Thứ Hai, 4 tháng 4, 2022

TIẾN TỚI COI COVID-19 LÀ BỆNH ĐẶC HỮU

 Các chuyên gia nhấn mạnh dù là đại dịch hay bệnh đặc hữu thì người dân vẫn phải có ý thức phòng dịch trong cộng đồng để tránh lây lan dịch bệnh.

Thời điểm kết thúc đại dịch cho đến nay vẫn còn bỏ ngỏ, chưa ai dám khẳng định đại dịch gần kết thúc, nhưng đã bắt đầu nhen nhóm tia hy vọng một ngày không xa, COVID-19 chỉ còn là bệnh lưu hành thông thường, đại dịch chỉ còn là dịch.

Khái niệm bệnh đặc hữu hay còn gọi là bệnh lưu hành được nhắc đến nhiều thời gian gần đây. Bệnh đặc hữu là sự xuất hiện một cách ổn định của bệnh dịch hoặc tác nhân gây bệnh trong một khu vực địa lý hoặc nhóm quần thể dân số nhất định. Nó có thể lặp đi lặp lại nhưng không quá nguy hiểm như đại dịch.

Thêm nhiều nước tiến tới coi COVID-19 là bệnh đặc hữu và mở cửa trở lại biên giới. Đây là cách để các nước dần quay trở lại cuộc sống bình thường sau hai năm đóng cửa vì dịch bệnh.

Các nước coi COVID là bệnh đặc hữu

Indonesia đang chuẩn bị lộ trình từng bước chuyển đổi từ giai đoạn đại dịch sang giai đoạn bệnh đặc hữu, tức là giai đoạn sống chung với COVID-19. Indonesia sẽ từng bước bình thường hóa các hoạt động cộng đồng thông qua các chính sách kiểm soát dịch bệnh, quy định tỷ lệ sử dụng giường bệnh và ngăn chặn các ca tử vong để đảm bảo tỷ lệ tử vong được duy trì ở mức thấp. Lộ trình chuyển sang giai đoạn bệnh đặc hữu nói trên đã được chứng minh là có hiệu quả, giúp kiểm soát làn sóng lây lan dịch COVID-19. Hiện, tỷ lệ bao phủ vaccine mũi thứ nhất tại Indonesia đã đạt trên 92%, tỷ lệ bao phủ hai mũi là 71% và tỷ lệ tiêm mũi tăng cường là 10%.

Thái Lan đã thông qua kế hoạch 4 bước chuyển sang giai đoạn coi COVID-19 là bệnh đặc hữu từ ngày 1/7.

Kế hoạch trên nhằm hỗ trợ nền kinh tế Thái Lan phục hồi sau đại dịch cũng như bảo vệ sức khỏe cộng đồng bằng cách thực hiện các biện pháp nghiêm ngặt phù hợp.

Giới chức Thái Lan nhấn mạnh rằng để đạt được đến giai đoạn xem COVID-19 là bệnh đặc hữu, tỷ lệ tử vong vì căn bệnh này phải không được vượt quá 0,1%. Hiện tại, tỷ lệ này là gần 0,2%.

Malaysia sẽ bắt đầu chuyển sang coi COVID-19 là bệnh đặc hữu và mở cửa trở lại biên giới nước này cho du khách quốc tế từ ngày 1/4 tới. Quyết định trên được đưa ra là nhờ sự thành công của chương trình tiêm chủng quốc gia ngừa COVID-19, từ đó giúp nước này có thể trở lại gần như cuộc sống bình thường sau 2 năm chiến đấu chống đại dịch. Khi COVID-19 được coi là bệnh đặc hữu, những du khách đã tiêm chủng đầy đủ sẽ không cần phải cách ly khi nhập cảnh vào Malaysia, họ sẽ chỉ cần xét nghiệm trước khi khởi hành và khi đến Malaysia.

Một số nước hiện nay bỏ tất cả các biện pháp phòng ngừa như đeo khẩu trang, mở cửa hoàn toàn các dịch vụ, hoạt động và đang tiến tới coi COVID-19 là bệnh lưu hành, giống như cúm mùa. Liệu điều này sẽ đến sớm hay không? Khi nào có thể coi COVID-19 là bệnh đặc hữu hay bệnh lưu hành thông thường như cúm mùa? Các chuyên gia mà PV phỏng vấn được còn khá dè dặt khi nhận định về vấn đề này.

Đã nên coi COVID-19 là bệnh đặc hữu chưa?

Các chuyên gia trong lĩnh vực truyền nhiễm đều nhấn mạnh, chưa có một loại virus nào lại có khả năng biến thể nhanh, nhiều và khó lường như SARS-CoV-2. Ví dụ như chủng Omicron dù mới xuất hiện nhưng đã có BA.1, BA.2 với tốc độ lây lan nhanh gấp nhiều lần so với các chủng trước đây. Trong khi đó, vaccine mới chỉ làm giảm tỷ lệ nặng và tử vong.

"Nếu nó xuất hiện một chủng mới có nguy cơ diễn biến nặng hơn vậy lúc đó chúng ta sẽ giải quyết như thế nào và bây giờ phản ứng linh hoạt nhưng vẫn phải tuân thủ theo các quy định chung về mặt khoa học cũng như của WHO" - GS.TS Nguyễn Văn Kính - Phó Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam nói.

Khu vực châu Phi tỷ lệ tiêm vaccine thấp và trên thế giới, mỗi tuần vẫn ghi nhận khoảng 50 nghìn ca tử vong. Vì vậy theo các chuyên gia, còn sớm để nói rằng đại dịch sẽ chấm dứt.

Hệ thống y tế phải đáp ứng được khi dịch bùng phát - đây cũng là một yếu tố quan trọng cần phải tính tới khi coi COVID-19 là bệnh đặc hữu.

Các chuyên gia cũng nhấn mạnh, dù là đại dịch hay bệnh đặc hữu thì người dân vẫn phải có ý thức phòng dịch trong cộng đồng để tránh lây lan dịch bệnh.

Đại diện Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tại Việt Nam sẽ chia sẻ thêm về hướng tiếp cận với đại dịch cũng như khuyến cáo với người dân Việt Nam.

"Tôi muốn nhắc mọi người nhớ về bài học quan trọng nhất mà chúng ta học được từ công cuộc ứng phó với đại dịch COVID-19: 'Không có quốc gia nào là an toàn cho đến khi tất cả các quốc gia đều được an toàn'.

Còn quá sớm để nói rằng đại dịch đã kết thúc. Ngay tuần trước đã có khoảng 50.000 người tử vong vì căn bệnh này. Hơn 80% dân số châu Phi vẫn chưa được tiêm một liều vaccine nào. Ở nhiều quốc gia, hệ thống y tế tiếp tục quá tải và rạn nứt theo số ca bệnh không ngừng tăng.

Nhưng chúng ta có thể chấm dứt tình trạng khẩn cấp y tế toàn cầu của đại dịch trong năm nay. Chúng ta đã có các công cụ và kiến thức để làm được điều này" - Tiến sĩ Kidong Park, Trưởng đại diện Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tại Việt Nam nói.

THẬT ĐÁNG BUỒN VỚI VĂN HÓA “TỰ NHỤC” CỦA NHỮNG KẺ SỢ ĐẤT NƯỚC ĐI LÊN

 Những năm gần đây, Việt Nam liên tiếp lọt tốp đầu trong các đánh giá về tăng trưởng kinh tế, bất chấp tác động tiêu cực của đại dịch COVID - 19, hay được xếp vào danh sách quốc gia hạnh phúc theo ghi nhận của một số tổ chức quốc tế. Vậy mà một số nhà “dân chủ tự xưng” và các thành phần “tự nhục” lại ra sức hô hào rằng: Đừng nghe những gì cộng sản nói, hãy nhìn những gì cộng sản làm. Đây là một câu cửa miệng rất quen thuộc của những đối tượng không bao giờ muốn thừa nhận sự phát triển của đất nước mà chỉ muốn nghĩ, muốn thấy và muốn nhiều người cũng thấy và nghĩ như họ về một đất nước Việt Nam đầy rẫy những bất công, tiêu cực, nghèo nàn và lạc hậu.

“Tự nhục” là một cụm từ khá đặc biệt và sẽ không thể tìm thấy nó trong bất kỳ bộ từ điển Tiếng Việt chính thống nào. Mà chỉ trong thời gian gần đây nó mới xuất hiện trên một số trang mạng xã hội. Cụm từ này dùng để chỉ trạng thái biểu hiện của một bộ phận người trong xã hội luôn tự hạ thấp bản thân và quốc gia, dân tộc mình xuống. Nhưng không phải để biểu hiện sự khiêm nhường, cầu thị, mà trái lại, vừa hạ thấp giá trị của dân tộc mình, vừa có xu hướng đề cao giá trị ngoại. Họ coi những thứ ngoại lai, nhất là các giá trị phương Tây mới là các chuẩn mực cần hướng tới. Thông qua nhiều công cụ, những đối tượng nhân danh “dân chủ”, “yêu nước”, “tiến bộ” muốn lan truyền văn hóa “tự nhục” này tới mọi người, hòng phủ nhận những thành công và sự phát triển của đất nước, hòng làm lung lay tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc của muôn dân đất Việt.
Tuy nhiên, bất chấp những nỗ lực cổ súy cho tư tưởng tự ti dân tộc, hơn tất cả, tinh thần yêu nước, niềm tự hào dân tộc và khát vọng phát triển đất nước luôn chảy trong huyết quản của mỗi người dân Việt Nam qua các thế hệ, từ quá khứ đến hiện tại và tương lai.

Hơn 90 năm qua, khát vọng Hồ Chí Minh, khát vọng hùng cường luôn là mục tiêu mà Đảng Cộng sản Việt Nam phấn đấu, mang đến độc lập, thống nhất cho dân tộc, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Khát vọng ấy còn được thể hiện rõ nét trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó đặt ra mục tiêu: Đến năm 2045, Việt Nam đứng trong hàng ngũ các quốc gia phát triển, có thu nhập cao. Từ một quốc gia kém phát triển, bị ảnh hưởng nặng nề bởi nhiều năm chiến tranh và bao vây cấm vận, Việt Nam đã từng bước khẳng định uy tín, vai trò và vị thế của mình trên trường quốc tế, được thế giới ghi nhận và đánh giá cao. Chúng ta có quyền tự hào về những gì mà đất nước Việt Nam đang có, tự hào về những thành quả to lớn mà Đảng, Nhà nước mang lại cho nhân dân. Khát vọng phát triển đất nước mà Đại hội lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đặt ra chính là thông điệp mạnh mẽ để các nhà “dân chủ tự xưng” và những đối tượng “tự nhục” một lần nữa phải tự xem lại mình./.

PHÒNG, CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN, “TỰ CHUYỂN HÓA”: VẠCH TRẦN, ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG BIỂU HIỆN MỚI CỦA CHỦ NGHĨA CƠ HỘI HIỆN NAY

 Nhận diện, đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội, “vạch mặt, chỉ tên” những thứ cơ hội đội lốt “yêu nước thương dân” là trách nhiệm không của riêng ai. Đây cũng là cuộc đấu tranh tư tưởng giữa một bên là những người yêu nước chân chính, có tâm đức với nhân dân, thủy chung và gắn bó với vận mệnh dân tộc và đất nước với một bên là những kẻ có cái nhìn a dua, thiển cận, xu thời, thực dụng, cơ hội, tiền hậu bất nhất, đục nước béo cò, sẵn sàng bán rẻ lương tâm vì tâm địa hẹp hòi.

Chủ nghĩa cơ hội vốn không xa lạ. Nó thường che giấu bộ mặt thật của mình. Bản chất của những kẻ theo chủ nghĩa cơ hội là khi cách mạng gặp thuận lợi, phát triển thì luôn tỏ ra cấp tiến, nhưng khi đất nước gặp khó khăn thì dao động, ngả nghiêng, sẵn sàng thỏa hiệp với các đối tượng phản động và phần tử xấu để chống phá cách mạng hoặc lợi dụng những kẽ hở của chính sách, pháp luật để làm nhiều điều mờ ám, gây tổn hại đến sự nghiệp chung. Thời gian gần đây, chủ nghĩa cơ hội đã xuất hiện những biểu hiện mới không thể xem thường. Một số ít người từng giữ cương vị lãnh đạo, quản lý lâu năm trong hệ thống chính trị các cấp, nhưng ít nhiều có biểu hiện “trở cờ” sau khi về hưu. Khi còn làm việc trong bộ máy công quyền, họ ít kêu ca, than phiền và cũng cố gắng làm tròn chức phận để vừa “giữ ghế”, vừa tận dụng cơ hội để có chức vụ cao hơn. Nhưng trong quá trình công tác, có thể có những điều gì đó làm họ không hài lòng và không đạt được mục đích như tham vọng cá nhân. Thế nên, khi trở về đời thường không còn liên quan đến việc công, họ đã giải tỏa những ức chế tâm lý và sự bức xúc cá nhân thông qua những phát ngôn trái chiều, những bài viết chủ yếu khoét sâu vào những mặt trái, tiêu cực xã hội, phê phán đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước rồi đưa lên mạng xã hội khiến dư luận hoang mang, phân tâm. Một số người lợi dụng các đợt đóng góp ý kiến vào các dự thảo chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước để đưa ra những quan niệm “mập mờ đánh lận con đen”. Số người này bề ngoài thì tỏ ra am tường, minh triết, học cao, hiểu rộng, nhưng khi viết bài, đóng góp ý kiến lại có những lời lẽ, ý tứ ngụy biện được bọc trong một cái lớp vỏ phản biện trên tinh thần khoa học. Không những thế, có ý kiến còn vẽ ra con đường này, lối dẫn nọ của nước khác để khuyến cáo, thậm chí đòi hỏi Việt Nam phải áp dụng. Thế nhưng, những “bức vẽ, lối đi” đó không màu sắc, không đường nét rõ ràng, bởi thực chất đấy chỉ là một thứ học đòi, học lỏm hay dung hòa, trộn lẫn hỗn độn bởi đủ thứ lý thuyết, học thuyết rối rắm, xa lạ, không phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện thực tế ở nước ta. Một số người từng là cán bộ, đảng viên lâu năm đã mắc bệnh công thần chủ nghĩa, tuyệt đối hóa vai trò, cống hiến của mình trong quá khứ để phê phán quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và đề xuất những ý kiến lệch lạc. Mặc dù có ý kiến đã được cơ quan chức năng và người có trách nhiệm tiếp thu, giải trình một cách nghiêm túc, cầu thị, nhưng họ vẫn không đồng ý. Lợi dụng mạng xã hội, những người này công khai bày tỏ quan điểm thiếu thiện chí, cực đoan nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, xuyên tạc và phủ nhận con đường dân tộc ta đang đi. Một số ít trí thức, văn nghệ sĩ vốn là đảng viên cộng sản có những đóng góp nhất định trong lịch sử và có những công trình nghiên cứu, tác phẩm văn học nghệ thuật được khá nhiều công chúng biết đến, nhưng nay lại bày tỏ sự sám hối của mình. Trên các mạng xã hội, ngoài việc công khai “hối hận”, “mặc cảm” và cố ý chối bỏ quá khứ cống hiến đáng quý của mình, những người này còn có những ý kiến hết sức chủ quan, thiên lệch về tình hình đất nước, xã hội và đời sống nhân dân. Đáng nói hơn, có người đã liên lạc, kết nối với các phần tử thù địch ở hải ngoại để "tiền hô hậu ủng", tạo thêm bệ đỡ cho các thế lực đó thường xuyên công kích, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN.

Một bộ phận cán bộ, đảng viên cố tình lợi dụng những kẽ hở trong hệ thống chính sách, luật pháp để làm những việc sai pháp luật, trái đạo lý. Có những người triệt để lạm dụng lúc "tranh tối tranh sáng” để thu vén lợi ích cá nhân. Xuất phát từ chủ nghĩa cơ hội mà sinh ra bao thứ phiền toái: Nịnh hót, luồn lọt, tâng bốc nhau một tấc lên trời, lôi bè kéo cánh, cục bộ địa phương, thấy sai trái không dám đấu tranh, thấy cái đúng không biết bảo vệ, bao che khuyết điểm, dung dưỡng cái xấu, thậm chí tiếp tay cho cả cái ác... Cái thứ cơ hội này tuy không dễ “bắt tận tay, day tận mặt”, nhưng cũng là kẻ thù bên trong không kém phần nguy hiểm.

Trong những biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội nêu trên, tuy mỗi loại có tính chất, mức độ nguy hiểm khác nhau, nhưng có đặc điểm chung là đều chĩa mũi nhọn trực tiếp hoặc gián tiếp vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta, thách thức sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, là lực cản con đường đưa nước ta hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Những biểu hiện đó của chủ nghĩa cơ hội cũng là “mảnh đất màu mỡ” để đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến", "tự chuyển hóa” của một bộ phận cán bộ, đảng viên sớm thành hiện thực, là chất xúc tác thúc đẩy âm mưu “diễn biến hòa bình” ngày càng trở nên sâu sắc và nguy hiểm hơn.

Vì vậy, nhận diện và đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội, “vạch mặt, chỉ tên” những thứ cơ hội đột lốt “yêu nước, thương dân” là trách nhiệm không của riêng ai. Đây là cuộc đấu tranh tư tưởng giữa một bên là những người yêu nước chân chính, có tâm đức với nhân dân, thủy chung và gắn bó với vận mệnh dân tộc, với một bên là những kẻ có cái nhìn a dua, thiển cận, xu thời, thực dụng, cơ hội, tiền hậu bất nhất, đục nước béo cò, sẵn sàng bán rẻ lương tâm vì tâm địa hẹp hòi.

Chủ động không để chủ nghĩa cơ hội len lỏi vào các tổ chức tổ đảng, bộ máy công quyền các cấp là một trong những nhiệm vụ cấp bách, quan trọng của công tác tư tưởng chính trị hiện nay. Muốn vậy, trước hết các tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị phải thường xuyên tìm hiểu, nắm chắc diễn biến tư tưởng, tình cảm, tâm tư, nguyện vọng của đội ngũ cán bộ, đảng viên để kịp thời ngăn ngừa, uốn nắn những biểu hiện lệch lạc phát sinh, chủ động triệt tiêu mầm mống của chủ nghĩa cơ hội ngay từ khi manh nha. Cùng với vạch trần, tẩy chay với các loại chủ nghĩa cơ hội, thực dụng, xét lại và những biểu hiện mơ hồ, dao động về tư tưởng chính trị, cần chú trọng làm tốt công tác giáo dục, bồi đắp nâng cao niềm tin cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân vào những giá trị tốt đẹp của Đảng và của chế độ xã hội mới mà chúng ta đang xây dựng.

Một vấn đề không kém phần quan trọng là các cơ quan, đơn vị, tổ chức đảng các cấp cần chú trọng công tác quản lý nội bộ, phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật Đảng, giáo dục cán bộ, đảng viên (nhất là những người làm ở những vị trí nhạy cảm, phức tạp, có quan hệ xã hội sâu rộng) phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn, không được tự ý nói năng, phát ngôn, bày tỏ ý kiến, kiến nghị của mình hay tán phát các tài liệu trên mạng xã hội có nội dung trái quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật Nhà nước và không có lợi cho việc giữ vững đồng thuận xã hội, ổn định chính trị và an ninh tư tưởng-văn hóa.

Trong bối cảnh xã hội bùng nổ thông tin hiện nay, các cơ quan, đơn vị cần chủ động định hướng, hướng dẫn, giáo dục cán bộ, đảng viên nâng cao ý thức, trách nhiệm trong việc sử dụng mạng xã hội; động viên, khuyến khích mọi người tiếp thu có chọn lọc và làm lan tỏa những thông tin tích cực, lành mạnh trên mạng xã hội, góp phần nhân lên những giá trị tiến bộ, nhân văn trong cuộc sống. Cùng với đó phải kịp thời nhận diện, kiên quyết sàng lọc, loại bỏ những thông tin lệch lạc, sai trái, tiêu cực, không để những thông tin này có cơ hội tán phát, lây lan trên không gian mạng dễ làm vẩn đục môi trường thông tin và gây nhiễu dư luận xã hội. Làm tốt việc này cũng là một cách góp phần ngăn ngừa, phòng, chống những tư tưởng cơ hội, lợi dụng mạng xã hội để thông tin sai lệch, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN.

LÀM THẤT BẠI CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH”: BỊA ĐẶT THÔNG TIN HÒNG MÉO MÓ CÁC VỤ ÁN

 Những ngày gần đây, trên internet xuất hiện khá nhiều trang báo mạng với đủ các thể loại (viết, hình, nói) đề cập đến một số vụ án hình sự vừa được các cấp tòa của Việt Nam xét xử. Chưa bàn đến tính chất, nội dung của các bản án, bởi để có được một bản án công minh, đúng người, đúng tội thì phải có một quá trình thực hiện tố tụng, xét xử chặt chẽ, khoa học, theo đúng luật định. Nhưng cái cách tiếp cận vụ án của một số trang mạng xã hội rõ ràng là “có vấn đề”, bởi dường như họ muốn dẫn dắt dư luận theo cách nghĩ của họ, khiến dư luận nhìn nhận các vụ án một cách méo mó, đầy nghi ngờ. Mục tiêu cuối cùng của nhiều trang mạng là hướng tới xuyên tạc, phủ nhận nền tư pháp của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam.

Hiểu cho đúng về một nền tư pháp dân chủ xã hội chủ nghĩa

Nền tư pháp của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (trước đây là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) hình thành sau khi nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng lên đánh đuổi đế quốc xâm lược, giành lại chính quyền, thiết lập một nhà nước Việt Nam tự do, độc lập. Năm 1946, thể theo nguyện vọng của toàn dân, Hiến pháp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ra đời. Đây là văn bản luật đầu tiên của nước Việt Nam mới, thể hiện đầy đủ quyền tự do, dân chủ mà người dân Việt Nam xứng đáng được hưởng và được Nhà nước bảo hộ. Cũng từ văn bản luật gốc này, từ thực tiễn cuộc sống, nhu cầu xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, hòa bình, dân chủ và chủ nghĩa xã hội (CNXH), các văn bản luật khác dần được hình thành, ra đời.
Quá trình xây dựng các văn bản pháp luật (gọi chung là các luật) được tiến hành chặt chẽ, khoa học, được lấy ý kiến rộng rãi trong các tầng lớp nhân dân và được tiếp thu, chỉnh sửa một cách hợp lý theo nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân trước khi trình Quốc hội thông qua. Điều đó thể hiện tính dân chủ rất cao trong quy trình xây dựng các luật. Trong số 230 bộ luật, luật đang có hiệu lực thi hành và sắp có hiệu lực thi hành thì có hai bộ luật quan trọng, liên quan trực tiếp đến việc khởi tố, xét xử các vụ án hình sự đối với các cá nhân, tổ chức có vi phạm, đó là Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự. Các điều, khoản trong hai bộ luật nêu trên vừa khái quát đầy đủ các lĩnh vực, vừa cụ thể hóa rõ ràng các hành vi, dấu hiệu vi phạm hình sự của mọi cá nhân, tổ chức trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Việc áp dụng các điều, khoản trong quá trình tố tụng và xét xử được các cơ quan tư pháp tiến hành độc lập, theo đúng chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, do đó về mặt nguyên tắc là rất chặt chẽ, không có chuyện vi phạm dân chủ như một số trang mạng cố tình đoán mò rồi dẫn lái dư luận. Trong điều kiện hiện nay, với sự hỗ trợ của khoa học công nghệ nên thông tin được truyền đi nhanh chóng và rộng rãi. Trong lĩnh vực điều tra, xét xử các vụ án cũng có quy trình rất minh bạch, công khai, thông tin đầy đủ, điều đó không cho phép các cá nhân tham gia vào quy trình xử lý các vụ án có thể cố tình làm sai lệch kết quả điều tra, xét xử.

Tuy nhiên, trong thực tiễn, có những vụ án rất phức tạp, nhiều tình tiết, chứng cứ khó có thể làm rõ trong một thời hạn nhất định, chính vì thế mới xảy ra các lỗi trong quá trình điều tra, xét xử dẫn đến hiện tượng lọt người, sót tội ở một vài vụ án trong số hàng nghìn vụ án mà các cấp tòa phải xét xử hằng năm. Thế nên có thể khẳng định, việc sai sót trong điều tra các tình tiết cụ thể, có thể xảy ra, nhưng đó là do sai sót của từng khâu, thuộc về từng cá nhân tham gia vào quy trình điều tra, xét xử. Còn về mặt nguyên tắc tổng thể của quá trình điều tra, xét xử các vụ án hình sự là hoàn toàn chặt chẽ, minh bạch, thể hiện rõ sự nghiêm minh, ưu việt của pháp luật XHCN. Thế nên, không thể lấy một vài sai sót từ một số vụ án để quy chụp và xuyên tạc cả nền tư pháp của Việt Nam. Đó là tư duy và cách hiểu của những người cố tình phủ nhận sạch trơn hệ thống pháp luật của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, nhằm vào những mưu đồ và lợi ích cá nhân.

Lấy mạng xã hội làm tấm bình phong

Công nghệ viễn thông phát triển là cơ hội để truyền thông lan tỏa, đó là một trong những điều kiện để mở rộng dân chủ. Thế nhưng hiện nay, một số cá nhân đã lợi dụng vấn đề này để tung tin thất thiệt, bịa đặt các tình tiết về các vụ án hòng “câu viewˮ, “câu likeˮ, hướng lái dư luận và mục đích cụ thể, thực dụng hơn cả là kiếm tiền từ trên mạng. Chẳng hạn khi mở trang Youtube, gõ từ khóa “vụ án Hồ Duy Hải”, người dùng sẽ thấy xuất hiện hàng trăm clip liên quan đến vụ án. Trong số ấy có nhiều video clip với những thông tin kiểu dựng chuyện, bịa chuyện, trộn lẫn thật với giả khiến cho người xem như lạc vào mê cung, không thể phân biệt được đâu là thông tin đúng, đâu là thông tin sai. Cũng có những video clip lợi dụng các tình tiết của vụ án để bôi nhọ, nói xấu người này, chĩa mũi dùi vào người khác. Nghe các câu, từ bình luận trong clip, những người ít thông tin cứ ngỡ tác giả của video clip là những “nhà điều tra” tội phạm thực thụ, hoặc chí ít họ cũng có những “nguồn thông tin đáng tin cậy” như họ nói. Nhưng thực ra những người làm ra các video clip này hầu hết chỉ là những kẻ lừa bịp về truyền thông trên mạng xã hội. Tất cả thông tin mà họ đăng tải đều là do cóp nhặt trên mạng, kết hợp với sự bình luận bạt mạng, vô căn cứ, hoàn toàn theo ý chủ quan của bản thân người làm ra sản phẩm video clip. Hình ảnh trong các video clip này hầu hết là hình ảnh tĩnh mà họ nhặt nhạnh từ đâu đó, rồi gán ghép bằng những lời bình luận vô lối. Những trang mạng mang màu sắc phản động và có sự thù địch với Việt Nam, như: Việt Tân, BBC, RFA... thì có thêm các đoạn “phỏng vấn” truyền thanh một vài nhân vật đang có thiên hướng, hoặc đã từng thực hiện các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam, hòng làm ra vẻ sản phẩm của mình là “vô tư”, là “minh bạch”. Nhưng xâu chuỗi các video clip của họ lại thì thấy rõ, họ luôn hướng lái người nghe/xem đến mục tiêu chính trị, đó là xuyên tạc tính ưu việt của chế độ XHCN, xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội Việt Nam. Hầu hết nhân vật trong các video clip của các trang mạng nói trên đều cố “bày trò”, ra vẻ “vì sự dân chủ, công bằng”, nhưng cuối các đoạn phỏng vấn, bao giờ họ cũng lòi “cái đuôi cáo” về chính trị của mình ra.

Cũng trong môi trường mạng, hiện nay còn tồn tại một dạng thông tin thất thiệt, biến không thành có, dựng đứng nhiều chuyện. Thậm chí trong một số vụ án hình sự, họ còn sẵn sàng bịa thêm các chi tiết, nhân vật, hòng làm cho vụ án thêm ly kỳ, mục đích cuối cùng là để trang của mình có nhiều người quan tâm, theo dõi. Điều tai hại là sự bịa đặt này được phát đi phát lại, kiểu “mưa dầm thấm lâu”, khiến cho người nghe/xem chuyển từ phân vân đến nghi ngờ, rồi tin tưởng vào những điều không có thật. Đối với các vụ án quan trọng, có sự ảnh hưởng lớn, được dư luận quan tâm thì những thông tin giả này có thể sẽ làm cho xã hội nhìn nhận, đánh giá hoàn toàn sai lệch về quy trình điều tra, xét xử, khiến cho các tầng lớp nhân dân hiểu không đúng về bản chất vụ án, từ đó biểu hiện thái độ thiếu tin tưởng vào sự công minh của nền tư pháp XHCN. Đó là điều mà thế lực thù địch và những kẻ giả mạo thông tin mong muốn, bởi họ sẽ đạt được hai mục đích, tức là vừa thực hiện được âm mưu xuyên tạc nền tư pháp XHCN, đồng thời lại đạt được một yếu tố có tính cốt lõi, đó là lấy được tiền của nhà mạng nhờ vào những trang, những sản phẩm có nhiều người theo dõi. Đây cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến nhiều kẻ đã bất chấp đạo đức và luật pháp để bịa đặt thông tin hòng trục lợi, kiếm tiền từ sự tò mò, thiếu tỉnh táo của cộng đồng mạng.

TỈNH TÁO ĐỂ KHÔNG TRỞ THÀNH “NẠN NHÂN” CỦA LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC

 Mục đích các đối tượng thực hiện tuyên truyền, tán phát luận điệu xuyên tạc, thù địch về tình hình dịch bệnh tại Việt Nam, phủ nhận nỗ lực chống dịch của Chính phủ, công kích lãnh đạo Đảng, Nhà nước nhằm gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong dư luận xã hội, tạo sự hoài nghi về công tác phòng, chống dịch của Chính phủ, bôi nhọ, hạ uy tín các đồng chí Lãnh đạo để từ đó có điều kiện gây bất ổn chính trị-xã hội trong nước. Luận điệu chúng đưa ra trắng trợn, vô căn cứ, phiến diện, một chiều và tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tâm lý của người dân nếu không tỉnh táo nhận thức rõ ràng.

Các tổ chức phản động lưu vong như: Việt Tân, Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời, các đài phát thanh BBC, VOA, RFA, Chân trời mới media, Hội anh em dân chủ, “Voice”, “BPSOS”… cùng số đối tượng phản động trong nước câu kết, a dua, phủ nhận những thành quả bước đầu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong công tác ngăn chặn, kiểm soát, đẩy lùi những thiệt hại do đại dịch COVID-19 gây ra mà WHO và quốc tế đánh giá cao. Tổ chức thăm dò ý kiến qua mạng nhằm gây áp lực với chính quyền đối với các quyết sách như: đóng cửa biên giới với Trung Quốc, yêu cầu các doanh nghiệp có công nhân Trung Quốc, Hàn Quốc dừng sản xuất, học sinh nghỉ học, trung tâm thương mại, siêu thị đóng cửa; kêu gọi, kích động công nhân đình công tập thể, hô hào người dân tích trữ lương thực, thực phẩm khiến tình trạng hoảng loạn trong quần chúng nhân dân, nhất là sau ca nhiễm số 17...

Thực hiện các “quảng cáo chính trị” nhằm bóp méo sự thật, tán phát đến người dân các nội dung xuyên tạc tình hình dịch bệnh tại Việt Nam, công kích Chính phủ “bưng bít thông tin” trong công bố số ca nhiễm, tử vong do COVID-19, yếu kém trong điều hành, xử lý dịch bệnh; bệnh nhân 17 chỉ là “con dê tế thần” để Việt Nam nhận tiền tài trợ từ nước ngoài...

Mỗi người dân cần nhận thức rõ rằng, thực tiễn tình hình dịch bệnh và nỗ lực phòng, chống dịch đang diễn ra tại Việt Nam với mục tiêu “không để ai bị bỏ lại phía sau” trong cuộc chiến COVID-19 đối lập hoàn toàn với luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

- Chính phủ, các bộ, ngành địa phương ra sức triển khai các biện pháp quyết liệt, mạnh mẽ khoanh vùng, dập dịch với tinh thần “chống dịch như chống giặc”, quyết tâm không để dịch bệnh bùng phát mất kiểm soát; nhanh chóng ngăn chặn, đẩy lùi dịch bệnh, ổn định đời sống người dân. Không phải ngẫu nhiên Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia phòng, chống dịch COVID-19 tốt nhất thế giới. Liên tiếp những chỉ đạo quyết liệt chống dịch được đưa ra, dự báo chiến lược xác định “thời điểm vàng” dập dịch được triển khai mạnh mẽ. Cách ly y tế, cách ly tập trung, cách ly tại nhà, phong tỏa ổ dịch được siết chặt nhằm không để dịch bệnh lây lan mạnh trong cộng đồng. Tại các cơ sở cách ly, người cách ly được chăm sóc miễn phí chế độ ăn uống, kiểm tra sức khỏe đúng quy định. Ở từng làng, xã, lực lượng chức năng tuyên truyền, hướng dẫn người dân chấp hành quy định phòng, chống dịch; rà soát, xác định người nước ngoài và công dân Việt Nam nhập cảnh cư trú tại địa phương để hướng dẫn thực hiện các biện pháp cách ly y tế phù hợp. Trong công tác điều trị người nhiễm COVID-19, ở từng bệnh viện, đội ngũ y, bác sỹ không ngừng nỗ lực với quyết tâm chữa khỏi bệnh cho các bệnh nhân bằng phát đồ điều trị và thiết bị y học tốt nhất. Tính đến ngày 12-5-2020, đã có 249 bệnh nhân được công bố khỏi bệnh; 39 bệnh nhân đang điều trị tại 6 cơ sở y tế tuyến trung ương và tuyến tỉnh, đa số các bệnh nhân có sức khỏe ổn định, trong đó 8 bệnh nhân có kết quả xét nghiệm âm tính lần 1 với SARS-CoV-2 và 11 bệnh nhân có kết quả âm tính lần 2 với SARS-CoV-2. Đối với trường hợp bệnh nặng số 91 là phi công người Anh, chúng ta đã tính toán phương án thay phổi. Trong khi ở các quốc gia khác, người cách ly và người nhiễm COVID-19 khi tham gia cách ly và điều trị bệnh phải trả tiền phí thì ở Việt Nam, người dân được hoàn toàn miễn phí dù là công dân Việt Nam hay người nước ngoài. Điều này cho thấy rõ tinh thần nhân đạo, ưu việt của nước ta trong công tác phòng, chống dịch bệnh nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Bằng nỗ lực của Chính phủ và tinh thần đoàn kết, chung tay góp sức của cả cộng đồng, đến nay, tình hình dịch bệnh tại Việt Nam đã được kiểm soát tốt, 26 ngày (tính đến ngày 12-5-2020) không ghi nhận ca nhiễm mới ngoài cộng đồng; các biện pháp giãn cách xã hội được nới lỏng, hoạt động sản xuất, kinh doanh, văn hóa trở lại hoạt động bình thường.

- Các chính sách hỗ trợ đối tượng bị tác động, ảnh hưởng bởi COVID-19 được triển khai. Cùng với phòng, chống COVID-19, khắc phục hậu quả do COVID-19 gây ra cũng là vấn đề được Chính phủ quan tâm. Đại dịch COVID-19 đã khiến 86% doanh nghiệp Việt Nam bị ảnh hưởng, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, khu vực du lịch, hàng không, dịch vụ lao động tự do bị ảnh hưởng nghiêm trọng; 26% doanh nghiệp phải dừng hoạt động, ngừng việc, giãn việc. Trước thực trạng đó, để hỗ trợ cho các doanh nghiệp và người dân bị tác động, ảnh hưởng bởi COVID-19, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 42 và Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 15/2020/QĐ-TTg quy định việc thực hiện các chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch COVID-19 với gói hỗ trợ 62.000 tỷ đồng dành cho lao động bị giảm sâu về thu nhập, có mức sống dưới tổi thiểu.

Đồng thời, để chủ động tiếp nhận, giải đáp những vấn đề vướng mắc của người dân khi thực hiện Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã công bố đường dây nóng qua Tổng đài 111 chính thức bắt đầu tiếp nhận thông tin, phản ánh, kiến nghị, thắc mắc của người dân từ ngày 01-5-2020 theo các số điện thoại 0913.049.567; 0977.976.686; 0913.378.816. Theo đó, tính đến hết ngày 03-5-2020, đã có 35.415 cuộc gọi đến tổng đài của phần lớn các đối tượng là người lao động bị ảnh hưởng bởi COVID-19, trong đó nhân viên tư vấn Tổng đài tiếp nhận 9.238 cuộc, chuyển đến bộ phận chức năng 4.520 cuộc. Tính đến ngày 09-5-2020, 63 tỉnh, thành phố đã triển khai, hỗ trợ trên 20.000 tỷ đồng trong gói hỗ trợ an sinh 62.000 tỷ đồng. 45/63 tỉnh thành đã rà soát xong các đối tượng thuộc diện được hỗ trợ; 47 tỉnh đã tạm dừng đóng bảo hiểm hưu trí, tử tuất cho 900 doanh nghiệp với 80.000 lao động và trên 300 tỷ đồng. Chính sách hỗ trợ đối với đối tượng bị tác động, ảnh hưởng bởi COVID-19 là nỗ lực đáng ghi nhận của Chính phủ trong bối cảnh đại dịch gây thiệt hại nặng nề cho nền kinh tế đất nước và nguồn ngân sách Nhà nước. Song, xác định đảm bảo cuộc sống cho người lao động là nhiệm vụ quan trọng, là trách nhiệm chung tay của Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng, các chính sách hỗ trợ là niềm vui, là động lực to lớn giúp người dân vượt qua giai đoạn khó khăn này.

- Tổ chức đối thoại với doanh nghiệp nhằm tháo gỡ khó khăn các doanh nghiệp gặp phải do dịch bệnh gây ra. Sáng ngày 09-5-2020, Chính phủ đã tổ chức Hội nghị đối thoại giữa Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc và các doanh nghiệp với chủ đề “Cùng nỗ lực, vượt thách thức, đón thời cơ, phục hồi nền kinh tế” với hình thức truyền hình trực tuyến (tại 63 điểm cầu các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, 30 điểm cầu các Bộ, ngành) và truyền hình trực tiếp. Hội nghị nhằm lắng nghe ý kiến của các doanh nghiệp trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19, giải đáp những kiến nghị, vướng mắc của các doanh nghiệp, từ đó, tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện cho lực lượng này tiến lên, cùng chung tay bật dậy nền kinh tế đất nước do tác động, ảnh hưởng của COVID-19. Tại Hội nghị, có 23 lượt ý kiến phát biểu của các hiệp hội, doanh nghiệp, doanh nhân các bộ, cơ quan; 81 kiến nghị trực tiếp của 4 hiệp hội doanh nghiệp nước ngoài, 9 hiệp hội doanh nghiệp trong nước và 437 kiến nghị trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, 180 kiến nghị đã gửi đến VCCI. Thủ tướng Chính phủ đã đưa ra những chỉ đạo quan trọng đối với các địa phương, đề nghị các địa phương xắn tay áo, tháo gỡ khó khăn cùng doanh nghiệp, đồng thời đề nghị các cộng đồng doanh nghiệp tập trung thực hiện một số giải pháp trọng tâm trong thời gian tới, đoàn kết, chủ động, quyết đoán cùng Chính phủ vượt qua khó khăn phía trước, khôi phục sản xuất kinh doanh, phát triển nền kinh tế.

Mỗi người dân Việt Nam cần tỉnh táo nhận thức rõ những nỗ lực và kết quả đạt được của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương trong công tác phòng, chống dịch ở nước ta; từ đó không tin, không nghe theo luận điệu xuyên tạc, thù địch của các đối tượng chống đối, không để bị lừa bịp và trở thành nạn nhân của thông tin xấu độc.

NHẬN DIỆN NHỮNG THỦ ĐOẠN CHÍNH LỢI DỤNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC ĐỂ CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM HIỆN NAY CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 Thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá cách mạng Việt Nam là cách làm, các biện pháp xảo trá, lừa lọc, có bản chất xấu xa của các thế lực thù địch nhưng được che đậy, bao bọc một cách tinh vi, làm cho người ta tin và làm theo. Vỏ bọc che đậy cho các hành vi, thủ đoạn xấu xa mà các thế lực thù địch thường dựa vào là các chiêu bài “nhân quyềnˮ, “dân chủˮ, “tự doˮ, nhất là tự do tín ngưỡng, tôn giáo; những vấn đề do lịch sử để lại; những khó khăn trong đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc; hay thiếu sót trong việc thực hiện đường lối phát triển kinh tế, xã hội ở miền núi, trong thực hiện chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước ở các địa phương; những đặc điểm về văn hoá, đời sống tâm lý, tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân các dân tộc thiểu số... Nghĩa là, các thế lực thù địch triệt để tận dụng, tạo ra, khai thác mọi khe hở có thể, để thực hiện những biện pháp chống phá cách mạng Việt Nam về vấn đề dân tộc trên chính địa bàn các dân tộc thiểu số đang sinh sống, coi đó là điểm xuất phát trong thực hiện mưu đồ lớn và lâu dài của chúng. Cách làm, biện pháp lợi dụng vấn đề dân tộc để chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch hiện nay là muôn hình, muôn vẻ, tuỳ theo điều kiện của mỗi dân tộc mà chúng có sự triển khai cụ thể khác nhau, nhưng chung nhất nổi lên mấy thủ đoạn chính sau đây:

Về lĩnh vực tư tưởng: Kẻ địch tập trung mũi nhọn xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trực tiếp nhất là quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước ta hiện nay, đặc biệt là những nội dung liên quan đến phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh ở miền núi, đến chính sách dân tộc; thổi phồng những thiếu sót của ta trong quá trình thực hiện các chính sách đó ở địa phương... nhằm vô hiệu hóa sự lãnh đạo của tổ chức đảng, của chính quyền địa phương để chúng dễ bề nắm dân, khống chế dân. Đi liền với tuyên truyền xuyên tạc, chúng ra sức kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tư tưởng ly khai dân tộc, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phá hoại sự đoàn kết thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Đó là các hoạt động cụ thể như nhen nhóm, khuấy động, thổi bùng cái gọi là “quyền tự trịˮ của các dân tộc, yêu sách thành lập “Vương quốc riêngˮ của người Mông, người Chăm, người Khơ Me Nam Bộ, v.v... tung các tin thất thiệt về đời sống tâm linh và hiện thực ở các vùng đồng bào dân tộc sinh sống để tạo nên hàng loạt các hoạt động như vượt biên trái phép, di dân tự do, hòng làm cho đời sống của đồng bào luôn luôn không ổn định. Chúng đã triệt để lợi dụng những khó khăn trong cuộc sống của đồng bào để tổ chức truyền đạo trái pháp luật, đội lốt tôn giáo hoạt động chính trị, móc nối xây dựng cơ sở. Đi liền với việc truyền bá các tà đạo, chúng khuyến khích đồng bào các dân tộc duy trì tập tục lạc hậu, phản khoa học; đồng thời cổ vũ cho lối sống tư sản trong thanh niên, thiếu niên, từng bước làm băng hoại đạo đức, bản sắc văn hoá dân tộc. Để truyền tải các nội dung tuyên truyền đến đối tượng, chúng đã sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng, phát thanh và in ấn các văn hóa phẩm bằng ngôn ngữ, chữ viết các dân tộc; mặt khác dùng lối tuyên truyền “rỉ taiˮ từ trên xuống dưới, từ ngoài vào trong thông qua các hoạt động thăm thân, nghiên cứu khoa học, hoạt động từ thiện của những người từ nước ngoài về hoặc những người có uy tín trong dòng họ, các chức sắc tôn giáo.

Về lĩnh vực tổ chức: Chúng ráo riết xây dựng các tổ chức phản động ở vùng dân tộc thiểu số của Việt Nam. Chúng đẩy mạnh xây dựng các tổ chức, lực lượng phản động lưu vong là người Việt Nam ở nước ngoài; đồng thời liên kết chặt chẽ với các tổ chức phản động của nước ngoài và lực lượng ngụy quân, ngụy quyền cũ. Đó là các tổ chức như: “Mặt trận giải phóng Khơ Me Crômˮ, “Mặt trận Chămpaˮ, “Mặt trận thống nhất đấu tranh của các chủng tộc bị áp bứcˮ... Đây là những tổ chức phản động lưu vong được các thế lực phản động nước ngoài hậu thuẫn trên mọi phương diện. Đi liền với việc xây dựng các tổ chức trên, một thủ đoạn khác của kẻ địch là đẩy mạnh hoạt động của các tổ chức ở nước ngoài như “Hội người Mông quốc tếˮ, “Liên hiệp người Mông tự trịˮ, “Văn phòng Chămpa quốc tếˮ, “Liên minh người Chăm tị nạnˮ, “Hội người Khơ Me Crômˮ... Các tổ chức này vừa tập hợp, phát triển lực lượng là người các dân tộc thiểu số ở ngoài nước, vừa hỗ trợ móc nối phát triển lực lượng ở trong nước ta; đồng thời tìm cách gây áp lực chống phá cách mạng nước ta. Mấy năm gần đây, mặc dù đã bị ta truy quét nhiều lần, tổ chức này vẫn tồn tại lay lắt, ngoan cố chống phá cách mạng và đã gây nhiều tội ác với đồng bào Tây Nguyên. Hiện nay, FULRO (viết tắt 5 chữ đầu của tổ chức “Mặt trận thống nhất đấu tranh của ác chủng tộc bị áp bức” do Mỹ dựng nên từ trước năm 1975) đang ráo riết thực hiện âm mưu vô hiệu hoá vai trò lãnh đạo của các tổ chức đảng và hiệu lực quản lý của chính quyền các cấp, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gieo rắc tư tưởng ly khai, đòi thành lập “Nhà nước Đê Ga tự trịˮ, tạo cớ để nước ngoài can thiệp chống phá Việt Nam. Thủ đoạn chính mà chúng đang thực hiện là: Tuyên truyền kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, lợi dụng triệt để vấn đề tôn giáo để truyền đạo “Tin lành Đê Gaˮ - một tổ chức chính trị phản động của FULRO, và coi đây là ngòi nổ để thực hiện âm mưu "diễn biến hoà bình", bạo loạn lật đổ ở Tây Nguyên; Kích động, lừa bịp đồng bào dân tộc thiểu số vượt biên trái phép sang Campuchia, vu cáo Việt Nam vi phạm tự do tôn giáo, tự do dân chủ, nhân quyền; Lợi dụng những khó khăn về đời sống vật chất, tinh thần của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số, tiến hành lôi kéo, khống chế, mua chuộc họ thực hiện các kế hoạch chống phá cách mạng; Dùng tiền để kích động nhân dân chặt phá rừng, mua chuộc một số cán bộ thoái hoá biến chất, thổi phồng một số khuyết điểm, yếu kém của ta nhằm làm suy giảm niềm tin, gây sự nghi ngờ trong dân chúng, đẩy tới các hoạt động khiếu kiện; đồng thời tìm cách móc nối, cài cắm người của chúng vào bộ máy Đảng, Nhà nước; Liên kết với các thế lực phản động người nước ngoài, bọn phản động lưu vong người Việt, ngụy quân, ngụy quyền cũ... để chống phá cách mạng nước ta.

Nhận diện rõ những thủ đoạn chính của các thế lực thù địch trong việc lợi dụng vấn đề dân tộc chống phá cách mạng Việt Nam hiện nay là nhằm góp phần ngăn chặn sự phá hoại của các thế lực thù địch, các phần tử xấu chống phá cách mạng Việt Nam, bảo vệ chế độ, bảo vệ cuộc sống bình yên của đồng bào các dân tộc thiểu số nói riêng, của nhân dân Việt Nam nói chung trong tiến trình đổi mới đất nước, phát triển kinh tế - xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. 

LUẬN ĐIỆU SUY DIỄN, XUYÊN TẠC QUAN ĐIỂM CỦA VIỆT NAM VỀ VẤN ĐỀ XUNG ĐỘT NGA - UKRAINE

 Mặc dù Việt Nam đã nhiều lần nêu quan điểm chính thức về xung đột Nga - Ukraine, đó là Việt Nam kêu gọi các bên liên quan giảm leo thang căng thẳng, nối lại đối thoại và đàm phán thông qua tất cả các kênh, nhằm đạt được giải pháp lâu dài trên cơ sở luật pháp quốc tế, ấy thế nhưng, trên Internet, mạng xã hội, một số người lại đang cố tình đưa ra những luận điệu sai trái, suy diễn xuyên tạc nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, danh dự của Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Ngày 2/3, tại phiên họp khẩn cấp lần thứ XI, Đại hội đồng Liên hợp quốc (LHQ) đã thông qua nghị quyết kêu gọi Nga rút quân khỏi Ukraine. Sau khi nghị quyết trên được thông qua và thông tin các nước thành viên LHQ thể hiện quan điểm, trên một số diễn đàn Internet, mạng xã hội, một số cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước đã đưa ra những luận điệu sai trái, suy diễn rằng quan điểm của Việt Nam là “mơ hồ, không rõ ràng”, Việt Nam đã không đi theo số đông, cố tình tìm cách lựa chọn quan điểm trung lập đối với cuộc xung đột Nga - Ukraine. Từ việc nêu những câu hỏi mang tính suy diễn chủ quan, nhiều bài viết đưa ra luận điệu quy chụp, cho rằng các quốc gia chọn giữ thái độ trung lập là những quốc gia “phần lớn đổ lỗi cho phương Tây đã kích động các điều kiện dẫn đến cuộc xung đột này”. Một số người cuốn theo lối suy diễn trên, cũng đưa ra các bình luận tiêu cực, thậm chí kích động tư tưởng chống phá. Có trang mạng dùng thủ đoạn đưa ra thăm dò rồi cho những thành phần trong nhóm click vào lựa chọn theo chủ ý của người đặt bình chọn, từ đó lấy cớ vu cáo “người dân ủng hộ đa số” còn quan điểm của Nhà nước “chỉ là thiểu số”! Cá biệt, có luận điệu xuyên tạc rằng, phải chăng Việt Nam đang ngấm ngầm ủng hộ cho cuộc chiến tranh, quay lưng với hoà bình? Trong khi đó, trên một số trang báo nước ngoài xuất hiện các luận điệu mang tính chỉ trích, phê phán việc thông tin cuộc xung đột trên báo chí trong nước, từ đó tìm cách hướng lái nhằm cuốn người đọc theo chủ đích, ý đồ của họ. Thậm chí, một số bài viết còn đưa ra những luận điệu theo kiểu lập lờ đánh lận con đen, đưa ra những câu hỏi, nghi vấn mang tính quy chụp, bôi nhọ quan điểm, uy tín Việt Nam trong quan hệ đối ngoại. Nhiều bài viết bằng lối phân tích tỏ ra có trình độ, hiểu biết kiểu “chuyên gia” song thực chất nhận thức rất lệch lạc, lộ rõ ý đồ, động cơ chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Đối với vấn đề xung đột Nga - Ukraine, Việt Nam đã nhiều lần nêu quan điểm chính thức của mình. Ngày 1/3, phát biểu khi Đại hội đồng LHQ tổ chức phiên họp khẩn cấp lần thứ XI thảo luận về tình hình Ukraine, Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng phái Đoàn thường trực Việt Nam tại LHQ đã nhấn mạnh rằng: “Lịch sử của chính dân tộc chúng tôi hứng chịu các cuộc chiến tranh đã nhiều lần chỉ ra rằng, cuộc chiến tranh và xung đột đến tận ngày nay thường bắt nguồn từ các học thuyết lỗi thời đề cao chính trị cường quyền, tham vọng thống trị áp đặt và sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp quốc tế. Một số xung đột vẫn còn gắn liền với những yếu tố lịch sử, ngộ nhận và hiểu lầm. Với trải nghiệm của chính mình, Việt Nam thấu hiểu rằng chiến tranh và xung đột khi nổ ra chỉ gây ra đau khổ sâu sắc cho người dân và hậu quả nghiêm trọng đối với nhiều khía cạnh trong đời sống của các quốc gia có liên quan trực tiếp cũng như của các quốc gia khác”. Đại sứ nêu rõ, trong bối cảnh đó, Việt Nam đã nhiều lần nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tôn trọng luật pháp quốc tế và Hiến chương LHQ. Mọi tranh chấp quốc tế cần được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình, dựa trên các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương LHQ, bao gồm các nguyên tắc về bình đẳng chủ quyền, độc lập chính trị và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia và không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực. Tất cả các quốc gia lớn hay nhỏ đều phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản này. Trên cơ sở đó, Đại sứ Đặng Hoàng Giang nhấn mạnh: “Việt Nam kêu gọi các bên liên quan giảm leo thang căng thẳng, nối lại đối thoại và đàm phán thông qua tất cả các kênh, nhằm đạt được giải pháp lâu dài có tính đến lợi ích và quan ngại của tất cả các bên, trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia. Các giải pháp như vậy sẽ chấm dứt những khổ đau và đóng góp cho hòa bình, an ninh và phát triển ở châu Âu và thế giới nói chung”. Ngày 3/3, tại họp báo thường kỳ, trả lời báo chí về việc bỏ phiếu của Việt Nam, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng đã khẳng định: “Quan điểm của chúng tôi là Việt Nam luôn theo dõi sát sao và hết sức quan ngại về tình hình Ukraine”. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam nhấn mạnh: “Chúng tôi cho rằng, ưu tiên hiện nay là cần kiềm chế tối đa, chấm dứt các hành động sử dụng vũ lực để tránh gây thương vong và tổn thất đối với dân thường, nối lại đàm phán đối thoại trên tất cả các kênh để đạt được các giải pháp lâu dài có tính đến lợi ích chính đáng của tất cả các bên trên cơ sở phù hợp với Hiến chương LHQ và nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế”.

Như vậy, xuyên suốt trong các tuyên bố, phát ngôn, quan điểm nhất quán của Việt Nam là kêu gọi chấm dứt hành động sử dụng vũ lực, nối lại đối thoại và tìm kiếm giải pháp lâu dài cho các bất đồng. Kể từ khi cuộc xung đột Nga - Ukraine nổ ra cho đến thời điểm hiện tại, chưa có bất kỳ phát ngôn và hành động nào của Việt Nam đề cập đến việc ủng hộ việc sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề xung đột giữa Nga và Ukraine và Việt Nam cũng không “thiên vị” hay đứng về bất kỳ một bên nào xoay quanh xung đột giữa Nga và Ukraine. Những luận điệu cho rằng Việt Nam đứng bên này để chống bên kia, “cổ suý chiến tranh” là hoàn toàn sai trái, bịa đặt. Hiến pháp năm 2013 và Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (sửa đổi, bổ sung năm 2011) của Việt Nam đã nêu rõ chính sách đối ngoại của Việt Nam là thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Về chính sách quốc phòng, Việt Nam đã nhiều lần nêu rõ, Việt Nam giữ vững nguyên tắc 4 không: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Dân tộc Việt Nam đã trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Để giành độc lập dân tộc và tự do, bảo vệ nền hòa bình của Tổ quốc, nhân dân Việt Nam đã phải hy sinh biết bao xương máu. Bằng các cuộc đấu tranh kiên cường, bất khuất qua nhiều thế hệ, dân tộc Việt Nam đã khẳng định rằng, quyền thiêng liêng, cơ bản nhất của con người là quyền được sống trong hòa bình, độc lập, tự do, quyền được tự quyết vận mệnh của mình. Bởi vậy, hơn ai hết, nhân dân Việt Nam luôn mong muốn xây dựng một môi trường hòa bình, hiểu biết, đoàn kết và yêu thương nhau, cùng xây dựng thế giới ngày càng tốt đẹp.

Đối với Việt Nam, cả Nga và Ukraine đều là đối tác quan trọng. Do đó, Việt Nam kêu gọi Nga và Ukraine giảm căng thẳng, ngừng bắn, bảo đảm an ninh an toàn, nhu cầu thiết yếu của người dân, bảo đảm an ninh an toàn cho cộng đồng người nước ngoài đang sống tại Ukraine, trong đó có người Việt Nam. Việt Nam luôn khẳng định lập trường không thay đổi, đó là Việt Nam không đứng về bên này chống bên kia hay ngược lại mà luôn đứng về lẽ phải, về công lý, luật pháp quốc tế. Như vậy, những luận điệu sai trái, xuyên tạc quan điểm của Việt Nam đối với vấn đề xung đột Nga - Ukraine trên Internet, mạng xã hội của một số cá nhân, tổ chức thực chất là nhằm bôi nhọ, hạ thấp danh dự, uy tín của Việt Nam; xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam.

THỦ ĐOẠN ĐÁNH LẬN BẢN CHẤT VỤ VIỆT Á ĐỂ CHỐNG PHÁ NHÀ NƯỚC CỦA CÁC THẾ LỰC PHẢN ĐỘNG

 Trong khi vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á đang được các cơ quan chức năng tích cực mở rộng điều tra để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật thì các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại triệt để khai thác, lợi dụng vụ án để xuyên tạc, công kích chống phá Đảng, Nhà nước. Một số trang mạng xã hội của các tổ chức, hội nhóm ngoài nước, hãng thông tấn như Việt Tân, RFA, VOA… lợi dụng vụ việc này tung ra những luận điệu bôi xấu chế độ, xuyên tạc bản chất vụ việc. Nhiều bài viết vu cáo Việt Nam chống tham nhũng bằng cách hô hào khẩu hiệu, hướng lái dư luận, đổ lỗi việc để xảy ra những vụ án như vậy là do chế độ, lỗi do Đảng, Nhà nước. RFA viết rằng: “Vụ Việt Á, mọi việc trở nên tồi tệ”, rồi rêu rao, hạ thấp vai trò của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, các cơ quan tiến hành tố tụng. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn phỏng vấn, phát tán các video, hình ảnh, bài viết với nội dung sai trái, cực đoan của những đối tượng gắn mác “chuyên gia”, “học giả”, những cá nhân tự cho mình là những “nhà phản biện” để ra sức bóp méo, đả phá xung quanh vụ việc trên. Tung ra nhiều bài viết cho rằng “Ban Chỉ đạo vào cuộc chỉ để giải quyết hậu quả”; đưa ra luận điệu quy kết vấn nạn tham nhũng “thủng từ gốc”. Từ vụ việc tại Việt Á, các đối tượng xâu chuỗi những vụ án tham nhũng lớn gần đây rồi quy kết, công cuộc chống tham nhũng “chỉ trên khẩu hiệu”, không đạt kết quả đáng kể nào do “chế độ độc đảng”!

Với những thông tin mà các hội, nhóm, cá nhân trên đưa ra cho thấy sự suy diễn, thổi phồng, nhiều bài viết bịa đặt, xuyên tạc tình hình tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam. Về vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á, qua các chiêu trò của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại được nhào nặn, chế biến thành công cụ, phương tiện rất nguy hại nhằm đánh lận hiện tượng để quy kết bản chất. Các đối tượng nhào nặn vụ án rồi suy diễn thành “lỗi hệ thống”, bóp méo chủ trương “kiên quyết, không có vùng cấm, không có ngoại lệ” trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta. Từ vụ việc, mục đích các đối tượng tung ra thông tin sai lệch nhằm vẽ lên một bức tranh xám xịt về thực trạng xã hội Việt Nam dưới chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Từ đó gây hoài nghi trong nhân dân vào các cấp lãnh đạo, hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ, tạo hoài nghi về quyết tâm chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Đồng thời, phá hoại sự đoàn kết trong Đảng, chia rẽ cán bộ, đảng viên với quần chúng nhân dân và sự đồng thuận trong xã hội. Chúng ta thấy rằng, tham nhũng là một hiện tượng xã hội, hiện hữu ở tất cả các quốc gia, không phân biệt quốc gia đó theo chế độ chính trị nào, dù cho đó là nước nghèo hay giàu, quốc gia phát triển, đang phát triển hay kém phát triển; không phân biệt do một đảng hay do đa đảng lãnh đạo. Do vậy, không thể lấy vụ án tham nhũng tại Công ty Việt Á cũng như các vụ án tham nhũng, tiêu cực khác để gán ghép, suy diễn là do “độc đảng” như cái cách mà các thế lực thù địch đang tìm cách đổ lỗi, quy trách nhiệm, cố tình quy kết tình trạng tham nhũng, tiêu cực là do chế độ.

Thực tế, quan điểm trong phòng, chống tham nhũng của Đảng ta được thể hiện rất rõ trong các văn kiện của Đảng, trong đó Văn kiện Đại hội XIII khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn”. Để phòng, chống, đẩy lùi tham nhũng, suy thoái, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, đi cùng với đó là sửa đổi, bổ sung, từng bước hoàn thiện hệ thống luật pháp gắn với việc điều tra, xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, tiêu cực, tạo sức răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội. Ngày 20/1/2022, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (Ban Chỉ đạo) đã họp phiên thứ 21 dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban Chỉ đạo. Phát biểu kết luận phiên họp, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh, đạt nhiều kết quả rõ rệt, có mặt cao hơn năm trước, khẳng định quyết tâm mạnh mẽ, không ngừng, không nghỉ, không vì chống dịch mà chùng xuống, không xử lý. Đối với vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á đã gây bức xúc trong dư luận, ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân đối với công tác phòng, chống dịch và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước.

Để xử lý nghiêm minh những tổ chức, cá nhân sai phạm, cảnh báo, răn đe mạnh mẽ hơn nữa, ngăn ngừa tham nhũng, tiêu cực, củng cố niềm tin của nhân dân, Thường trực Ban Chỉ đạo thống nhất đưa vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á vào diện được Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo. Theo đó, Ban Chỉ đạo yêu cầu Đảng ủy Công an Trung ương, Ban cán sự đảng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan, chỉ đạo các cơ quan chức năng tập trung lực lượng, khẩn trương, quyết liệt, mở rộng điều tra làm rõ bản chất của vụ án, xử lý nghiêm các sai phạm theo quy định của pháp luật; không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không chịu bất kỳ sự can thiệp trái pháp luật của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào. Hiện, các cơ quan chức năng đang khẩn trương điều tra, làm rõ vụ án để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật; đồng thời rà soát, thu hồi triệt để tài sản cho Nhà nước. Cùng với đó, Ban Chỉ đạo giao Ủy ban Kiểm tra Trung ương tiến hành kiểm tra dấu hiệu vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên có liên quan để kịp thời xử lý nghiêm theo quy định của Đảng. Các cấp ủy, tổ chức đảng, tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo khẩn trương kiểm tra, thanh tra, điều tra xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng công tác phòng, chống dịch bệnh để tham nhũng, tiêu cực. Giao Ban Nội chính Trung ương - Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo chủ trì phối hợp với các cơ quan chức năng đôn đốc, kiểm tra, tham mưu Thường trực Ban Chỉ đạo để chỉ đạo xử lý kịp thời, nghiêm minh. Trước đó, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu Bộ Công an chủ trì, mở rộng vụ án xảy ra tại Công ty cổ phần công nghệ Việt Á, thu hồi tài sản bị chiếm đoạt và thất thoát, sớm đưa các đối tượng ra xét xử.

Như vậy, từ khi vụ việc tại Công ty Việt Á được phát giác đến nay, các cơ quan chức năng đã khẩn trương đẩy nhanh tốc độ, mở rộng điều tra vụ án; ban đầu điều tra các đối tượng của một địa phương, sau đó mở rộng sang các đối tượng của địa phương khác. Điều đó thể hiện những nỗ lực, quyết tâm cao, hành động xuyên suốt, nhất quán. Thực tế trong công cuộc phòng, chống tham nhũng những năm qua theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII) đã chứng minh, pháp luật Việt Nam nghiêm minh “không thiên tư, thiên vị”, các cá nhân, tổ chức sai phạm đều được làm rõ để xử lý nghiêm. Thời gian qua, đối với những tổ chức, cá nhân có các hành vi tham nhũng chính sách, lợi dụng tình hình dịch bệnh COVID -19 để trục lợi đều bị xử lý nghiêm minh, không có việc Đảng, Nhà nước “tránh trách nhiệm” như những gì mà các thế lực thù địch rêu rao, vu cáo.

Qua vụ Việt Á cho thấy, chống tham nhũng, tiêu cực phải đi liền với chống lợi ích nhóm, suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Vụ án cũng chứng minh chủ trương “kiên quyết, không có vùng cấm, không có ngoại lệ” của Đảng, Nhà nước ta được thực thi trên thực tế chứ không phải “khẩu hiệu suông, mị dân” như luận điệu kẻ xấu. Chúng ta đã thấy rõ những tác hại của vấn nạn tham nhũng gây ra, thấy rõ sự vào cuộc đồng bộ, mạnh mẽ, quyết tâm cao trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của cả hệ thống chính trị. Đồng thời, với tính chất phức tạp, khó khăn của cuộc đấu tranh chống “đạn bọc đường” và âm mưu của kẻ địch lợi dụng cuộc đấu  tranh đó để chống phá Đảng, Nhà nước, đòi hỏi mỗi người phải luôn nâng cao cảnh giác, đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn, xuyên tạc phá hoại công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, không để bị lôi kéo, kích động, biến thành những con rối.

PHÁT HIỆN HOẠT ĐỘNG TUYÊN TRUYỀN “HỘI THÁNH ĐỨC CHÚA TRỜI MẸ”.

Ngày 27/3, từ nguồn tin báo của nhân dân, Công an thành phố Bắc Kạn (tỉnh Bắc Kạn) đã tiến hành kiểm tra phát hiện tại phường Huyền Tụng và phường Đức Xuân có hai nhóm hoạt động tôn giáo trái pháp luật. Cụ thể, tại tổ Tổng Nẻng, phường Huyền Tụng, lực lượng chức năng phát hiện 6 người gồm ông Lục A Hợp (60 tuổi), bà Nguyễn Thị Thung (vợ ông Hợp); ông Phạm Bá Quyết cùng vợ là Trần Thị Điểm; Nguyễn Đình Hoàng; Nguyễn Nam Xuân đang tổ chức sinh hoạt "Hội thánh Đức chúa trời mẹ" tại nhà trọ của ông Hợp. Tại hai địa điểm trên, lực lượng Công an thu giữ nhiều đồ vật, tài liệu liên quan đến “Hội thánh Đức chúa trời mẹ”. Mặc dù không được nhà nước công nhận nhưng tổ chức này vẫn lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để thực hiện việc truyền đạo trái phép. Thông qua nhiều hoạt động khác nhau, lén lút tiếp cận nhân dân và tránh sự phát hiện của các cơ quan chức năng. Từ đó tuyên truyền, lôi kéo, dụ dỗ những người nhẹ dạ, cả tin tham gia. 

Hoạt động của tổ chức này đã và đang gây nhiều phức tạp về trật tự xã hội, làm xáo trộn đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của người dân; nhất là đã tuyên truyền những hành vi trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam, như: bỏ bát hương, bàn thờ, không thờ cúng tổ tiên ông bà... Cơ quan Công an khuyến cáo người dân nâng cao tinh thần cảnh giác, tuyên truyền vận động cho người thân hiểu và không tham gia hoạt động “Hội thánh Đức chúa trời mẹ” trái pháp luật trên địa bàn.

BỘ MẶT THẬT CỦA ĐẠO “BÀ CÔ DỢ”

 Đạo “Bà Cô Dợ” còn gọi là Hội Thánh Đức Chúa trời yêu thương chúng ta do Vừ Thị Dợ (SN 1978, người Mông, sinh sống ở thành phố Milvvaukee, bang Wilcosin nước Mỹ) thành lập và làm Hội trưởng cuối năm 2016. Sau đó, đạo đã được truyền sang các nước khác, trong đó có Việt Nam. Từ tháng 11/2016, đạo “Bà Cô Dợ” xuất hiện ở hai huyện Mường Tè và Nậm Nhùn, tỉnh Lai Châu. Sau đó, ảnh hưởng đến một số huyện của tỉnh Điên Biên với tốc độ phát triển nhanh và thu hút nhiều người dân tham gia, đặc biệt trong đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS).

Đạo “Bà Cô Dợ” không có hiến chương, điều lệ rõ ràng. Đối tượng Vừ Thị Dợ chỉ lợi dụng xuyên tạc một số câu, điều trong Kinh thánh Cựu ước, Tân ước để giảng dạy, tuyên truyền đạo. Vừ Thị Dợ tuyên truyền con trai út Cứ Nu Si Lông chính là Chúa Giê Su tái thế, sẽ cai trị người Mông trong 1.000 năm. Vừ Thị Dợ còn tự nhận mình là người được Chúa Trời chọn để tái lâm lần thứ 2; không phải đóng 10% thu nhập, ai tin theo đạo “Bà Cô Dợ” sẽ được chia tiền. Tìm hiểm về Vừ Thị Dợ được biết, trước đây Dợ từng theo Công giáo và hệ phái Tin lành CMA nhưng thường xuyên tạc Kinh thánh nên đã bị trục xuất khỏi giáo hội. Sau khi tách ra, Vừ Thị Dợ tích cực đi tuyên truyền lôi kéo người tham gia. Về mặt tổ chức, Vừ Thị Dợ đóng vai trò làm Hội trưởng, Vù Thị Mỹ - Phó Hội trưởng 1, Sùng Thị Mỷ - Phó Hội trưởng 2, Thào Chứ Lầu - Phó Hội trưởng 3 và Vàng A Páo - Thư ký. Lễ nghi sinh hoạt của “Bà Cô Dợ” cơ bản giống với các điểm nhóm theo đạo Tin lành. Tuy nhiên, tổ chức Lễ giáng Sinh không cùng thời điểm với đạo Tin lành (23/11 là ngày tái sinh của Nu long - Chúa tái lâm lần thứ hai) và không tổ chức lễ phục sinh. Thời gian đầu, số người theo đạo “Bà Cô Dợ” sinh hoạt từ 21h tối thứ bảy đến 2h sáng hôm sau, hiện nay đã chuyển sang sinh hoạt vào ngày chủ nhật hàng tuần. Các đối tượng và những người tin theo tập trung sinh hoạt tại điểm nhóm. Trong quá trình giảng dạy, các đối tượng sử dụng bài hát về Chúa đã được cải biên trên nền nhạc trẻ. Nội dung chủ yếu các đối tượng tuyên truyền mê tín dị đoan, xuyên tạc Kinh thánh, đả kích các tôn giáo chính thống, chê bai phong tục truyền thống của người dân tộc Mông; tuyên truyền về ngày tận thế, việc mua Mông ra đời… Ngoài việc truyền đạo, “Bà Cô Dợ” còn xuyên tạc, lôi kéo người dân thực hiện mục đích chính trị, thành lập nhà nước của người Mông. Từ tháng 11/2016 đến nay, Vừ Thị Dợ đã gửi về nước số tiền 20.000 USD (huyện Mường Tè, huyện Nậm Nhùn) - Lai Châu, 11.977 USD huyện Mường Nhé - Điện Biên số tiền 9.000 USD). Số tiền này được các đối tượng trong nước sử dụng để mua sắm các thiết bị thu phát wifi, máy tính, điện thoại nhằm mục đích quay lại các buổi sinh hoạt rồi gửi cho số đối tượng bên ngoài tài liệu tuyên truyền, ngoài ra mỗi người theo được cấp 600.000-800.000 đồng/tháng. Đáng chú ý, tháng 3/2018 trên địa bàn xã Tà Tổng, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu xuất hiện luận điệu trên địa bàn, xuất hiện luận điệu “Chúa sẽ tái lâm, mặt trăng, mặt trời sẽ lặn 3 năm, 6 tháng sẽ xảy ra chiến tranh, gió độc sẽ thổi nên các gia đình người Mông phải tích trữ lương thực, mua than, củi lò, bít lỗ…” gây hoang mang và đã có một số bà con người Mông tin theo, thực hiện. 

 Bản chất của đạo “Bà Cô Dợ” chính là hoạt động lợi dụng đạo Tin lành tuyên truyền thành lập “Nhà nước Mông”. Đạo “Bà Cô Dợ” ảnh hưởng trực tiếp hai tỉnh Lai Châu và Điện Biên, lôi kéo người tin theo. Thành phần chủ yếu là đồng bào người Mông và đã là tín đồ của Hội thánh Tin lành. Thời điểm cao nhất vào năm 2017-2019, tổ chức “Bà Cô Dợ” đã có 19 điểm, nhóm với 773 người. Thời gian sau này, do nhận ra bản chất nên một số trường hợp đã từ bỏ, tính đến tháng 4/2021, tổ chức “Bà Cô Dợ” đã giảm số người. Sự khốn cùng của những kẻ dã tâm không dừng lại ở đó, thời gian gần đây, mặc dù tình hình dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp nhưng số đối tượng cầm đầu “Bà Cô Dợ” vẫn tìm cách móc nối, lôi kéo quần chúng bằng các phần mềm, ứng dụng trên internet để tổ chức các buổi sinh hoạt, tuyên truyền và chỉ đạo các hoạt động ở trong nước. Hoạt động của Vừ Thị Dợ trong thời gian gần đây, đặc biệt khi dịch COVID-19 diễn biến phức tạp đã một lần nữa vạch trần thủ đoạn của Vừ Thị Dợ. Khi cả thế giới cũng như Việt Nam đang “gồng” mình chống chọi với đại dịch. Và đến thời điểm này, cùng với việc tuân thủ 5K thì vaccine là một trong những biện pháp hữu hiệu và quan trọng để ngăn chặn đại dịch thì đối tượng này luôn có những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc. Cụ thể, Vừ Thị Dợ tuyên tuyền “Không được tiêm vaccine phòng dịch bệnh COVID-19 vì sẽ làm giảm trí nhớ, gây hại sức khoẻ cho con người”. Đồng thời, hướng dẫn cách thức đối phó với cơ quan y tế để không tiêm vaccine phòng COVID-19. Các đối tượng cầm đầu đồng thời tiếp tục tuyên truyền các nội dung thiếu khoa học như “trái đất sẽ bị huỷ diệt” “ngày tận thế” có liên quan đến dịch COVID 19,... Nội dung tuyên truyền là “Chúa sẽ làm cho trái đất nổ tung hết, sẽ làm cho con người bị diệt vong hết; làm cho trái đất khô cằn, làm cho con người chết dần. Lý do Chúa hủy diệt trái đất là vì con người không làm theo lời của Chúa, không theo ý Chúa, khi Trái đất bị hủy diệt là lúc mà Chúa quay về, cây cối sẽ bị khô héo hết, giống như dịch bệnh COVID-19. Và hiện nay, như mọi người đã biết các quán karaoke, chợ lớn... đều đóng cửa hết, con người không đi lại được, niềm vui của con người sẽ không còn, bây giờ mới là bắt đầu thôi”.

Mặt khác, các đối tượng cho rằng: “Các thành phố sẽ trống rỗng, con người sẽ bị kẹt lại ở trong nhà, không có ai đến mở cửa được. Như mọi người đã thấy, hiện nay có dịch bệnh, họ (chính quyền) đã khóa con người ở trong nhà không đi đâu được, như các địa phương có dịch bệnh không đi mưa thực phẩm được. Cái này mới chỉ là bắt đầu thôi mà đã mạnh như thế này, khi mà có “khó khăn” (nghĩa là có cái gì đó lớn hơn dịch bệnh này) thì trái đất sẽ bị hủy diệt vấn đề này xảy ra ở tất cả các dấn tộc, chứ không riêng người Mông giống như một vụ thu hoạch. Chúa sẽ về thu hoạch sản phẩm của mình, đó là những người theo Chúa (những người theo “Bà Cô Dợ” sẽ được cứu sống) nên bây giờ Chúa mới cho “người mẹ ” về đây cho con người đến với Chúa. Những người ở phía mặt trời lặn gào thét trong sự sung sướng, đó là ở Mỹ và Châu Âu; những người ở phía mặt trời mọc sẽ cảm ơn Chúa, đó là ở Việt Nam, Lào, Thái Lan; những người sót lại sẽ có niềm vui, những người sót lại là những người đến với Chúa (theo Bà Dợ), Chúa sẽ chọn những người sót lại. Trái đất sẽ bị nổ tung thành từng mảnh; Chúa sẽ gom hết con người trên trái đất vào nhốt trong cái hố sâu, hết 1.000 năm Chúa mới phán xét cho. Mặt trời sẽ ngừng sáng, mặt trăng sẽ tối và Chúa sẽ là người cai quản, đó là Chúa Nu Long…”.

Những luận điệu tuyên truyền phản khoa học trên thay lời muốn nói thêm một lần nữa khẳng định, hiện tượng mang màu sắc tôn giáo có tên gọi “Bà Cô Dợ” đã lợi dụng niềm tin tín ngưỡng của chính đồng bào Mông, đi ngược lại mong muốn phát triển, xâm hại trực tiếp truyền thống văn hóa lâu đời, bản sắc tốt đẹp của dân tộc Mông. Đó là hành vi của những kẻ mưu đồ chống phá Nhà nước, lật đổ chính quyền nhân dân, gây chia rẽ đại đoàn kết dân tộc.

Lời Bác căn dặn: “Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”

 


Ngày 5-4-1948, Bác Hồ viết 12 điều răn yêu cầu mọi người phải nhớ và thực hành khi tiếp xúc với dân. Để cổ động, Bác viết bài thơ: “Mười hai điều trên/ Ai chả làm được/ Hễ người yêu nước/ Nhất quyết không quên/ Tập thành thói quen/ Muôn người như một/ Quân tốt, dân tốt/ Muôn sự đều nên/ Gốc có vững, cây mới bền/ Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”.

         6 điều không nên:

1. Không nên làm điều gì có thể thiệt đến nương vườn, hoa màu, hoặc làm bẩn, làm hư nhà cửa, đồ đạc của dân.

2. Không nên nǎn nỉ quá hoặc mượn cho bằng được những đồ vật người ta không muốn bán hoặc cho mượn.

3. Không nên đưa gà còn sống vào nhà đồng bào miền ngược.

4. Không bao giờ sai lời hứa.

5. Không nên xúc phạm đến tín ngưỡng phong tục của dân.

6. Không nên làm hoặc nói gì có thể làm cho dân hiểu lầm rằng mình xem khinh họ.

        6 điều nên làm:

1. Giúp công việc thực tế hàng ngày cho đồng bào (như việc gặt hái, lấy củi, nước, vá may, v.v.).

2. Tùy khả nǎng mà mua giùm những đồ cần dùng cho những người ở xa chợ búa (như dao, muối, kim, chỉ, bút, giấy, v.v.).

3. Nhân những lúc rảnh, kể cho đồng bào nghe những chuyện vui ngắn, giản dị có ích lợi cho tinh thần kháng chiến mà không lộ bí mật.

4. Dạy dân chữ quốc ngữ và những điều vệ sinh thường thức.

5. Nghiên cứu cho hiểu rõ phong tục mọi nơi, trước là để gây cảm tình và sau để dần dần giải thích cho dân bớt mê tín.

6. Làm cho dân nhận thấy mình là người đứng đắn, chǎm công việc, trọng kỷ luật.

(Sách Hồ Chí Minh Toàn tập, xuất bản lần thứ nhất, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1985, t.5, tr.77-79).

HAIVAN

NHỮNG THỦ ĐOẠN BÔI NHỌ CHÍNH SÁCH BẢO HỘ CÔNG DÂN VIỆT NAM TẠI UKRAINE CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 Chính phủ Việt Nam luôn thực thi chính sách bảo hộ công dân tại nước ngoài với tinh thần “tương thân tương ái” hỗ trợ tối đa để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, đặc biệt là các điểm nóng xung đột, chiến tranh như Trung Đông, Bắc Phi và hiện nay là xung đột giữa Nga và Ukraine. Tuy nhiên, các thế lực thù địch và những thành phần tự xưng đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền luôn rêu rao các quan điểm sai lệch về chính sách bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài nhằm gây hoang mang dư luận, làm suy giảm niềm tin của công dân trong và ngoài nước đối với Đảng, Nhà nước Việt Nam. Luận điệu này thể hiện trên một số điểm sau:

Thứ nhất, chúng phủ nhận vai trò của các cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại Nga và Ukraine trong hỗ trợ người dân sơ tán khỏi vùng chiến sự. Truyền thông hải ngoại như đài RFA, BBC tiếng Việt, VOA, facebook của tổ chức khủng bố Việt Tân… đã vẽ ra bức tranh quy kết chính quyền Việt Nam “đứng ngoài lề, dửng dưng với những người dân đang kẹt lại tại khu vực xung đột Nga - Ukraine”. RFA ngày 11/3/2022 đăng tải bài viết về thực trạng người dân Việt Nam tại Ukraine và vu cáo “Không thấy vai trò của toà đại sứ Việt tại các quốc gia đó ở đâu! Lại cái cảnh “dân giúp dân” như tại Việt Nam thời COVID-19 hoành hành!”. Qua đó, nội dung bài viết phủ nhận những nỗ lực của các cơ quan ngoại giao Việt Nam ở Nga và Ukraine trong việc đưa ra các phương án bảo vệ tài sản, tính mạng, sức khoẻ những người dân và cho rằng, khi chiến sự nổ ra đã không quan tâm sơ tán người dân. Đây là luận điệu nguy hiểm, đánh vào tâm lý những người dân đang kẹt lại các điểm nóng và gây hoang mang cho người dân trong nước về tình hình cộng đồng người Việt tại Ukraine.

Thứ hai, làm giảm niềm tin của người dân trong nước đối với hoạt động quản lý của cơ quan chức năng liên quan đến hỗ trợ người dân tại các quốc gia đang xung đột, chiến tranh. Sau khi vụ án liên quan đến hành vi nhận hối lộ của một số cá nhân tại Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao được cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố, điều tra, các thế lực thù địch, giới dân chủ tự xưng đã khoét sâu vào những sai phạm này để quy chụp, bôi nhọ. Nhiều bài viết các đối tượng vu cáo chính quyền Việt Nam bao che, dung túng sai phạm, đồng thời rêu rao, kích động người dân không tin tưởng vào những hoạt động hỗ trợ của chính quyền đối với kiều bào Việt Nam ở nước ngoài. Họ nhắc lại những chiến dịch sơ tán người dân tại Bắc Phi, Trung Đông giai đoạn 2011-2014, đưa các clip, hình ảnh, bài viết sai lệch về việc người Việt “phải tự mình xoay xở” với hoàn cảnh khó khăn, từ đó suy diễn, vu cáo cơ quan ngoại giao của Việt Nam không thực hiện chính sách bảo hộ công dân Việt ở nước ngoài.

Thứ ba, bôi lem hình ảnh, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, mục đích để thế giới nhìn nhận Việt Nam là quốc gia thiếu trách nhiệm trong giải quyết các vấn đề nóng trên thế giới. Việt Nam đã tham gia ký kết các Công ước về ngoại giao theo luật pháp quốc tế nên các cơ quan ngoại giao Việt Nam có cơ sở để lên tiếng yêu cầu các quốc gia đang có xung đột, chiến tranh phải có trách nhiệm đối với cộng đồng người Việt Nam. Thực tế, các cơ quan đại diện ngoại giao luôn đi đầu trong nắm diễn biến tình hình và thực hiện các biện pháp bảo vệ tài sản, tính mạng cho công dân theo chính sách bảo hộ của pháp luật. Tuy nhiên, nhiều cá nhân, tổ chức quốc tế có những góc nhìn thiếu khách quan, trung thực trong đánh giá hoạt động của cơ quan ngoại giao của Việt Nam. Một số tổ chức thiếu thiện chí đưa ra thông tin, hình ảnh sai lệch nhằm bôi lem, hạ uy tín Việt Nam tại các diễn đàn quốc tế, các hội thảo đa phương, thậm chí lên án Việt Nam tại các phiên điều trần của nghị viện Mỹ, EU… Một số cơ quan truyền thông phương Tây tô vẽ góc nhìn lệch lạc, trái với bản chất, tạo ra dư luận xấu về hình ảnh của Việt Nam, mục đích làm cho quốc tế nhìn nhận Việt Nam là quốc gia thiếu tin cậy, thiếu trách nhiệm, thậm chí hướng lái thành “đứng ngoài cuộc” trong tham gia giải quyết các điểm nóng, xung đột trên thế giới.

Thực tế, những hoạt động tích cực của các cơ quan chức năng Việt Nam thể hiện xuyên suốt, từ chủ trương, chính sách đến hành động bảo hộ công dân Việt Nam tại nước ngoài. Điều đó được biểu hiện ở các nội dung:

Một là, Đảng, Nhà nước Việt Nam khẳng định công dân Việt ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đặc biệt trong giai đoạn hội nhập quốc tế, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là một trong những động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập sâu rộng với thế giới. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định chính sách nhất quán “nâng cao hiệu quả công tác bảo hộ công dân”. Nhằm cụ thể hóa tinh thần này của Đại hội XIII, Hội nghị Ngoại giao lần thứ 31 nhấn mạnh cần “triển khai toàn diện, mạnh mẽ, kịp thời, hiệu quả công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài và bảo hộ công dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người Việt Nam ở nước ngoài”; “chăm lo, hỗ trợ đồng bào ta, nhất là ở những địa bàn khó khăn”. Đối với các điểm nóng, xung đột trên thế giới như tại Ukraine hiện nay, Chính phủ đã gửi Công điện 201 ngày 26/2/2022 về việc “Bảo hộ công dân và pháp nhân Việt Nam và một số vấn đề cần lưu ý trước tình hình tại Ukraine”, yêu cầu các bộ, ngành, các cơ quan đại diện Việt Nam tại Ukraine và các nước lân cận Ba Lan, Nga, Rumania, Hungaria, Slovakia phối hợp chặt chẽ trong việc triển khai các phương án bảo hộ công dân, đảm bảo an ninh, an toàn, các điều kiện cần thiết để sơ tán công dân Việt Nam khỏi vùng chiến sự, đến các nước lân cận và về nước nếu có nguyện vọng.

Hai là, dưới góc độ luật pháp, Việt Nam cam kết thực hiện chính sách bảo hộ công dân tại nước ngoài theo quy định pháp luật Việt Nam và phù hợp với luật pháp quốc tế. Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Công dân Việt Nam ở nước ngoài được Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam bảo hộ” (Khoản 3, Điều 17). Luật Quốc tịch Việt Nam ghi nhận: “Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam bảo hộ quyền lợi chính đáng của công dân Việt Nam ở nước ngoài. Các cơ quan nhà nước ở trong nước, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có trách nhiệm thi hành mọi biện pháp cần thiết, phù hợp với pháp luật của nước sở tại, pháp luật và tập quán quốc tế để thực hiện sự bảo hộ đó” (Điều 6, Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014). Việt Nam cũng đã chủ động sửa đổi Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ở nước ngoài năm 2009 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nhằm phù hợp với Công ước quốc tế như Nghị định thư bổ sung Công ước Geneva về bảo hộ nạn nhân trong các cuộc xung đột quốc tế; Công ước Viên về quan hệ ngoại giao năm 1961.

Ba là, xuất phát từ thực tế thực hiện chính sách bảo hộ công dân Việt Nam ở các nước trên thế giới luôn được Chính phủ Việt Nam đặc biệt quan tâm và xác định đó không chỉ là lợi ích của mỗi cá nhân mà còn thể hiện trách nhiệm của Chính phủ Việt Nam đối với công dân khi công tác, học tập làm ăn ở nước ngoài theo tinh thần “không ai bị bỏ lại đằng sau”. Ngày 6/3/2022, trong cuộc làm việc với Bộ Ngoại giao liên quan đến sơ tán công dân Việt từ Ukraine khỏi vùng chiến sự, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh: Công tác bảo hộ công dân cần được đặc biệt quan tâm; quá trình tổ chức cần thực hiện những chuyến bay miễn phí đưa trường hợp khó khăn về nước, đồng thời phải thực hiện nhất quán “ưu tiên phụ nữ, trẻ em, người già”. Đó là minh chứng cho những lời hứa thực hiện bảo hộ công dân Việt tại nước ngoài nhằm thực hiện cam kết của Chính phủ với người dân trước những diễn biến phức tạp tại Ukraine.

Mặt khác, trong những năm qua, Việt Nam đã từng tổ chức nhiều phương án, biện pháp thiết thực như lập cầu hàng không sơ tán người lao động ở Libya năm 2011 và 2014; đưa hành khách ra khỏi châu Âu do núi lửa phun trào năm 2010; giải cứu hành khách bị kẹt tại Thái Lan do khủng hoảng chính trị năm 2008; vận chuyển công dân Việt Nam trở về từ Malaysia, Trung Đông các năm 2005-2007... Năm 2021, Bộ Ngoại giao đã phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và các cơ quan liên quan tổ chức gần 600 chuyến bay đưa hơn 130.000 công dân từ hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ về Việt Nam.

Từ thực tế trên đã thể hiện rõ chủ trương, chính sách và hành động thiết thực của Việt Nam trong công tác bảo hộ công dân ở nước ngoài và là bằng chứng sinh động phủ nhận những luận điệu sai trái, vu cáo của các thế lực xấu.