người có hoàn cảnh éo le, cơ nhỡ là tín đồ các tôn giáo. Mặt khác, để đồng bào tôn giáo phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức của tôn giáo mình trong xây dựng phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, chúng ta cần tích cực phát động các cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa phù hợp với đức tin, tâm lý, tập quán của đồng bào theo từng tôn giáo cụ thể phù hợp với đặc điểm vùng, miền khác nhau; qua đó, hạn chế đẩy lùi các tiêu cực, lạc hậu như mê tín dị đoan, cả tin đi theo các tà dạo, theo những kẻ xấu xúi giục thực hiện những hành vi phá rối an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội…

Giải quyết tốt vấn đề dân tộc là nhiệm vụ cấp bách hiện nay của Đảng, Nhà nươc ta

 


Giải quyết tốt vấn đề dân tộc là nhiệm vụ cấp bách hiện nay của Đảng, Nhà nươc ta, được biểu hiện trên 3 lý do:

Thứ nhất, Từ tình hình dân tộc trên thế giới hiện nay 

 Độc lập dân tộc gắn với chủ quyền quốc gia vẫn là xu thế của thế giới. Mỗi quốc gia dân tộc dù lớn hay nhỏ, đều cố gắng khẳng định giá trị dân tộc như quyền tự quyết định chế độ xã hội, kinh tế, đường lối phát triển đất nước, khẳng định sự bình đẳng giữa các quốc gia trong sinh hoạt quốc tế. Lợi ích quốc gia được các nước đặt lên hàng đầu trong các hoạt động đối ngoại. Chính phủ các nước đều coi trọng việc xác lập, bảo vệ và củng cố các giá trị truyền thống, bản sắc dân tộc, thực thi nhiều chính sách phát triển kinh tế- xã hội tích cực, cố gắng tạo lập sự hài hoà lãnh thổ, vùng miền, sắc tộc nhằm hướng tới sự đồng thuận, gắn kết quốc gia. Về mặt đối ngoại, ranh giới ý thức hệ, tôn giáo, lý tưởng cùng chung chế độ xã hội không còn nhiều ý nghĩa mà thay vào đó là các điểm tương đồng về lợi ích quốc gia dân tộc và được xem là cơ sở để lựa chọn và xây dựng các mối quan hệ song phương, đa phương. Lợi ích quốc gia dân tộc đôi khi được đánh đổi bằng các cuộc chiến tranh xâm lược hay các cuộc đàn áp đối phương.

 Trên thế giới hiện nay, do không giải quyết tốt vấn đề dân tộc cho nên xung đột dân tộc, sắc tộc, ly khai dân tộc, CN dân tộc cực đoan, dân tộc cường quyền gia tăng; ( Nửa cuối thế kỷ 20 có 300 cuộc xung đột, bạo loạn dân tộc; trong 160 DTTS/180 (4000- 8000 tộc người) có 1/3 nước có xung đột dân tộc. Hàng năm có 1-3 xung đột dân tộc mới (thế kỷ 21 là thế kỷ xung đột sắc tộc và tôn giáo)…, điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh, chính trị các quốc gia dân tộc, trong đó có Việt nam.

Thứ hai, Xuất phát từ những hạn chế, yếu kém của công tác dân tộc hiện nay, nhất là vấn đề an ninh phi truyền thống, trong đó nổi bật là trình độ, mức sống đồng bào DTTS rất thấp với các điều kiện ăn ở, sinh hoạt khó khăn, so sánh, có khoảng cách quá xa trên các lĩnh vực của đời sống xã hội so với dân tộc Kinh và so với từng dân tộc thiểu số với nhau. Điều đó mang đến nhiều hệ luỵ trong giải quyết mối quan  hệ giữa Đảng, Nhà nước ta với DTTS, dẫn đến niềm tin vào Đảng, vào chế độ  XHCN của đồng bào DTTS giảm sút, làm cho mâu thuẫn DTTS với dân tộc Kinh; mâu thuẫn dân tộc thiểu số với nhau và mâu thuẫn trong nội bộ dân tộc thiểu số ngày càng tăng, ảnh hưởng trực tiếp đến mối đại đoàn kết toàn dân.

Thứ ba, Các thế lực thù địch lợi dụng “dân tộc’, “tôn giáo” ‘dân chủ”, “nhân quyền” tuyên truyền, kích động chống phá sự nghiệp cách mạng.

Lợi dụng đời sống đồng bào DTTS khó khăn; trình độ học vấn thấp; so sánh mức sống người Kinh với DTTS, các DTTS với nhau; lợi dụng những hạnchế, yếu kém trong quản lý xã hội của Đảng, Nhà nước nói xấu, kích động chia rẽ, xây dựng lực lượng từ bên trong; khi lực lượng bên trong mạnh sẽ nổi dạy từ bên trong, kết hợp với can thiệp bên ngoài để lạt đổ chính quyền.

Đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo trên các lĩnh vực của đời sống xã hội

 


Trên lĩnh vực chính trị tư tưởng: thực hiện tuyên truyền vạch trần âm mưu, thủ đoạn của địch lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng, đồng thời làm cho các tín đồ hiểu rõ chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Trong tuyên truyền cần nhận thức rõ tôn giáo là một vấn đề tâm linh đã ăn sâu, bén rễ trong đời sống của không ít người trong nhiều dân tộc qua nhiều thế hệ. Tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là tôn trọng niềm tin, nghi thức thờ phụng, những sinh hoạt tôn giáo phù hợp với giáo lý, với truyền thống của dân tộc; nâng cao đạo đức, nhân cách con người, sống “tốt đời, đẹp đạo” chủ động đấu tranh chống lại những luận điệu xuyên tạc bóp méo sự thật, thay trắng, đổi đen lừa mị tín đồ của các thế lực thù địch, phản động.

Trên lĩnh vực kinh tế - xã hội: phải gắn đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo với cuộc đấu tranh chống nghèo nàn, lạc hậu. Một trong những thủ đoạn mà kẻ địch lợi dụng là dựa vào đời sống còn khó khăn của các tín đồ để dụ dỗ, kích động họ chống lại chính quyền. Vì vậy, đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo phải gắn với động viên các tín đồ tích cực lao động sản xuất, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần. Đồng thời phải kết hợp chặt chẽ với cuộc đấu tranh chống địch lợi dụng vấn đề dân tộc, dân chủ, nhân quyền, bởi các vấn đeè đó có mối quan heẹ chặt chẽ, đa xen với nhau.

Trên lĩnh vực đối ngoại: đây là lĩnh vực hết sức phức tạp và nhạy cảm mà các thế lực thù địch lợi dụng để can thiệp, chống phá nước ta. Chúng dựng lên cái gọi là “tự do tôn giáo ở Việt nam”, “nhân quyền ở Việt Nam” để lừa bịp dư luận thế giới, trắng trợn, vu cáo Nhà nước ta “đàn áp tôn giáo”… Do đó chúng ta cần quán triệt phương châm tích cực, chủ động, mềm dẻo, linh hoạt bác bỏ mọi luận điệu vu cáo, xuyên tạc, bóp méo sự thật về tình hình tôn giáo ở Việt Nam trên các diễn đàn quốc tế.

Không ngừng phát triển kinh tế- xã hội ở vùng dân tộc và miền núi

 


Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế, xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo.

Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế, xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo. Ưu tiên bố trí ngân sách nhà nước, tín dụng ưu đãi và huy động các nguồn lực ngoài nhà nước để đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế- xã hội. Đẩy mạnh tạo nghề với các hình thức đa dạng, phù hợp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn, miền núi. Tập trung giải quyết tình trạng du canh, du cư, di dân tự do. Khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái. Phát huy nội lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước. Phát huy nội lực, tự lực, tự cường của đồng bào.

PHÁT HUY HƠN NỮA PHẨM CHẤT BỘ ĐỘI CỤ HỒ TRONG CHỐNG DỊCH COVID-19

 


  Quân đội nhân dân Việt Nam- một quân đội anh hùng, quân đội của nhân dân, do nhân dân giáo dục, rèn luyện, sống và chiến đấu vì nhân dân. Trong thời bình, là đội quân nhiêm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Thời gian qua, với chức là đội quân lao động sản xuất, đội quân công tác, Quân đội ta đã không quản khó khăn, vượt lên mọi gian khổ, thực hiện hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, trong đó có nhiệm vụ chống dịch COVID-19.

          Đại dịch COVID-19, có thể nói là một đại dịch cực kỳ nguy hiểm so với các đợt dịch bệnh từ trước đến nay. Sự lây lan, truyền nhiễm và những độc hại mà chúng gây ra cho con người được ví như một thứ giặc ngoại xâm. Do vậy, với tinh thần của Đảng, Nhà nước ta: Chống dịch như chống giặc, thì đối với Quân đội sẽ là một một lực lượng nòng cốt, lực lượng tiên phong nơi tuyến đầu.

Để xứng đáng là lực lượng nòng cốt, mỗi quân nhân trong quân đội phải là một tấm gương trong chống dịch. Tấm gương đó, phải là sự nhận thức sâu sắc về đại dịch, phải là sự trách nhiệm, tự giác trong chấp hành các quy định, phải là sự tận tâm, tận lực trong tuyên truyền vận động nhân dân cùng chung tay chống dịch. Cùng với bản thân mình là tấm gương, phải tuyên truyền, vận động gia đình, người thân chung tay chống dịch. Nếu mỗi gia đình trong xã hội là một pháo đài trong chống dịch, thì mỗi gia đình quân nhân phải là một pháo đài vững chắc trong chống dịch, phải là chỗ dựa và điểm tựa vững chắc của mọi pháo đài.

 Thiết nghĩ mỗi quân nhân và gia đình quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam mà thực hiện được những điều trên, chắc chắn chung ta sẽ đẩy lùi được dịch bệnh COVID-19 trong thời gian sớm nhất. 

BÀI ĐĂNG FACBOOK CỦA NGUYỄN VĂN DÂN CÓ Ý XÚC PHẠM CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

Tình hình căng thẳng ở Ukraine đang thu hút sự quan tâm lớn của dư luận xã hội là điều dễ hiểu nhưng lại có những kẻ lợi dụng sự biến này để bươn móc lịch sử, bôi nhọ ngay chính con đường mà cả dân tộc ta đã lựa chọn, trong đó phải kể đến Nguyễn Văn Dân.
Trên facebook cá nhân của mình, Nguyễn Văn Dân xấc xược, hỗn láo khi cả gan dám “ngầm” so sánh Chủ tịch Hồ Chí Minh với Zelensky (từng là diễn viên hài, tổng thống Ukraine). Ngoài thái độ xấc xược, bất kính ra thì "lập luận" của ông Dân hoàn toàn thể hiện sự ấu trĩ, khập khiễng, không có tính khoa học thậm chí là cố ý “đánh tráo khái niệm”.


Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Hội nghị Thượng đỉnh kinh doanh Việt Nam-Hoa Kỳ lần thứ 5

 


 

Sáng 8-3, tại Hà Nội, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự và phát biểu tại Hội nghị Thượng đỉnh Kinh doanh Việt Nam - Hoa Kỳ lần thứ 5 với chủ đề "Định hình lại quan hệ kinh tế song phương".

Phẩm chất Bộ đội Cục Hồ “gắn bó máu thịt với nhân dân”

 

 


Một trong những yếu tố thuộc về đặc trưng của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ được xác định trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương là “gắn bó máu thịt với nhân dân”.

ĐỀ NGHỊ TRUNG QUỐC KHÔNG VI PHẠM VÙNG ĐẶC QUYỀN KINH TẾ, THỀM LỤC ĐỊA CỦA VIỆT NAM

 NGƯỜI PHÁT NGÔN BỘ NGOẠI GIAO VIỆT NAM: ĐỀ NGHỊ TRUNG QUỐC KHÔNG VI PHẠM VÙNG ĐẶC QUYỀN KINH TẾ, THỀM LỤC ĐỊA CỦA VIỆT NAM

Ngày 7-3, trả lời câu hỏi của phóng viên về thông báo hàng hải của Cục Hải sự tỉnh Hải Nam, Trung Quốc liên quan đến hoạt động diễn tập quân sự của Trung Quốc ở khu vực Biển Đông, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng khẳng định:
“Việt Nam luôn theo sát các diễn biến tại khu vực Biển Đông và thực thi chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán trên biển phù hợp luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982).

Chăm lo bồi đắp, phát triển kiểu mẫu nhân cách Bộ đội Cụ Hồ


 

 Hình ảnh và tên gọi Bộ đội Cụ Hồ là hiện tượng rất độc đáo trong lịch sử đấu tranh vũ trang của dân tộc Việt Nam nói chung và văn hóa quân sự Việt Nam nói riêng.

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ chúc mừng đội tuyển bóng đá nữ Việt Nam

 

Nhân dịp kỷ niệm Ngày Quốc tế phụ nữ, hướng tới kỷ niệm 76 năm Ngày Thể thao Việt Nam (27-3-1946 / 27-3-2022) và chào mừng Đại hội Đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ XIII, sáng 8-3, tại Nhà Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ đã gặp mặt, chúc mừng Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Việt Nam. Dự cuộc gặp có Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Hải; lãnh đạo các cơ quan của Quốc hội, ban, bộ, ngành, tổ chức hữu quan.

Thứ Hai, 7 tháng 3, 2022

Việt Nam có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc

 


Cùng với nền văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, mỗi dân tộc có ngôn ngữ (tiếng nói, chữ viết), phong tục, tập quán, tín ngưỡng, lễ hội, kiến trúc, ẩm thực, nghệ thuật dân gian, trang phục riêng... tạo nên một nền văn hóa đa dạng nhưng thống nhất trong nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc... Ví dụ: Món bún có nhiều loại gắn với đặc điểm từng vùng miền. Việt Nam là thiên đường của ẩm thực. Sự phát triển rực rỡ bản sắc văn hóa mỗi dân tộc, càng làm phong phú nền văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên nếu không có chính sách đúng, không tôn trọng văn hoá của nhau sẽ tạo nên xung đột văn hoá, hoà trộn văn hoá, phai nhạt, mất dần bản sắc văn hoá từng tộc người.

Sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam trong thời kỳ mới đang hướng vào việc củng cố và tăng cường sự thống nhất, nhân lên sức mạnh tinh thần chung của toàn dân tộc. Đồng thời phải khai thác và phát triển mọi sắc thái và giá trị văn hóa của các dân tộc, đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần ngày càng cao và nhu cầu phát triển từng dân tộc.

QUÂN ĐỘI CẦN LÀM TỐT HƠN NỮA TRONG CHỐNG DỊCH COVID-19

 


Quân đội nhân dân Việt Nam- quân đội của dân, do dân và vì dân- một quân đội cách mạng, bách chiến, bách thắng, trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Trong thời chiến là đội quân bách chiến, bách thắng.Trong thời bình, là đội quân nhiêm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành xuất sắc.

Đặc biệt, thời gian gần đây, với chức năng là đội quân lao dộng sản xuất, đội quân công tác, Quân đội ta đã không quản khó khăn, vượt lên mọi gian khổ, thực hiện hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, trong đó có nhiệm vụ chống dịch COVID-19.

          Đại dịch COVID-19, có thể nói là một đại dịch cực kỳ nguy hiểm so với các loại dịch bệnh trước đó. Sự lây lan, truyền nhiễm và những độc hại mà dịch bệnh gây ra cho con người được ví như một thứ giặc ngoại xâm. Quán ttriệt tinh thần: Chống dịch như chống giặc, ngay từ những ngày đầu tiên, Quân đội đã thực hiện tố các mặt công tác như: Giáo dục, tuyên truyền, vận động người dân chấp hành chống dịch; tổ chức, bảo đảm cách ly tập trung; tổ chức lực lượng quân y cùng với lực lượng dân y nơi tuyến đầu; thực hiện giãn cách…Từ những việc làm trên, với kết quả đạt được, Quân đội luôn được Đảng, Nhà nước tuyên dương, khen ngợi, được nhân dân hết lòng gửi chọn niềm tin, hình ảnh anh bộ đội cụ Hồ ngày càng thắm đượm.

          Hiện nay, đại dịch COVID-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, với nhiều biến thể mới, Quân đội hãy phát huy hơn nữa bản chất tốt đẹp của đội quân nhân dân Việt Nam anh hùng, cùng với nhân dân phòng, chống dại dịch COVID-19 trên nhưng vấn đề sau:

Một là, Thực hiện tốt việc tuyên truyền, giáo dục, động viên và gương mẫu thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19

Hai là, mỗi quân nhân là một chiến sĩ trong chống dịch; mỗi gia đình quân nhân là một pháo đài vững chắc trong chống dịch

Ba là, mỗi quân nhân, mỗi đơn vị gương mẫu chấp hành và thực hiện tốt việc giãn cách xã hội, thực hiện nghiêm chỉnh quy định cấm trại của đơn vị, vui vẻ, phấn khởi, vượt mọi khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ trực sẵn sang chiens đấu, vui tết đón xuân an toàn tiêt kiệm

 

Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng giúp nhau cùng phát triển

 


 Tôn trọng lợi ích, truyền thống, văn hoá, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng của các dân tộc. Chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, kỳ thị dân tộc và chia rẽ dân tộc. Các chính sách kinh tế - xã hội phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số.

 Đảng và Nhà nước thực hiện một chiến lược kinh tế chung trong đó ưu tiên đúng mức cho sự phát triển kinh tế ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn lạc hậu. Thực hiện điều đó vừa đáp ứng yêu cầu khai thác tiềm năng to lớn của các vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn lạc hậu, vừa đáp ứng yêu cầu xoá bỏ dần sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế giữa các dân tộc, các vùng để các dân tộc thực sự bình đẳng và hoà hợp với nhau hơn. Tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu số có tốc độ phát triển kinh tế nhanh nhưng bằng những hình thức, bước đi phù hợp với đặc điểm dân tộc. Phát huy hiệu quả của sự giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, trong đó đánh giá đúng mức vai trò tác dụng sự giúp đỡ của các dân tộc đa số, có trình độ phát triển cao hơn đối với các dân tộc thiểu số còn ở trình độ lạc hậu. Thực hiện tốt việc giao đất, giao rừng cho các hộ gia đình, tạo  điều kiện cho nhân dân chủ động sản xuất, gắn bó với đất, với rừng. Chương trình cấp Nhà nước về định canh, định cư cần được đầu tư thoả đáng và tổ chức thực hiện tốt (hiện nay trong cả nước còn 1 triệu người sống du canh, du cư)

 Trên cơ sở phát triển kinh tế, công cuộc cải tạo và phát triển về mặt xã hội ở các vùng dân tộc thiểu số cần gắn chặt với việc thực hiện chương trình phân bổ lại lao động xã hội để hình thành một cơ cấu xã hội dân cư mới ở các vùng này. Điều đó có ý nghĩa xã hội cực kỳ quan trọng, nó sẽ tạo ra một động lực mạnh mẽ thúc đẩy bước tiến của các dân tộc thiểu số còn đang ở trình độ lạc hậu.

 Quan tâm đến sự phát triển văn hoá, giáo dục của mỗi dân tộc, tạo điều kiện để thực hiện xoá mũ chữ, phổ cập giáo dục cũng như tạo điều kiện cho từng dân tộc khai thác, phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc mình bằng khả năng sẵn có. Đồng thời bằng nhiều hình thức, thúc  đẩy một cách hợp lý quá trình giao lưu, hoà hợp tinh hoa văn hoá của các dân tộc mà tác dụng của nó vừa làm cho nền văn hoá xã hội chủ nghĩa Việt Nam đậm đà bản sắc dântộc được thúc đẩy mạnh mẽ.

 Thực hiện và bảo đảm về mặt pháp lý quyền bình đẳng  giữa các ngôn ngữ trên lãnh thổ Việt Nam, tạo điều kiện để có được quyền bình đẳng thực tế của các ngôn ngữ. Nội dung quyền bình đẳng giữa các ngôn ngữ được thể hiện ở chỗ các dân tộc được quyền sử dụng ngôn ngữ của mình trong tất cả các lĩnh vực của đời sống,  các phạm vi giao tiếp, từ nội bộ các dân tộc đến ngoài xã hội, trong giáo dục, trên các phương tiện thông tin đại chúng, trước toà án, trên các giấy tờ hành chính  cũng như thư tín cá nhân…; đồng thời, có chính sách tích cực  để phổ biến nhanh chóng và sâu rộng ở trình độ cao ngôn ngữ phổ thông- tiếng việt- trong tất cả các dân tộc thiểu số ở nước ta. Tiếng Việt  là ngôn ngữ chung, ngôn ngữ quốc gia của tất cả các dân tộc, là phương tiện giao lưu văn hoá giữa các dân tộc ở Việt Nam với các dân tộc khác trên thế giới.

 Quan tâm đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, văn hoá, khoa học… cho từng dân tộc; đồng thời giáo dục tinh thần đoàn kết hợp tác cho cán bộ các dân tộc, bởi vì chỉ tinh thần đó mới phù hợp với đòi hỏi khách quan của công cuộc phát triển dân tộc và xây dựng đất nước. Trong công cuộc đó, không dân tộc nào có thể chỉ sử dụng đội ngũ cán bộ xuất thân từ dân tộc mình, ngược lại, cần sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các đội ngũ cán bộ thuộc mọi dân tộc trong cả nước.

 Đưa vào vị trí trung tâm của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng việc giáo dục cho nhân dân các dân tộc lòng tự hào chân chính về dân tộc mình, đồng thời giáo dục về chủ nghĩa yêu nước, yêu mến Tổ quốc Việt nam, tinh thần quốc tế chân chính. Đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc, thái độ hư vô, xem nhẹ vấn đề dân tộc, tâm lý tự cao của dân tộc lớn; tâm lý hẹp hòi, khép kín của dân tộc nhỏ.

Việt Nam đón công dân trở về từ vùng chiến sự Ukraine

 


Sáng 8/3 tại sân bay quốc tế Nội Bài (Hà Nội), chuyến bay mang số hiệu VN88 của hãng Hàng không quốc gia Việt Nam(Vietnam Airlines) đã hạ cánh an toàn sau chặng bay kéo dài hơn 10 tiếng từ Bucharest (Romania) đón những công dân Việt Nam đầu tiên trở về từ vùng chiến sự Ukraine.

Chuyến bay mang số hiệu VN88 của Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam (Vietnam Airlines) đưa 287 công dân, trong đó có 14 trẻ em dưới 2 tuổi và một số công dân có bệnh nền từ Bucharest (Romania) đã hạ cánh an toàn tại sân bay Nội Bài.

Đại diện lãnh đạo Bộ Ngoại giao, Ủy ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam, đại diện các Bộ Y tế, Bộ Công an, Bộ Giao thông Vận tải đã đón và thăm hỏi bà con tại sân bay. Đây là chuyến bay sơ tán nhân đạo thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Chính phủ, được tổ chức miễn phí để đón bà con trở về.

Để tổ chức thành công chuyến bay, Đại sứ quán Việt Nam tại Romania đã tích cực làm việc với các cơ quan chức năng sở tại đề nghị tạo điều kiện thuận lợi, đồng thời thông tin đến công dân Việt Nam và hướng dẫn công dân đăng ký về nước. Những công dân đăng ký về nước lần này là những người sơ tán từ Ukraine sang Romania qua Moldova. Đại sứ quán đã trực tiếp đón công dân ta di chuyển từ Moldova đến hai điểm tiếp tại Bucharest và ra sân bay; đồng thời phối hợp với cộng đồng người Việt Nam tại Romania thu xếp phương tiện đi lại, chỗ ăn, ở tạm thời và cung cấp vật dụng thiết yếu cho công dân ta tại Romania trước khi lên máy bay về nước./.

Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại lâu dài cùng dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH ở nước ta

 


Đây là một quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước về vị trí, vai trò tôn giáo trong thời kỳ quá độ.

Một là, Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, còn tồn tại lâu dài trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.

Tôn giáo đã có lịch sử từ lâu đời trong xã hội loài người, trở thành nhu cầu tinh thần (nhu cầu giải toả tâm lý) của một bộ phận quần chúng nhân dân.

Nhiều giá trị đạo đức tôn giáo hướng con người đến những giá trị chân, thiện, mỹ, nhiều điều phù hợp với công cuộc xây dựng CNXH. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá”. Vì vậy, những giá trị của tín ngưỡng, tôn giáo, nổi lên là giá trị đạo đức chính là di sản để coi trọng kế thừa, phát huy để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

 Mọi sự nóng vội, chủ quan trong giải quyết vấn đề tôn giáo đều trái với quan điểm trên, gây chia rẽ, mất đoàn kết, cản trở quá trình xây dựng CNXH

Hai là, Tôn trọng nhu cầu tinh thần, quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân. Cụ thể là:

-Công dân có quyền tự do theo hoặc không theo một tôn giáo nào.

Không ai được xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân... Tự do tín ngưỡng, tôn giáo không có nghĩa là hoạt động tôn giáo nằm ngoài khuôn khổ pháp luật, đi ngược lại lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân; không có nghĩa là lợi dụng tôn giáo để phá hoại cách mạng.

-Người có tín ngưỡng, tôn giáo và người không có tín ngưỡng, tôn giáo phải tôn trọng lẫn nhau; Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, Nhà nước không phân biệt đối xử với một tôn giáo nào. Người có tín ngưỡng, tôn giáo và người không tín ngưỡng, tôn giáo đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân bằng pháp luật. Vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân là vi phạm pháp luật, phải bị xử lý bằng pháp luật. Lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để gây rối, làm mất an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, chống đối Đảng, Nhà nước cũng là vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, phải bị pháp luật xử lý

Ba là, phải quan tâm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các tôn giáo

Cách mạng xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp vĩ đại nhằm giải phóng quần chúng nhân dân khỏi mọi sự áp bức, nô dịch cả về vật chất và tinh thần. Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của các tầng lớp nhân dân trong đó có đồng bào các dân tộc thiểu số và đồng bào theo tôn giáo là mục tiêu, nhiệm vụ to lớn của Đảng và Nhà nước ta trong cách mạng XHCN.

QUÂN ĐỘI LÀ LỰC LƯỢNG TIÊN PHONG TRONG THỰC HIỆN GIÃN CÁCH TRONG CHỐNG DỊCH

 


       Đại dịch COVID-19, có thể nói là một đại dịch cực kỳ nguy hiểm so với các loại dịch bệnh trước đay. Sự lây lan, truyền nhiễm và những độc hại mà chúng gây ra cho con người được ví như một thứ giặc ngoại xâm. Với tinh thần: Chống dịch như chống giặc,thời gian qua, Quân đội Nhan dân Việt Nam luôn là tấm gương sáng và là lực lượng nòng cốt, lực lượng tiên phong nơi tuyến đầu chống dịch. 

Thực hiện tốt cách ly (5K) là một biện pháp quan trọng hàng đầu trong phòng chống dịch COVID-19. Bởi vì, nếu thực hiện tốt việc cách ly, nghĩa là ngăn cách không cho COVID lây nhiễm từ người này sang người khác thì vô hình dung ta đã vô hiệu hóa được dịch bệnh. Quán triệt sâu sắc tinh thần trên, có thể nói ngay từ thời gian đầu, khi dịch COVID-19 bùng phát, Quân đội đã thực hiện tốt việc cách ly xã hội, đó là sự gương mẫu chấp hành của mỗi quân nhân khi tiếp xúc nơi đông người. Đặc biệt cứ vào đỉnh của từng đợt dịch, hoặc có nghi ngờ ổ dịch, thì từng đơn vị quân đội, căn cứ vào nhiệm vụ của mình, luôn thực hiện tốt việc quản lý quân nhân trong doanh trại trong thời gian dài ngày. Với việc cấm trại dài ngày, Quân đôi đã góp phần giảm lượng người tiếp xúc trong xã hội. Đây thực sự là sự hy sinh và đóng góp lớn lao của Quân đội, chung tay cùng xã hội trong thực hiện giãn cách trong chống dịch COVID-19 thời gian vừa qua

Công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn xã hội


Đảng luôn có chủ trương, chính sách đúng đắn về tôn giáo. Nhà nước trên cơ sở chủ trương, chính sách của Đảng ban hành pháp luật, chính sách cụ thể và tổ chức thực hiện, bảo đảm tôn trọng nhu cầu tự do tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào các dân tộc.Trong đó chú trọng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội đối với đồng bào các dân tộc, tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa, các vùng đặc biệt khó khăn. Đồng thời việc giải quyết các vấn đề về hoạt động hợp pháp của các tổ chức tôn giáo, Nhà nước kiên quyết xử lý đối với mọi hành vi truyền đạo trái phép, lợi dụng tôn giáo làm ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, làm mất trật tự, an toàn xã hội, gây tổn hại đến đạo đức, lối sống, văn hoá, thuần phong mỹ tục của các dân tộc; xử lý nghiêm những hành vi ngăn cản tín đồ, chức sắc các tôn giáo trong thực hiện nghĩa vụ công dân, những hành vi làm phương hại đến độc lập dân tộc, phá hoại chính sách đại đoàn kết toàn dân, chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Mặt trận, Đoàn thanh niên, Tổng LĐLĐ, Hội CCB, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ... là những tổ chức có vị trí, vai trò quan trọng, trực tiếp tổ chức triển khai thực hiện chính sách của Đảng và nhà nước về dân tộc và tôn giáo.

LLVT là lực lượng nòng cốt trong việc thực hiện tuyên truyền, giáo dục cho mọi người dân hiểu rõ và chấp hành tốt chủ trương, chính sách, pháp luật về dân tộc, tôn giáo; nắm bắt tình hình dân tộc, tôn giáo để tham mưu với Đảng và Nhà nước về Chính sách dân tộc, tôn giáo và tham gia giả quyết, xử lý các hành động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng của các thế lực thù địch với Việt Nam. 

QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM LÀ LỰC LƯỢNG NÒNG CỐT TRONG CHỐNG DỊCH COVID-19

 


          Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tư do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng. Trải qua những năm tháng xây dựng chiến đấu và trưởng thành, với những thắng lợi vẻ vang, Quân đội đã giữ trọn niềm tin của nhân dân là quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ bách chiến, bách thắng. Trong thời bình, với chức năng là đội quân công tác, đội quân lao động sản xuát, Quân đội ta đã không quản khó khăn, vượt lên gian khổ hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Thời gian qua, có nhiều nhiệm vụ, trong đó có các nhiệm vụ những vấn đề phi truyền thống như xóa đói, giảm nghèo, thiên tai, dịch bệnh. v.v… Đặc biệt, trong chống dịch COVID-19 vừa qua, Quân đội là lực lượng nòng cốt, đã góp phần quan trọng, mang lại nhieuf thành quả to lớn trong chống dịch. Đây thực sự là niềm tự hào và cũng là vinh dự của mỗi quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam.

          Đại dịch COVID-19, có thể nói là một đại dịch cực kỳ nguy hiểm so với các đợt dịch bệnh từ trước đến nay. Sự lây lan, truyền nhiễm và những độc hại mà chúng gây ra cho con người được ví như một thứ giặc ngoại xâm. Với tinh thần của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta: Chống dịch như chống giặc, thời gian qua, Quân đội luôn xác định là lực lượng nòng cốt, lực lượng tiên phong ở mọi tuyến. Quán ttriệt tinh thần trên, ngay từ những ngày đầu tiên, Quân đội đã thẻ hienj rõ là lực lượng tiên phong trên tất cả các mặt của chống dịch như: Giáo dục, tuyên truyền vận động người dân chấp hành chống dịch; tổ chức,bảo đảm cách ly tập trung; tổ chức lực lượng quân y cùng với lực lượng dân y nơi tuyến đầu; tiên phong trong thực hiện giãn cách xx hội…Từ những việc làm trên, với kết quả đạt được, Quân đội luôn được Đảng, Nhà nước tuyên dương, khen ngợi, được nhân dân hết lòng mến mộ; thực sự là đội quân dược cả hệ thống chính trị và toàn dân gửi chọn niềm tin. Hình ảnh Anh Bộ đội Cụ Hồ đã được khắc họa đẹp đẽ trong lòng người dân, đến giai đoạn này, lại càng tỏa sáng và thắm đượm trong mõi người dân Việt Nam.

          Thời gian tới, với tính chất và mức độ nguy hiểm của đại dịch, Quân đội càng phải phát huy hơn nữa khí phách anh hùng cách mạng, để mỗi quân nhân thực sự là một pháo đài chống dịch.

Công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng của Đảng ta

 


Công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng của Đảng ta, bởi vì:

+ Từ nguồn gốc ra đời của tôn giáo và sự khác biệt về thế giới quan tôn giáo và CNMLN

+ Đồng bào các tôn giáo là nhân dân lao động, là quần chúng của Đảng, là lực lượng quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Việt Nam có khoảng 27 triệu tín đồ các tôn giáo. Đó là lực lượng to lớn, vì vậy nếu làm tốt công tác vận động quần chúng sẽ tạo nên sức mạnh to lớn để thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

+ Phải làm cho đồng bào các tôn giáo nhận thức đúng, tin và làm đúng đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước.

Làm tốt công tác vận động quần chúng sẽ tạo nên sức mạnh to lớn để thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và BVTQ

Nhiệm vụ chiến lược, cơ bản, lâu dài của chính sách dân tộc ở Việt Nam

 

Đảng cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, NXB. Sự thật, Hà Nội 1991, tr16, xác định: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.”

Cụ thể:

 Tôn trọng lợi ích, truyền thống, văn hoá, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng của các dân tộc. Chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, kỳ thị dân tộc và chia rẽ dân tộc. Các chính sách kinh tế - xã hội phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số.

 Đảng và Nhà nước thực hiện một chiến lược kinh tế chung trong đó ưu tiên đúng mức cho sự phát triển kinh tế ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn lạc hậu. Thực hiện điều đó vừa đáp ứng yêu cầu khai thác tiềm năng to lớn của các vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn lạc hậu, vừa đáp ứng yêu cầu xoá bỏ dần sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế giữa các dân tộc, các vùng để các dân tộc thực sự bình đẳng và hoà hợp với nhau hơn. Tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu số có tốc độ phát triển kinh tế nhanh nhưng bằng những hình thức, bước đi phù hợp với đặc điểm dân tộc. Phát huy hiệu quả của sự giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, trong đó đánh giá đúng mức vai trò tác dụng sự giúp đỡ của các dân tộc đa số, có trình độ phát triển cao hơn đối với các dân tộc thiểu số còn ở trình độ lạc hậu. Thực hiện tốt việc giao đất, giao rừng cho các hộ gia đình, tạo  điều kiện cho nhân dân chủ động sản xuất, gắn bó với đất, với rừng. Chương trình cấp Nhà nước về định canh, định cư cần được đầu tư thoả đáng và tổ chức thực hiện tốt (hiện nay trong cả nước còn 1 triệu người sống du canh, du cư)

 Trên cơ sở phát triển kinh tế, công cuộc cải tạo và phát triển về mặt xã hội ở các vùng dân tộc thiểu số cần gắn chặt với việc thực hiện chương trình phân bổ lại lao động xã hội để hình thành một cơ cấu xã hội dân cư mới ở các vùng này. Điều đó có ý nghĩa xã hội cực kỳ quan trọng, nó sẽ tạo ra một động lực mạnh mẽ thúc đẩy bước tiến của các dân tộc thiểu số còn đang ở trình độ lạc hậu.

 Quan tâm đến sự phát triển văn hoá, giáo dục của mỗi dân tộc, tạo điều kiện để thực hiện xoá mũ chữ, phổ cập giáo dục cũng như tạo điều kiện cho từng dân tộc khai thác, phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc mình bằng khả năng sẵn có. Đồng thời bằng nhiều hình thức, thúc  đẩy một cách hợp lý quá trình giao lưu, hoà hợp tinh hoa văn hoá của các dân tộc mà tác dụng của nó vừa làm cho nền văn hoá xã hội chủ nghĩa Việt Nam đậm đà bản sắc dântộc được thúc đẩy mạnh mẽ.

Thực hiện và bảo đảm về mặt pháp lý quyền bình đẳng  giữa các ngôn ngữ trên lãnh thổ Việt Nam, tạo điều kiện để có được quyền bình đẳng thực tế của các ngôn ngữ. Nội dung quyền bình đẳng giữa các ngôn ngữ được thể hiện ở chỗ các dân tộc được quyền sử dụng ngôn ngữ của mình trong tất cả các lĩnh vực của đời sống,  các phạm vi giao tiếp, từ nội bộ các dân tộc đến ngoài xã hội, trong giáo dục, trên các phương tiện thông tin đại chúng, trước toà án, trên các giấy tờ hành chính  cũng như thư tín cá nhân…; đồng thời, có chính sách tích cực  để phổ biến nhanh chóng và sâu rộng ở trình độ cao ngôn ngữ phổ thông- tiếng việt- trong tất cả các dân tộc thiểu số ở nước ta. Tiếng Việt  là ngôn ngữ chung, ngôn ngữ quốc gia của tất cả các dân tộc, là phương tiện giao lưu văn hoá giữa các dân tộc ở Việt Nam với các dân tộc khác trên thế giới.

 Quan tâm đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, văn hoá, khoa học… cho từng dân tộc; đồng thời giáo dục tinh thần đoàn kết hợp tác cho cán bộ các dân tộc, bởi vì chỉ tinh thần đó mới phù hợp với đòi hỏi khách quan của công cuộc phát triển dân tộc và xây dựng đất nước. Trong công cuộc đó, không dân tộc nào có thể chỉ sử dụng đội ngũ cán bộ xuất thân từ dân tộc mình, ngược lại, cần sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các đội ngũ cán bộ thuộc mọi dân tộc trong cả nước.

 Đưa vào vị trí trung tâm của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng việc giáo dục cho nhân dân các dân tộc lòng tự hào chân chính về dân tộc mình, đồng thời giáo dục về chủ nghĩa yêu nước, yêu mến Tổ quốc Việt nam, tinh thần quốc tế chân chính. Đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc, thái độ hư vô, xem nhẹ vấn đề dân tộc, tâm lý tự cao của dân tộc lớn; tâm lý hẹp hòi, khép kín của dân tộc nhỏ.

Các dân tộc Việt Nam luôn bình đẳng, đoàn kết

Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc.

Qua các giai đoạn lịch sử, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán chủ trương, nguyên tắc trong đường lối, chính sách dân tộc, đó là xây dựng khối đoàn kết, bình đẳng giữa cộng đồng các tộc người, phát triển toàn diện về kinh tế- chính trị- xã hội, bảo đảm các quyền và tiếp cận các quyền của đồng bào dân tộc thiểu số trên các lĩnh vực.

Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển”

Đấu tranh âm mưu hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

 


Làm rõ âm mưu, thủ đoạn của địch; chống tư tưởng chủ quan, mơ hồ, mất cảnh giác, bị động. Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của địch lợi dụng vấn đề dân tộc. Củng cố thế trận QP toàn dân, an ninh nhân dân trên địa bàn xung yếu, vùng trọng điểm về QP&AN

           Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thé trận an ninh nhân dân, phát huy sức mạnh tại chỗ để sẵn sàng đạp tan mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch. Tăng cường công tác bảo đẩmn ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, không để xảy ra những “điểm nóng” về an ninh, trật tự xã hội ở vùng dan tộc và miền núi. Tiếp tục xây dựng phát triển nhan các khu kinh té kết hợp quốc phòng ở vùng sâu, vùng xa, biên giới. Tiếp tục giiair quyết tốt các vấn đề liên quan đến tôn giáo ở các vùng dân tộc.

 

 KỶ NIỆM NGÀY QUỐC TẾ PHỤ NỮ 8/3 VÀ

 KHỞI NGHĨA HAI BÀ TRƯNG

  Cuối thế kỷ 19, Chủ nghĩa Tư bản ở Mỹ đã phát triển một cách mạnh mẽ, Nền kỹ nghệ đã thu hút nhiều Phụ nữ và trẻ em vào các nhà máy, xí nghiệp. Nhưng bọn chủ tư bản trả lương cho họ rất rẻ mạt, căm phẫn trước sự bất công đó, ngày 8/3/1899 nữ công nhân ở Mỹ đã đứng lên đấu tranh đòi tăng lương, giảm giờ lam. Phong trào bắt đầu từ nữ công nhân ngành dệt và ngành may tại Thành phố Si – Ca - Gô và Nưu ước. Mặc dù bọn Tư bản thẳng tay đàn áp, chị em vẫn đoàn kết chặt chẽ, đấu tranh buộc chúng phải nhượng bộ. Cuộc đấu tranh của công nhân Mỹ đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào Phụ nữ lao động trên thế giới đặc biệt Phụ nữ ở Đức, một nước đại kỹ nghệ tiên tiến lúc bấy giờ. Phong trào đấu tranh đã xuất hiện hai nữ chiến sỹ lỗi lạc, đó là Bà Cla-ra-zet-kin (Đức) và bà Lô-Ra Lúc- xăm- bua (Ba lan). Nhận thức được sự mạnh mẽ và đông đảo của lực lượng lao động nữ và sự cần thiết phải có tổ chức, phải có lãnh đạo để giành thắng lợi cho phong trào phụ nữ, nên năm 1907 hai Bà đã cùng phối hợp với Crup-xcai-a (Vợ của Lê- Nin) vận động thành lập Ban “Thư ký phụ nữ Quốc tế”, Bà Cla-ra-zet-kin được cử làm Bí thư.

Ngày 26 và 27 tháng 8 năm 1910, Đại hội phụ nữ quốc tế họp tại Cô-pen-ha-gen (Thủ đô nước Đan Mạch) đã quyết định lấy ngày 8/3 làm ngày Quốc tế phụ nữ, ngày đoàn kết đấu tranh của phụ nữ với khẩu hiệu: Ngày làm việc 8 giờ; việc làm ngang nhau; bảo vệ bà mẹ và trẻ em. Từ đó ngày 8/3 đã trở thành ngày truyền thống của phụ nữ lao động trên toàn thế giới. 

Từ đó đến nay, ngày 8/3 trở thành ngày hội của phụ nữ thế giới, đoàn kết đấu tranh để tự giải phóng, thực hiện quyền nam nữ bình đẳng và cũng từ đó, phụ nữ tiến bộ khắp năm Châu tổ chức kỷ niệm ngày 8/3 với những nội dung và hình thức phong phú.

Ở nước ta, ngày 8/3 còn là ngày kỷ niệm cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, 2 vị nữ anh hùng dân tộc đầu tiên đã đánh đuổi giặc ngoại xâm phương Bắc, giành lại chủ quyền dân tộc.

Hai Bà Trưng là cách gọi tôn kính đối với hai nữ anh hùng là Trưng Trắc và Trưng Nhị đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta lật đổ ách thống trị của nhà Đông Hán vào năm 40 sau Công nguyên. Hai Bà Trưng là hai chị em sinh đôi, con của lạc tướng Huyện Mê Linh, Theo thần tích Đền Hạ Lôi thì hai Bà sinh vào năm Giáp tuất tức năm 14 sau Công nguyên. Lớn lên, nhờ được sự chăm sóc và giáo dục của người mẹ hiền là bà Man Thiện, cả hai chị em đều mạnh khoẻ, giỏi võ nghệ, tính khí hùng dũng, gan dạ lại thích làm việc nghĩa cả. Trưng Trắc lấy chồng là Thi sách, con trai lạc tướng Chu Diên – cũng là người có chí lớn, bấy giờ Nhà Hán đô hộ nước ta, áp bức bóc lột rất nặng nề. Thái thú Giao chỉ (Đồng bằng Bắc Bộ) lúc ấy là Tô Định rất tham bạo, Y ra sức tìm cách trấn áp các dòng họ lạc tướng cũ, hòng kéo dài ách đô hộ nước ta. Nhiều người đã bị Y giết, trong đó có Thi Sách chồng bà Trưng Trắc. Nghe tin Thi Sách bị Thái thú Tô Định giết, Trưng Trắc và em rất đau buồn và căm phẫn, quyết nổi dậy đánh đổ bọn xâm lược, Trưng Nhị được cử đi liên hệ với các hào kiệt ở các nơi, còn Trưng Trắc ở nhà chiêu mộ binh sĩ. Mùa xuân năm 40, khi Bà dựng cờ khởi nghĩa ở Hát Môn (Hà Tây), trong buổi lễ ra quân, Trưng Trắc đã đọc 4 lời thề:

Một xin rửa sạch nước thù

Hai xin đem lại nghiệp xưa Họ Hùng

Ba kẻo oan ức lòng Chồng

Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh thành

Nghĩa quân tiến đánh Trụ sở quân Giao chỉ ở Luy Lâu (Huyện Thuận Thành, Tỉnh Bắc Ninh). Nghĩa quân đánh đâu thắng đấy, Hai Bà thu phục được 65 thành. Trưng Trắc được tôn lên làm Vua, Sử gọi là Trưng Vương hay Trưng Nữ Vương. Không được bao lâu, năm 42, Nhà Hán sai Mã Viện đem quân sang đàn áp. Bị Giặc chặn đánh ở nhiều nơi. Cuối xuân, đầu hạ năm 43, quân của Hai Bà đánh mạnh vào doanh trại nhưng bị thất bại. Quân Hán thừa cơ tấn công, quân của Hai Bà phải rút về Cấm Khê (Ba Vì - Hà Tây). Tại đây một trận chiến quyết liệt xảy ra và kết thúc bằng sự hy sinh của hai vị nữ anh hùng.

Cấm Khê đến lúc hiểm nghèo

Chị em thất thế đánh liều với sông

Để tỏ lòng ngưỡng mộ và thương tiếc hai vị nữ anh hùng hy sinh vì sự nghiệp cao cả của Dân tộc, nhiều nơi nhân dân địa phương lập Đền thờ tưởng nhớ Hai Bà Trưng. Trong rất nhiều nơi thờ, có 3 nơi được nhiều người biết đến là Đền Hát Môn (Phúc Thọ – Hà Tây), đền Hạ Lôi (Yên Lãng- Vĩnh Phúc) và Đền Đồng Nhân (Hà Nội).

Truyền thuyết dân gian kể rằng Hai Bà tự trẫm ở Hát Giang (đoạn sông Đáy tiếp liền với sông Hồng). Nhưng sử sách của ta cũng như sử của Trung Quốc đều chép là Hai bà hy sinh trong chiến đấu ở chiến trường Cẩm Khê.

Lễ tưởng niệm Hai Bà Trưng không chỉ để cho chúng ta có dịp tưởng nhớ công đức 2 bà mà còn để cho tất cả chúng ta hãnh diện về khí phách anh hùng, sự nghiệp phi thường của 2 bà, một tấm gương sáng để hậu thế noi theo. Chiến công hiển hách của 2 bà đã ghi những nét son vào lịch sử đấu tranh hào hùng của dân tộc, là niềm tự hào và ý chí vươn lên của phụ nữ Việt Nam.

Tiếp nối truyền thống hào hùng đó, phụ nữ Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh tiếp tục cống hiến, đóng góp sức mình vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ thực tiễn cuộc sống và chiến đấu, đã hình thành nên những phẩm chất, đức tính quý báu rất riêng của người phụ nữ Việt Nam, được Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát qua 8 chữ vàng: “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”.

Phát huy truyền thống tốt đẹp của phụ nữ VN, hưởng ứng phong trào thi đua “phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”, phong trào “giỏi việc nước, đảm việc nhà”. Cán bộ, hội viên Phụ nữ Học viện Quốc phòng đã đóng góp quan trọng vào kết quả hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Học viện và các đơn vị. Trên từng cương vị công tác chị em luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, đoàn kết thân ái, năng động sáng tạo vượt qua mọi khó khăn thử thách hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao

PHÁT HUY HƠN NỮA TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG CHỐNG DỊCH COVID-19

 


Yêu nước, đoàn kết là truyền thống mấy ngàn năm trong quá trình dựng nước và giữ nước- là nét đẹp của con người Việt Nam tồn tại phát triển đến ngày nay. Tính doàn kết của con người Việt Nam đã giúp Việt Nam vượt qua mọi gian lan, mưa bom, bão đạn để có tiền đồ như ngày nay

          Thời gian vừa qua, trong chống dịch COVID-19, Việt Nam đã phát huy tốt tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, giúp đỡ nhau trong chống dịch, đã đạt được kết quả đáng khích lệ. Kết quả chống dịch thời gian qua của Việt Nam là điểm sáng để cộng đồng thế giới tham khảo, học tập.

Tuy nhiên, trong thòi gian gần đây, trong cộng đồng đã xuất hiện tình trạng lơ là, chủ quan, mất cảnh giác, dẫn đến trách nhiệm kém ở một số người dân trong chống dịch. Hiện nay, tại một số khu vực đông người còn nhiều hiện tượng người dân không chấp hành nghiêm quy định giãn cách, nhất là trong các khu vực quán ăn, quán nhậu, quán cà phê, quán vui chơi, giải trí…Chính không thực hiện nghiêm quy định giãn cách này là một trong những nguyên nhân căn ban mà dịch bùng phát lớn như Hà Nội hiện nay. Nguyên nhân chính có hiện tượng này là do nhiều người dân nghĩ rằng khi đã tiêm đủ liều vắc xin cơ bản thì sẽ không bị lây nhiễm, hoặc có bị lây nhiễm cũng sẽ bị mắc ở dạng nhẹ.

Song song đó, cùng với nguyên nhân ý thức trách nhiệm kém của một số người dân, còn có một nguyên nhân rất quan trọng đó là sự vào cuộc của chính quyền và các cơ quan chức năng. Chính quyền và các cơ quan chức năng có vai trò rất quan trọng trong tuyên truyền, giáo dục, định hướng, tổ chức người dân thực hiện chống dịch. Nếu chính quyền và cơ quan chức năng làm tốt vấn đề này sẽ là cơ sở, nền tảng cho toàn dân chống dịch. Tuy nhiên qua theo dõi trong thời gian vừa qua, các cấp chính quyền và cơ quan chức năng về cơ bản đã phát huy tốt vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình, nhưng cũng có mặt, có lĩnh vực chư phát huy tốt. ví dụ như: Còn dể các quán ăn, khu vui chơi giải trí tập trung đông người, không thực hiện nghiêm 5K. Một số quán ăn, tuy dã cấm uống rượu, bia nhưng vẫn còn để tình trạng này sảy ra. Mọt nguyên nhân rất quan trọng nữa là sự chấp hành của một số chủ cửa hàng, quán ba trong thời gian qua, chưa thực sự nghiêm ở việc duy trì giãn cách người dân trong quns của mình….

Thiết nghĩ, thời gian này, bên cạnh phát huy ý thức trách nhiệm của người dân, cần phải phát huy tính năng động, chủ động của cả hệ thống chính trị, có như vậy, chúng ta mới chiến thắng được dại dịch COVID-19.

 

THỰC HIỆN NGHIÊM TÚC NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ LÀ CƠ SỞ BẢO ĐẢM ĐOÀN KẾT THỐNG NHẤT, LÀ ĐIỀU KIỆN ĐỂ NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO VÀ SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG

Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản nhất để xây dựng Đảng ta thành một khối thống nhất về ý chí và hành động, vừa phát huy sức mạnh của mỗi cá nhân, vừa phát huy sức mạnh của tập thể, vì lợi ích chung của cách mạng. Để tổ chức đảng thực sự vững mạnh, nhất thiết phải giữ vững và tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc này. Đây vừa là yêu cầu cấp bách, vừa là vấn đề cơ bản lâu dài trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Nguyên tắc tập trung dân chủ là sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt tập trung và dân chủ; hai mặt này tác động, bổ sung cho nhau, tạo thành một chỉnh thể thống nhất. Trong đó, dân chủ là điều kiện, tiền đề của tập trung; còn tập trung là cơ sở bảo đảm cho dân chủ được xác định và phát huy. Việc phát triển và mở rộng dân chủ trong Đảng phải luôn đi đôi với tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung thống nhất của Đảng, giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật. Dân chủ càng phát triển thì tập trung càng vững chắc, sức mạnh của Đảng càng được khẳng định. Nếu thực hành dân chủ tốt, Đảng sẽ quy tụ được trí tuệ, khơi dậy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của mọi cán bộ, đảng viên, tạo sự đoàn kết, thống nhất, tình đồng chí, giúp nhau hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Do đó, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ không chỉ tạo cho Đảng đoàn kết, kỷ luật thống nhất, nghiêm minh, mà còn tạo cơ chế hữu hiệu nhất để phát huy mọi sáng kiến, sáng tạo, khai thác mọi trí tuệ của đảng viên, của cơ sở, qua đó nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và của toàn Đảng.

    Thực tiễn hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng của Đảng đều khẳng định điều nói trên; đa số các tổ chức đảng trong toàn Đảng thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ. Vì vậy, đây là một trong những nguyên nhân làm cho Đảng ta có sức mạnh để lãnh đạo dân tộc đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác to lớn hơn. Tuy nhiên, ở không ít tổ chức đảng hiện nay, việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ còn mặt hạn chế; một số đảng viên do tính đảng không cao, có tư tưởng nể nang, “dĩ hòa vi quý”, “dễ người, dễ ta”, chưa thật sự mạnh dạn trong đấu tranh bảo vệ lẽ phải… từ đó, làm giảm đi sức chiến đấu của tổ chức đảng, đảng viên, hệ quả là một số cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên bị các cấp xử lý kỷ luật và trong đó có nguyên nhân hết sức quan trọng là tổ chức đảng, đảng viên chấp hành và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách chưa đảm bảo theo quy định của Đảng.

    Xuất phát từ tình hình trên cũng như để thực hiện nghiêm và giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tăng cường đoàn kết thống nhất nội bộ, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, đảng viên thiết nghĩ cần quan tâm thực hiện một số việc sau:

    Thứ nhất, tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức để mỗi cán bộ, đảng viên thực hiện nghiêm các nguyên tắc của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, đoàn kết, thống nhất trong Đảng...; quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về những điều đảng viên, cán bộ công chức, viên chức không được làm; quy định của Đảng về việc kiểm soát quyền lực; về quy chế làm việc và nội quy của cơ quan, đơn vị....

    Thứ hai, mở rộng dân chủ đi đôi với củng cố, tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong Đảng.

    Thứ ba, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; đồng thời, có cơ chế hữu hiệu để kiểm soát quyền lực theo hướng quyền lực đến đâu, trách nhiệm đến đó, bảo đảm vai trò lãnh đạo của tập thể nhưng không ngừng đề cao trách nhiệm cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu theo quy định của Đảng.

    Thứ tư, bản thân mỗi đảng viên cần phát huy tính đảng, tính gương mẫu, tự giác, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm trong thực thi công vụ và trong các quan hệ của mình cũng như tự giác, nghiêm túc thực hiện tự phê bình và phê bình.

    Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản, là cơ sở bảo đảm hàng đầu để giữ vững bản chất cách mạng và vai trò lãnh đạo của Đảng ta. Nắm vững và thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ là một bảo đảm quan trọng để xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, góp phần củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức đảng trong thời kỳ mới. Việc nhận thức không thấu đáo, thực hiện không nghiêm túc nguyên tắc này không chỉ làm tổn hại đến vị thế, sức mạnh của Đảng, mà còn là một trong những căn nguyên dẫn đến sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên./