Thứ Hai, 4 tháng 4, 2022

Nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam hiện nay.

  - Những năm qua, công tác thu hồi tài sản tham nhũng đã có những chuyển biến tích cực, góp phần quan trọng vào kết quả chung của công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Tuy nhiên, tỷ lệ tài sản thu hồi được còn thấp hơn nhiều so với tài sản bị chiếm đoạt, thất thoát cần thu hồi. Bài viết làm rõ những hạn chế, bất cập trong việc phát hiện, xác định và thu hồi tài sản tham nhũng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam hiện nay.

1. Những khó khăn, bất cập trong việc phát hiện, xác định tài sản tham nhũng ở Việt Nam.

Thứ nhất, công tác phát hiện, xác minh tài sản tham nhũng còn hạn chế xuất phát từ những khó khăn trong việc xác định và chứng minh tội danh tham nhũng

Quy định của Bộ luật Hình sự về các tội danh tham nhũng có những điểm chưa rõ ràng, gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc định tội danh, chứng minh hành vi phạm tội và xác định thiệt hại do tội phạm gây ra. Ví dụ Khoản 1, Điều 356 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ có nêu: “Người nào vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm trái công vụ gây thiệt hại về tài sản từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng hoặc gây thiệt hại khác đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm” nhưng lại không giải thích cụ thể thế nào là “gây thiệt hại khác”(1).

Trong khi đó, tội phạm tham nhũng được xếp vào nhóm tội phạm có “xu hướng ẩn” cao. Chủ thể thực hiện hành vi tham nhũng là những người có chức vụ, quyền hạn; có trình độ học vấn, am hiểu về pháp luật; có nhiều mối quan hệ xã hội có khả năng “che chắn”, “bảo vệ” cho hành vi sai phạm; có sự chuẩn bị “chu đáo” trước khi thực hiện hành vi phạm tội và có nhiều biện pháp để xóa dấu vết, tiêu hủy tài liệu, chứng cứ, tẩu tán tài sản có được do tham nhũng.

Tội phạm tham nhũng, đặc biệt là những đại án về tham nhũng, thường được tổ chức theo một quy trình khép kín rất tinh vi, có sự cấu kết về lợi ích với nhiều người. Nếu công tác thanh tra, kiểm tra không được tiến hành nghiêm túc, chặt chẽ, cán bộ thanh tra hạn chế về nghiệp vụ, chuyên môn thì rất khó phát hiện và buộc tội hành vi tham nhũng. 

Thực tế điều tra, truy tố, xét xử các vụ án liên quan đến tham nhũng cho thấy, việc xác định, chứng minh hành vi tham nhũng, từ đó xác định các tài sản liên quan đến tham nhũng không hề đơn giản. Có những vụ việc, các cơ quan tiến hành tố tụng không đủ căn cứ để xử lý đối tượng với tội danh tham nhũng mà chỉ có thể xử lý về một trong những tội danh như “cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” hoặc các tội phạm kinh tế khác. Do đó, việc xác định cũng như thu hồi tài sản tham nhũng trong các vụ án như vậy hầu như không thể thực hiện được(2).

Thứ hai, ngay cả khi đã xác định được hành vi tham nhũng, việc xác định đâu là tài sản có được do tham nhũng cũng gặp nhiều trở ngại

Pháp luật hình sự hiện hành chưa quy định bị can, bị cáo phải tự chứng minh nguồn gốc tài sản là hợp pháp hay bất hợp pháp. Trách nhiệm đó vẫn thuộc về cơ quan điều tra. Do đó, trong trường hợp cơ quan điều tra không chứng minh được đó là tài sản bất hợp pháp thì cũng không có căn cứ để quy kết đây là tài sản có được do tham nhũng.

Bên cạnh đó, pháp luật nước ta còn khoảng trống lớn về quản lý, đăng ký tài sản và xử lý tài sản không rõ nguồn gốc, khiến khả năng bóc tách và truy thu tài sản bất minh liên quan đến tham nhũng rất khó khăn. Chúng ta chỉ mới có quy định về kiểm soát tài sản cá nhân cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị mà thiếu vắng các quy định pháp luật về quản lý, kiểm soát tài sản đối với các cá nhân, tổ chức khác trong xã hội. Nếu các đối tượng có thủ đoạn che giấu tài sản có được do tham nhũng ở ngoài xã hội thông qua việc nhờ người khác đứng tên tài sản như xe ô tô, nhà đất, cổ phiếu, thậm chí dịch chuyển tài sản ra nước ngoài… thì chúng ta khó có thể xác định đâu là tài sản tham nhũng và về mặt pháp lý cũng không thể đụng đến những tài sản này(3)

Việc kiểm soát tài sản của cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị cũng chưa thực sự chặt chẽ. Luật Phòng, chống tham nhũng đã quy định tương đối cụ thể, rõ ràng về cơ chế kiểm soát tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức. Tuy nhiên, việc thực hiện kê khai tài sản chưa hiệu quả, việc xác minh và kiểm soát khó khăn. Theo Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 và Nghị định số 130/2020/NĐ-CP của Chính phủ, cán bộ, công chức chỉ phải kê khai tài sản của bản thân, vợ (hoặc chồng) và con chưa thành niên. Quy định phạm vi kê khai hẹp như vậy đã bỏ qua những đối tượng thân thích khác như con đã thành niên, bố, mẹ, anh chị em ruột… 

Trên thực tế, quá trình điều tra nhiều vụ án tham nhũng cho thấy, tài sản mà người phạm tội có được đã đứng tên của chính bố, mẹ đẻ hoặc con đã thành niên, thậm chí có những trường hợp nhờ cả bạn bè, anh chị em đứng tên như vụ Huỳnh Thị Huyền Như, Giang Kim Đạt, Trịnh Xuân Thanh, Phan Sào Nam… 

Ngoài ra, đối với trường hợp kê khai tài sản, thu nhập không trung thực; giải trình nguồn gốc của tài sản, thu nhập tăng thêm không hợp lý, thiếu trung thực thì Luật mới quy định việc xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức mà chưa quy định trách nhiệm hành chính hoặc trách nhiệm hình sự; cũngchưa có điều khoản nào quy định về việc xử lý tài sản, thu nhập tăng thêm không giải trình được một cách hợp lý về nguồn gốc(4).

Nền kinh tế và thói quen sử dụng tiền mặt cũng là nguyên nhân của việc khó kiểm soát tài sản, thu nhập cũng như các giao dịch tiền mặt, là điều kiện cho các tổ chức, cá nhân dễ dàng che giấu nguồn gốc bất minh của tài sản. Các cơ quan có thẩm quyền khó khăn trong việc lần theo dòng tiền, chứng minh mối liên hệ giữa tài sản và hành vi tham nhũng. 

Hơn nữa, việc giải quyết các vụ án trong một số lĩnh vực đặc thù như xây dựng cơ bản, tài chính, ngân hàng, mua sắm công… đòi hỏi nhiều kết quả giám định tài sản, cần chuyên gia có trình độ và điều kiện kỹ thuật. Trong khi đó, phương tiện, quy trình, quy chuẩn giám định ở một số lĩnh vực này hiện nay chưa đáp ứng được yêu cầu; do đó rất khó để bóc tách, xác định mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.

Đặc biệt, hiện nay chúng ta còn có lỗ hổng trong kiểm soát cổng thanh toán quốc tế Paypal, các giao dịch tiền ảo qua hệ thống điện tử… Các cổng thanh toán quốc tế như Paypal, Payoneer, tiền ảo tồn tại dưới dạng mật mã trên máy tính vẫn chưa được cấp giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán. Như vậy, các giao dịch trên cổng thanh toán quốc tế, giao dịch tiền ảo trên hệ thống điện tử đang không chịu sự quản lý của cơ quan nào(5).

2. Khó khăn, bất cập trong việc thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam.

Thứ nhất, việc tiến hành giao dịch tiền mặt phổ biến không chỉgây khó khăn cho việc kiểm soát tài sản, thu nhập của cá nhân, tổ chức mà còn gây khó khăn cho cơ quan chức năng trong việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, cưỡng chế, các đối tượng phạm tội dễ dàng thực hiện việc rửa tiền, tẩu tán tài sản, dẫn đến khó khăn trong thu hồi tài sản tham nhũng.

Thứ hai, việc xác định tổng giá trị tài sản bị thiệt hại do hành vi tham nhũng gây ra trong nhiều trường hợp rất khó khăn vì có những khoản tiền, tài sản không tách bạch được và những khoản tiền, tài sản có được do tham nhũng nhưng đã được thay đổi, tách biệt khỏi hành vi phạm tội. Vì thế, khi tòa án xét xử, quyết định về mức bồi thường thiệt hại thường thấp hơn nhiều so với tổng số thiệt hại mà các đối tượng phạm tội gây ra. Nhiều vụ án có số lượng tài sản thất thoát rất lớn, nhưng số lượng thu hồi không đáng kể. 

Thứ ba, việc thu thập chứng cứ trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử các vụ án tham nhũng thường phức tạp, kéo dài. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử mất rất nhiều thời gian, bị cắt khúc do có sự tham gia của nhiều cơ quan khác nhau, dẫn tới việc các cơ quan có thẩm quyền không kịp thời áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để thu giữ, kê biên tài sản của các đối tượng phạm tội theo đúng quy định pháp luật. Không kịp thời kê biên tài sản trong giai đoạn điều tra, truy tố là nguyên nhân dẫn đến nhiều đại án khó thu hồi tài sản phạm pháp.

Thứ tư, quy định của pháp luật về kê biên tài sản còn bất cập. Theo Điều 128 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, kê biên tài sản chỉ áp dụng đối với bị can, bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tiền hoặc có thể bị tịch thu tài sản hoặc để bảo đảm bồi thường thiệt hại. Việc kê biên tài sản chỉ được áp dụng khi nào đối tượng bị khởi tố bị can hoặc bị đưa đi xét xử, còn trước đó, dù đối tượng bị thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, kể cả trong thời gian khởi tố vụ án nhưng chưa khởi tố bị can cũng đều được miễn trừ trách nhiệm. Đây chính là kẽ hở của pháp luật, tội phạm lợi dụng để tẩu tán, che giấu, hợp lý hóa tài sản phạm tội mà có. 

Thứ năm, quy định về thủ tục, trình tự thu hồi tài sản tham nhũng chưa cụ thể. Luật Thanh tra đã quy định về việc thu hồi tiền, tài sản bị chiếm đoạt, bị sử dụng trái phép hoặc bị thất thoát do hành vi vi phạm pháp luật gây nên. Nhưng hiện nay chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào quy định cụ thể về quy trình, trình tự, thủ tục thu hồi tiền, tài sản. Pháp luật cũng chưa phân định rõ ràng giữa cơ chế thu hồi tiền, tài sản bị chiếm đoạt, bị sử dụng trái phép hoặc bị thất thoát do hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng thanh tra gây nên theo quy định của pháp luật về thanh tra và cơ chế tịch thu tiền, tài sản theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Điều này đã phần nào giảm hiệu quả của công tác thu hồi tiền, tài sản qua hoạt động thanh tra.

Thứ sáu, hợp tác quốc tế trong thu hồi tài sản tham nhũng bị tẩu tán ra nước ngoài còn khó khăn, vướng mắc. Việc thu hồi tài sản tham nhũng ở nước ngoài gặp nhiều khó khăn do sự khác biệt về chế độ chính trị, pháp luật và cơ chế phân công trách nhiệm phòng, chống tội phạm ở mỗi nước. 

Cơ sở pháp lý cho việc hợp tác quốc tế cũng chưa đầy đủ, một số quy định chỉ mang tính nguyên tắc, thiếu các điều khoản cụ thể điều chỉnh hoạt động tương trợ tư pháp. 

Việt Nam đã ký 19 hiệp định song phương về tương trợ tư pháp hình sự, 01 hiệp định khu vực ASEAN và là thành viên của Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC), nhưng việc hoàn thiện cơ sở pháp lý để thực hiện nhiệm vụ này chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra. Luật Tương trợ tư pháp của Việt Nam thiếu quy định chi tiết về thẩm quyền, trình tự, thủ tục phối hợp yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền nước ngoài thực hiện tương trợ tư pháp thu hồi tài sản trong tố tụng hình sự, nhất là quy định liên quan đến phong tỏa, kê biên, thu giữ, tịch thu tài sản và xử lý tài sản do phạm tội mà có(6).

Đối với những vụ án có liên quan đến những quốc gia mà Việt Nam chưa ký kết hiệp định tương trợ tư pháp thì tình hình còn khó khăn hơn. Chẳng hạn, trong vụ án Dương Chí Dũng, Cơ quan điều tra Bộ Công an đã gặp rất nhiều khó khăn trong việc xác định số tiền chênh lệch bị thất thoát trong việc mua ụ nổi 83M bởi thời điểm đó Việt Nam và Nga chưa ký kết hiệp định tương trợ tư pháp nên việc xác định giá trị ụ nổi mà công ty bên Nga bán cho Vinalines không thực hiện được. Cơ quan điều tra chỉ xác định được giá trị mà công ty môi giới AP ở Xinhgapo bán cho Vinalines vì Việt Nam và Xinhgapo có ký kết hiệp định tương trợ tư pháp. Lượng tiền thất thoát mà chúng ta không thể chứng minh và thu hồi lên đến con số 6,7 triệu USD(7).  

3. Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng ở Việt Nam hiện nay.

Thứ nhất, hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý và kiểm soát tài sản, về xác lập quyền sở hữu tài sản, chuyển quyền sở hữu tài sản; xây dựng cơ chế, chính sách để minh bạch hóa về tài sản, tiến tới xây dựng Luật đăng kí tài sản. 

Thực hiện nghiêm túc việc kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức. Đồng thời, xử lý nghiêm các hành vi kê khai không trung thực và kịp thời điều tra nếu có dấu hiệu tham nhũng. 

Quản lý chặt chẽ việc mở tài khoản ngân hàng, yêu cầu cán bộ, công chức, viên chức, người có chức vụ, quyền hạn phải kê khai các tài khoản ngân hàng mà họ sử dụng. Trường hợp phát hiện ra việc cho thuê, cho mượn, sử dụng tài khoản ngân hàng của người khác trái phép thì cần có những biện pháp hành chính, thậm chí hình sự để tránh việc các đối tượng phạm tội nhờ tài khoản ngân hàng của người khác để cất giấu tài sản tham nhũng. 

Ngoài ra, cần phải xác định trách nhiệm pháp lý đối với các tổ chức tín dụng cũng như những người đứng tên tài khoản khi để xảy ra trường hợp cho mượn tài khoản, chuyển tiền hộ, giữ tiền hộ, tiếp tay cho hành vi tham nhũng. Kiểm soát chặt chẽ việc công dân Việt Nam mở tài khoản tại ngân hàng nước ngoài và chuyển tiền ra nước ngoài để hạn chế cơ hội tẩu tán tài sản phạm tội sang các ngân hàng ở các quốc gia có tính bảo mật cao. 

Thứ hai, tăng cường công tác quản lý đất đai, nghiên cứu, xây dựng cơ sở dữ liệu trong các lĩnh vực bất động sản, ngân hàng, chuyển nhượng vốn góp, cổ phần để kiểm soát tài sản chặt chẽ, hạn chế việc tẩu tán, che giấu, hợp thức hóa tài sản do phạm tội mà có, tạo thuận lợi cho công tác thu hồi tài sản tham nhũng.

Hoàn thiện các quy định về thanh toán không dùng tiền mặt, tạo điều kiện theo dõi dòng tiền; quy định về việc phải chứng minh nguồn thu nhập hợp pháp để được mua và đứng tên bất động sản. 

Với những trường hợp nhận chuyển quyền sử dụng, sở hữu bất động sản bằng các giao dịch mua bán, chuyển nhượng mà nguồn tiền không rõ ràng, không minh bạch thì kiên quyết không thực hiện thủ tục. Đối với những tài sản là bất động sản mà không rõ nguồn gốc, không chứng minh được nguồn gốc thì Nhà nước có thể thu hồi, đồng thời chuyển cho cơ quan điều tra xem xét làm rõ hành vi có dấu hiệu tội phạm. 

Tuy nhiên, quy định này chỉ có thể thực hiện khi việc quản lý tài sản trong xã hội được thực hiện chặt chẽ, minh bạch, tránh xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp tài sản của công dân. Đồng thời, khi các tài sản trong xã hội được quy chủ, quản lý chặt chẽ, xác định rõ ràng thì không còn chỗ để cất giấu tài sản tham nhũng. 

Thứ ba, rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án tham nhũng, nhất là các quy định về trình tự, thủ tục thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt; về cơ chế thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt không qua thủ tục kết tội; cơ chế xử lý tài sản bị kê biên, phong tỏa; sớm khắc phục những bất cập, vướng mắc trong kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, thẩm định giá, bán đấu giá tài sản, thành lập, giải thể, phá sản doanh nghiệp. 

Nghiên cứu, rà soát, sửa đổi, bổ sung pháp luật về thanh tra, kiểm toán, phòng, chống rửa tiền, tố tụng hình sự, thi hành án dân sự và các quy định pháp luật liên quan theo hướng bổ sung cho thanh tra viên, kiểm toán viên thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn việc tẩu tán tài sản khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm tham nhũng. Xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể trong việc truy nguyên, truy tìm, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản ngay từ giai đoạn thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử. Cần ban hành các quy định về việc tuyên bố các hợp đồng, giao dịch dân sự vô hiệu do tẩu tán tài sản, thủ tục tuyên bố vô hiệu nhanh gọn, đơn giản và có những án lệ rõ ràng để có thể vận dụng khi phát hiện ra những hiện tượng có dấu hiệu tẩu tán tài sản.

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, phát hiện tham nhũng. Khi phát hiện ra hành vi có dấu hiệu tham nhũng thì cần áp dụng kịp thời các biện pháp ngăn chặn để truy lùng, khoanh vùng, phong tỏa các tài sản có nghi ngờ liên quan đến hành vi tham nhũng. 

Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan điều tra, các cơ quan, tổ chức liên quan để truy tìm và thu hồi tài sản,tránh thất thoát và bị tẩu tán. Sau khi có quyết định khởi tố điều tra, tạm giam, khám xét thì song song với đó cần điều tra, xác minh và phong tỏa tài sản, tài khoản.

Tăng cường ứng dụng công nghệ vào công tác quản lý nói chung và quản lý tài sản nói riêng để kịp thời phát hiện tham nhũng cũng như truy lùng dấu vết tài sản tham nhũng, nhanh chóng tiến hành phong tỏa, kê biên để thu giữ, xử lý theo quy định pháp luật.

Thứ tư, tăng cường hợp tác quốc tế để thu hồi tài sản tham nhũng. Hoàn thiện cơ chế tương trợ tư pháp với các nước để hỗ trợ công tác phát hiện, xử lý và thu hồi tài sản do tham nhũng mà có ở nước ngoài(8)

Việt Nam có thể nghiên cứu xây dựng Luật Tương trợ tư pháp về hình sự, tách khỏi Luật Tương trợ tư pháp năm 2007, trong đó tập trung điều chỉnh vấn đề thu hồi tài sản do phạm tội mà có. Tăng cường ký kết các hiệp định tương trợ tư pháp về hình sự với các nước nhằm tạo cơ sở pháp lý đầy đủ thực hiện các hoạt động tương trợ tư pháp, bao gồm hợp tác thu hồi tài sản do phạm tội mà có. Xác lập cơ chế chia sẻ thông tin, cơ chế phối hợp với các cơ quan có thẩm quyền nước ngoài trong việc thu hồi tài sản có yếu tố nước ngoài.

__________________

(1), (2), (7) Lại Sơn Tùng: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũnghttps://phaply.net.vn/giai-phap-nang-cao-hieu-qua-hoat-dong-thu-hoi-tai-san-trong-cac-vu-an-tham-nhung-a253752.html, truy cập ngày 4-11-2021.

(3) Tạ Hiển: Vì sao tỷ lệ thu hồi tài sản tham nhũng còn thấp?, https://vtv.vn/chinh-tri/vi-sao-ti-le-thu-hoi-tai-san-tham-nhung-con-thap-20211025121416323.htm, truy cập ngày 3-11/--2021.

(4), (5) Nam Kiên, Văn Thư: "TS Trần Văn Độ - nguyên Phó Chánh án TANDTC: Thu hồi tài sản tham nhũng hiệu quả chưa cao, bởi chưa chú trọng cơ chế phòng ngừa và thiếu chặt chẽ trong các biện pháp tố tụng", https://phaply.net.vn/ts-tran-van-do-nguyen-pho-chanh-an-tandtc-thu-hoi-tai-san-tham-nhung-hieu-qua-chua-cao-boi-chua-chu-trong-co-che-phong-ngua-va-thieu-chat-che-trong-cac-bien-phap-chong-tham-nhung-a248300.html, truy cập ngày 3-11-2021.

(6) Bùi Thị Thu Huyền: Thu hồi tài sản tham nhũng: Thực trạng và những vấn đề đặt rahttps://noichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/202108/thu-hoi-tai-san-tham-nhung-thuc-trang-va-nhung-van-de-dat-ra-310008/, truy cập ngày 4-11-2021.

(8) Đặng Văn Cường: Cần có những giải pháp đồng bộ để thu hồi tài sản tham nhũng đạt hiệu quả caohttps://lsvn.vn/can-co-nhung-giai-phap-dong-bo-de-thu-hoi-tai-san-tham-nhung-dat-hieu-qua-cao1629567415.html, truy cập ngày 5-11-2021.


Phê phán những quan điểm sai trái về tự do tôn giáo ở Việt Nam.

(LLCT) - Vấn đề tôn giáo, dân chủ, nhân quyền luôn là tâm điểm mà các thế lực thù địch lợi dụng nhằm chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Bài viết nhận diện một số quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc tự do tôn giáo ở Việt Nam được đề cập trong các Báo cáo thường niên của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF) và một số trang mạng xã hội, đồng thời, đưa ra những bằng chứng để phê phán, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc đó, khẳng định những thành tựu của Nhà nước Việt Nam trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của người dân. 

Những năm qua, do cách nhìn thiên lệch, thiếu thiện chí nên trong các Báo cáo của Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ cũng như trên một số trang mạng luôn có những nhận định sai trái, thiếu khách quan về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam, như: Ở Việt Nam chưa có tự do tôn giáo thật sự, vấn đề tự do tôn giáo ở Việt Nam chưa đạt được quy định của Công ước quốc tế; luật pháp Việt Nam có nhiều điều luật quy định “không rõ ràng” để kiểm soát, hạn chế tự do tôn giáo, sử dụng điều khoản về an ninh quốc gia với các “tội danh mơ hồ” để “đàn áp, hạn chế” tự do tôn giáo; các tôn giáo ở Việt Nam bị buộc im tiếng hay biến thành công cụ của Nhà nước; Nhà nước Việt Nam gây khó khăn cho việc đăng ký và công nhận tổ chức tôn giáo, đặc biệt với các nhóm tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa, vùng các dân tộc thiểu số; chính sách nghĩa vụ quân sự của Nhà nước Việt Nam cản trở quyền tu học của thanh niên Khmer; các nhân vật đấu tranh cho tự do tôn giáo luôn bị nhà nước gây khó khăn trong hoạt động, bị hạn chế đi lại; ở Việt Nam có các “tù nhân lương tâm”, “tù nhân tôn giáo”, .v.v..(1)

Những nhận định trên hoàn toàn mang tính bịa đặt, bóp méo sự thật và xuyên tạc chính sách tự do tôn giáo ở Việt Nam. Trên thực tế, Nhà nước Việt Nam đã tham gia ký kết nhiều văn kiện quốc tế liên quan đến quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo và đã không ngừng nỗ lực bảo đảm quyền tự to tín ngưỡng, tôn giáo cho người dân. 

Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được ghi nhận tại Điều 24 Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Nội dung hiến định này của Việt Nam hoàn toàn tương thích với luật pháp quốc tế(2).

Một số nguyên tắc, chuẩn mực cơ bản về bảo vệ, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo đã được ghi nhận trong các luật và bộ luật quan trọng của Việt Nam như: Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (Điều 9); Bộ luật Hình sự năm 2015 (Điều 116), Luật Giáo dục năm 2019 (Điều 13, 20); Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 (Điều 17); Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, v.v..

Theo đó, luật pháp Việt Nam có quy định rất rõ ràng về quyền và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người dân. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo quy định rõ quyền tự do tin hoặc không tin theo tôn giáo, tự do bày tỏ niềm tin, thực hành nghi lễ tín ngưỡng, tôn giáo, tham gia lễ hội, học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo của mọi người; quyền của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc; quyền tự do tôn giáo của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam. 

Trong thực tiễn, Nhà nước Việt Nam cũng đã và đang nỗ lực để đảm bảo quyền tự do tôn giáo của người dân­. Tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam hiện nay đều được thực hiện các sinh hoạt tôn giáo bình thường tại gia đình và các cơ sở tôn giáo hoặc các địa điểm hợp pháp khác theo nghi lễ truyền thống của tôn giáo mình. Các cá nhân và tổ chức tôn giáo được Nhà nước tạo thuận lợi và đảm bảo điều kiện sinh hoạt tôn giáo bình thường theo quy định của pháp luật như: tạo điều kiện cho các tôn giáo hoàn thiện cơ cấu tổ chức giáo hội; tạo điều kiện về cơ sở thờ tự và sinh hoạt tôn giáo, về kinh sách phục vụ cho việc tu học và hành đạo, về đào tạo, bồi dưỡng chức sắc, người hướng dẫn việc đạo, về mở rộng các mối quan hệ quốc tế, .v.v..

Đến năm 2018, Nhà nước Việt Nam đã công nhận và cấp đăng ký hoạt động cho 41 tổ chức thuộc 16 tôn giáo với 26.689.748 tín đồ, trong đó có 57.716 chức sắc, 130.167 chức việc; các tôn giáo ở Việt Nam có 29.854 cơ sở thờ tự(3) và hơn 60 cơ sở đào tạo, trong đó có 17 trường đào tạo trình độ đại học(4)

Mỗi năm, ở Việt Nam có hàng trăm đầu sách và các ấn phẩm tôn giáo, với hàng triệu bản in được xuất bản phục vụ nhu cầu học tập và tìm hiểu của người dân. Chỉ riêng hai tôn giáo là Công giáo và đạo Tin lành, trong năm 2020 đã xuất bản hơn 1 triệu bản Kinh Thánh. Hiện nay, các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam có 15 tờ báo và tạp chí; hầu hết các tổ chức tôn giáo đều có các trang thông tin điện tử. 

Từ năm 2003 đến năm 2017, có 9.343 cơ sở thờ tự của tôn giáo ở Việt Nam được phục hồi và xây mới(5) đến năm 2020, hầu hết cơ sở thờ tự của các tôn giáo đã được trùng tu, sửa chữa, trong đó có khoảng 1/3 cơ sở được tu sửa ở quy mô lớn. 

Thời gian gần đây, Nhà nước đã tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam đăng cai tổ chức nhiều hoạt động tôn giáo quy mô lớn, mang tầm khu vực và quốc tế, diễn ra trong thời gian dài, như: Công giáo với Lễ Năm thánh 2010 và Hội nghị Liên Hội đồng Giám mục Á châu năm 2012; Phật giáo với Đại lễ Phật đản Vesak các năm 2008, 2014, 2019; đạo Tin lành với Lễ kỷ niệm 500 năm Tin lành cải chính năm 2017 v.v..

Với bất kỳ một quốc gia nào, việc đảm bảo ổn định an ninh, trật tự xã hội, đảm bảo chủ quyền quốc gia cũng luôn phải được đặt lên hàng đầu và quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo phải được đặt trong khuôn khổ pháp luật của nhà nước, phải luôn đi liền với nghĩa vụ bảo vệ quyền và lợi ích của quốc gia, dân tộc. Điều này cũng đã được đề cập đến trong Khoản 3 Điều 18 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác”. 

Như vậy, Công ước Quốc tế đã khẳng định, quyền tự do tôn giáo trên phương diện pháp lý cũng như các quyền khác, đều bị giới hạn bởi khuôn khổ luật pháp. Do đó, ở mỗi quốc gia, quyền tự do tôn giáo sẽ có những giới hạn riêng. Chẳng hạn, Điều 25 Bộ luật Phân ly của Pháp quy định rõ: “Các cuộc họp để cử hành sự thờ phụng được tổ chức trong khuôn viên của một hiệp hội tôn giáo hoặc được tổ chức ở nơi công cộng phải chịu sự giám sát của chính quyền vì lợi ích của trật tự công cộng”. Tháng 3 năm 2004, Quốc hội Pháp đã thông qua đạo luật cấm học sinh các trường công lập mặc quần áo và mang các phù hiệu có “biểu hiện dễ thấy liên quan đến tôn giáo”; tháng 2/2021 Hạ viện Pháp thông qua dự luật chống “ly khai” nhằm ngăn ngừa các hoạt động lợi dụng tôn giáo để thực hiện mưu đồ chia rẽ, ly khai dân tộc. 

Ở Hoa Kỳ, mặc dù không ban bố bất cứ luật hay pháp lệnh riêng nào về tôn giáo, nhưng tất cả các hoạt động tôn giáo đều phải chịu sự điều chỉnh bởi các quy định trong hệ thống luật dân sự. Mỹ không thiết lập bộ máy quản lý riêng về tôn giáo, việc quản lý hoạt động tôn giáo được thực hiện theo từng bang và là công việc của các cơ quan hành chính, nhưng các tổ chức tôn giáo muốn hoạt động đều phải đăng ký với chính quyền và phải đảm bảo những điều kiện nhất định theo quy định của luật pháp. Hoạt động của các tổ chức tôn giáo trên địa bàn phải tuân thủ luật pháp và được giám sát trực tiếp bởi các cơ quan của chính quyền bang. Ở Đức, giáo sĩ Công giáo khi nhậm chức phải tuyên thệ tôn trọng chính phủ hợp hiến, tôn trọng lợi ích của nước Đức, v.v.. 

Như vậy, rõ ràng quyền tự do tôn giáo là có giới hạn và tùy thuộc vào luật pháp của mỗi quốc gia. Do đó, không thể đem quan niệm về tự do tôn giáo ở một quốc gia áp dụng cho tất cả các quốc gia, không thể đem những giá trị và tiêu chuẩn về tự do tôn giáo ở quốc gia này để đánh giá quyền tự do tôn giáo ở một quốc gia khác.

Ở Việt Nam, Điều 5, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã quy định rõ những hành vi và những hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng bị nghiêm cấm gồm: “1. Phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; 2. Ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo; 3. Xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo; 4. Hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo: a) Xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường; b) Xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; c) Cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; d) Chia rẽ dân tộc; chia rẽ tôn giáo; chia rẽ người theo tín ngưỡng, tôn giáo với người không theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa những người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau; 5. Lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo để trục lợi”. 

Những quy định này nhằm đảm bảo trật tự, an ninh công cộng, đảm bảo các quyền cơ bản của con người cũng như quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người dân, đảm bảo chủ quyền quốc gia, dân tộc. Điều luật này tuân thủ Điều 14 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013(6) và cũng hoàn toàn phù hợp với Điều 18 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị. 

Nhận định cho rằng, Nhà nước Việt Nam gây khó khăn cho việc đăng ký và công nhận tổ chức tôn giáo, đặc biệt với các nhóm tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa, vùng các dân tộc thiểu số là nhận định rất thiếu tính khách quan. Thực tế, Nhà nước Việt Nam đã cấp đăng ký hoạt động và công nhận cho 311 chi hội, 1.742 điểm nhóm của đạo Tin lành ở Tây Nguyên, 14 chi hội và 797 điểm nhóm Tin lành ở khu vực miền núi phía Bắc. Điều này đã được thừa nhận trong Báo cáo thường niên năm 2020 của Ủy ban tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ(7). Ngoài ra, các tổ chức của Công giáo, Phật giáo, Hồi giáo, Bàni giáo, Bàlamon giáo, ... cũng được Nhà nước Việt Nam thừa nhận và được tự do hoạt động trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số theo đạo (tổ chức của Công giáo, Phật giáo được thừa nhận và hoạt động trong vùng dân tộc thiểu số ở các khu vực Tây Nguyên, miền núi phía Bắc, Tây Nam Bộ; tổ chức của Bàlamon giáo, Bà ni giáo, Hồi giáo được thừa nhận và hoạt động trong cộng đồng người Chăm).

Luận điệu cho rằng, một số hội, nhóm tôn giáo ở vùng dân tộc thiểu số chưa được thừa nhận như: “Hội thánh Tin lành đấng Christ”, “Hội thánh truyền giảng Phúc âm”, “Hội thánh Đề ga quốc tế”,... đang bị chính quyền Việt Nam sách nhiễu cũng là những luận điệu hoàn toàn sai sự thật. Thực chất các tổ chức nói trên đang núp bóng hoạt động tôn giáo để âm mưu chống phá nhà nước Việt Nam, gây chia rẽ đoàn kết dân tộc. “Hội thánh Đề ga quốc tế” với những nhân vật chủ chốt như Ksok Kơk, Brạ Su Kbông ở Mỹ và Rah Lan Ngol, Y Wi Ksơn (A ma Trương) ở Việt Nam đã từng gây nên các vụ biểu tình và bạo loạn chính trị năm 2001, 2004 và nhiều cuộc biểu tình những năm sau đó với mưu đồ thành lập “Nhà nước Đề ga tự trị” ở khu vực Tây Nguyên. Người đứng đầu và nhóm cốt cán của các nhóm “Giáo hội Tin lành Đấng Christ Việt Nam”, “Cây Thập giá Chúa Jêsu Krits” và “Hà Mòn” ở Tây Nguyên đều rất có ý thức tạo dựng các hiện tượng này trở thành đạo Tin lành mới và Công giáo mới của các dân tộc thiểu số trên địa bàn, còn gọi là “Tin lành Đề ga” và “Công giáo Đề ga” - được hứa hẹn là quốc giáo của “Nhà nước Đề ga”, thể hiện rõ ràng chủ nghĩa ly khai, phục vụ mưu đồ chính trị của các thế lực phản động nhằm chống phá Nhà nước Việt Nam.

Nhận định cho rằng, chính sách nghĩa vụ quân sự của Nhà nước Việt Nam cản trở quyền tu học của thanh niên Khmer là hoàn toàn không có căn cứ. Chính sách nghĩa vụ quân sự của Việt Nam áp dụng cho tất cả mọi công dân Việt Nam không phân biệt dân tộc, tôn giáo và trên thực tế khi thực hiện chính sách này cũng hoàn toàn không cản trở quyền tu học của thanh niên Khmer. Theo truyền thống, nam thanh niên Khmer từ 13, 14 tuổi trở lên có thể vào chùa tu học trong một thời gian (thời gian dài hay ngắn là tùy thuộc vào điều kiện của mỗi người) và mỗi người đàn ông Khmer có thể vào chùa tu nhiều lần trong đời. Nhà nước Việt Nam tôn trọng truyền thống tu học của thanh niên Khmer và không hề có cản trở nào gây khó khăn cho việc nhập tu và xuất tu của thanh niên Khmer. Thậm chí, Nhà nước Việt Nam còn hết sức tạo điều kiện cho công tác giáo dục, đào tạo của hệ phái Phật giáo Nam tông và cho việc tu học, nâng cao trình độ Phật học và thế học cho thanh niên Khmer. Bằng chứng là, Nhà nước khuyến khích các chùa và các sư tăng Khmer mở các lớp dạy ngôn ngữ, dạy chữ Pali cho người Khmer; quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho trường Trung cấp Pali (đặt tại thành phố Sóc Trăng) được duy trì hoạt động, phát triển; cấp đất, đầu tư kinh phí cho việc xây dựng Học viện Phật giáo Nam tông; tạo cơ chế đặc thù cho Phật giáo Nam tông trong đào tạo nâng cao trình độ thế học cho sư tăng (ưu tiên cho các cơ sở giáo dục của Nhà nước liên kết với hệ phái Phật giáo Nam tông mở các lớp đào tạo trình độ đại học và sau đại học cho sư tăng Phật giáo Nam tông Khmer), v.v..   

Về nhận định cho rằng, Nhà nước Việt Nam hạn chế quyền tự do đi lại của một số chức sắc tôn giáo, gây khó khăn cho việc phân công, chuyển giao công việc giữa các chức sắc tôn giáo, thực tế là một số chức sắc đã lợi dụng tự do tôn giáo để tuyên truyền sai sự thật về chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam, gây chia rẽ mất đoàn kết trong nội bộ Công giáo, chia rẽ đoàn kết dân tộc, lợi dụng hoạt động tôn giáo để chống chính quyền, xuyên tạc lịch sử Việt Nam. Hoạt động của các chức sắc này đã vi phạm đường hướng hành đạo của Hội đồng Giám mục Việt Nam(8), vi phạm ở những mức độ nhất định các nội dung trong mục a và d, khoản 4, Điều 5, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo. Do đó, các nhân vật nói trên đã bị Giáo hội Công giáo điều chuyển vị trí công tác. Vì vậy, những luận điệu cho rằng, Nhà nước Việt Nam hạn chế quyền tự do đi lại hay gây khó khăn cho việc phân công và chuyển giao công việc giữa các chức sắc tôn giáo chỉ là những luận điệu xuyên tạc, vu cáo nhằm chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Ở Việt Nam, mọi người dân nếu vi phạm pháp luật đều bị xử lý theo pháp luật, không có sự phân biệt về niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng. Một số nhân vật được nhắc tên trong các Báo cáo thường niên của Ủy ban tự to tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ cũng như trên một số diễn đàn xã hội, được gọi là “tù nhân lương tâm”, “tù nhân tôn giáo” thực chất là những công dân Việt Nam có hoạt động chống đối Nhà nước, xâm phạm an ninh quốc gia, hoặc nhân danh tôn giáo vi phạm các quy định của pháp luật Việt Nam nên đã bị xử lý theo quy định. Điều này cũng hoàn toàn bình thường, giống như ở nhiều nước phương Tây đã từng có rất nhiều người bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì có hành vi nhân danh tôn giáo, vượt qua những giới hạn cho phép của luật pháp.

Có thể nói, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã và đang nỗ lực nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng tôn giáo cho mọi người dân. Tuy nhiên, các thế lực thù địch và một số phẩn tử phản động trong tôn giáo đang cố tình phớt lờ những nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta, phớt lờ những thành tựu về tự do tôn giáo ở Việt Nam. Họ đã và đang lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước, chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Những luận điệu xuyên tạc tự do tôn giáo ở Việt Nam là nằm trong mưu đồ của các thế lực chính trị phản động, muốn lợi dụng các vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo như những công cụ mềm để đưa Việt Nam vào quỹ đạo ảnh hưởng, phục vụ cho lợi ích của các nước lớn, gây sức ép, “mặc cả” Việt Nam đánh đổi các vấn đề về chính trị và lợi ích kinh tế trong quan hệ quốc tế và từng bước cải cách Việt Nam theo hướng tự do, dân chủ theo kiểu phương Tây, từ đó chuyển hóa chế độ chính trị của Việt Nam hoặc có thể tạo cớ công khai can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta. Do đó, các tầng lớp nhân dân cần tỉnh táo nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; thực hiện tốt chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, tạo sự ổn định để phát triển đất nước theo mục tiêu mà dân tộc ta đã lựa chọn.

__________________

(1), (7) Xem: United States Department of State, Office of International Religious freedom, Vietnam international religious freedom report (2018, 2019, 2020), https://www.state.gov/wp-content/uploads/VIETNAM-INTERNATIONAL-RELIGIOUS-FREEDOM-REPORT.pdf hoặc: https://www.state.gov/reports/-report-on-international-religious-freedom/vietnam.

(2) Điều 2, Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người của Liên hợp quốc (UDHR) năm 1948 có ghi: “Mọi người sinh ra đều được hưởng tất cả các quyền và tự do không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội”.

Điều 18, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) năm 1966: 

1. Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn giáo. Quyền này bao gồm tự do có hoặc theo một tôn giáo hoặc tín ngưỡng do mình lựa chọn, và tự do bày tỏ tín ngưỡng hoặc tôn giáo một mình hoặc trong cộng đồng với những người khác, công khai hoặc kín đáo, dưới các hình thức như thờ cúng, cầu nguyện, thực hành và truyền giảng.

2. Không ai bị ép buộc làm những điều tổn hại đến quyền tự do lựa chọn hoặc tin theo tôn giáo hoặc tín ngưỡng của họ.

(3) Bộ Nội vụ: Danh mục các tổ chức tôn giáo được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo tính đến tháng 12-2020; Ban Tôn giáo Chính phủ, Báo cáo tổng kết tình hình công tác tôn giáo năm 2019 và phương hướng nhiệm vụ công tác năm 2020 (tháng 01-2020).

(4) Ban Tôn giáo Chính phủ: Báo cáo Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW (2003-2018), Hà Nội, 2018.

(5) Ban Dân vận Trung ương: Số liệu thống kê tôn giáo (tính đến tháng 3-2017), Tài liệu lưu trữ, Hà Nội, 2017.

(6) Điều 14, Hiến pháp năm 2013: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng”

(8) Đường hướng hành đạo của Hội đồng Giám mục Việt Nam được xác định trong Thư Chung năm 1980: “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào”.

Lợi dụng các vụ án “nóng” để xuyên tạc, bôi nhọ thể chế


Những ngày cuối tháng 3, cơ quan tiến hành tố tụng đã khởi tố, điều tra hai vụ án hình sự liên quan đến những cá nhân nổi tiếng cả về kinh tế và sự ảnh hưởng trong đời sống xã hội, dư luận đặc biệt quan tâm.

ĐÔI LỜI VỚI DIỄN VIÊN TÙNG DƯƠNG

 

Đã từng rất thích xem phim của diễn viên Tùng Dương đóng, nhưng quả thật khi thấy cậu ấy phát ngôn thế này thì thật đáng buồn.

Cụ thể là trên trang facebook của mình, diễn viên Tùng Dương cho rằng: "Ngành dục hiện nay nên loại bỏ câu Học, học nữa, học mãi". Thử hỏi nếu không được học hành và cũng chẳng theo đuổi ước mơ thì cậu có thành công được như vậy hay không? Có thể trở thành diễn viên được nhiều người biết đến như cậu hay không?

Trong khi cậu được xã hội ưu ái cho việc tạo điều kiện thuận lợi cho việc học, thì ở vùng xâu, vùng xa, nhiều bậc giáo viên đang rất vất vả  đưa con chữ đến với các em học sinh nghèo. Dù khó khăn nhưng nhiều em đã rất nỗ lực học hành và đạt những thành tích nhất định. Sự nỗ lực ấy chính là nhờ vào câu nói "Học, học nữa, học mãi", cậu khuyên nên giáo dục bỏ câu nói này cũng chính là đang khuyên các em học sinh ấy đừng nỗ lực trong học tập nữa đấy.

Câu “Học, học nữa, học mãi ” khuyên ta phải dốc hết sức mình vào việc học, luôn luôn học hỏi những điều chưa biết để mở rộng thêm con đường dẫn đến thành công. Chứ không có ý là phải tạo quá nhiều áp lực cho người học và bắt các em học sinh phải học như những cỗ máy.

Có thể cậu nghe được thông tin về một cháu học sinh tự tử do áp lực của việc học, nhưng thực sự cậu đã nhầm khi so sánh sự việc này với câu nói trên. 

Chúng tôi từng là những người đưa đò và hơn ai hết, chúng tôi hiểu được ý nghĩa của câu "Học, học nữa, học mãi!". Cậu là một diễn viên, tôi mong cậu hãy suy nghĩ lại câu mà cậu đã phát ngôn, đừng để người khác phê bình.

 

Các bị can vụ án tại Cục Lãnh sự 'bước đầu nhận tội'

Trung tướng Tô Ân Xô cho biết các bị can trong vụ án tại Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao đã bước đầu nhận tội, phối hợp với cơ quan điều tra.

"Cơ quan điều tra khẳng định có hành vi lợi dụng chính sách để trục lợi trong vụ án này", Chánh văn phòng, người phát ngôn Bộ Công an, nói tại cuộc họp báo Chính phủ thường kỳ tối 4/4.

Theo ông, hoạt động trong vụ án rất tinh vi, số người tham gia đông, phạm vi rộng cả trong và ngoài nước, gồm một số cơ quan, ban ngành Trung ương và địa phương. Đặc biệt, vụ án xảy ra trong thời gian dài, nghi can "đối phó rất quyết liệt khiến cơ quan điều tra tốn thời gian điều tra, xác minh".

"Cơ quan điều tra đang mở rộng vụ án, tiếp tục làm việc với một số cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, địa phương có liên quan để làm rõ bản chất vụ việc", ông Xô nói, cho hay, "thời gian tới, sẽ có những bước đột phá mới trong vụ án này".

Người phát ngôn Bộ Công an đề nghị cá nhân, tổ chức nếu có thông tin, tài liệu liên quan thì chủ động cung cấp cho cơ quan an ninh điều tra Bộ Công an.

Trung tướng Tô Ân Xô, Chánh Văn phòng, người phát ngôn Bộ Công an. Ảnh: Nhật Bắc

Trung tướng Tô Ân Xô, Chánh Văn phòng, người phát ngôn Bộ Công an. Ảnh: Nhật Bắc

Từ khi Covid-19 bùng phát, Việt Nam đã tổ chức gần 800 chuyến bay, đưa hơn 200.000 công dân từ hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ về nước. Khi các chuyến bay được mở, nhiều người dân phải mua vé giá rất cao và thủ tục phức tạp.

Ngày 28/1, Cơ quan An ninh điều tra (Bộ Công an) khởi tố, bắt bà Nguyễn Thị Hương Lan (48 tuổi, Cục trưởng Lãnh sự Bộ Ngoại giao) cùng ba người của Bộ này là Đỗ Hoàng Tùng (42 tuổi, Phó Cục Lãnh sự); Lê Tuấn Anh (40 tuổi, Chánh văn phòng Cục Lãnh sự); Lưu Tuấn Dũng (35 tuổi, Phó phòng Bảo hộ công dân Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao). Cả bốn bị điều tra tội Nhận hối lộ.

Họ bị cáo buộc có hành vi "trục lợi cá nhân" khi xét duyệt cấp phép cho một số công ty thực hiện chuyến bay đưa công dân Việt Nam về nước.

Ngày 25/3, Nguyễn Diệu Mơ, 42 tuổi, Tổng giám đốc Công ty TNHH Thương mại du lịch và Dịch vụ hàng không An Bình, bị khởi tố, tạm giam với cáo buộc đưa hối lộ trong việc tổ chức chuyến bay giải cứu.

Em gái ông Trịnh Văn Quyết bị bắt

 Ngày 4/4, trung tướng Tô Ân Xô, Chánh văn phòng, người phát ngôn Bộ Công an, cho biết, bà Huế bị khởi tố, tạm giam về tội Thao túng thị trường chứng khoán. Đây là diễn biến mới khi Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an (C01) điều tra vụ thao túng thị trường chứng khoán và che giấu thông tin trong hoạt động chứng khoán xảy ra tại Tập đoàn FLC.

Trục lợi từ đất công

Tôi từng tiếp cận với các hồ sơ kêu oan sai của dân về bồi thường giải phóng mặt bằng phố Xã Đàn - con đường thuộc nhóm "đắt nhất hành tinh" ở Hà Nội.

Lần đó, người bán nước ven đường gửi hồ sơ cho tôi kèm chia sẻ: "Dân chúng tôi không được gì đâu, tất cả kịch bản đều do cơ quan quản lý dựng lên để kiếm lợi, nói thẳng là tham nhũng, theo kiểu ‘mượn gió bẻ măng’".

Khu vực vốn là đất nông nghiệp nay đã thành phố xá sầm uất nhưng "làm gì còn ai được ở lại, tôi cũng chỉ mượn vỉa hè kiếm sống", bà nói.

Tôi đọc kỹ hồ sơ, các dấu hiệu tham nhũng trong quá trình bồi thường để giải phóng mặt bằng là khá rõ nhưng chứng cứ không đủ. Đành chịu.

Ở Hà Nội, nhiều con đường "đắt nhất hành tinh" như vậy đã xuất hiện, vì tiền bồi thường giải phóng mặt bằng chiếm tới 80-90% kinh phí dự án, tiền xây dựng đường chỉ mất 10-20%. Giá trị đất đai tăng thêm do hạ tầng mang lại đang nằm trong túi "người dân" ở xa về định cư trên mặt phố, và cũng có thể nằm trong túi cán bộ quản lý khi gắn với lợi ích nhóm, mà họ hay mượn ý kiến của dân để cố tình đưa kinh phí bồi thường lên quá cao.

Lý thuyết kinh tế học cổ điển đã chỉ ra rằng đất đai có vai trò đặc biệt quan trọng để mỗi nước biết sử dụng mà tạo nên sự thịnh vượng cho mình. Nhiều quốc gia trở thành đất nước giàu có cũng do biết quản lý đất đai, để biến được giá trị của đất thành giá trị cho con người. Ai cũng sinh ra trên đất, cuộc sống gắn với đất và giàu lên từ đất.

Nói và nghĩ là vậy, nhưng làm thế nào để giàu lên từ đất lại là một câu chuyện phức tạp. Ai cũng biết rằng đất là quan trọng để làm ra tiền, nhưng đều thống nhất, con người phải được bình quyền về đất đai. Điểm mấu chốt là phân phối giá trị làm ra từ đất thế nào để đạt được sự công bằng đúng nghĩa, thể hiện ở chỗ phần nào thuộc nhà nước, phần nào thuộc cộng đồng và phần của riêng cá nhân. Nhưng con người vốn luôn muốn co kéo lợi ích chung thành của riêng. Các cụ xưa đã nói "Trống làng ai đánh thì thùng/ Của chung ai khéo vẫy vùng thành riêng".

Một bài viết ngắn khó có thể nói hết mọi kiểu chuyển giá trị đất đai không phải do mình làm ra thành của mình, đang phổ biến khắp nơi ở nước ta. Tôi chỉ muốn đề cập đến hai cách phổ cập nhất hiện nay: một là giá trị đất đai tăng thêm do đầu tư của nhà nước tạo ra nhưng không thu lại được, rơi vào túi tư nhân; hai là làm tiền cho tư nhân từ hình thức dự án "chia lô, bán nền", khiến nền kinh tế quốc gia bị thiệt hại quá nặng.

Việt Nam từ một nước thiếu lương thực trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, kết quả của sự mạnh dạn đáng kể khi dám tiếp nhận chính sách giao đất của hợp tác xã cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài. Thế nhưng việc xác lập quyền sử dụng đất để xác định giá trị đất đai theo thị trường lại quá chậm chạp. Đến Luật Đất đai 2003, Việt Nam mới thừa nhận giá trị đất đai do thị trường xác lập. Như vậy, chúng ta cần tới 14 năm (kể từ Đổi mới 1986) để nhận thức sự thiệt hại của nhà nước do coi giá trị đất đai quá thấp, trong khi người dân vẫn giao dịch đất đai theo giá trị thị trường.

Khi Luật sửa đổi, bổ sung năm 1996 cho phép các tổ chức kinh tế có quyền tham gia giao dịch trên thị trường quyền sử dụng đất ở, đất công nghiệp để phát triển kinh tế, một hiện tượng dễ thấy là mọi quy hoạch mới, mọi đô thị mới, mọi dự án phát triển hạ tầng đều làm cho giá trị đất đai quanh đó tăng lên nhiều lần. Giá đất tăng lên như vậy không do các chủ sử dụng đất ở đó tạo ra mà hầu hết là do đầu tư của nhà nước mang lại.

Trước thực tế này, Luật Đất đai 2003 có một quy định mang tính triết lý chung "Nhà nước có chính sách thu lại giá trị đất đai tăng thêm không do đầu tư của người sử dụng đất tạo ra", nhưng không có một nghị định nào của Chính phủ ban hành các chính sách cụ thể để điều tiết giá trị đất đai tăng thêm này. Câu chuyện đó vì thế vẫn chỉ nằm yên trong luật cho đến khi Luật Đất đai 2003 hết hiệu lực thi hành.

Đà Nẵng là địa phương hiếm hoi thực hiện được chính sách thu lại giá trị đất đai tăng thêm không do đầu tư của người sử dụng đất, khi thành phố phát triển hạ tầng đô thị tại các xóm nghèo của ngư dân giữa sông Hàn và bãi biển Mỹ Khê để tạo dựng trung tâm thành phố mới. Ngư dân được tái định cư tới các làng chài mới có điều kiện sống tốt hơn. Sau đó, chính quyền thu toàn bộ giá trị đất đai tăng thêm tại các khu đô thị mới và đầu tư nâng cấp hạ tầng đô thị Đà Nẵng cũ.

Các địa phương khác vẫn im lặng làm theo lối cũ.

Tình trạng trục lợi từ đất công còn diễn ra qua việc "chia lô bán nền" trái pháp luật. Đất rừng, đất nông nghiệp, đất thổ cư, đất vườn đều làm giả hạ tầng đường sá, rồi chia lô đem ra bán trên thị trường như đất ở, thu lợi bất chính cho tư nhân. Chuyện này xảy ra ở khắp các địa phương, rất phổ biến, từ vùng nông thôn cho tới các đô thị lớn.

Cơ chế chia lô bán nền đã bị nghiêm cấm trong Nghị định 181 (2004) hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2003. Nhiều địa phương có ý kiến là nên hạn chế thôi, không nên cấm. Chính phủ đã đồng ý cho áp dụng tại vùng nông thôn và các thị trấn tại Nghị định 84 (2007). Luật Đất đai 2013 lại nới rất rộng, cho phép thực hiện dự án tại cả các khu vực giáp trung tâm của các đô thị lớn.

Trên thực tế, các nhà quản lý chỉ xem xét vấn đề "chia lô bán nền" làm mất nét đẹp cảnh quan đô thị. Nhưng đây là một cơ chế phát triển đất đai làm ảnh hưởng tiêu cực tới nền kinh tế. Khi cho phép chia lô bán nền rộng rãi, phân khúc nền đất luôn luôn bị sốt giá. Tiền của dân đầu cơ vào các nền đất là chính, đồng tiền ấy nằm yên chờ tăng giá vì không được đầu tư thêm để phát triển bất động sản trên đất. Đấy là những đồng tiền chết gây sốt giá ảo, tạo nên một phần lạm phát kinh tế.

Ở Việt Nam, ai cũng hiểu giá trị đất đai tăng thêm trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội không thu về được ngân sách nhà nước, nó nằm trọn trong túi nhóm người giàu. Nhóm đa số người thu nhập thấp, người nghèo vẫn bươn bả mà không thể đủ tiền để tìm được chỗ ở cho mình.

Khoảng cách giàu - nghèo vốn đã xa ngày càng xa hơn, một phần do phân phối không minh bạch giá trị đất đai tạo ra.

Tay trắng chạy loạn

 

Đêm 24 tháng 2, tên lửa hành trình bắn liên tục và Kiev. Sáng hôm sau, cả gia đình tôi chỉ kịp vơ vội vài thứ lặt vặt, cùng anh em chạy xe ra biên giới. Hành trang tôi mang theo chỉ có một bộ quần áo trên người.

Hôm nay, tôi tỉnh giấc ở Đức, định thần lại, ngỡ rằng bốn mươi ngày qua chỉ là giấc mơ. Nhưng giấc mơ ấy có thật. Đó là biến cố kinh hoàng trong cuộc đời tôi và đối với cả chục nghìn người Việt định cư tại Ukraine. Tất cả phải rời bỏ mảnh đất được xem như tổ quốc thứ hai vì sự an nguy của gia đình.

Cho đến lúc này, hầu hết bà con người Việt tại Ukraine đã sang nhiều nước châu Âu an toàn. Một số rất ít, vì những lý do bất khả kháng, còn ở lại Ukraine.

Riêng gia đình tôi đã trải qua hành trình vất vả kéo dài 4.000 km, qua năm quốc gia để đến trại tị nạn ở ngôi làng Trossingen, Stuttgart, Đức. Ở nơi đâu, người Việt tị nạn cũng nhận được sự giúp đỡ của những cá nhân, tổ chức, hội nhóm hội đồng hương tại châu Âu.

Đúc kết "sểnh nhà ra thất nghiệp" của tổ tiên đúng với hoàn cảnh của người Việt tại Ukraine lúc này. Chúng tôi hầu hết ra đi với hai bàn tay trắng, bỏ lại cơ nghiệp gây dựng gần cả đời tại Ukraine. Tương lai bất định. Tài sản còn lại chỉ là tinh thần yêu thương đùm bọc lẫn nhau giữa đồng bào.

Đầu tháng 3, gia đình hai cháu Trung Hằng tiếp đón chúng tôi ở Berlin, như đã đón rất nhiều đoàn bà con đến từ Kiev thời gian qua. Các cháu có bốn con nhỏ nhưng không nề hà hỗ trợ đồng bào chờ nhập trại.

Gia đình hai cháu Vũ Mai đón chúng tôi về thêm bốn ngày, chăm lo sức khoẻ cho cả nhà tôi. Các cháu đưa tôi ra chợ Đồng Xuân ở Berlin. Nơi đây, tôi tận mắt chứng kiến những nhóm kiều bào tại Đức làm công tác thiện nguyện giúp đỡ đồng hương lánh nạn.

Đội thiện nguyện người Việt của chị Phạm Quỳnh Nga hướng dẫn gia đình tôi lấy vé miễn phí ở nhà ga Berlin, đưa thức ăn cho chúng tôi mang theo lên tàu. Sau năm giờ chuyển bánh, gia đình tôi có mặt ở Philipburg. Gia đình người bạn nằm chung giường tầng thời còn đi học ở Việt Nam ra tận nhà ga đón. Chúng tôi lại như thời sinh viên 37 năm trước, chia nhau từng chuyện buồn vui, từng điếu thuốc, bát cơm, viên thuốc.

Vợ chồng bạn lo lắng mọi việc để hỗ trợ gia đình tôi nhập trại. Sau chín ngày làm thủ tục bước đầu, chúng tôi được chuyển về Tuttlingen, cách nơi tiếp nhận gần 200 km. Từ đó, chúng tôi mới tới được Trossingen. Đây là căn cứ của lính Mỹ cũ, được chính quyền Đức tu sửa lại, dùng cho những người lánh nạn đến từ Ukraine.

Bạn bè mang tới từng vật dụng sinh hoạt thiết yếu, giúp gia đình tôi ổn định trong lúc chờ thủ tục. Tình cảm thể hiện qua những cái vỗ vai và bắt tay thật chặt. Niềm xúc động giấu kín, chìm sâu tận đáy lòng những người đàn ông tóc đã điểm bạc.

Nhiều chục năm qua, người Việt ở Ukraine tự làm chủ, thực hiện nhiều hoạt động thiện nguyện ở cả Ukraine và Việt Nam. Giờ đây, chúng tôi lại phải ngồi chờ những đồng trợ cấp xã hội. Tinh thần tương thân tương ái từ đồng bào chính là liều thuốc an ủi cho mặc cảm tủi thân, phải sống phụ thuộc cũng như làm vợt bớt nỗi đau rời xa quê hương thứ hai.

Lời nói không mô tả hết tình người "máu chảy ruột mềm". Dân tị nạn tay trắng chạy loạn như chúng tôi chỉ biết ôm vào lòng hai chữ cảm tạ. Giữa ly loạn, người Việt thể hiện đúng tinh thần đoàn kết như trong chiến tranh của dân tộc mình trước đây, giữ vững quả cảm, nhường cơm sẻ áo, cùng nhau thoát cảnh hiểm nghèo.

Tôi và bà con người Việt tại Ukraine buồn bã khi hàng ngày phải đọc những con số khô khan, thống kê thiệt hại về người và khí tài từ hai chiến tuyến. Không có người thắng kẻ thua, chiến tranh mang tới nỗi đau, nỗi thống khổ và đổ máu cho cả hai phía.

Tôi chỉ muốn cuộc chiến sớm kết thúc, để chúng tôi được trở về bên dòng Dnhep thơ mộng, bên những người dân bản xứ hiền hậu. Chúng tôi muốn hòa bình.

Nâng lương

 

Là một trong số ít công dân TP HCM không bị ảnh hưởng thu nhập đợt dịch bệnh vừa qua, tôi hiểu rằng sự may mắn của mình có thể không kéo dài mãi.

Đã lâu tôi và bạn bè không đi du lịch, số lần "vung tay" mua sắm cũng giảm đi đáng kể. Chúng tôi đắn đo hơn khi quyết định mua những món đồ mà trước giờ "không phải nghĩ". Cân nhắc trước khi mua sắm trở thành bình thường mới của những công dân bình thường như chúng tôi.

Kỳ vọng thu nhập giảm trong tương lai có thể khiến người dân chi tiêu ít hơn ở hiện tại - là một trong những lý thuyết cơ bản về thị trường.

Tổng Cục Thống kê vừa công bố Báo cáo kinh tế - xã hội quý I/2022: Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng chỉ tăng 4,4% so với cùng kỳ. Từ 2019 trở về trước, khi nền kinh tế Việt Nam chưa chịu ảnh hưởng bởi Covid-19, tổng mức bán lẻ quý một hàng năm tăng xung quanh 10%. Mức tăng 4,4% quý I/2022 dựa trên một nền tảng thấp, khi mức tăng quý I của hai năm 2021 và 2020 cũng chỉ quanh mức 5% - do đó, càng trở nên đáng lo ngại.

Ngành bán lẻ Việt Nam từng tăng trưởng ổn định ở mức hai chữ số suốt nhiều thập kỷ. Bán lẻ là ngành thúc đẩy sản xuất kinh doanh, bất động sản thương mại, bất động sản công nghiệp..., kéo theo lao động và đầu tư, giúp nền kinh tế vận hành liền mạch, giảm thiểu đổ vỡ, đứt gãy do khủng hoảng gây ra. Nhưng bán lẻ cũng là ngành nhạy cảm cao với những biến động kinh tế, bởi nó liên quan trực tiếp đến thu nhập khả dụng (phần thu nhập sử dụng vào chi tiêu hàng ngày) của người dân.

Doanh số bán lẻ sụt giảm, hoặc tăng nhẹ, không chỉ bởi phong tỏa, đóng cửa các cửa hàng, mà còn từ những e ngại, tằn tiện hơn trong chi tiêu của người dân. Nói cách khác, nguyên nhân đến từ cả phía cung và cầu.

Trong nỗ lực vực dậy nền kinh tế sau đại dịch Covid-19, bên cạnh kế hoạch nới giờ làm thêm của người lao động từ mức 40 giờ lên 60 giờ mỗi tháng, Bộ Lao động và Thương binh, Xã hội vừa đề xuất kế hoạch nâng lương tối thiểu từ tháng 7/2022. Đây là chính sách tác động tới phía cung.

Về phía cầu, mức lương tối thiểu hiện tại đã bị trì hoãn điều chỉnh suốt hai năm, khiến nó trở nên lạc hậu khi giá cả không ngừng tăng. Tính toán của Viện Công nhân và Công đoàn, riêng năm 2021, khoảng cách giữa lương tối thiểu và mức sống tối thiểu tiếp tục tăng hơn 10%. Lần điều chỉnh gần nhất đầu năm 2020, mức lương vùng I (cao nhất trong 4 vùng) là 4,42 triệu đồng, chưa đáp ứng mức sống thấp nhất và chỉ bằng 59% lương đủ sống, theo khảo sát của Trung tâm nghiên cứu quan hệ lao động.

Hầu hết lao động muốn duy trì mức sống tối thiểu, đều phải làm tăng ca hoặc kiêm nhiệm các công việc ngoài giờ khác.

Nâng lương tối thiểu sẽ tác động trực tiếp lên chi phí của mỗi doanh nghiệp, do lương tối thiểu được nhiều doanh nghiệp lấy làm cơ sở đóng các khoản bảo hiểm, lệ phí cho người lao động. Không một doanh nghiệp nào muốn điều đó. Mức giá của lao động được đẩy lên cao cùng với năng suất lao động (trong ngắn hạn) hầu như không đổi khiến doanh nghiệp chịu nhiều sức ép. Tuy nhiên, mức lương cao hơn cho phép doanh nghiệp có nhiều lựa chọn hơn với người lao động, do đó có quyền lựa chọn được người có tay nghề, kỹ năng lao động tốt hơn.

Nâng lương tối thiểu cũng giúp người lao động có thể sống đủ với thời gian lao động vừa phải, để tái tạo sức lao động, chăm sóc bản thân, gia đình và con cái. Việc tái tạo sức lao động, chăm sóc bản thân hay gia đình, thực ra đều trực tiếp tác động lên sức mua của nền kinh tế.

Mỗi người dân bớt đắn đo khi mua một chiếc áo đẹp, hay vào nhà hàng để thưởng thức những bữa ăn ngon, đăng ký một tour du lịch... đều đóng góp tích cực vào nền kinh tế, giúp tạo thêm công ăn việc làm cho công nhân may mặc, đầu bếp, hay hướng dẫn viên du lịch... Nhu cầu hàng hóa và dịch vụ đủ cao, ngay lập tức sẽ tác động ngược lại đến sản xuất kinh doanh theo đúng cơ chế thị trường mà không cần một bàn tay can thiệp nào của Nhà nước. Khi việc xuất khẩu trở nên khó khăn do tình hình địa chính trị phức tạp, sức tiêu thụ nội địa của mỗi đất nước sẽ là chiếc phao cứu sinh của chính các doanh nghiệp.

Phân tích của Viện Chính sách Kinh tế Mỹ cho rằng cứ mỗi USD được thêm vào ví của một lao động có thu nhập thấp, thì nền kinh tế tổng thể sẽ có thêm 1,25 USD nhờ hiệu ứng lan tỏa. Năm 2014, 13 bang của nước này tăng lương tối thiểu đã có tốc độ tăng việc làm cao hơn các bang không tăng lương tối thiểu, theo Bộ Lao động Mỹ.

Trong hơn 30 năm qua, giới nghiên cứu kinh tế đã đồng thuận trong quan điểm tăng lương tối thiểu sẽ không khiến doanh nghiệp thuê ít lao động đi. Đương nhiên, tăng ở mức độ nào sẽ được các bên cân nhắc kỹ lưỡng.

Kích cầu là một trong những biện pháp cần phải tính đến và triển khai mạnh mẽ hơn trong giai đoạn kinh tế cần phục hồi. Bên cạnh các gói kích thích kinh tế, các khoản trợ cấp một lần với những người khó khăn, thì thay đổi một chính sách tổng thể, như tăng lương tối thiểu, sẽ có tác động lâu dài và hiệu quả hơn rất nhiều.

Trò hề của những kẻ lợi dụng vấn đề Nga và Ucraina để chống phá đất nước. Một vấn đề từ lâu dần trở thành quy luật trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống Việt Nam, đó là mỗi khi tình hình chính trị khu vực và thế giới biến động phức tạp thì các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội, bất mãn chống đối lại “thừa nước đục thả câu”, “bới lông tìm vết”, tung ra những luận điệu phản tuyên truyền… nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam. Trên các trang mạng, diễn đàn, tài khoản mạng xã hội của các tổ chức, cá nhân thù địch, chống đối liên tục đăng tải tin, bài có nội dung phê phán, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Việt Nam trong quan điểm, cách nhìn nhận, ứng xử trước các vấn đề liên quan đến xung đột giữa Nga và Ukraine… từ đó hướng dư luận trong và ngoài nước hiểu sai lệch về Việt Nam. Ở phương diện khác, từ những ý kiến, lời bình của các chuyên gia, nhà nghiên cứu Việt Nam về tình hình chiến sự tại Ukraine trên các phương tiện truyền thông đại chúng, các đối tượng đã “cắt xén”, “thêm thắt”, bịa đặt, làm sai lệch thông tin để quy kết cho phần lớn lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam ủng hộ Nga, chính quyền Putin cũng như cuộc chiến tranh “xâm lược Ukraine”… Có thể thấy, dù trực tiếp hay gián tiếp, công khai hay lập lờ, truyên truyền đen hay tuyên truyền xám thì các luận điệu này cũng đều nhuốm màu “lệch lạc”, “sai trái”, “thù địch”, nhằm công kích vào quan điểm, chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam nói chung cũng như quan điểm và ứng xử đối với diễn biến tại chính trường Ukraine; hạ thấp vai trò, uy tín và tầm ảnh hưởng vốn đã được gây dựng bấy lâu của Đảng, Nhà nước cũng như dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế; tác động tiêu cực đến quan hệ đối ngoại của Việt Nam với Nga, Ukraine và cộng đồng quốc tế nhằm phục vụ cho ý đồ trước mắt và lâu dài. Để thấy rõ được tính chất sai trái, xuyên tạc trong luận điệu, đồng thời chủ động trong nhận diện, phòng ngừa và đấu tranh có hiệu quả, thiết nghĩ, cần công tâm, khách quan, thấu đáo trong nhìn nhận, xem xét từ thực tiễn công tác đối ngoại của Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sự điều hành của Chính phủ nói chung cũng như trước những bất ổn về chính trị xảy ra tại Ukraine thời gian qua ở mấy vấn đề sau: - Đầu tiên, phải khẳng định rằng Việt Nam là quốc gia yêu chuộng và luôn đề cao hòa bình, hòa hợp dân tộc. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử ngàn năm dựng nước và giữ nước, đi qua những cuộc chiến tranh khốc liệt, gian khổ, với muôn vàn đau thương, mất mát và hy sinh. Hơn ai hết toàn thể Nhân dân Việt Nam ý thức rõ được giá trị của nền hòa bình, độc lập, tự do. Chính vì thế, Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam không muốn đất nước phải chịu cảnh chiến tranh và cũng không bao giờ muốn chiến tranh xảy ra với bất kỳ quốc gia nào, như đã và đang xảy ra tại Ukraine. Điều dễ dàng nhận thấy, trên các phương tiện truyền thông đại chúng Việt Nam những ngày qua liên tục phát đi “thông điệp” thể hiện rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam không ủng hộ xung đột quân sự xảy ra tại Ukraine, đồng thời tích cực kêu gọi các bên liên quan hết sức kiềm chế, tránh những động thái gây bất ổn cho tình hình chính trị thế giới, ảnh hưởng xấu đến hòa bình, ổn định toàn cầu; đe dọa nghiêm trọng đến sinh mệnh của binh lính và người dân vô tội ở các nơi xảy ra xung đột. - Khi đề cập đến đường lối ngoại giao nhân dân của Việt Nam, không thể bỏ qua dấu ấn đậm nét tư tưởng ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bởi, sinh thời, Bác Hồ luôn đề cao tình yêu thương con người, quý trọng sinh mạng con người, trong quá trình hoạt động ngoại giao cho dân tộc, Bác luôn tìm mọi cách để ngăn ngừa xung đột vũ trang, tận dụng mọi khả năng giải quyết xung đột bằng biện pháp hòa bình, với tinh thần “đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo";... Không những thế, Người nhiều lần căn dặn “phải nhìn cho rộng, suy cho kỹ” để biết mình, biết người, biết thời, biết thế; hiểu rõ vị trí chiến lược Việt Nam trong mối quan hệ giữa các nước lớn, để “cương nhu kết hợp”, “dĩ bất biến, ứng vạn biến” vì lợi ích tối cao của quốc gia, dân tộc. Tư tưởng cốt lõi ấy đã và đang được Đảng, Nhà nước ta vận dụng khéo léo, linh hoạt, uyển chuyển trong đề ra và thực hiện chính sách đối ngoại nói chung cũng như trong bày tỏ quan điểm và thể hiện hành động trước tình hình căng thẳng trong quan hệ giữa Nga và Ukraine thời gian qua. Cùng với việc kêu gọi kiềm chế, giảm xung đột leo thang, Đảng, Nhà nước ta bày tỏ mong muốn Nga và Ukraine nhanh chóng chấm dứt việc dùng vũ lực và đe dọa dùng vũ lực, thay vào đó là những cái bắt tay, những vòng đàm phán, những phiên đối thoại, những thỏa thuận, hòa giải nhằm tìm kiếm những giải pháp căn cơ, lâu dài cho các tranh chấp, xung đột bằng biện pháp hòa bình. - Thực tế đã chứng minh, trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc cũng như xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, Nhân dân Việt Nam luôn phấn đấu vì một nền đối ngoại giàu tính nhân văn, hòa hiếu, trọng lẽ phải, công lý và chính nghĩa; sẵn sàng giương cao ngọn cờ hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc cho Nhân dân cũng như nhân loại tiến bộ trên thế giới. Kiên định đường lối đối ngoại trung lập, độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác, phát triển; tôn trọng và đảm bảo lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hiệp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, đôi bên cùng có lợi. Đây là nguyên tắc bất biến, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo, điều hành, tổ chức và quản lý công tác đối ngoại của Đảng, Nhà nước và Chính phủ. Đặc biệt, trong quan hệ đối ngoại, Đảng, Nhà nước ta luôn kiên trì thực hiện chính sách “năm không”: Không can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác, không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ Việt Nam và không liên kết nước này để chống nước kia. Do đó, đối với vấn đề xung đột giữa Nga và Ukraine vừa qua, Việt Nam luôn đứng ở vị trí trung lập để xem xét, nhìn nhận, đánh giá, phát ngôn và hành động. Thông qua các phát biểu gần đây của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng tại buổi họp báo diễn ra vào ngày 23/2 cũng như phát biểu của Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng phái Đoàn thường trực Việt Nam tại Liên Hiệp quốc tại phiên họp đặc biệt của Đại hội đồng Liên Hiệp quốc ngày 01/3 đều khẳng định quan điểm nhất quán của Việt Nam là kêu gọi chấm dứt hành động sử dụng vũ lực, nối lại đối thoại và tìm kiếm giải pháp lâu dài cho các bất đồng. Cho đến thời điểm hiện tại, chưa có bất kỳ phát ngôn và hành động nào đề cập đến việc ủng hộ việc sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề xung đột giữa Nga và Ukraine và Việt Nam cũng không “thiên vị” hay đứng về bất kỳ một bên nào xoay quanh xung đột giữa Nga và Ukraine. - Hơn thế nữa, trên con đường hội nhập và phát triển, Việt Nam đã và đang đẩy mạnh thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại trên tinh thần Nhân dân Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, trong đó có cả Nga và Ukraine. Dù là Nga hay Ukraine, Việt Nam vẫn luôn coi trọng, duy trì và phát triển quan hệ đối ngoại một cách bình đẳng, trên tinh thần hợp tác, cùng phát triển, phấn đầu vì một môi trường hòa bình, ổn định, tạo thuận lợi cho sự nghiệp đối nội, cũng như công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. - Thêm một điều không thể phủ nhận đó là, Việt Nam - một trong những quốc gia đóng góp nhiều sáng kiến hòa bình cho khu vực cũng như thế giới, luôn tích cực tham gia đấu tranh cho hòa bình nhân loại. Thực tế cho thấy, việc giải quyết vấn đề xung đột trong quan hệ giữa Nga và Ukraine, trước tiên phải là trách nhiệm của các bên liên quan, Việt Nam sẽ tham gia khi đảm bảo các điều kiện về đối nội và đối ngoại, có nghĩa là khi cộng đồng quốc tế chính thức vào cuộc và lợi ích quốc gia – dân tộc được đảm bảo. Trong ngày thứ 2 của phiên họp đặc biệt do Đại hội đồng Liên Hiệp quốc tổ chức về tình hình Ukraine, đại diện Việt Nam khẳng định lập trường nhất quán của Việt Nam về giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế và hiến chương Liên Hiệp quốc; đồng thời bày tỏ sự quan ngại sâu sắc và kêu gọi kiềm chế, chấm dứt các hành động sử dụng vũ lực, nối lại đối thoại và tìm kiếm giải pháp lâu dài. Cùng với đó, Việt Nam cũng đã tích cực kêu gọi và đề nghị cộng đồng quốc tế thúc đẩy viện trợ nhân đạo cho dân thường, đảm bảo an ninh an toàn của người dân cũng như các cơ sở hạ tầng thiết yếu theo luật nhân đạo quốc tế. Những phát ngôn ấy đã được cộng đồng quốc tế đón nhận, ủng hộ và hoan nghênh. Thực tế đó, đã phần nào minh chứng được, vai trò và sự tham gia tích cực, đúng đắn của Việt Nam trong giải quyết xung đột giữa Nga và Ukraine cũng như gìn giữ hòa bình thế giới. Từ những vấn đề trên, có thể khẳng định rằng, tinh thần hòa bình, hữu nghị, nhân văn, thận thiện, trọng lẽ phải, công lý và chính nghĩa trong chính sách ngoại giao của Việt Nam nói chung, đặc biệt là đối với xung đột giữa Nga và Ukraine thời gian qua, không đơn thuần là sự tiến bộ, cách mạng của chính sách, chủ trương, mà tinh thần ấy đã trở thành một trong những nét đẹp của bản sắc Việt, là tinh hoa, là hồn cốt của dân tộc Việt Nam. Tinh thần ấy, chính sách ấy, quan điểm ấy vừa cứng rắn vừa mềm dẻo; vừa tuân thủ nguyên tắc, định hướng vừa linh hoạt, uyển chuyển; hội tụ đầy đủ, toàn diện, phù hợp với các quy luật của lịch sử, hiện tại và tương lai, đảm bảo lợi ích tối thượng của quốc gia, dân tộc, góp phần khẳng định và nâng tầm Việt Nam trên trường quốc tế. Và như vậy, thêm một lần nữa, chính sách ấy lại chứng minh được giá trị của mình và quan trọng là nó đã góp phần đập tan những âm mưu, ý đồ, chiêu trò chống phá sự nghiệp cách mạng nước nhà.
Hiểu đúng quan điểm của Việt Nam về xung đột Nga – Ukraine Ngay khi xung đột Nga – Ukraine nổ ra, Việt Nam đã nhiều lần nêu quan điểm chính thức của mình. Đối với Việt Nam, cả Nga và Ukraine đều là đối tác quan trọng. Do đó, Việt Nam kêu gọi Nga và Ukraine giảm căng thẳng, ngừng bắn, bảo đảm an ninh an toàn, nhu cầu thiết yếu của người dân, bảo đảm an ninh an toàn cho cộng đồng người nước ngoài đang sống tại Ukraine, trong đó có người Việt Nam. Việt Nam luôn khẳng định lập trường không thay đổi, đó là Việt Nam không đứng về bên này chống bên kia hay ngược lại mà luôn đứng về lẽ phải, về công lý, luật pháp quốc tế. Ngày 1/3, phát biểu khi Đại hội đồng LHQ tổ chức phiên họp khẩn cấp lần thứ XI thảo luận về tình hình Ukraine, Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng phái Đoàn thường trực Việt Nam tại LHQ đã nhấn mạnh rằng: “Lịch sử của chính dân tộc chúng tôi hứng chịu các cuộc chiến tranh đã nhiều lần chỉ ra rằng, cuộc chiến tranh và xung đột đến tận ngày nay thường bắt nguồn từ các học thuyết lỗi thời đề cao chính trị cường quyền, tham vọng thống trị áp đặt và sử dụng vũ lực để giải quyết các tranh chấp quốc tế. Một số xung đột vẫn còn gắn liền với những yếu tố lịch sử, ngộ nhận và hiểu lầm. Với trải nghiệm của chính mình, Việt Nam thấu hiểu rằng chiến tranh và xung đột khi nổ ra chỉ gây ra đau khổ sâu sắc cho người dân và hậu quả nghiêm trọng đối với nhiều khía cạnh trong đời sống của các quốc gia có liên quan trực tiếp cũng như của các quốc gia khác”. Đại sứ nêu rõ, Việt Nam đã nhiều lần nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tôn trọng luật pháp quốc tế và Hiến chương LHQ. Mọi tranh chấp quốc tế cần được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình, dựa trên các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương LHQ, bao gồm các nguyên tắc về bình đẳng chủ quyền, độc lập chính trị và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia và không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực. Tất cả các quốc gia lớn hay nhỏ đều phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản này. Ngày 3/3, tại họp báo thường kỳ, trả lời báo chí về việc bỏ phiếu của Việt Nam, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng đã khẳng định: “Quan điểm của chúng tôi là Việt Nam luôn theo dõi sát sao và hết sức quan ngại về tình hình Ukraine”. Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam nhấn mạnh: “Chúng tôi cho rằng, ưu tiên hiện nay là cần kiềm chế tối đa, chấm dứt các hành động sử dụng vũ lực để tránh gây thương vong và tổn thất đối với dân thường, nối lại đàm phán đối thoại trên tất cả các kênh để đạt được các giải pháp lâu dài có tính đến lợi ích chính đáng của tất cả các bên trên cơ sở phù hợp với Hiến chương LHQ và nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế”. Như vậy, xuyên suốt trong các tuyên bố, phát ngôn, quan điểm nhất quán của Việt Nam là kêu gọi chấm dứt hành động sử dụng vũ lực, nối lại đối thoại và tìm kiếm giải pháp lâu dài cho các bất đồng. Kể từ khi cuộc xung đột Nga - Ukraine nổ ra cho đến thời điểm hiện tại, chưa có bất kỳ phát ngôn và hành động nào của Việt Nam đề cập đến việc ủng hộ việc sử dụng vũ lực để giải quyết vấn đề xung đột giữa Nga và Ukraine và Việt Nam cũng không “thiên vị” hay đứng về bất kỳ một bên nào xoay quanh xung đột giữa Nga và Ukraine. Mặt khác, Hiến pháp năm 2013 và Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (sửa đổi, bổ sung năm 2011) của Việt Nam đã nêu rõ chính sách đối ngoại của Việt Nam là thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương LHQ và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác cùng có lợi; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng. Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Về chính sách quốc phòng, Việt Nam đã nhiều lần nêu rõ, Việt Nam giữ vững nguyên tắc 4 không: Không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế. Vậy nhưng, sau khi nghị quyết kêu gọi Nga rút quân khỏi Ukraine của Đại hội đồng Liên hợp quốc (LHQ) được thông qua tại phiên họp khẩn cấp lần thứ XI, với thông tin Việt Nam bỏ phiếu trắng, trên một số diễn đàn Internet, mạng xã hội, một số cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước đã đưa ra những luận điệu sai trái, suy diễn rằng quan điểm của Việt Nam là “mơ hồ, không rõ ràng”, Việt Nam đã không đi theo số đông, cố tình tìm cách lựa chọn quan điểm trung lập đối với cuộc xung đột Nga – Ukraine. Trên một số trang báo nước ngoài xuất hiện các luận điệu mang tính chỉ trích, phê phán việc thông tin cuộc xung đột trên báo chí trong nước, từ đó tìm cách hướng lái nhằm cuốn người đọc theo chủ đích, ý đồ của họ. Thậm chí, một số bài viết còn đưa ra những luận điệu theo kiểu lập lờ đánh lận con đen, đưa ra những câu hỏi, nghi vấn mang tính quy chụp, bôi nhọ quan điểm, uy tín Việt Nam trong quan hệ đối ngoại. Nhiều bài viết bằng lối phân tích tỏ ra có trình độ, hiểu biết kiểu “chuyên gia” song thực chất nhận thức rất lệch lạc, lộ rõ ý đồ chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam. Một số người cuốn theo lối suy diễn trên, cũng đưa ra các bình luận tiêu cực, thậm chí kích động tư tưởng chống phá. Có trang mạng dùng thủ đoạn đưa ra thăm dò rồi cho những thành phần trong nhóm click vào lựa chọn theo chủ ý của người đặt bình chọn, từ đó lấy cớ vu cáo “người dân ủng hộ đa số” còn quan điểm của Nhà nước “chỉ là thiểu số”. Cá biệt, có luận điệu xuyên tạc rằng, phải chăng Việt Nam đang ngấm ngầm ủng hộ cho cuộc chiến tranh, quay lưng với hoà bình? Đây là những luận điệu sai trái, xuyên tạc quan điểm của Việt Nam đối với vấn đề xung đột Nga - Ukraine trên Internet, mạng xã hội của một số cá nhân, tổ chức thực chất là nhằm bôi nhọ, hạ thấp danh dự, uy tín của Việt Nam; xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước Việt Nam.