Chủ Nhật, 3 tháng 4, 2022

NGƯỜI HỌC NHIỀU CÓ THÀNH CÔNG HƠN NGƯỜI HỌC ÍT?

         Đây có thể là câu hỏi lớn và gây tranh cãi nhất trong cuộc sống. Một số người học hành có bằng cấp ra trường chật vật mới than ngắn thở dài và hướng vào đối tượng ít học cùng thời với mình đang thành công mà so bì bất mãn. Họ không nghĩ rằng trong khi họ cặm cụi sách vở trên giảng đường thì số nghỉ học sớm đang vật lộn mưu sinh ngoài cuộc sống. Vậy thì học nhiều và học ít thì hướng nào có hiệu quả, có được thành công trong cuộc sống hơn ?

Thành công cũng là từ tương đối để diễn tả thành quả đạt được về vật chất, ổn định gia đình, một sự nghiệp vững vàng so với mặt bằng xã hội và mong muốn hài lòng của chính con người đó. 

Có thể nói chắc chắn rằng ở mọi thời đại thì học hành tiến xa vẫn tốt hơn là nghỉ sớm mưu sinh bất đắc dĩ. Nhưng khả năng của mỗi con người khác nhau để thu nạp kiến thức phổ thông và môi trường giáo dục có giúp con người phát huy được hay không nữa. Điều này được chứng minh khi một số người ở Việt Nam học hành bình thường nhưng sang các nước văn minh thì học cực giỏi và thành danh xứ người. Vậy để nói khả năng của con người thì cần từ hai phía ở chính bản thân con người đó và môi trường, chính sách giáo dục của nhà nước. 

Giáo dục ở ta thiên về thi cử, nhồi ép kiến thức mà có thể nói sau đại học không còn đọng lại bao nhiêu để ứng dụng vào thực tế công việc. Tình trạng thừa thầy thiếu thợ, thiếu công nhân tay nghề cao trong khi đại học hàng năm thất nghiệp hàng trăm ngàn người. Họ làm những việc không liên quan gì đến ngành nghề mình học cả, thật uổng phí nguồn lực xã hội. 

Mỗi con người có mỗi năng khiếu, khả năng tiềm ẩn khác nhau nên nếu con cái bạn học không nổi, không theo kịp người khác thì cũng không nên quá buồn mà tạo áp lực lớn làm chúng stress và có khi gây nên hậu quả đau lòng. "Trời đất sinh ta tất hữu dụng" nếu không theo học lên cao, ra đời sớm mà biết phát huy khả năng của mình như: làm nghề yêu thích, kinh doanh... nắm bắt sớm cơ hội vẫn có được những thành công nhất định mà những người cùng trang lứa mãi lo đèn sách sau này chưa chắc theo kịp. Có trường hợp cha mẹ bán miếng đất để lo cho con ăn học đến đại học. Ra trường hơn 10 năm làm việc cật lực không mua lại được một phần đất đã bán. Trong khi anh bạn hàng xóm nghỉ sớm hồi cấp 3 đi làm mua thêm được vài mảnh đất nữa. Thực tế chứng minh có rất nhiều tỉ phú tự thân ở ta và trên thế giới chưa tốt nghiệp đại học, thậm chí chưa tốt nghiệp cấp 3. Rất nhiều người học xong đại học hoặc cao hơn nhưng sau khi tốt nghiệp họ quay về làm những công việc của người ít học và coi như chậm đi thời gian khá dài, mất đi nhiều cơ hội. Thậm chí có người học ở nước ngoài về Việt Nam lại không phát huy được, hay đổ lỗi do ta không biết dùng người hoặc kiến thức bên đó cao quá không áp dụng được tại xứ ta.

Người ít học họ dẹp bỏ cái tôi, lăn lộn làm mà không nề hà công việc nên dễ gặp cơ hội vươn lên và thành đạt. Anh học nhiều cái tôi khá lớn, đòi hỏi nhiều hơn cống hiến mà ít hiểu rằng anh học nhiều là cho anh thôi làm được gì cho người khác mới quan trọng. Nhất là những anh học cao, bằng cấp lớn mà công ty xếp anh công việc thấp là hay bất mãn, mang trong người năng lượng tiêu cực thì sao mà vươn lên được.
 
Giống như một cây trồng càng to, cành lá càng nhiều mà dời đi nơi khác thì để cây đó sống được đâu chỉ có phân bón và tưới nước. Việc quan trọng nhất là phải tỉa bỏ hết cành lá, rễ già... khi dời đi trồng chỗ mới nó mới sống được. Nó phải ra rễ mới, thích ứng sống được mới cho tán, cành lá mới. Nếu gặp thổ nhưỡng khí hậu thích hợp có khi cây càng phát triển hơn lúc trước. Anh muốn thành công môi trường mới, công việc mới việc trước tiên là anh hãy tự tỉa chính mình để tồn tại trước và phát triển chứ mãi mang hào quang quá khứ chỉ hại chính anh mà thôi.

Tất nhiên khi được học hành lên cao gặp môi trường tốt sẽ phát huy rực rỡ hơn nhưng không phải ít học là không có cơ hội nếu tự thân biết nắm bắt.
Trong số tất cả bạn bè của tôi hiện giờ không thấy có sự khác biệt rõ rệt giữa người nghỉ học sớm và những người học lên cao nếu chỉ đánh giá về thành công cụ thể. Nhưng có cái rất hay là họ đều chịu đầu tư cho con cái học hành đến nơi đến chốn nếu chúng có khả năng, còn thành công hay không lại phụ thuộc vào môi trường, may mắn và tự thân của mỗi con người./.
Môi Trường ST.

XUYÊN TẠC LỊCH SỬ CHÍNH LÀ PHÁ HOẠI TƯƠNG LAI!

     Tom Polgar, nhân viên cao cấp tòa đại sứ Mỹ ở Việt Nam, một trong những người Mỹ cuối cùng di tản khỏi Việt Nam, sau này đã viết: “Ai không học được gì ở lịch sử, bắt buộc sẽ phải lặp lại sai lầm trong lịch sử”. Thế mà đáng tiếc, 47 năm trôi qua kể từ ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc được thống nhất, vẫn còn có những ý kiến sai lệch, xuyên tạc lịch sử. Họ chẳng những đi ngược tinh thần khép lại quá khứ, hướng tới tương lai mà còn khoét sâu những vết thương bởi mù quáng và bạo tàn. Hành động của họ xét cho cùng cũng chính là sự phá hoại tương lai…

Xuyên tạc, đánh tráo, xóa nhòa lịch sử
Cứ đến dịp kỷ niệm 30-4 hằng năm, lại xuất hiện những cụm từ cũ rích, cố tình tô vẽ lại những quan điểm sai lầm. Gần đây, trên một trang xưng là của cộng đồng người Việt ở nước ngoài vẫn nhắc lại những từ ngữ như “tháng Tư là tháng "vo gạo bằng nước mắt”, “mùa quốc hận-tháng tư đen”. Nhiều trang mạng viết coi cuộc kháng chiến thực chất chỉ là nội chiến, là chiến tranh ủy nhiệm, chiến tranh ý thức hệ nên không có gì đáng tự hào. Một số ít người tự cho mình là cấp tiến, tùy tiện phán xét quá khứ, cho rằng kỷ niệm ngày chiến thắng không phải là một việc “tử tế”.

Cù Huy Hà Vũ, kẻ sinh ra trong một gia đình cách mạng, từng bị tòa án tuyên án khi bóp méo sự thật về cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, gây chia rẽ, thù hằn dân tộc. Gần đây, khi sang Mỹ, Vũ phát ngôn cho rằng, hòa hợp dân tộc không dừng ở hòa hợp giữa hai bên “thắng cuộc” và "thua cuộc" mà còn là hòa hợp giữa những nhà dân chủ với chính quyền hiện nay. Chỉ khi nào “chế độ cộng sản sụp đổ, người Việt mới có hòa hợp, hòa giải”. Nguyễn Lân Thắng, "kẻ đốt đền" trong một gia đình khoa học thì lại muốn nổi tiếng bằng những lời xảo ngôn: "Mình mong ngày 30-4 sẽ chuyển thành ngày tưởng niệm những mất mát của dân tộc, đừng nói chuyện ai thắng, ai thua". Lý Thái Hùng, kẻ tự xưng là "tổng bí thư" của tổ chức khủng bố Việt Tân gần đây đã hô hào biến ngày 30-4 từ "quốc hận" trở thành “tinh thần quốc kháng” để chống lại chế độ cộng sản.

Tháng 9-2018, tại Washington (Mỹ), cái gọi là “tập hợp vì dân chủ cho Việt Nam” đã tổ chức hội thảo có chủ đề “Nhìn lại chiến tranh Việt Nam” và đưa ra một số luận điểm bịa đặt, biện hộ cho cuộc chiến tranh phi nghĩa. Họ kêu gọi: “43 năm qua, Việt Nam vẫn chưa có tự do, vẫn chưa có dân chủ. Thành ra sứ mệnh của người trẻ tại hải ngoại sẽ phải tiếp tục đồng hành, tiếp tục tranh đấu cho tự do và dân chủ”.

Xung quanh bộ phim tài liệu 10 tập The Vietnam War (Chiến tranh Việt Nam) được Mỹ công chiếu, một số người trong nhóm "Văn đoàn độc lập" đã xét lại lịch sử: “Có nhất thiết phải qua chiến tranh mới giành được độc lập không? Giá chúng ta tìm một con đường khác ít xương máu hơn cho nền độc lập của đất nước thì quý biết nhường nào?”. "Nếu không cần chống Mỹ, miền Nam có giàu như Hàn Quốc không?".

Không thể phủ nhận
sự thật và đảo
ngược chân lý
Để xem xét lịch sử thì cần phải có cái nhìn toàn diện, khách quan, tôn trọng sự thật. Cho dù cuộc kháng chiến đã lùi xa 44 năm hay lâu dài hơn nữa thì lịch sử dân tộc và thế giới đều ghi nhận và chúng ta phải luôn khẳng định, tự hào về thắng lợi của một cuộc kháng chiến chính nghĩa, trường kỳ, vĩ đại vì nền hòa bình, độc lập, tự do của Tổ quốc. Đúng như Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ IV, đại hội đầu tiên sau ngày đất nước thống nhất đã ghi rõ: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ 20, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc".

Nhà sử học người Pháp, kiêm chuyên gia nghiên cứu về lịch sử Đông Dương Alain Rusco cho rằng, sự kiện 30-4 “gây tiếng vang lớn trên trường quốc tế về một dân tộc không chịu khuất phục trước quân thù… để có được chiến thắng này hàng triệu người dân Việt Nam đã ngã xuống trong nhiều thập kỷ đầy cam go, quyết liệt”.

Gần đây, trả lời báo chí về bộ phim tài liệu The Vietnam War, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng khẳng định: "Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam mang tính chính nghĩa, phát huy được truyền thống sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc, được bạn bè và nhân dân thế giới hết sức ủng hộ. Chính vì thế đã đi đến thắng lợi cuối cùng và thống nhất đất nước".

Trong cuốn hồi ký “Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đúc kết một trong những đặc điểm nổi bật về cuộc kháng chiến là: “Cả nước đánh Pháp, đánh Mỹ, không phân biệt tiền tuyến, hậu phương. Ý chí thống nhất Tổ quốc là thế và lực mạnh trong chiến tranh. Nước Việt Nam là một. Dân tộc Việt Nam là một. Chiến trường Việt Nam là một. Cả dân tộc kết thành một khối trong tình đồng bào cùng chung giống nòi Hồng Lạc, không thể cắt chia. Thù nhà nợ nước là chung của cả dân tộc…”. Những kẻ ngày nay xuyên tạc cho rằng bên này, bên kia mới là thắng cuộc, bên này mới là giải phóng bên kia… chẳng những không hiểu cội nguồn lịch sử mà còn xúc phạm xương máu cha ông.

Trên thực tế, chính những người trong cuộc là Mỹ và chính quyền Sài Gòn cũng đều đã thừa nhận tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam; chỉ một bộ phận chống cộng, mang nặng hận thù và những kẻ "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" ngày nay mới tin vào những luận điệu như chiến tranh ý thức hệ, nội chiến hay quan điểm lập lờ “bên nào thắng thì nhân dân đều bại”(!).

Chính Robert McNamara, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, người được xem là “kiến trúc sư” của cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam đã rút ra 11 “sai lầm một cách tồi tệ”, đáng chú ý nhất là đã lẫn lộn cuộc đấu tranh ý thức hệ với cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc của cả một dân tộc. Ông viết: "Chúng ta (Mỹ) đã đánh giá sai khi đó (và từ đó đến nay) những chủ đích địa chính trị của các đối thủ là mở rộng làn sóng đỏ xuống Đông Nam Á và chúng ta đã phóng đại những mối nguy hại từ hành động của họ đối với nước Mỹ”.

Henry Kissinger, cựu Ngoại trưởng Hoa Kỳ viết: "Hà Nội chỉ chiến đấu với một lẽ duy nhất, đó là lòng yêu nước của họ. Và một nước Việt Nam thống nhất dưới sự lãnh đạo của những người cộng sản Việt Nam, chiến thắng vào năm 1975…”.

Theo các tài liệu mới được giải mật của chính quyền Mỹ, ngày 27-9-1948, trong một văn kiện của Bộ Ngoại giao Mỹ xác định mục tiêu lâu dài của Mỹ là “thủ tiêu ở mức tối đa có thể được ảnh hưởng của cộng sản ở Đông Dương, Mỹ muốn thấy Việt Nam và Đông Dương có một nhà nước dân tộc chủ nghĩa tự trị thân Mỹ”. Ngày 30-12-1949, Tổng thống Mỹ S.Truman phê chuẩn một văn kiện của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ, trong đó nêu rõ: “Mục tiêu lâu dài của Mỹ là thủ tiêu ở mức độ tối đa có thể được ảnh hưởng của cộng sản ở Việt Nam và Đông Dương... Mỹ muốn thấy ở Việt Nam và Đông Dương có các nhà nước chống cộng, thân Mỹ”. Điều này cũng được Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhắc lại nhân kỷ niệm 35 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước: "Bác Hồ đã sớm nhìn thấy âm mưu đen tối của Mỹ. Từ 1950, Bác đã chỉ ra sự dính líu và can thiệp của Mỹ vào chiến tranh Ðông Dương. Ðể tranh thủ hòa bình, Bác đã 11 lần gửi thư cho Tổng thống Mỹ S.Truman...” nhưng không có phản hồi.

Giáo sư Trần Chung Ngọc, một người Mỹ gốc Việt, một cựu quân nhân trong quân lực Việt Nam cộng hòa từng có nhiều bài viết phân tích sâu sắc về cuộc chiến tranh. Ông viết: “Mỹ không có lý do nào chính đáng để can thiệp vào Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975. Mỹ đã bất kể đến công pháp quốc tế, không dựa trên pháp lý mà dựa trên “luật rừng” và “cường quyền thắng công lý” để can thiệp vào Việt Nam với ý đồ “bành trướng thế lực và ảnh hưởng trên toàn khu vực”…

Quá khứ - dòng máu Lạc Hồng tạo nên nhân cách

Một trong 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII chỉ ra là: “Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước”. Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần hết sức tỉnh táo để phát hiện, ngăn chặn.

Không chỉ cán bộ, đảng viên mà mỗi người dân yêu nước Việt Nam cũng cần phải có tiếng nói đúng với lương tâm và lẽ phải. Quá khứ không chỉ là lịch sử mà còn là hành trang, là sức mạnh tinh thần, là dòng máu Lạc Hồng tạo nên nhân cách của mỗi người dân đất Việt. Nếu quên tổ tiên, quên công lao của thế hệ đi trước, quên những hy sinh cao cả vì độc lập, tự do của dân tộc thì không thể là người Việt Nam chân chính. Phẫn nộ với ý kiến cho rằng "không cần chiến tranh sau này đất nước vẫn giàu mạnh", nhà sử học người Mỹ gốc Việt Nguyễn Mạnh Quang đã viết: “Trừ phi không biết hoặc thuộc loại phản quốc, khi có một nước khác đến ngồi trên đầu làm chủ, không có một người dân tử tế nào bằng lòng chờ cho có ngày bọn thực dân tự động trả lại cơ đồ ông cha mình cả. Nếu theo luận điệu ươn hèn như trên, thì những công lao và sự hy sinh của hàng triệu anh hùng nghĩa sĩ trong các lực lượng nghĩa quân kháng chiến của nhân dân ta trong đại cuộc đánh đuổi giặc Pháp ngoại xâm từ năm 1858 đến 1954 đều là vô ích hay sao! Và hàng triệu anh hùng nghĩa sĩ đã ngã xuống trong cuộc chiến 1954-1975 để đòi lại miền Nam trong tay Mỹ, đem lại thống nhất cho đất nước cũng là vô ích hay sao! Ðưa ra luận điệu này là tỏ ra vô ơn với hàng triệu anh hùng nghĩa sĩ đã ngã xuống cho Tổ quốc Việt Nam được trường tồn”.

Trên thực tế, đã có rất nhiều tiếng nói từ những người ở phía bên kia chiến tuyến sau này thừa nhận sai lầm của họ và ghi nhận chiến thắng vĩ đại của cả dân tộc cũng như chiến công của những người cộng sản. Tướng Nguyễn Hữu Có, phó thủ tướng kiêm tổng trưởng quốc phòng Việt Nam cộng hòa, sau này trả lời phóng vấn Báo Pháp luật TP Hồ Chí Minh, nói: “Chiến thắng 30-4 rất vĩ đại, là chiến thắng của sức mạnh toàn dân tộc Việt Nam... Không còn chiến tranh, không còn bom rơi đạn nổ trên quê hương mình là điều lớn nhất mà việc kết thúc chiến tranh mang lại". Cựu thủ tướng Việt Nam cộng hòa Nguyễn Cao Kỳ nhận xét về việc gọi ngày 30-4 là "quốc hận" và đòi "phục quốc": "Thống nhất xứ sở là nhiệm vụ lịch sử của mỗi một người con Việt Nam nhưng chúng tôi đã không làm được. Những người anh em phía bên kia đã làm được, phải chấp nhận đó là lịch sử và đất nước đã được thống nhất rồi. Vậy mà còn quay ra nói phục quốc? Nước Việt Nam có mất cho Tây... đâu mà phục quốc?".

Bài học cho tương lai
Ngay cả những người Mỹ đương đại cũng luôn nhìn lịch sử với sự tôn trọng để rút ra bài học cho tương lai. Trong bài thuyết trình "Cuộc chiến đã qua đi: Hồi ức và bài học lịch sử" trình bày tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh năm 2018, Giáo sư D.G.Faust, Hiệu trưởng Trường Đại học Harvard nói: “Lịch sử soi rọi những sự mù quáng và tàn bạo đã làm nên chiến tranh. Nó giúp chúng ta hình dung và đấu tranh cho hòa bình”.

Chúng ta cũng có thể tham khảo được nhiều bài học từ nước Nga. Sau khi Liên Xô tan rã, đã xuất hiện nhiều tiếng nói phủ nhận những thành tựu thời Xô viết, xét lại Cách mạng Tháng Mười, coi đó như một cuộc đảo chính man rợ, coi chế độ Xô viết như chủ nghĩa phát xít… Thế nhưng sau đó, chính quyền từ thời Tổng thống Nga Putin đã nhanh chóng bác bỏ những quan điểm sai trái trên, tiếp tục đề cao các giá trị truyền thống tốt đẹp thời Xô viết, coi đó là niềm tự hào chung để cố kết dân tộc Nga, tăng thêm sức mạnh. Phê phán những quan điểm sai trái, một bài báo từ hãng thông tấn Sputnik của Nga khẳng định: Không có chính quyền dân chủ nào được lập nên trên đầu mũi súng và không có nền dân chủ nào lại xúi giục những người anh em trong cùng một đất nước bắn giết lẫn nhau, dối trá và phỉ báng lịch sử của mình.

Sự dối trá, hèn hạ phỉ báng lịch sử, khơi gợi hận thù để lặp lại sai lầm, kích động mâu thuẫn… không chỉ là hành động vô luân, vô ơn với tiền nhân, với người hy sinh vì hòa bình, độc lập, thống nhất mà còn là sự phá hoại tương lai của dân tộc. Chúng ta phải kiên quyết lên án, xóa bỏ những tư tưởng ấy để “mở nền thái bình muôn thuở", "dập tắt chiến tranh muôn đời”./.
Yêu nước ST.

LÊN LỚP VỀ CHUYỆN NHÂN QUYỀN Ư? XIN LỖI, HOA KỲ KHÔNG ĐỦ TƯ CÁCH!

         Không có kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh viễn. Vậy nên dù là cựu thù nhưng ngày nay quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ ngày càng trở nên tốt đẹp. Việt Nam, Mỹ ngày càng hợp tác chặt chẽ trên nhiều lĩnh vực. Đó là điều hết sức vui mừng. Gác lại quá khứ, hướng tới tương lai, vì hoà bình và phát triển, vì lợi ích của hai nước. Việt Nam chào đón ông Derek Chollet đến Việt Nam. Thế nhưng nếu Ông vẫn cứ giữ thói quen mà những người tiền nhiệm hay làm, đó là kêu gọi về nhân quyền Việt Nam thì tốt nhất là đừng nên làm. Việc này ảnh hưởng đến mối quan hệ hai nước và vì Hoa Kỳ không đủ tư cách để nói chuyện nhân quyền với Việt Nam. 

Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Mỹ các ông đã được long trọng công bố vào ngày 4 tháng 7 năm 1776, là lời tuyên bố các quyền tự do dân chủ. Bản Tuyên ngôn nêu rõ: "Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa đã ban cho họ những quyền không thể tước bỏ. Trong những quyền ấy có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Nghĩa là trong những quyền cơ bản của con người thì quyền được sống là quyền tối thượng. Vậy xin hỏi ai đã tàn sát người da đỏ để cướp lãnh thổ của họ? Người da đỏ có vào khoảng 15 triệu khi người Tây phương bắt đầu xâm lược, chỉ còn lại chưa đầy 250 ngàn vào năm 1890 và hiện nay gần như tuyệt chủng. Ai đã mang quân cướp một nữa lãnh thổ và tàn sát người Mexico? Ai đã ném bom nguyên tử hủy diệt Hiroshima và Nagasaky, khiến 220.000 người chết? Ai đã mang cả nửa triệu quân cùng chư hầu xâm lược Việt Nam và tàn sát người vô tội ở Việt Nam?...

Kể từ năm 1946 đến nay, quân đội Hoa Kỳ đã trực tiếp tấn công 9 quốc gia (Triều Tiên, Việt Nam, Campuchia, Grenada, Afghanistan, Iraq, Nam Tư, Panama, Cuba), các cuộc chiến này gây ra cái chết của 10 tới 15 triệu người. Ngoài ra, Hoa Kỳ cũng gây ra đảo chính hoặc ngầm can dự vào xung đột tại 28 quốc gia khác, gây ra cái chết của 9 tới 14 triệu người. Tổng cộng Hoa Kỳ đã trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra cái chết của khoảng 20 đến 30 triệu người trong các cuộc chiến tranh và xung đột rải rác trên khắp thế giới kể từ năm 1946 đến nay.

Cần khẳng định rõ rằng, Việt Nam là đất nước đấu tranh mạnh mẽ nhất trên thế giới này để giành giật quyền con người từng bị cướp đoạt trong tay quân xâm lược, đô hộ. Một đất nước đã dùng cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giành độc lập, tự do, bảo đảm dân chủ, quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc và quyền tự quyết vận mệnh dân tộc. Nước Việt do dân Việt làm chủ, chế độ lấy tổ quốc, nhân dân làm trung tâm để phụng sự. Dân tộc đó phải là dân tộc tự do nhất, dân chủ nhất, dân quyền nhất! 

Vừa qua một số đối tượng như Nguyễn Thúy Hạnh, Phạm Đoan Trang, Phạm Chí Dũng, Cấn Thị Thêu, Trương Châu Hữu Danh, Nguyễn Tường Thụy…bị bắt, họ bị bắt để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử theo quy định của pháp luật. Khởi tố về tội theo Điều 117 Bộ luật hình sự “làm, tàng trữ, phát tán thông tin, tài liệu, vật phẩm tuyên truyền chống Nhà nước Việt Nam”. Những kẻ đó không phải là thực hiện quyền tự do dân chủ cũng như cổ súy nhân quyền mà bản chất là hành vi vi phạm pháp luật. Các người cho rằng: “Việt Nam đã bắt giữ, bịt các tiếng nói đối lập” là hoàn toàn không có cơ sở, không đúng bản chất sự việc bởi họ bị bắt là vì vi phạm pháp luật chứ không phải vì tiếng nói đối lập hay trung lập gì cả. Vậy cớ gì Hoa Kỳ lại đi tôn vinh những kẻ như Phạm Đoan Trang?

Quốc có quốc pháp, gia có gia quy. Vi phạm pháp luật thì phải bị xử lý theo quy định của pháp luật. Việt Nam không như Hoa Kỳ hay một số nước Tây Âu, mồm thì ra rả dân chủ nhân quyền nhưng thực chất là những kẻ sát nhân tàn bạo nhất, đúng là những kẻ thiếu thứ gì thì hay rao giảng về thứ đó. Bom đạn Mỹ vẫn nổ khắp nơi trên thế giới, máu tươi tanh tưởi vẫn trào ra, ly tán, chia rẽ và khổ đau mà các nước Trung Đông hay Bắc Phi, Nam Mỹ, Châu Á…vẫn chưa có dấu hiệu dừng lại. Nhân quyền ở đâu khi mà quyền tối thượng của mỗi con người là quyền được sống vẫn thường xuyên bị các nước lớn uy hiếp, tước bỏ? 

Vi phạm nhân quyền mà làm cho họ từ thân phận nô lệ, tôi đòi mà đứng lên làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của tổ quốc. Vi phạm nhân quyền mà từ chỗ hơn 2 triệu người chết đói do chính sách bạo tàn của người Pháp và đặc biệt là phát xít Nhật gây ra 1945 mà có ngày hôm nay. Người Việt không hề có quyền con người dưới chế độ thực dân, phong kiến mà trở thành những con người có áo đẹp, cơm ngon với đầy đủ các quyền tự do, dân chủ. Vi phạm nhân quyền mà vào sinh ra tử để cứu dân khỏi nước sôi, lửa bỏng, cứu dân khỏi thiên tại lũ lụt, dịch bệnh. Vi phạm nhân quyền mà chỉ sau 30 năm đổi mới, đất nước từ chỗ nghèo đói nhất thế giới, quy mô nền kinh tế 180/195 quốc gia năm 1991 đã vươn lên thành nền kinh tế thứ 31 thế giới, đứng thứ 3 Đông Nam Á và chính thức cạnh tranh sòng phẳng vị trí thứ hai với Thái Lan sao. Người Mỹ nên nhận thức lại khái niệm về nhân quyền. Nói về nhân quyền thì xin lỗi, Hoa Kỳ không đủ tư cách./.
Yêu nước ST.

NGUYỄN ĐỖ TÙNG DƯƠNG, KẺ UNG THƯ TÂM HỒN HAY CUỘI DÂN CHỦ???

         Trước hay xem phim thấy anh ta vào vai suốt, nhưng chưa bao giờ có cảm tình với những vai anh ta thể hiện, nên kể cả anh ta cũng thế luôn. Vậy mà đến giờ cái cảm nhận của mình chẳng sai về anh ta.
Mình từng xem đâu đó nói rằng anh ta thần kinh không được bình thường và giờ thấy đúng... Anh ta từng bị nhiễm độc thần kinh như báo chí đưa tin, và tự bao giờ anh ta đã nhiễm độc cả tâm hồn... đọc cái tút anh ta mới đăng mượn sự đau lòng về sự "giải thoát" của cậu bé lớp 10 vừa hôm qua để xúc phạm Lê Nin :
" Đã đến lúc ngành giáo dục nên loại bỏ câu :
" Học học nữa, học mãi "
của lão Nin hói ra khỏi SGK học đường được rồi đấy đau lòng "
Với cái tút này thì anh ta không phải tâm thần bệnh như người bệnh bình thường mà đó là giọng điệu của những kẻ tâm thần chính trị, ung thư tâm hồn và dĩ nhiên anh ta và những kẻ vô cmt hùa với anh ta cũng chưa và mãi mãi không bao giờ hiểu ý nghĩa câu nói nổi tiếng đó của Lê Nin là như thế nào?
"HỌC, HỌC NỮA HỌC MÃI" chưa hẳn như suy nghĩ thiển cận khô cứng trong sách vở học đường của anh ta và những người hùa theo anh ta.
Sự học là mãi mãi, ngoài kiến thức sách vở thì học còn để làm người, học để nâng cao trí thức, học ở mọi lúc mọi nơi, học ở trường học, học ở trường đời, học hỏi lẫn nhau, học để giúp mình giúp người...
Chính với cái suy nghĩ nhỏ nhen, hèn mạt nên anh ta dù là người của công chúng nhưng anh ta chẳng còn gì trong lòng công chúng mà đã tuột xích lao dốc như những tay cuội dân chủ thứ thiệt.
Nguyễn Đỗ Tùng Dương nên hiểu rằng xúc phạm Lê Nin cũng chính là xúc phạm nền tảng tư tưởng của Đảng và Bác Hồ kính yêu của dân tộc Việt Nam, nên những kẻ đi ngược đường đều phải chịu cái kết đắng./.

Môi Trường ST.

XUYÊN TẠC LỊCH SỬ CHÍNH LÀ PHÁ HOẠI TƯƠNG LAI


Tom Polgar, nhân viên cao cấp tòa đại sứ Mỹ ở Việt Nam, một trong những người Mỹ cuối cùng di tản khỏi Việt Nam, sau này đã viết: “Ai không học được gì ở lịch sử, bắt buộc sẽ phải lặp lại sai lầm trong lịch sử”. 


Thế mà đáng tiếc, gần 47 năm trôi qua kể từ ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc được thống nhất, vẫn còn có những ý kiến sai lệch, xuyên tạc lịch sử. Họ chẳng những đi ngược tinh thần khép lại quá khứ, hướng tới tương lai mà còn khoét sâu những vết thương bởi mù quáng và bạo tàn. Hành động của họ xét cho cùng cũng chính là sự phá hoại tương lai…


XUYÊN TẠC, ĐÁNH TRÁO, XÓA NHÒA LỊCH SỬ 


Cứ đến dịp kỷ niệm 30/4 hằng năm, lại xuất hiện những cụm từ cũ rích, cố tình tô vẽ lại những quan điểm sai lầm. Gần đây, trên một trang xưng là của cộng đồng người Việt ở nước ngoài vẫn nhắc lại những từ ngữ như “tháng Tư là tháng "vo gạo bằng nước mắt”, “mùa quốc hận-tháng tư đen”. Nhiều trang mạng viết coi cuộc kháng chiến thực chất chỉ là nội chiến, là chiến tranh ủy nhiệm, chiến tranh ý thức hệ nên không có gì đáng tự hào. Một số ít người tự cho mình là cấp tiến, tùy tiện phán xét quá khứ, cho rằng kỷ niệm ngày chiến thắng không phải là một việc “tử tế”.


Cù Huy Hà Vũ, kẻ sinh ra trong một gia đình cách mạng, từng bị tòa án tuyên án khi bóp méo sự thật về cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, gây chia rẽ, thù hằn dân tộc. Gần đây, khi sang Mỹ, Vũ phát ngôn cho rằng, hòa hợp dân tộc không dừng ở hòa hợp giữa hai bên “thắng cuộc” và "thua cuộc" mà còn là hòa hợp giữa những nhà dân chủ với chính quyền hiện nay. Chỉ khi nào “chế độ cộng sản sụp đổ, người Việt mới có hòa hợp, hòa giải”. 


Nguyễn Lân Thắng, "kẻ đốt đền" trong một gia đình khoa học thì lại muốn nổi tiếng bằng những lời xảo ngôn: "Mình mong ngày 30/4 sẽ chuyển thành ngày tưởng niệm những mất mát của dân tộc, đừng nói chuyện ai thắng, ai thua". 


Lý Thái Hùng, kẻ tự xưng là "tổng bí thư" của tổ chức khủng bố Việt Tân gần đây đã hô hào biến ngày 30/4 từ "quốc hận" trở thành “tinh thần quốc kháng” để chống lại chế độ cộng sản.


Tháng 9/2018, tại Washington (Mỹ), cái gọi là “tập hợp vì dân chủ cho Việt Nam” đã tổ chức hội thảo có chủ đề “Nhìn lại chiến tranh Việt Nam” và đưa ra một số luận điểm bịa đặt, biện hộ cho cuộc chiến tranh phi nghĩa. Họ kêu gọi: “43 năm qua, Việt Nam vẫn chưa có tự do, vẫn chưa có dân chủ. Thành ra sứ mệnh của người trẻ tại hải ngoại sẽ phải tiếp tục đồng hành, tiếp tục tranh đấu cho tự do và dân chủ”.


Xung quanh bộ phim tài liệu 10 tập The Vietnam War (Chiến tranh Việt Nam) được Mỹ công chiếu, một số người trong nhóm "Văn đoàn độc lập" đã xét lại lịch sử: “Có nhất thiết phải qua chiến tranh mới giành được độc lập không? Giá chúng ta tìm một con đường khác ít xương máu hơn cho nền độc lập của đất nước thì quý biết nhường nào?”. "Nếu không cần chống Mỹ, miền Nam có giàu như Hàn Quốc không?".


KHÔNG THỂ PHỦ NHẬN SỰ THẬT VÀ ĐẢO NGƯỢC CHÂN LÝ


Để xem xét lịch sử thì cần phải có cái nhìn toàn diện, khách quan, tôn trọng sự thật. Cho dù cuộc kháng chiến đã lùi xa 47 năm hay lâu dài hơn nữa thì lịch sử dân tộc và thế giới đều ghi nhận và chúng ta phải luôn khẳng định, tự hào về thắng lợi của một cuộc kháng chiến chính nghĩa, trường kỳ, vĩ đại vì nền hòa bình, độc lập, tự do của Tổ quốc. Đúng như Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ IV, đại hội đầu tiên sau ngày đất nước thống nhất đã ghi rõ: 


“Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ 20, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc".


Nhà sử học người Pháp, kiêm chuyên gia nghiên cứu về lịch sử Đông Dương Alain Rusco cho rằng, sự kiện 30/4 “gây tiếng vang lớn trên trường quốc tế về một dân tộc không chịu khuất phục trước quân thù… để có được chiến thắng này hàng triệu người dân Việt Nam đã ngã xuống trong nhiều thập kỷ đầy cam go, quyết liệt”.


Gần đây, trả lời báo chí về bộ phim tài liệu The Vietnam War, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng khẳng định: "Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam mang tính chính nghĩa, phát huy được truyền thống sức mạnh đoàn kết của cả dân tộc, được bạn bè và nhân dân thế giới hết sức ủng hộ. Chính vì thế đã đi đến thắng lợi cuối cùng và thống nhất đất nước".


Trong cuốn hồi ký “Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đúc kết một trong những đặc điểm nổi bật về cuộc kháng chiến là: “Cả nước đánh Pháp, đánh Mỹ, không phân biệt tiền tuyến, hậu phương. Ý chí thống nhất Tổ quốc là thế và lực mạnh trong chiến tranh. Nước Việt Nam là một. Dân tộc Việt Nam là một. Chiến trường Việt Nam là một. Cả dân tộc kết thành một khối trong tình đồng bào cùng chung giống nòi Hồng Lạc, không thể cắt chia. Thù nhà nợ nước là chung của cả dân tộc…”. Những kẻ ngày nay xuyên tạc cho rằng bên này, bên kia mới là thắng cuộc, bên này mới là giải phóng bên kia… chẳng những không hiểu cội nguồn lịch sử mà còn xúc phạm xương máu cha ông.


Trên thực tế, chính những người trong cuộc là Mỹ và chính quyền Sài Gòn cũng đều đã thừa nhận tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến của dân tộc Việt Nam; chỉ một bộ phận chống cộng, mang nặng hận thù và những kẻ "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" ngày nay mới tin vào những luận điệu như chiến tranh ý thức hệ, nội chiến hay quan điểm lập lờ “bên nào thắng thì nhân dân đều bại”(!).


Chính Robert McNamara, cựu Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ, người được xem là “kiến trúc sư” của cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam đã rút ra 11 “sai lầm một cách tồi tệ”, đáng chú ý nhất là đã lẫn lộn cuộc đấu tranh ý thức hệ với cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc của cả một dân tộc. Ông viết: "Chúng ta (Mỹ) đã đánh giá sai khi đó (và từ đó đến nay) những chủ đích địa chính trị của các đối thủ là mở rộng làn sóng đỏ xuống Đông Nam Á và chúng ta đã phóng đại những mối nguy hại từ hành động của họ đối với nước Mỹ”.


Henry Kissinger, cựu Ngoại trưởng Hoa Kỳ viết: "Hà Nội chỉ chiến đấu với một lẽ duy nhất, đó là lòng yêu nước của họ. Và một nước Việt Nam thống nhất dưới sự lãnh đạo của những người cộng sản Việt Nam, chiến thắng vào năm 1975…”.


Theo các tài liệu mới được giải mật của chính quyền Mỹ, ngày 27/9/1948, trong một văn kiện của Bộ Ngoại giao Mỹ xác định mục tiêu lâu dài của Mỹ là “thủ tiêu ở mức tối đa có thể được ảnh hưởng của cộng sản ở Đông Dương, Mỹ muốn thấy Việt Nam và Đông Dương có một nhà nước dân tộc chủ nghĩa tự trị thân Mỹ”. Ngày 30/12/1949, Tổng thống Mỹ S.Truman phê chuẩn một văn kiện của Hội đồng An ninh quốc gia Mỹ, trong đó nêu rõ: “Mục tiêu lâu dài của Mỹ là thủ tiêu ở mức độ tối đa có thể được ảnh hưởng của cộng sản ở Việt Nam và Đông Dương... Mỹ muốn thấy ở Việt Nam và Đông Dương có các nhà nước chống cộng, thân Mỹ”. Điều này cũng được Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhắc lại nhân kỷ niệm 35 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước: "Bác Hồ đã sớm nhìn thấy âm mưu đen tối của Mỹ. Từ 1950, Bác đã chỉ ra sự dính líu và can thiệp của Mỹ vào chiến tranh Ðông Dương. Ðể tranh thủ hòa bình, Bác đã 11 lần gửi thư cho Tổng thống Mỹ S.Truman...” nhưng không có phản hồi.


Giáo sư Trần Chung Ngọc, một người Mỹ gốc Việt, một cựu quân nhân trong quân lực Việt Nam cộng hòa từng có nhiều bài viết phân tích sâu sắc về cuộc chiến tranh. Ông viết: “Mỹ không có lý do nào chính đáng để can thiệp vào Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975. Mỹ đã bất kể đến công pháp quốc tế, không dựa trên pháp lý mà dựa trên “luật rừng” và “cường quyền thắng công lý” để can thiệp vào Việt Nam với ý đồ “bành trướng thế lực và ảnh hưởng trên toàn khu vực”…


QÚA KHỨ - DÒNG MÁU LẠC HỒNG TẠO NÊN NHÂN CÁCH


Một trong 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ ra là: “Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước”. Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần hết sức tỉnh táo để phát hiện, ngăn chặn.


Không chỉ cán bộ, đảng viên mà mỗi người dân yêu nước Việt Nam cũng cần phải có tiếng nói đúng với lương tâm và lẽ phải. Quá khứ không chỉ là lịch sử mà còn là hành trang, là sức mạnh tinh thần, là dòng máu Lạc Hồng tạo nên nhân cách của mỗi người dân đất Việt. Nếu quên tổ tiên, quên công lao của thế hệ đi trước, quên những hy sinh cao cả vì độc lập, tự do của dân tộc thì không thể là người Việt Nam chân chính.


Phẫn nộ với ý kiến cho rằng "không cần chiến tranh sau này đất nước vẫn giàu mạnh", nhà sử học người Mỹ gốc Việt Nguyễn Mạnh Quang đã viết: “Trừ phi không biết hoặc thuộc loại phản quốc, khi có một nước khác đến ngồi trên đầu làm chủ, không có một người dân tử tế nào bằng lòng chờ cho có ngày bọn thực dân tự động trả lại cơ đồ ông cha mình cả. Nếu theo luận điệu ươn hèn như trên, thì những công lao và sự hy sinh của hàng triệu anh hùng nghĩa sĩ trong các lực lượng nghĩa quân kháng chiến của nhân dân ta trong đại cuộc đánh đuổi giặc Pháp ngoại xâm từ năm 1858 đến 1954 đều là vô ích hay sao! Và hàng triệu anh hùng nghĩa sĩ đã ngã xuống trong cuộc chiến 1954-1975 để đòi lại miền Nam trong tay Mỹ, đem lại thống nhất cho đất nước cũng là vô ích hay sao! Ðưa ra luận điệu này là tỏ ra vô ơn với hàng triệu anh hùng nghĩa sĩ đã ngã xuống cho Tổ quốc Việt Nam được trường tồn”.


Trên thực tế, đã có rất nhiều tiếng nói từ những người ở phía bên kia chiến tuyến sau này thừa nhận sai lầm của họ và ghi nhận chiến thắng vĩ đại của cả dân tộc cũng như chiến công của những người cộng sản. Tướng Nguyễn Hữu Có, phó thủ tướng kiêm tổng trưởng quốc phòng Việt Nam cộng hòa, sau này trả lời phóng vấn Báo Pháp luật TP. Hồ Chí Minh, nói: “Chiến thắng 30/4 rất vĩ đại, là chiến thắng của sức mạnh toàn dân tộc Việt Nam... Không còn chiến tranh, không còn bom rơi đạn nổ trên quê hương mình là điều lớn nhất mà việc kết thúc chiến tranh mang lại".


Cựu thủ tướng ngụy quyền Việt Nam cộng hòa Nguyễn Cao Kỳ nhận xét về việc gọi ngày 30/4 là "quốc hận" và đòi "phục quốc": "Thống nhất xứ sở là nhiệm vụ lịch sử của mỗi một người con Việt Nam nhưng chúng tôi đã không làm được. Những người anh em phía bên kia đã làm được, phải chấp nhận đó là lịch sử và đất nước đã được thống nhất rồi. Vậy mà còn quay ra nói phục quốc? Nước Việt Nam có mất cho Tây... đâu mà phục quốc?".


BÀI HỌC CHO TƯƠNG LAI


Ngay cả những người Mỹ đương đại cũng luôn nhìn lịch sử với sự tôn trọng để rút ra bài học cho tương lai. Trong bài thuyết trình "Cuộc chiến đã qua đi: Hồi ức và bài học lịch sử" trình bày tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh năm 2018, Giáo sư D.G.Faust, Hiệu trưởng Trường Đại học Harvard nói: “Lịch sử soi rọi những sự mù quáng và tàn bạo đã làm nên chiến tranh. Nó giúp chúng ta hình dung và đấu tranh cho hòa bình”.


Chúng ta cũng có thể tham khảo được nhiều bài học từ nước Nga. Sau khi Liên Xô tan rã, đã xuất hiện nhiều tiếng nói phủ nhận những thành tựu thời Xô viết, xét lại Cách mạng Tháng Mười, coi đó như một cuộc đảo chính man rợ, coi chế độ Xô viết như chủ nghĩa phát xít… Thế nhưng sau đó, chính quyền từ thời Tổng thống Nga Putin đã nhanh chóng bác bỏ những quan điểm sai trái trên, tiếp tục đề cao các giá trị truyền thống tốt đẹp thời Xô viết, coi đó là niềm tự hào chung để cố kết dân tộc Nga, tăng thêm sức mạnh. Phê phán những quan điểm sai trái, một bài báo từ hãng thông tấn Sputnik của Nga khẳng định: Không có chính quyền dân chủ nào được lập nên trên đầu mũi súng và không có nền dân chủ nào lại xúi giục những người anh em trong cùng một đất nước bắn giết lẫn nhau, dối trá và phỉ báng lịch sử của mình.


Sự dối trá, hèn hạ phỉ báng lịch sử, khơi gợi hận thù để lặp lại sai lầm, kích động mâu thuẫn… không chỉ là hành động vô luân, vô ơn với tiền nhân, với người hy sinh vì hòa bình, độc lập, thống nhất mà còn là sự phá hoại tương lai của dân tộc. Chúng ta phải kiên quyết lên án, xóa bỏ những tư tưởng ấy để “mở nền thái bình muôn thuở", "dập tắt chiến tranh muôn đời”./.  

Hải Đăng ST 



 NGHỆ THUẬT "TRÓI ĐỊCH LẠI MÀ ĐÁNH" TRONG CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN

Trong Chiến dịch Tây Nguyên, nhằm thực hiện thế trận “trói địch lại mà đánh”, ta tương kế tựu kế bằng cách nghi binh lừa địch. Diệu kế này diễn ra như một bộ phim hành động viễn tưởng...
Bày binh bố trận ảo
Tháng 10-1974, sau hai tuần soạn thảo, kế hoạch nghi binh do đồng chí Khuất Duy Tiến, Trưởng phòng Tác chiến Mặt trận Tây Nguyên xây dựng, tổng hợp thành 10 trang giấy pơ-luya chính thức được đồng chí Vũ Lăng, Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên thông qua. Khi ấy, Tư lệnh Vũ Lăng còn cẩn thận dặn đồng chí Khuất Duy Tiến: “Cậu nhớ giữ kín nhé, trước mắt là chỉ mình với cậu biết thôi đấy”.
Nội dung Kế hoạch “Nghi binh 10-1974” được tiến hành trên 4 hướng, gồm: Hướng bắc, đông bắc thị xã Kon Tum; hướng tây, tây nam thị xã Kon Tum; hướng Đường số 19 An Khê và hướng tây Pleiku. Để lừa địch, ta thực hiện 3 chiêu thức. Thứ nhất, dùng máy thông tin sóng ngắn 15W có mật hiệu chữ “B” để tung tin giả. Tất cả đường dây điện thoại, điện trời để nguyên, các báo vụ hằng ngày vẫn làm việc bình thường. Thứ hai, các trận địa pháo ở Tây Nguyên vẫn giữ nguyên, đêm đến tăng cường kéo pháo quanh trận địa ầm ĩ. Thứ ba, tung tin trong nhân dân là ta sắp mở chiến dịch ở Bắc Tây Nguyên. Trong khi đó, ta âm thầm cho công binh mở những con đường cơ động mới, điều chuyển lực lượng về Nam Tây Nguyên, bảo đảm hết sức bí mật, ngụy trang kỹ lưỡng, ngày vào rừng, tối hành quân, đi đến đâu ngụy trang xóa dấu vết đến đó.
Đại tá Lê Quang Huân, nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 19, Sư đoàn 968 kể lại: Cuối tháng 12-1974, Sư đoàn 968 đang đứng chân tại Nam Lào được lệnh về Tây Nguyên trước ngày 6-1-1975 nhận nhiệm vụ quan trọng, đó là nghi binh chiến lược. Khi Sư đoàn 968 về đến Tây Nguyên thì được giao nhiệm vụ thay cho Sư đoàn 10 (ở Kon Tum) và Sư đoàn 320A (ở Gia Lai) để hai sư đoàn này cơ động về hướng chính làm nhiệm vụ. Sư đoàn 968 giao cho Trung đoàn 19 phòng ngự chiếm giữ ở phía tây và bắc Đường số 19. Để giữ bí mật, quá trình phòng ngự ở Pleiku, Trung đoàn 19 lấy phiên hiệu là Mặt trận Y. Nhằm nghi binh lừa địch, Tiểu đoàn 2 của Trung đoàn 19 lấy phiên hiệu là Sư đoàn 320A, Tiểu đoàn 3 lấy phiên hiệu là Sư đoàn 10.
Trong khi đó, ngày 17-1-1975, Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320A di chuyển hết lực lượng về phía nam Tây Nguyên mà địch tưởng hai sư đoàn chủ lực này của ta sẽ đánh vào Kon Tum và Pleiku (phía bắc Tây Nguyên) chứ không đánh xuống phía nam. Chúng nhận định rằng, để đánh được Đắc Lắc, ta cơ động khoảng 300km đường rừng, nhiều sông, suối nên việc hành quân và đưa phương tiện vào sẽ rất khó khăn, việc đánh Đắc Lắc sẽ không khả thi.
Cùng thời gian đó, ở Kon Tum và Gia Lai, ta hạ lệnh truyền tin, chuẩn bị đi dân công, tải thương, tải đạn, kéo xe tăng... áp vào đánh địch. Sư đoàn 968 nhận lệnh kéo pháo đánh ngay đồn Thanh An, bắn pháo vào Pleiku. Từ ngày 1 đến 3-3, ta đánh mạnh ở Gia Lai, Kon Tum khiến địch tin rằng, ta chuẩn bị đánh Bắc Tây Nguyên. Ngày 9-3, khi ta nổ súng đánh địch ở Đức Lập, cách Buôn Ma Thuột 10km, cùng lúc Phạm Văn Phú, tư lệnh quân khu 2 của ngụy ở Tây Nguyên vẫn cho rằng ta chỉ đánh nghi binh.
Linh hoạt xử lý tình huống bất ngờ
“Tổ chức nghi binh cả một chiến dịch dù kín kẽ đến mức nào vẫn có thể để lọt sơ hở. Tuy vậy, nhờ nắm bắt nhanh chóng và đề ra cách xử trí kịp thời nên ta vẫn giữ được ý định tác chiến”, Trung tướng, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Quốc Thước, nguyên Tham mưu trưởng Chiến dịch Tây Nguyên nhấn mạnh và kể cụ thể từng tình huống: Thực hiện ý định tác chiến, cuối tháng 2, đầu tháng 3-1975, tổ trinh sát của Tiểu đoàn Thông tin, thuộc Sư đoàn 320A đi trinh sát Đường số 14 để dẫn đường cho sư đoàn tiếp cận và cắt Đường số 14, không cho địch từ Pleiku về Đắc Lắc ứng cứu khi ta tiến công Buôn Ma Thuột. Trên đường đi trinh sát, một chiến sĩ thông tin bị bọn thám báo của địch bắt. Trước sự tra tấn dã man của địch, qua mạng thông tin vô tuyến điện, phía ta biết được chiến sĩ bị bắt đã khai toàn bộ ý định chiến đấu là sẽ đánh thị xã Buôn Ma Thuột, đồng thời đưa quân ra chặn Đường số 14, không cho bộ binh, pháo binh, xe tăng của địch từ Gia Lai và Kon Tum đến ứng cứu.
Chỉ còn mấy ngày nữa là ta sẽ tấn công Buôn Ma Thuột. Ngay lập tức, Bộ tư lệnh chiến dịch tổ chức cuộc họp bàn cách làm sao để địch không tin đó là lời khai thật, vì nếu địch tin lời khai trên, chúng sẽ đưa quân về tăng cường phòng thủ ở Buôn Ma Thuột thì tình thế của ta sẽ phức tạp. Sau khi thảo luận, Tư lệnh Chiến dịch Hoàng Minh Thảo (tháng 2-1975, đồng chí Hoàng Minh Thảo được trên phân công trở lại làm Tư lệnh Chiến dịch Tây Nguyên) lệnh cho Sư đoàn 320A bí mật rút quân khỏi khu vực triển khai ở phía tây Đường số 14 và xóa hết dấu vết. Tham mưu trưởng Nguyễn Quốc Thước lệnh cho Sư đoàn 968 áp sát và đánh ngay vào quận lỵ Thanh Bình, Thanh An, rồi dùng pháo bắn vào sân bay Cù Hanh ở Pleiku.
Kế hoạch nhanh chóng được tiến hành. Nhận lệnh, đồng chí Thanh Sơn, Sư đoàn trưởng Sư đoàn 968 hỏi đồng chí Nguyễn Quốc Thước: “Báo cáo thủ trưởng, chúng ta đánh thật hay đánh giả?”. Đồng chí Tham mưu trưởng chiến dịch trả lời dứt khoát: “Với đơn vị anh, lúc này là đánh thật, nhưng với chiến dịch là giả để thu hút địch về Pleiku nên phải hết sức chú ý, không được lộ kế hoạch”.
Ngày 1-3, khi thấy các lực lượng của Sư đoàn 968 bắt đầu nổ súng vào các mục tiêu ở Pleiku, địch nghĩ đó vẫn là lực lượng của Sư đoàn 320A. Đồng thời, chúng cho quân đi trinh sát Đường số 14 nhưng không thấy ta động tĩnh gì. Thế là địch cho rằng chiến sĩ thông tin kia đã đánh lừa chúng.
Tình huống khác, vào giữa tháng 2-1975, một nhóm trinh sát của Trung đoàn Pháo binh 675 (lực lượng của bộ từ ngoài Bắc vào Tây Nguyên tăng cường cho chiến dịch) đi trinh sát để chuẩn bị trận địa pháo cho đơn vị ở Buôn Ma Thuột thì một chiến sĩ trinh sát bị nhóm thám báo của địch bắt được. Qua trinh sát kỹ thuật, ta nắm rõ chiến sĩ này rất kiên cường, dù bị tra tấn dã man nhưng vẫn không khai nửa lời, cuối cùng, địch đã thủ tiêu chiến sĩ ta.
Lần thứ ba, vào ngày 7-3, Sư đoàn 316 vượt Đường số 14 trên hướng phía tây thị xã Buôn Ma Thuột để vu hồi tiến công vào Đức Lập. Trên đường hành quân, một cán bộ thuộc Trung đoàn 149, Sư đoàn 316 đánh rơi cuốn nhật ký, bọn thám báo của địch nhặt được. Trong cuốn nhật ký ghi rõ là đơn vị có nhiệm vụ hành quân về để đánh thị xã, nhưng không nói rõ là sẽ đánh thị xã nào (ở Đắc Lắc lúc này có hai thị xã là Buôn Ma Thuột và Gia Nghĩa). Địch nhanh chóng điều quân tăng cường về phòng thủ ở thị xã Gia Nghĩa (nay thuộc tỉnh Đắc Nông), vì vậy mà không phát hiện ra kế hoạch của ta là đánh thị xã Buôn Ma Thuột.
Kế hoạch nghi binh thực hiện đúng ý đồ không chỉ tiết kiệm được thời gian mà còn giảm đến mức thấp nhất thương vong cho lực lượng của ta để nhanh chóng giải phóng hoàn toàn Buôn Ma Thuột, đẩy địch vào thế bị động. Ta bất ngờ tạo thế tiến công, liên tiếp giải phóng An Khê (12-3), Kon Tum, Pleiku (17-3), Kiến Đức (20-3), Gia Nghĩa (22-3). Sau khi làm chủ Tây Nguyên (24-3), thừa thắng xông lên, từ ngày 25-3 đến 3-4, quân ta tiến xuống đồng bằng ven biển giải phóng Bình Khê, Phú Yên, Nha Trang, Cam Ranh.
Thế trận “trói địch lại mà đánh” hình thành trên cơ sở ta nhận định và phân tích sâu kỹ về tình hình địch. Ta đã bí mật tổ chức lực lượng để triển khai thế trận hoàn chỉnh, nhất là có sự kết hợp chặt chẽ giữa các lực lượng và hỗ trợ trực tiếp cho nhau để tạo ra thời cơ tiến công tiêu diệt địch, giành thắng lợi mau chóng, hạn chế đến mức thấp nhất tổn thất, thương vong, tạo tiền đề để đẩy nhanh tiến công giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước vào mùa xuân năm 1975.
-Nguồn: Quân đội nhân dân-
Có thể là hình ảnh về 2 người và ngoài trời



 LIỆU VIỆT NAM CÓ CẦN MỸ TRUYỀN BÁ NHÂN QUYỀN?

Trong bài phát biểu với báo giới trước khi sang Việt Nam, Derek Chollet, cố vấn cấp cao của Ngoại trưởng Hoa Kỳ nhấn mạnh: một trong những nội dung đề cập chính của ông ta với chính quyền Việt Nam đó là nhân quyền, nhằm "truyền bá giá trị nhân quyền" tới Việt Nam.
Và ngay khi Derek Chollet tới Việt Nam, hình ảnh người ta nhìn thấy là việc ông cùng Đại sứ Mỹ ngồi thưởng thức một bữa ăn đậm chất đường phố ở Việt Nam - bún chả, ngay tại nơi mà Tổng Thống Barack Obama từng ăn trong chuyến thăm Việt Nam. Và kết thúc chuyến đi, Derek Chollet đã phải thốt lên "Tôi đã có chuyến đi tuyệt vời đến Hà Nội!".
Một chi tiết nhỏ, nhưng rất đáng chú ý. Thử hỏi rằng, nếu một ở một quốc gia độc đoán, tàn bạo, liệu ngài cố vấn có thể thoải mái ngồi ăn ở một quán ăn bình dị, thoải mái selfile với bạn bè như vậy hay không?
Với những gì mắt thấy tai nghe ở Việt Nam, tôi chắc rằng, ông cố vấn sẽ trả lời được câu hỏi: Việt Nam có cần phải nhờ Mỹ truyền bá nhân quyền hay không? Ở một đất nước mà quyền lợi nhân dân được đảm bảo, hòa bình, ổn định được giữ vững, thì ngay cả một quan chức Mỹ - quốc gia vốn có cựu thù với Việt Nam mới chỉ chưa đến 50 năm, hoàn toàn có thể thoải mái ngồi ăn một món ăn giản dị ở đường phố Việt Nam mà không cần phòng bị hay quá lo lắng điều gì. Đất nước chúng tôi, không hề có chuyện thiếu thốn về nhân quyền, mà ngược lại, quyền con người luôn được phát huy cao nhất.
Cái duy nhất mà chúng tôi ngăn chặn - đó là những kẻ rắp tâm phá hoại không khí bình yên mà ngài được hưởng khi ở Việt Nam, điều khiến ngài không thể ngồi ăn tự nhiên như trong bức ảnh mà phải bị bao xung quanh là kính chắn đạn và vệ sĩ cao to xung quanh. Đó mới điều nguy hiểm nhất.
LDA
Có thể là hình ảnh về 3 người, trong nhà và văn bản cho biết 'CĂM THUỐC NO SMOKING 3 22'