Thứ Ba, 5 tháng 4, 2022

ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ, SÁNG TẠO TRONG VIỆC HÌNH THÀNH TƯ DUY MỚI VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM


Quá trình hình thành và phát triển tư duy của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một thành tựu lý luận to lớn, là sản phẩm bởi trí tuệ thiên tài của Đảng ta, là kết quả của sự thể nghiệm lâu dài, trong quá trình cách mạng Việt Nam, trên cơ sở trung thành và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó cũng là kết quả của quá trình thường xuyên tổng kết thực tiễn từ những thành công và thất bại trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa ở các nước trên thế giới cũng như thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Ngày nay, trước những diễn biến phức tạp của tình hình cách mạng thế giới, với sự khủng hoảng, tan rã của chủ nghĩa xã hội thế giới, chủ nghĩa xã hội tạm thời lâm vào thoái trào. Trước tình hình đó, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch với chủ nghĩa xã hội ra sức tuyên truyền, phủ nhận với bản chất tốt đẹp của nó, phủ nhận tính tất yếu khách quan của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; đẩy mạnh thực hiện những âm mưu thủ đoạn thâm hiểm “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ để tiến công hòng xoá bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại. Bởi vậy, việc nghiên cứu nắm vững nội dung tư duy mới của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; khẳng định tính độc lập, tự chủ, sáng tạo của đảng trong việc hình thành tư duy mới về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là đòi hỏi cấp bách đối với cách mạng Việt Nam hiện nay, nhằm chống lại những âm mưu xuyên tạc, phủ nhận con đường chủ nghĩa xã hội. Trên cơ sở đó, để không ngừng củng cố niềm tin vào mục tiêu của cách mạng và lý tưởng của Đảng, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

1- Độc lập, tự chủ, sáng tạo là đòi hỏi khách quan của cách mạng Việt Nam trong thời đại ngày nay.

Trước hết, độc lập, tự chủ, sáng tạo là yêu cầu khách quan của cách mạng vô sản; bởi cách mạng vô sản là cuộc cách mạng sâu sắc, toàn diện và khó khăn nhất hướng tới mục tiêu triệt để giải phóng xã hội, giải phóng con người. Cách mạng vô sản vừa nhằm cải tạo xã hội cũ, đồng thời xây dựng một xã hội mới tốt đẹp, đó là cuộc biến đổi, cuộc đấu tranh gay go phức tạp giữa các tầng lớp nhân dân lao động với giai cấp tư sản, giữa con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa. Do đó, đòi hỏi Đảng và nhân dân (đặc biệt là Đảng) phải nêu cao độc lập tự chủ, sáng tạo, mới có thể lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng đến thắng lợi.

Trong cuộc đấu tranh này, chủ nghĩa Mác - Lênin là vũ khí lý luận. Tư tưởng sắc bén, một học thuyết cách mạng khoa học. Đó là những nguyên lý, quy luật cơ bản nhất nhằm vạch con đường chung nhất cho sự nghiệp cách mạng vô sản thế giới. Song, cách mạng vô sản phải được tiến hành ở từng quốc gia dân tộc.

Mặt khác, độc lập, tự chủ, sáng tạo cũng là truyền thống quý báu của dân tộc ta. Một đất nước có vị trí chiến lược quan trọng trong khu vực và thế giới, luôn là mục tiêu xâm lược của các đế chế phong kiến nước ngoài và thực dân đế quốc; vừa luôn phải sống trong hoàn cảnh tự nhiên khắc nghiệt...điều kiện tự nhiên và vị trí địa chính trị đòi hỏi dân tộc Việt Nam phải thường xuyên nêu cao tính độc lập, tự chủ, sáng tạo, đoàn kết kiên cường trong dựng và giữ nước. Độc lập, tự chủ, sáng tạo trở thành truyền thống quý báu,thành nếp sống văn hoá của dân tộc Việt Nam.

Độc lập, tự chủ, sáng tạo là tư tưởng nhất quán của chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt Nam. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh và Đảng ta về tính độc lập, tự chủ, sáng tạo là: trước hết, phải trung thành tuyệt đối với chủ nghĩa Mác - Lênin, học thuyết cách mạng, khoa học nhất, đỉnh cao trí tuệ nhân loại và là “chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất”. Do vậy, mọi biểu hiện hạ thấp, xa rời, phủ nhận và đối lập với chủ nghĩa Mác - Lênin đều là trái với quan điểm độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng ta và chủ tịch Hồ Chí Minh. Đồng thời, theo quan điểm của Hồ Chí Minh và Đảng ta thì độc lập, tự chủ, sáng tạo không chỉ là trung thành tuyệt đối với chủ nghĩa Mác - Lênin, mà còn phải biết kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hoá nhân loại, để vận dụng sáng tạo vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể Việt Nam. Theo Hồ Chí Minh, học tập tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin là học tập cái tinh thần, phương pháp để vận dụng vào xử trí công việc cho phù hợp, không được lệ thuộc phụ thuộc bên ngoài, không dập khuôn, bắt chước, theo đuôi các nước khác. Song, Theo Hồ Chí Minh thì độc lập, tự chủ, sáng tạo cũng đòi hỏi phải chống tư tưởng coi nhẹ, phủ nhận những vấn đề quy luật chung, tuyệt đối hoá đặc điểm của dân tộc mình.

2- Quá trình nhận thức của Đảng ta về con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từ 1930 đến nay.

Xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, dưới ách xâm lược, đô hộ của thực dân Pháp, là xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Yêu cầu khách quan đặt ra của xã hội thuộc địa nửa phong kiến là độc lập dân tộc và dân chủ (ruộng đất cho dân cày). Hướng tới mục tiêu giải phóng dân tộc, các phong trào yêu cầu đấu tranh của nhân dân ta trước năm 1930, liên tiếp nổ ra mạnh mẽ, tiêu biểu như phong trào Cần Vương, phong trào nông dân Yên Thế, phong trào theo hệ tư tưởng Tư sản của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh...đều đi đến thất bại, vì chưa xác định được đường hướng đi đúng để giành độc lập dân tộc.

Bằng thiên tài trí tuệ và một con đường đi tìm đường cứu nước độc lập, sáng tạo, Nguyễn Ái Quốc đã tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn đáp ứng yêu cầu của xã hội Việt Nam là con đường cách mạng vô sản. Theo Người: chỉ có chủ nghĩa xã hội mới triệt để giải phóng được các dân tộc thuộc địa khỏi ách nô lệ và trong thời đại ngày nay, “muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường Cách mạng vô sản”.

Trên cơ sở nhận thức đúng về con đường cứu nước, trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng, do Nguyễn Ái Quốc chuẩn bị thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng (02/1930) đã xác định con đường cách mạng Việt Nam là: Tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới chủ nghĩa cộng sản. Khẳng định cách mạng để đi tới chủ nghĩa cộng sản. Khẳng định cách mạng Việt Nam phải trải qua hai giai đoạn: Cách mạng tư sản dân quyền để giành độc lập dân tộc, ruộng đất cho dân cày và cách mạng xã hội chủ nghĩa để xây dựng chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Gắn với quá trình đó là vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam. Đây là tư tưởng cốt lõi gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, khẳng định con đường phát triển tất yếu của cách mạng Việt Nam, con đường duy nhất đúng: đáp ứng yêu cầu của xã hội Việt Nam, đúng với quy luật phát triển cách mạng, đúng với hoàn cảnh thế giới và phù hợp với xu thế của thời đại.

Tuy nhiên, trong việc thiết kế mô hình cụ thể và tổ chức chỉ đạo thực hiện chúng ta đã phạm phải một số sai lầm khuyết điểm. Do nóng vội, chủ quan trong xác định mục tiêu và thời gian hoàn thành, cùng với những hạn chế trong tổ chức thực hiện, đã làm cho nền kinh tế nước ta thời kỳ 1976 - 1980 có chiều hướng đi xuống, đất nước gặp nhiều khó khăn.

Đến Đại hội V của Đảng (3/1982), quan niệm về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng có sự phát triển. Đồng thời, với việc xác định đúng hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam: Xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hai nhiệm vụ chiến lược đó có quan hệ mật thiết với nhau. Đại hội V có nhận thức mới về sự phân kỳ của thời kỳ quá độ thấy được tính khó khăn, phức tạp, lâu dài của thời kỳ quá độ; do vậy, phải trải qua nhiều trặng đường kế tiếp nhau, mà chúng ta còn đang ở dặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ. Bởi vậy, Đại hội xác định đường lối công nghiệp hoá, phải ưu tiên phát triển nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu...Song Đại hội V, vẫn chưa thấy được sự cần thiết duy trì nền kinh tế nhiều thành phần trong suốt thời kỳ quá độ chưa có những chính sách, giải pháp cụ thể, để phát triển nền kinh tế. Những hạn chế đó là nguyên nhân của những khó khăn mà đất nước phải vượt qua sau Đại hội.

Từ cuối những năm 70 và đầu những năm 80 của thế kỷ XX; đặc biệt, là từ đầu những năm 80, chủ nghĩa xã hội thế giới lâm vào cuộc khủng hoảng trầm trọng bởi những sai lầm, hạn chế kéo dài các Đảng cộng sản trên thế giới và ở Việt Nam. Trong khi chủ nghĩa tư bản thế giới tích cực điều chỉnh và tranh thủ được thành tựu khoa học, công nghệ đã phát triển khá nhanh về kinh tế và càng ra sức tiến công chống phá chủ nghĩa xã hội. Trước tình hình đó, các Đảng cộng sản ở hầu hết các nước xã hội chủ nghĩa đã ý thức được yêu cầu phải cải tổ, cải cách, đổi mới.

Đứng trước tình hình khủng hoảng trầm trọng của chủ nghĩa xã hội thế giới và sự khủng hoảng về kinh tế - xã hội ở Việt Nam, Đảng ta với bản lĩnh chính trị vững vàng, với tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, đã nắm bắt đúng tình hình cách mạng thế giới và trong nước, kịp thời rút ra những bài học quý qua cải tổ, cải cách trên thế giới và đi đến quyết định phát động công cuộc đổi mới tại Đại hội VI của Đảng (12/1986). Với nhận thức đúng yêu cầu khách quan của đổi mới “đối với nước ta, đổi mới đang là yêu cầu bức thiết của sự nghiệp cách mạng, là vấn đề có ý nghĩa sống còn”1 đối với cách mạng Việt Nam lúc này.

Đại hội VI, với đường lối đổi mới đồng bộ, toàn diện, triệt để là hết sức đúng đắn. Đặc biệt Đại hội VI đã có nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Sau Đại hội VI là thời kỳ đảng lãnh đạo nhân dân vượt qua những khó khăn của tình hình thế giới và trong nước, kiên trì đẩy mạnh, từng bước cụ thể hoá đường lối đổi mới của Đại hội VI để tiếp tục thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn hết sức quan trọng.

Qua các Hội nghị Trung ương, đặc biệt tại Hội nghị Trung ương 6 (tháng 3/1989) đã tiếp tục khắc phục những hạn chế của Đại hội VI và bổ xung khẳng định: tính chất lâu dài của kinh tế nhiều thành phần; hình thành cơ chế thị trường thống nhất toàn quốc. Đặc biệt Hội nghị Trung ương 6, đã chỉ ra 5 nguyên tắc cơ bản chỉ đạo đổi mới là:

Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa; đổi mới không được xa rời chủ nghĩa Mác - Lênin; đổi mới phải nhằm tăng cường chuyên chính vô sản; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng CNXH; phải kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa tế xã hội chủ nghĩa, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.

Cương lĩnh Đại hội VII, đã xác định: 6 đặc trưng cùng 7 phương hướng giải pháp trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, tạo nên mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Mô hình đó là sự thống nhất giữa tính phổ biến và tính đặc thù ở Việt Nam. Do vậy, chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một mô hình cụ thể mang “bản sắc Việt Nam”. Đây là sự khẳng định có ý nghĩa hết sức lớn lao đối với quá trình phát triển của cách mạng Việt Nam cả hiện tại và lâu dài. Sau đó các Nghị quyết của Ban chấp hành Trung ương và Bộ chính trị tiếp tục bổ sung, phát triển và cụ thể hoá các quan điểm, phương hướng cơ bản nêu trong Cương lĩnh và chiến lược. Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ của đảng, khoá VII (1/1994) đã đề ra những biện pháp đẩy mạnh thực hiện công cuộc đổi mới, đồng thời chỉ ra 4 nguy cơ lớn đối với cách mạng nước ta đó là: nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế; nguy cơ đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa; nạn tham nhũng, tệ quan liêu; âm mưu hành động “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch.

Đại hội lần thứ VIII của đảng (6/1996), trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình đã rút ra kết luận: nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, cơ bản hoàn thành nhiệm vụ của chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ, đất nước chuyển sang thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Những tư tưởng của Cương lĩnh tiếp tục được Đại hội khẳng định: “Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn. Xét trên tổng thể, việc hoạch định và thực hiện đường lối đổi mới những năm qua vê cơ bản là đúng đắn, đúng định hướng xã hội chủ nghĩa”1.

Tuy vậy, lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội vẫn còn nhiều vấn đề bất cập cần tiếp tục phát triển làm rõ. Yêu cầu đó tiếp tục được Đại hội IX của đảng thực hiện.

Đại Hội IX của đảng diễn ra vào thời điểm có ý nghĩa lịch sử trọng đại loài người đã kết thúc thế kỷ XX và bước sang thế kỷ XXI. Nhân dân Việt Nam, đất nước Việt Nam đã đi qua một thế kỷ đấu tranh gian nan, oanh liệt giành lại độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc và bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội. Thế kỷ XX là thế kỷ của những chiến công hiển hách và thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và thời đại của dân tộc Việt Nam. Đó là thắng lợi vĩ đại của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945 lập nên Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á; đó là thắng lợi vĩ đại của các cuộc kháng chiến thần thánh đánh thắng những tên thực dân đế quốc hung hãn, giải phóng dân tộc, bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Những thắng lợi to lớn của sự nghiệp xây dựng đất nước sau chiến tranh, của sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong những năm qua đã tạo ra thế và lực mới cho cách mạng Việt Nam, tạo ra điều kiện tiền đề rất quan trọng để dân tộc ta bước vào thời kỳ phảt triển mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhằm xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Đại hội IX còn mang lại một quan điểm đồng bộ, hệ thống về những độc lực của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển đất nước: Một là, đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do đảng lãnh đạo; hai là, kết hợp hài hoà các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội; ba là, phát huy dân chủ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội ở tất cả các cấp, các ngành, các địa phương.

Biện chứng của quá trình nhận thức là quá trình vừa nghiên cứu, vừa tiếp thu sửa chữa và khắc phục những hạn chế và khuyết điểm, đồng thời bổ sung phát triển những nhận thức mới, những nội dung mới. Trải qua các kỳ Đại hội, Đại hội lần thứ XIII của Đảng vừa qua, cùng với việc kiểm điểm 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII và tổng kết qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới và tiếp tục hoạch định đường lối phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Đặc biệt, với tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, có những bổ sung về xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng.

Quan niệm về chủ nghĩa xã hội và con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là sản phẩm sáng tạo vĩ đại, là thành tựu lý luận to lớn của Đảng ta trên cơ sở tuyệt đối trung thành với lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phát huy truyền thống bản sắc của dân tộc, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Quan điểm đúng về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đồng thời cũng là kết quả của quá trình tổng kết đúc rút và học tập có chọn lọc kinh nghiệm của cách mạng xã hội chủ nghĩa thế giới.

Quan niệm về mục tiêu chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam được hình thành và phát triển, gắn với quá trình phát triển trưởng thành của Đảng, ngay từ ngày đầu thành lập. Nó không chỉ là kết quả của quá trình tìm tòi, khảo nghiệm, quá trình tổng kết lý luận, tổng kết thực tiễn; mà còn là sự tổng kết trí tuệ, công sức của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta để hình thành lên tư duy mới về con đường chủ nghĩa xã hội.

Tư duy mới của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là thành tựu lý luận có giá trị hết sức to lớn, góp phần quyết định đảm bảo cho sự tồn tại, đứng vững và phát triển của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ sóng gió, biến động khó khăn vượt qua. Nghiên cứu nắm vững, bảo vệ và không ngừng bổ sung phát triển lý luận về con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là trách nhiệm của mỗi chúng ta./.

 

KHÔNG HIỂU Ý ANH THÌ DÂN TRÍ THẤP CHĂNG?

         Sau khi đòi bỏ câu khẩu hiệu "học, học nữa, học mãi" của Lênin thì diễn viên Tùng Dương lên báo Thanh niên phân trần rằng mọi người không hiểu ý anh nói!

Tui thật! Anh phân bua, ngụy tạo lời nói của anh làm gì. Nghệ sĩ diễn viên là linh hồn, hồn cốt văn hóa dân tộc mà giá trị văn hóa là sự kết tinh của nền tảng chính trị. Anh đòi bỏ câu khẩu hiệu này thì khác gì anh đang cổ súy cho hành vi chống Nhà nước, chống chế độ và khác gì là một tên phản động!

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: "Văn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy". Bác đã dặn những người như anh rằng, muốn xây dựng nền văn hoá, văn nghệ tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc thì những người nghệ sĩ diễn viên như anh là người lính tiên phong trên mặt trận ấy. Thế mà, anh lại đòi bỏ đi câu khẩu hiệu của Lênin, thử hỏi anh có còn xứng đáng đứng trên mặt trận ấy để làm 1 diễn viên không?

Nhìn anh Tùng Dương rất đẹp trai, khuôn mặt anh tròn trĩnh mà ăn nói thật hồ đồ, "chợ búa", đã thế còn không sửa lỗi lại còn phân bua, ngụy biện. Anh tưởng dân trí bây giờ ít học hơn anh chăng?

Yêu nước ST.

PHÁT TRIỂN TƯ DUY LÝ LUẬN SÁNG TẠO, GIỮ VỮNG VÀ BẢO VỆ NGỌN CỜ SOI ĐƯỜNG CỦA ĐẢNG


Bảo vệ Cương lĩnh, đường lối của Đảng là bảo vệ sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, vì Đảng lãnh đạo, cầm quyền chủ yếu bằng Cương lĩnh, đường lối, nghị quyết... Bảo vệ sự đúng đắn của Cương lĩnh, đường lối với những giá trị lý luận, khoa học, bắt nguồn từ nền tảng tư tưởng của Đảng là Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Nắm vững những nguyên lý về cách mạng XHCN, những đặc điểm, đặc trưng, quy luật của thời kỳ quá độ lên CNXH. Cương lĩnh và đường lối đổi mới của Đảng được xây dựng trên cơ sở nhận thức đúng đắn, sâu sắc bản chất cách mạng, phương pháp luận khoa học của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Vì vậy, Cương lĩnh, đường lối đó đứng vững và được hiện thực hóa, có khả năng chống lại mọi sự xuyên tạc và chống phá của các thế lực thù địch cả về lý luận và thực tiễn. Điều đó càng đòi hỏi Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải phát triển tư duy lý luận sáng tạo và nhận thức về hệ tư tưởng. Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Chúng ta phải nâng cao sự tu dưỡng về Chủ nghĩa Mác-Lênin để dùng lập trường, quan điểm, phương pháp Chủ nghĩa Mác-Lênin mà tổng kết những kinh nghiệm của Đảng ta, phân tích một cách đúng đắn những đặc điểm của nước ta. Có như thế, chúng ta mới có thể dần dần hiểu được quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam, định ra được những đường lối, phương châm, bước đi cụ thể của cách mạng XHCN thích hợp với tình hình nước ta. Như thế là phải học tập lý luận, phải nâng cao trình độ lý luận chung của Đảng, trước hết là của cán bộ cốt cán của Đảng”. Bảo vệ con đường XHCN là cuộc đấu tranh quyết liệt về hệ tư tưởng, đồng thời là bảo vệ một chế độ xã hội, một hình thái kinh tế, xã hội, bảo vệ quy luật phát triển tất yếu khách quan của lịch sử. Dù phải trải qua nhiều khó khăn, thách thức, theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới CNXH.

Sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng thông qua việc hoàn thiện, bổ sung Cương lĩnh, đường lối và bảo vệ giá trị khoa học, tính hiện thực của đường lối. Đại hội XIII của Đảng đã cụ thể hóa 12 định hướng chiến lược phát triển đất nước trong thời kỳ 2021-2030. Để thực hiện được các định hướng đó cần tiếp tục nắm vững và xử lý tốt các mối quan hệ lớn: Giữa ổn định, đổi mới và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng XHCN; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất XHCN; giữa Nhà nước, thị trường và xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ; giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. “Đó là những mối quan hệ lớn, phản ánh các quy luật mang tính biện chứng, những vấn đề lý luận cốt lõi về đường lối đổi mới của Đảng ta cần tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện và phát triển phù hợp với thay đổi của thực tiễn; đòi hỏi chúng ta phải nhận thức đúng và đầy đủ, quán triệt sâu sắc và thực hiện thật tốt, có hiệu quả”. Tổng kết quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cách mạng XHCN và xây dựng CNXH, nhất là những thành tựu đạt được trong thời kỳ đổi mới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã công bố tác phẩm rất quan trọng: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”. Từ sự vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới của thời đại, tác phẩm của Tổng Bí thư đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề mới về lý luận và thực tiễn, khẳng định bản chất cách mạng và khoa học trong nhận thức và hành động thực tế xây dựng CNXH ở Việt Nam, làm rõ CNXH là gì và đi lên CNXH bằng cách nào, từ phương châm, hình thức, bước đi phù hợp để hoàn thiện đường lối quan điểm và tổ chức thực hiện, làm sao để vừa theo đúng quy luật chung, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể ở Việt Nam. Điều đó đòi hỏi xử lý đúng đắn mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giữa cái phổ biến và tính đặc thù. Bài viết đã làm rõ hơn nội dung và khả năng bỏ qua chủ nghĩa tư bản, kế thừa những thành tựu, giá trị văn minh nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Tác phẩm nhấn mạnh yếu tố bảo đảm xây dựng thành công CNXH là phải có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản chân chính cách mạng dựa trên học thuyết cách mạng, tính khoa học và cách mạng triệt để của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là những giá trị bền vững đã và đang được những người cách mạng theo đuổi và thực hiện. Tác phẩm của Tổng Bí thư có giá trị lý luận căn bản và ý nghĩa chỉ đạo thực tiễn sâu sắc, toàn diện đưa Việt Nam tiến tới một nước XHCN hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc. Tác phẩm có sự đóng góp xứng đáng vào kho tàng lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH mà các nước trên thế giới đang hướng tới.

 

CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LUÔN LÀ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TA

 

Đảng ta khẳng định lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng. Trong giai đoạn hiện nay luôn phải đứng trước những thách thức vô cùng to lớn của thực tiễn và những vấn đề rất nan giải về lý luận. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội luôn cho rằng: chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, không còn vai trò chỉ đạo, soi đường đối với cách mạng và kiến thiết mà chỉ là một “học thuyết ảo tưởng” về một xã hội không có thực; rằng, chỉ có chủ nghĩa tư bản (CNTB) mới là “giá trị đích thực”, là “nấc thang tiến bộ nhất” của nhân loại. Từ những quan điểm và nhận thức đó, họ đổ mọi “tội lỗi” cho lý luận mácxít về những thiếu sót, khuyết điểm của chủ nghĩa xã hội (CNXH) hiện thực, đòi xét lại, xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tiến tới xóa bỏ triệt để con đường đi lên CNXH ở các nước đang triển khai xây dựng.

Những vấn đề chủ nghĩa Mác – Lênin được chủ tịch tư tưởng Hồ Chí Minh vận dụng vào điều kiện thực tế ở Việt Nam là phù hợp, đó là phương hướng căn bản của sứ mệnh lịch sử cũng như việc thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân ở mỗi thời điểm lịch sử và ở Việt Nam. Do đó, nó chỉ là thế giới quan và phương pháp luận khoa học, là vũ khí tư tưởng của con người trong cuộc đấu tranh vì chân lý khoa học và chính nghĩa nhân văn để nhận thức và cải tạo thế giới mà không phải là “cái đã xong xuôi” hay “nhất thành bất biến”.

Phân tích nội hàm cơ bản các bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác - Lênin, cho thấy chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn có ý nghĩa lịch sử và hiện thực to lớn.

Một là, triết học Mác - Lênin là một bộ môn khoa học phản ánh chính xác các quy luật phát triển phổ biến của tự nhiên, xã hội và tư duy, là thế giới quan và phương pháp luận khoa học chuẩn xác nhất, đảm bảo cho chủ nghĩa Mác - Lênin không chỉ là một học thuyết nhằm nhận thức và giải thích thế giới một cách đúng đắn mà chủ yếu còn là một học thuyết cải tạo thế giới. Với chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, triết học Mác - Lênin ngày càng tỏ rõ bản chất khoa học, cách mạng, tính ưu việt, nó không những không lỗi thời mà còn có sức sống mãnh liệt và trường tồn bền vững.

Hai là, kinh tế chính trị học Mác - Lênin với các quy luật về quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất của lực lượng sản xuất; quy luật đấu tranh giai cấp vẫn còn phù hợp với tất cả mô hình xã hội có giai cấp; quy luật giá trị thặng dư không chỉ phù hợp với mọi giai đoạn phát triển của xã hội TBCN mà còn phù hợp với cả giai đoạn cách mạng xã hội XHCN.

Ba là, chủ nghĩa xã hội khoa học Mác - Lênin, chứng minh rằng CNTB tất yếu sẽ diệt vong, CNXH nhất định thắng lợi, giai cấp vô sản sẽ là người sáng tạo ra xã hội XHCN, nấc thang phát triển cao hơn xã hội TBCN trong lịch sử sáng tạo của loài người.

Trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hơn 90 năm qua đã “đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác”, góp phần quan trọng, làm sáng tỏ hơn những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin. Từng bước khẳng định giá trị to lớn chủ nghĩa Mác – Lênin,  Tư tưởng Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam và sự nghiệp cách mạng thế giới . Vì vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh chính là sự lựa chọn duy nhất đúng. Luận điệu xuyên tạc, phủ nhận vai trò của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh của các thế lực thù địch không dễ lung lạc được tinh thần của dân tộc Việt Nam anh hùng.

 

"LÃO NIN HÓI"... NGUYỄN ĐỖ TÙNG DƯƠNG, UKRAINE CÓ MỘT THẰNG HỀ COI THƯỜNG LỊCH SỬ ĐƯA ĐẤT NƯỚC VÀO THẢM HỌA, CÒN ĐÂY LÀ VIỆT NAM LOẠI NHƯ ANH THÌ CHỈ NÊN ĐỂ MUA VUI THÔI!

         Anh đúng là th.ứ cặ.n b.ã của xã hội Việt Nam khi gọi dám mở mồm ra gọi lãnh tụ Lênin là lão Nin hói.

Đó là cách mà Tùng Dương (tên khai sinh: Nguyễn Đỗ Tùng Dương, một diễn viên, nhà biên kịch, đạo diễn khá nổi) đã nói về câu “Học, học nữa, học mãi...” của cụ Lê Nin. Câu này được Tùng Dương viết để ám chỉ đến sự kiện cháu học sinh nhảy lầu ở Hà Nội. Qua đó, Tùng Dương muốn mỉa mai ngành Giáo dục nước nhà.

Cụ thể, ngày 2/4, Nguyễn Đỗ Tùng Dương viết trên stt rằng: “Đã đến lúc ngành Dục nên loại bỏ câu “Học, học nữa, học mãi” của lão Nin hói ra khỏi SGK học đường được rồi đấy. Đau lòng”. 

Sau khi bị chửi, thì câu đấy được sửa thành “Đã đến lúc ngành Giáo dục nên loại bỏ câu “Học, học nữa, học mãi” của ông Nin ra khỏi SGK đi. Sự việc vừa xảy ra quá đau lòng”.

Về cái sự học này, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc khuyến khích việc học tập suốt đời. Lenin khuyên: “Học, học nữa, học mãi”. Bác Hồ cũng luôn quan tâm tới việc học tập của toàn dân. Người chỉ rõ: “Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân, không học nhân dân là một thiếu sót rất lớn”

Không rõ biên, kịch, đạo diễn, diễn viên Tùng Dương ngu hay giả vờ ngu để chửi xoáy vậy. Bởi cái câu “Học, học nữa, học mãi “ của cụ Le Nin là học hỏi thêm kiến thức trong cuộc sống xã hội chứ ko phải học mỗi sách vở ngành giáo dục, cũng chẳng có ý ép học sinh cắm đầu vào sách vở học mãi. Do suy nghĩ lệch lạc của mỗi người khi đọc câu đó thôi

Đã từng rất thích xem phim của diễn viên Tùng Dương đóng, nhưng quả thật khi thấy anh ấy phát ngôn thế này thì thật đáng buồn.

Trong khi anh được xã hội ưu ái cho việc tạo điều kiện thuận lợi cho việc học, thì ở vùng xâu, vùng xa, nhiều bậc giáo viên đang rất vất vả đưa con chữ đến với các em học sinh nghèo. Dù khó khăn nhưng nhiều em đã rất nỗ lực học hành và đạt những thành tích nhất định. Sự nỗ lực ấy chính là nhờ vào câu nói "Học, học nữa, học mãi", anh khuyên nên giáo dục bỏ câu nói này cũng chính là đang khuyên các em học sinh ấy đừng nỗ lực trong học tập nữa đấy.

Câu “Học, học nữa, học mãi ” khuyên ta phải dốc hết sức mình vào việc học, luôn luôn học hỏi những điều chưa biết để mở rộng thêm con đường dẫn đến thành công. Chứ không có ý là phải tạo quá nhiều áp lực cho người học và bắt các em học sinh phải học như những cỗ máy.
Có thể anh nghe được thông tin về một cháu học sinh tự tử do áp lực của việc học, nhưng thực sự anh đã nhầm khi so sánh sự việc này với câu nói trên./.
Môi Trường ST.

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong công tác đối ngoại hiện nay


Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một hệ thống các quan điểm toàn diện, “bao hàm nội dung rất rộng, liên quan đến toàn bộ sự nghiệp cách mạng nước ta”. Trong đó, tư tưởng đối ngoại là một bộ phận quan trọng về chiến lược, sách lược cách mạng trong các vấn đề quốc tế, không chỉ có giá trị lịch sử mà còn có ý nghĩa thời đại to lớn.

Trong bối cảnh hiện nay, việc tiếp tục nghiên cứu, vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong công tác đối ngoại của Đảng càng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Trong đó, chú trọng những nội dung chủ yếu sau:

Một là, giữ vững các quyền dân tộc cơ bản gắn với độc lập tự chủ, tự lực, tự cường. Ngay trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam theo tinh thần "tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do". Việc bảo đảm các quyền dân tộc cơ bản phải gắn với độc lập tự chủ, tự lực, tự cường thì mới bền vững. Bác đã dặn: "Muốn người ta giúp cho, thì trước hết mình phải tự giúp lấy mình đã"; "Muốn làm gì cũng cần vì lợi ích của dân tộc mà làm"; "Ta có mạnh thì họ mới chịu đếm xỉa đến. Ta yếu thì ta chỉ là một khí cụ trong tay của kẻ khác, dẫu kẻ ấy có thể là bạn đồng minh của ta vậy". Người cũng đã đúc kết thành chân lý: "Không có gì quý hơn độc lập, tự do". Và chân lý ấy, đến ngày nay vẫn là một yêu cầu thiết yếu trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế. 

Hai là, tư tưởng kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Trong đó, tư tưởng chủ đạo là độc lập tự chủ, tự lực, tự cường gắn với đoàn kết và hợp tác quốc tế. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, "cái gốc, cái điểm mấu chốt về chính trị, quân sự, kinh tế, nội chính, ngoại giao của ta là tự lực cánh sinh". Người nhấn mạnh: "Thực lực mạnh, ngoại giao sẽ thắng lợi. Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to, tiếng mới lớn". Bác Hồ cũng đã chú trọng xây dựng và phát huy sức mạnh của công tác đối ngoại nhân dân, nhờ đó đã vận động được nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Người đã nêu rõ: "Sức mạnh, sự vĩ đại và sự bền bỉ của nhân dân Việt Nam cơ bản là ở sự đoàn kết của nhân dân Việt Nam và sự ủng hộ của nhân dân thế giới...".

Hiện nay, chúng ta đang tiếp tục tăng cường thế và lực, phát huy sức mạnh của dân tộc theo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, bao gồm cả sức mạnh vật chất và tinh thần; cả vị trí chiến lược quan trọng ở khu vực và các giá trị lịch sử, truyền thống, văn hóa, lòng yêu nước, tinh thần cần cù lao động và ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam... Đồng thời, Đảng ta chủ trương kết hợp sức mạnh đó với sức mạnh thời đại là các trào lưu tiến bộ chính trên thế giới, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và nền kinh tế tri thức, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển, đổi mới mô hình tăng trưởng... Sau đại dịch Covid - 19, Đảng và Chính phủ đang tận dụng tối đa khả năng các nước và tập đoàn kinh tế lớn chuyển hướng tới thị trường Việt Nam; đồng thời, tiếp tục thu hút nguồn lực của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài cho sự phát triển đất nước. 

Ba là, tư tưởng yêu chuộng hoà bình, chống chiến tranh xâm lược. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên định thực hiện mục tiêu cao cả nhất của cách mạng là hòa bình, độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, chống chiến tranh xâm lược với tinh thần: "Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ". Trong khi kiên quyết giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, chống lại sự xâm lược, đô hộ của ngoại bang, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên trì đường lối hòa bình, hữu nghị, hợp tác với các nước, trước hết là các nước lớn và các nước láng giềng, qua đó đã thu hút được sự đoàn kết và ủng hộ của đông đảo nhân dân trên thế giới, ngay cả nhân dân của các nước xâm lược từ bản xứ.

Trong bối cảnh hiện nay, xu hướng chung của thế giới và khu vực vẫn là hòa bình, ổn định, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển. Tuy nhiên, tình hình thế giới có những thay đổi nhanh chóng, phức tạp, khó lường với những bất ổn như xung đột ở Trung Đông, châu Phi, chủ nghĩa khủng bố, cạnh tranh chiến lược giữa các nước, chủ nghĩa đơn phương, chính trị cường quyền, thiếu tôn trọng luật pháp quốc tế, khiến thế giới đang phải đối mặt với nhiều vấn đề an ninh phi truyền thống, đòi hỏi Đảng và Chính phủ ta phải vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong các đối sách ngoại giao và hợp tác quốc tế.

Bốn là, tư tưởng hòa hiếu, thêm bạn bớt thù. Từ hoàn cảnh cách mạng, có lúc phải đối phó với nhiều đối thủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu bật phương châm"... làm cho nước mình ít kẻ thù và nhiều bạn đồng minh hơn hết". Bác Hồ và Đảng ta phân biệt rõ bạn, thù, bạn gần, bạn xa, bạn lâu dài, bạn nhất thời, tìm cách giảm bớt kẻ thù, để tập trung đấu tranh với kẻ thù chính. Ngay khi còn trong nhà tù ở Trung Quốc (1942-1943), Bác Hồ đã bày tỏ đoàn kết với phong trào chống thực dân của Ấn Độ. Năm 1944, Người đích thân đưa Trung úy phi công W. Shaw đi Côn Minh trao trả cho Mỹ, qua đó để Mỹ hiểu cuộc chiến đấu của Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh. Người cũng giáo dục nhân dân ta phân biệt rõ bạn, thù, phân biệt thực dân Pháp và đế quốc Mỹ với nhân dân Pháp và nhân dân Mỹ để tranh thủ sự đoàn kết và ủng hộ của họ, cô lập và chĩa mũi nhọn đấu tranh vào thực dân Pháp và đế quốc Mỹ.

Đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta chủ trương tiếp tục kiên trì nguyên tắc giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, đồng thời nêu cao tinh thần hòa hiếu với tất cả các nước, đặc biệt các nước lớn và láng giềng; vận dụng phương châm mà Bác Hồ đã chỉ đạo là "biến đại sự thành tiểu sự, tiểu sự thành vô sự", cố gắng không để bùng phát những vấn đề gây cấn, bất lợi trong quan hệ, ảnh hưởng đến hòa bình, ổn định, an ninh, hợp tác và phát triển của ta. 

Do quan hệ quốc tế phức tạp, đa chiều, lợi ích các quốc gia, dân tộc nhiều khi đan xen hoặc đối lập, Đảng ta đã có cách nhìn nhận biện chứng với phương châm "gác lại quá khứ, hướng tới tương lai"; xác định đồng minh, đối thủ là bộ phận quan trọng trong sách lược cách mạng, giúp xử lý hiệu quả các mâu thuẫn, thu hút sự ủng hộ của bạn bè và cô lập kẻ thù. Tính biện chứng còn được thể hiện ở chỗ xác định rõ các khái niệm "đối tác", "đối tượng" nhằm phân biệt rõ "đối tác" cần hợp tác và "đối tượng" cần đấu tranh trong từng trường hợp cụ thể. Đảng và Nhà nước ta cũng đã thực hiện tốt các chủ trương từ "thêm bạn, bớt thù" trước đây đến "Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập, hợp tác và phát triển". Tư tưởng đó đã phát huy hiệu quả, đưa vai trò và vị thế quốc tế của Việt Nam lên một tầm cao mới.

Năm là, tư tưởng mở cửa và hợp tác quốc tế. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thấu hiểu tầm quan trọng của việc mở cửa và hợp tác quốc tế, ngay đầu tháng 12-1946, trong Lời kêu gọi gửi Liên hợp quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Đối với các nước dân chủ, Việt Nam sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực"; đón nhận đầu tư của các nhà tư bản và công nghệ nước ngoài; mở rộng các hải cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế; chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của Liên hợp quốc...

Thấm nhuần tư tưởng của Người, Đảng ta đã đề ra và kiên trì thực hiện chủ trương mở cửa và hợp tác quốc tế. Nghị quyết số 22- NQ/TW (10-4-2013) của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, "Chiến lược tổng thể về hội nhập quốc tế đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030" và Nghị quyết số 06-NQ/TW (5-11-2016) của Ban Chấp hành TƯ khóa XII về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng, tham gia hàng chục hiệp định kinh tế và FTA thế hệ mới cả song phương, khu vực và đa phương thể hiện rõ chủ trương lớn của Đảng về công tác đối ngoại.

Quá trình mở cửa, hội nhập quốc tế của Việt Nam được đẩy mạnh cả về tư duy và thực tiễn, đã chuyển mạnh từ phạm vi "hội nhập kinh tế" sang "hội nhập toàn diện" với các nội dung chủ yếu là: hội nhập về kinh tế, chính trị, quốc phòng-an ninh, văn hóa - xã hội, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ và các lĩnh vực khác như lao động, y tế, thể thao... Trong hợp tác chính trị và quốc phòng - an ninh, Việt Nam đã tích cực tham gia các cơ chế như Cộng đồng Chính trị - An ninh ASEAN (APSC), Hiệp ước thân thiện và hợp tác ASEAN (TAC, 1976), Hiệp ước Khu vực phi vũ khí hạt nhân Đông Nam Á (SEANWFZ, 1995) cũng như các cơ chế Đối thoại về an ninh như Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+), Hội nghị Cấp cao Đông Á (EAS).

Sáu là, tư tưởng "Ngoại giao là một mặt trận". Lịch sử đấu tranh của dân tộc ta chống các kẻ thù xâm lược mạnh hơn gấp nhiều lần đã hình thành nên nghệ thuật kết hợp giữa ba hình thức đấu tranh: chính trị, quân sự và ngoại giao. Trong đó, ngoại giao là một mặt trận, là một trong những nội dung cốt lõi. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: "Dùng binh giỏi nhất là đánh bằng mưu. Thứ hai đánh bằng ngoại giao. Thứ ba mới là đánh bằng binh", và cũng theo quan điểm của Người: "Sau vấn đề phòng thủ, ngoại giao là một vấn đề cần yếu cho một nước độc lập". Trên thực tế, đấu tranh ngoại giao khôn khéo có thể tránh được xung đột hay chiến tranh hoặc có thể "lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh". Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh "ngoại giao ai thuận lợi hơn, thì thắng" và "có thể thắng trước kẻ thù xâm lược mạnh hơn ta nhiều lần".  

Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, nước ta đã duy trì được hòa bình, ổn định, nguy cơ chiến tranh bị đẩy lùi nhưng công tác đối ngoại vẫn có vai trò to lớn trong xử lý các vấn đề quốc tế. Đảng và Nhà nước ta tiếp tục đề cao tầm quan trọng của mặt trận đối ngoại, kết hợp chặt với mặt trận chính trị và bảo vệ quốc phòng - an ninh, tạo sức mạnh tổng hợp, giữ gìn hòa bình, ổn định và thúc đẩy hợp tác phát triển. Mặt trận đối ngoại luôn được triển khai chủ động, tích cực và toàn diện gồm ngoại giao chính trị, ngoại giao quốc phòng - an ninh, ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa. Trong đó, ngoại giao cùng với quốc phòng, an ninh "tạo thành thế chân kiềng vững chắc, tiếp tục đóng góp chủ động, tích cực vào việc bảo vệ đất nước từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước còn chưa nguy, phục vụ thiết thực các lợi ích an ninh, phát triển, nâng cao vị thế đất nước".

Bảy là, tư tưởng "dĩ bất biến ứng vạn biến" như một phương pháp, phong cách và nghệ thuật đối ngoại của Hồ Chí Minh. Truyền thống đấu tranh ngoại giao của cha ông ta đã hình thành một phương cách ứng xử kiên trì về nguyên tắc nhưng linh hoạt, mềm mỏng, khéo léo về sách lược. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: "Mục đích bất di bất dịch của chúng ta vẫn là hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ. Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt". Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn kiên trì giữ vững mục tiêu cách mạng, đồng thời ứng phó linh hoạt, phù hợp với mọi sự biến chuyển nhanh chóng và khó lường của tình hình, tương quan và tập hợp lực lượng, ý đồ của các nước lớn… 

Trong bối cảnh mới, việc vận dụng tư tưởng "dĩ bất biến ứng vạn biến" của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn là một yêu cầu quan trọng. Cái "bất biến" vẫn là lợi ích quốc gia, dân tộc, mà cốt lõi là độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và biển đảo của Tổ quốc, chế độ XHCN, vai trò và quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cái "vạn biến" là sự biến chuyển nhanh chóng, khó lường của tình hình, sự điều chỉnh chiến lược và chính sách của các nước, của tương quan và tập hợp lực lượng, sự chuyển hóa của "đối tác", "đối tượng"… Đảng và Nhà nước ta đã và đang kiên trì nguyên tắc bất biến là "thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển", đồng thời tiếp tục thực hiện đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ đối ngoại, xác định đúng đắn một cách biện chứng về "đối tác" và "đối tượng" trong từng vấn đề thuộc lợi ích quốc gia, dân tộc để kịp thời đề ra những chính sách, biện pháp hợp tác và đấu tranh phù hợp và hiệu quả.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã đạt được những thắng lợi vẻ vang trong sự nghiệp giành độc lập dân tộc, giải phóng và thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những thành tựu vĩ đại của dân tộc có phần đóng góp hết sức quan trọng của công tác ngoại giao. Ngoại giao Việt Nam đã luôn đồng hành cùng dân tộc trong mọi giai đoạn cách mạng. Ngày nay, trong bối cảnh tình hình mới, ngoại giao Việt Nam tiếp tục vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về đối ngoại, đi tiên phong kiến tạo môi trường hòa bình, an ninh, ổn định, hợp tác và kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại nhằm phục vụ hiệu quả nhất cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao uy tín và vị thế quốc tế của Việt Nam./.

 

 

Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta


Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh bao hàm những nguyên lý, nội dung, phương pháp, phong cách và nghệ thuật ngoại giao. Người đề cao các quyền dân tộc cơ bản, bao gồm độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, thống nhất đất nước, hòa bình và chống chiến tranh xâm lược. Người nhấn mạnh ngoại giao “phải luôn luôn vì lợi ích của dân tộc mà phục vụ”; độc lập tự chủ, tự lực tự cường phải gắn liền với đoàn kết và hợp tác quốc tế, theo đó Việt Nam sẵn sàng “làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”. Người hết sức coi trọng tình hữu nghị và hợp tác với các nước láng giềng có chung biên giới; mở rộng bang giao với các nước trong khu vực và trên thế giới; xử lý tốt quan hệ với các nước lớn để phục vụ lợi ích cách mạng.

Trong phương pháp, Người xác định ngoại giao phải là một mặt trận, một binh chủng hợp thành của cách mạng Việt Nam, kết hợp nhuần nhuyễn “vừa đánh vừa đàm”, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn. Người luôn đặt Việt Nam trong dòng chảy của thế giới, coi trọng các trung tâm quyền lực, các trào lưu lớn. Người đặc biệt đề cao “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, lấy cái không thể thay đổi để ứng phó với muôn sự thay đổi, giữ vững tính nguyên tắc, kiên định, vững chắc của mục tiêu chiến lược với tính linh hoạt, uyển chuyển của sách lược cách mạng. Phương pháp ngoại giao Hồ Chí Minh còn thể hiện truyền thống yêu hòa bình của dân tộc ta, nỗ lực giải quyết bất đồng bằng các phương cách hoà bình.

Nét nổi bật trong nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh là sự vận dụng nhuần nhuyễn “năm cái biết” (biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng và biết biến), là khả năng tạo dựng thời cơ và chớp thời cơ, là ngoại giao tâm công giúp thu phục lòng người bằng chính nghĩa, tình người, lẽ phải và đạo lý. Những thành tựu của đối ngoại Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và bảo vệ Tổ quốc ta đã thể hiện rõ nét sự tài tình của Hồ Chí Minh trong việc vận dụng các nghệ thuật ngoại giao để đưa cách mạng đến thành công.

Thực tiễn đã chứng minh Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là di sản vô giá, là nền tảng sức mạnh và là chìa khóa để triển khai thắng lợi, hiệu quả đường lối đối ngoại của Đảng qua các giai đoạn cách mạng. Chính nhờ sự vận dụng sáng tạo Tư tưởng ngoại giao của Người trong tình hình mới, đối ngoại Việt Nam đã giành được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần duy trì môi trường hoà bình, thu hút các nguồn lực cho phát triển, giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc và nâng cao vị thế quốc tế của nước ta.

Bên thềm thập niên thứ ba của thế kỷ 21, thế giới đang chứng kiến những biến động to lớn, sâu sắc và khó lường. Hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song đại dịch Covid-19 đã góp phần đẩy nhanh hơn những chuyển biến sâu sắc trong cục diện quốc tế, tác động trực tiếp tới môi trường an ninh và phát triển của nước ta. Chúng ta cần tiếp tục vận dụng sáng tạo Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh để đặt Việt Nam vào đúng “dòng chảy của thời đại”, tạo sức mạnh to lớn đưa cách mạng Việt Nam tới những thắng lợi mới.

Theo đó, ngoại giao Việt Nam cần phát huy tốt vai trò là “một mặt trận” tiên phong nhằm củng cố vững chắc môi trường quốc tế thuận lợi và thu hút các nguồn lực phục vụ phát triển và nâng cao vị thế đất nước, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, từ lúc nước chưa nguy. Chúng ta cần vận dụng tốt nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Cần kiên định mục tiêu bất biến là lợi ích tối thượng của quốc gia - dân tộc với nội hàm là hoà bình, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, nâng cao sức mạnh và vị thế của quốc gia; đồng thời, linh hoạt, khéo léo trong sách lược, hành động để xử lý cái "vạn biến" của tình hình. Trước những phức tạp ở Biển Đông, chúng ta kiên trì sử dụng các biện pháp hoà bình để giải quyết tranh chấp, đồng thời "kiên quyết bảo vệ những quyền thiêng liêng nhất: Toàn vẹn lãnh thổ cho Tổ quốc và độc lập cho đất nước” như lời Bác căn dặn.

Trong tình hình mới, cán bộ đối ngoại cần thường xuyên phấn đấu, tu dưỡng như lời Bác dặn: "chỉ có qua học tập, qua sự cố gắng của từng cá nhân và cả ngành thì công tác ngoại giao mới đáp ứng nhu cầu của đất nước". Cán bộ đối ngoại cần vừa "hồng", vừa "chuyên" để xây dựng nền ngoại giao Việt Nam hiện đại trong thời kỳ mới. Đặc biệt, cần thực hiện lời căn dặn của Bác: “phải luôn luôn vì lợi ích dân tộc mà phục vụ và nhà ngoại giao phải khôn khéo để lợi ích đó được đảm bảo". Dưới ánh sáng của Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, ngoại giao Việt Nam sẽ tiếp tục viết lên những thành công mới, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đưa nước ta sánh vai cùng các cường quốc năm châu như Bác hằng mong ước.

 

Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh

 

Hiện nay, ở Việt Nam, các thế lực thù địch, phản động đang đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, không chỉ phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin, mà còn phủ nhận cả tư tưởng Hồ Chí Minh bằng mọi thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc. Trong đó, chúng tuyên truyền hết sức sai trái, cho rằng: “Tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện của Việt Nam”.

Cần khẳng định rằng, về bản chất, luận điểm tuyên truyền sai trái nói trên nằm trong mưu toan phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh ra khỏi nguồn gốc tư tưởng, lý luận chủ yếu, quyết định là chủ nghĩa Mác - Lênin. Đồng thời, từ đó làm suy yếu, tiến tới phủ định chính tư tưởng Hồ Chí Minh. Luận điệu sai trái đó nhằm ba mục tiêu: phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin; phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận nền tảng tư tưởng, lý luận, cương lĩnh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng. Từ đó, mưu toan làm tha hóa về chính trị, tư tưởng đối với một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhằm thực hiện mục tiêu làm suy yếu và đi đến xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Do vậy, mọi sự xuyên tạc, lừa bịp của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội về tư tưởng Hồ Chí Minh đều không có cơ sở khoa học và không có giá trị.

Hồ Chí Minh đã tiếp thu lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin theo phương pháp luận Mácxit. Từ lập trường, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin để tìm ra những chủ trương, chính sách phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể trong từng thời kỳ của cách mạng Việt Nam, không dập khuôn những lý luận đã có sẵn trong sách vở kinh điển. Ngay từ khi đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh thấy được sự khác biệt giữa các nước tư bản ở châu Âu mà C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin đã nghiên cứu so với thực tiễn Việt Nam - một nước thuộc địa nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu, kinh tế kém phát triển… Người đã đề xuất bổ sung về “cơ sở lịch sử phương Đông”, để gắn với lịch sử ở phương Đông và Việt Nam. Trong một báo cáo tình hình Việt Nam gửi Quốc tế Cộng sản, Người viết: “Cuộc đấu tranh giai cấp không diễn ra giống như ở phương Tây… dù sao cũng không thể cấm bổ sung cơ sở lịch sử của chủ nghĩa Mác, bằng đưa thêm vào đó những tư liệu mà Mác, ở thời mình không thể có được”. Hồ Chí Minh cũng có những phát triển sáng tạo về xây dựng Đảng Cộng sản ở một nước thuộc địa nửa phong kiến, đó là: Quy luật hình thành Đảng bằng kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước (chủ nghĩa Mác - Lênin chưa đặt vấn đề phong trào yêu nước); Đảng vừa đại diện cho lợi ích của giai cấp, vừa đại diện cho lợi ích của dân tộc. Hồ Chí Minh còn có sự phát triển sáng tạo về xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân và các lĩnh vực khác như: kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại, xây dựng thế hệ cách mạng cho đời sau… hết sức phong phú, sâu sắc.

Trong bối cảnh hiện nay, toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, đặc biệt khoa học - công nghệ tiếp tục phát triển mạnh mẽ sẽ thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế trên phạm vi toàn thế giới. Cạnh tranh kinh tế, tranh giành nguồn tài nguyên, nguồn nhân lực cho phát triển giữa các nước tiếp tục diễn ra gay gắt. Hòa bình hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng xung đột cục bộ, tranh chấp lãnh thổ, biển đảo vẫn diễn ra khó lường, các yếu tố đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống diễn biến rất phức tạp… Để tăng cường củng cố niềm tin vào tư tưởng Hồ Chí Minh, vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chúng ta cần có những giải pháp đồng bộ để nắm vững, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng của Người trong tình hình mới, cụ thể là:

Một là, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. Đặc biệt, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh một cách thiết thực, hiệu quả. Kết hợp với đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, gắn với công tác kiểm tra, đánh giá, phê bình, tự phê bình. Cơ quan lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước phải thường xuyên nắm chắc tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân; quản lý chặt chẽ các phương tiện thông tin đại chúng, có những biện pháp kịp thời, thiết thực, hiệu quả để ngăn chặn những diễn biến xấu về tư tưởng, chính trị, phòng chống những biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Hai là, quán triệt sâu sắc và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về phương thức lãnh đạo của Đảng cầm quyền. Bởi vì, cương lĩnh, đường lối chính trị đúng đắn là một vấn đề cốt lõi, sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong sự tồn tại và phát triển của Đảng. Có đường lối chính trị đúng đắn mới làm cho nhân dân được giác ngộ về mục tiêu đấu tranh, hiểu rõ tình hình cách mạng và ý thức rõ những việc nên làm. Phổ biến nghị quyết của Đảng trong nhân dân phải nâng cao tính thuyết phục, giải thích, tránh gò ép, mệnh lệnh, cưỡng bức. Thuyết phục quần chúng bằng lý lẽ, nhưng quan trọng hơn là nêu gương. Đồng thời, phải chọn cán bộ cho đúng. Vì cán bộ là cái gốc của mọi công việc và “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém”.

Ba là, phải quyết liệt, mạnh mẽ hơn nữa trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng và các mặt tiêu cực trong xã hội. Nhiều năm qua, Đảng ta đã chỉ đạo làm rất tích cực những vẫn còn những hạn chế, vướng mắc ở ngay trong bộ máy công quyền của chúng ta. Vì vậy, phải làm rất kiên quyết, triệt để, công khai, minh bạch, không để những kẻ lợi dụng quyền lực làm giàu bất chính tồn tại trong bộ máy của Đảng, Nhà nước ta, có như vậy mới giữ vững niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ ta.

Thời gian càng qua đi, giá trị lý luận và thực tiễn căn bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh càng trở nên sâu sắc. Tư tưởng Hồ Chí Minh có giá trị hết sức to lớn đối với sự nghiệp của Đảng và dân tộc Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam không có mục đích nào khác ngoài phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Trong bối cảnh hiện nay, mỗi cán bộ, đảng viên và toàn dân càng phải thấm nhuần và quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh; tự giác, rèn luyện, tu dưỡng; chủ động, kiên quyết phê phán các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, phản động, nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng, tiếp tục đi theo con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn.

 

 

PHẢI CHĂNG "TRÍ - SĨ" ĐUA NHAU RÚT GẠCH CHÂN TƯỜNG...!

         Như một hiệu ứng Domino, gần đây một số "nhân sĩ trí thức" và một vài "văn nghệ sĩ" có tư tưởng "thèm ngoại, cuồng ngoại" đã liên tục có những "phát ngôn - đề xuất" theo kiểu "rút gạch chân tường". Có vị thì đòi bỏ Tết âm lịch - Tết truyền thống của dân tộc để theo Tết dương lịch - Tết tây; vị lại đòi bỏ khẩu hiệu "Tiên học lễ hậu học văn" trong nhà trường; vị thì lại yêu cầu: Giáo viên không gọi học sinh là "con"...và mới đây có anh Diễn viên kiêm đạo diễn chuyên đóng vai phản diện trên truyền hình - Nguyễn Đỗ Tùng Dương đã xấc xược đòi bỏ câu khẩu hiệu: "Học, học nữa, học mãi" của Lênin, gây nhiều tranh cãi...

Không biết là các vị có "âm mưu" gì không mà lại đưa ra những quan điểm, đề xuất như vậy..? Sao quý vị không tự vắt tay lên trán để suy nghĩ xem, quý vị có được những học hàm, học vị hay những danh hiệu nghệ sĩ - diễn viên đó là từ đâu..? Chả phải là do học tập mà có hay sao..? Nếu không có những giá trị truyền thống của dân tộc, không có những "Tiên học lễ, hậu học văn", không có sự "Tôn sư, trọng đạo"... của nền giáo dục nước nhà và quá trình tự trui rèn của bản thân theo tinh thần "Học, học nữa, học mãi" của Lênin.. thì liệu quý vị có được như ngày hôm nay hay không mà hô hào đòi bỏ.?

Hô hào đòi bỏ, nhưng bỏ đi rồi thì xây lại bằng cái gì thì không thấy các vị "đề xuất" để chấn hưng và đưa "sự nghiệp trồng người" của đất nước lên một tầm cao mới, đưa những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc phát triển bền vững. Và thực tiễn đã chứng minh rằng: những quan điểm - đề xuất mà các vị đưa ra đều không nhận được sự quan tâm của Nhà nước, của các cấp các ngành và sự đồng tình ủng hộ của đông đảo quần chúng, nhân dân. Như vậy là các vị đã tự hạ thấp mình và đánh mất đi chính mình. Người đòi bỏ Tết âm lịch thì hơn chục năm nay vẫn cùng gia đình ăn Tết cổ truyền; người đòi bỏ các câu khẩu hiệu trong nhà trường thì vẫn luôn muốn người khác "tôn trọng" mình và anh diễn viên, kiêm đạo diễn thì vẫn muốn mọi người "hiểu mình"...đúng là khó hiểu quá nhỉ..???

Thôi khuyên các vị hãy sống thật với mình đi, đừng hô hào đòi bỏ này bỏ kia nữa. Cố đấm ăn xôi, "rút gạch chân tường" như vậy đến lúc "gạch nó rơi vào chân" lại khổ ra.../.




Yêu nước ST.

Phát huy nhân tố con người trong phát triển đất nước


Đảng và Nhà nước ta sớm nhận thức rõ vai trò quyết định của nhân tố con người và luôn đặc biệt quan tâm xây dựng con người Việt Nam mới và phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước. Tiếp theo tinh thần các Đại hội trước, Đại hội XIII của Đảng đề ra nhiệm vụ: Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh. Vấn đề đặt ra là phải có các giải pháp đột phá để phát huy có hiệu quả vai trò nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Trong các chặng đường đấu tranh cách mạng, Đảng, Nhà nước ta đã phát huy được sức mạnh của mỗi con người Việt Nam cũng như của cả dân tộc cho sự nghiệp giải phóng đất nước. Bước vào thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta nhận thức rõ con người vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển đất nước và đề ra những giải pháp nhằm phát huy tối đa nhân tố con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước.

Tuy nhiên, cùng với những kết quả đạt được thì việc phát huy nhân tố con người Việt Nam trong xây dựng, phát triển đất nước thời gian qua vẫn chưa đáp ứng yêu cầu, vẫn còn không ít những hạn chế, yếu kém cần phải tập trung khắc phục.

Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy bằng cấp,... chưa được ngặn chặn, đẩy lùi. Công tác giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực còn nhiều bất cập. Giáo dục và đào tạo chưa thực sự trở thành quốc sách hàng đầu, thành động lực phát triển. Chưa tạo ra được môi trường thuận lợi cho việc phát huy tối đa nhân tố con người Việt Nam. Các chính sách nhằm phát huy nhân tố con người dường như đều đã có, nhưng những chính sách này khó đi vào cuộc sống…

Để khắc phục những hạn chế, yếu kém nêu trên, phát huy có hiệu quả nhân tố con người Việt Nam trong xây dựng, phát triển đất nước, cần thực hiện một số giải pháp đột phá sau:

Một là, thống nhất nhận thức về phát huy nhân tố con người. Phát huy nhân tố con người là phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của mỗi người, tạo điều kiện cho mỗi người phát triển toàn diện, phát huy tối đa tài năng, năng lực của cá nhân cho sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước.

Hai là, giải quyết thỏa đáng lợi ích chính đáng, thiết thực của con người. Với mỗi giai tầng, mỗi người đều có các lợi ích kinh tế, chính trị, tinh thần,v.v.. Trong đó, chú ý đặc biệt tới lợi ích kinh tế. Giải quyết hài hòa lợi ích cá nhân - tập thể - xã hội - dân tộc.

Ba là, đổi mới mạnh mẽ về tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu quả, thiết thực, tạo cơ hội cho mỗi người dân phát huy tối đa năng lực, sở trường đóng góp vào sự nghiệp đổi mới đất nước.

Bốn là, phát huy dân chủ. Phát huy dân chủ là phát huy vai trò là chủ, làm chủ của nhân dân. Nhân dân có quyền học tập, lao động sáng tạo, quyền cống hiến, quyền phát huy vai trò của chính mình,v.v..

Năm là, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, giải quyết tốt vấn đề tôn giáo, dân tộc. Có phát huy được sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc thì mới phát huy được nhân tố con người Việt Nam. Thực hiện các chính sách bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển. Kiên quyết đấu tranh chống kỳ thị dân tộc, kỳ thị tôn giáo, chống lợi dụng các vấn đề tôn giáo, dân tộc để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trên cơ sở đó, chúng ta sẽ phát huy có hiệu quả nhân tố con người Việt Nam cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.

 

 

Ngày hội của non sông Việt Nam


Chiến thắng 30/4/1975 là một trong những chiến thắng vĩ đại nhất trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Suốt 47 năm qua, ngày 30/4 hằng năm đã trở thành ngày hội non sông, hội tụ hào khí giang sơn, kết tinh bản sắc văn hóa dân tộc. Đường lối hòa hợp dân tộc, phát huy sức mạnh toàn dân chung tay kiến thiết, xây dựng đất nước đã được Đảng ta thực hiện ngay sau ngày Nam Bắc liền một dải. Từ đó đến nay, Đảng và nhân dân ta luôn luôn coi kiều bào là bộ phận không thể tách rời của dân tộc. Càng ngày, những chủ trương, chính sách của Đảng và các hình thức hợp tác, kết nối của các cấp, các ngành, các địa phương càng tạo môi trường thông thoáng, thuận lợi để kiều bào gắn kết với quê hương. Hàng triệu kiều bào yêu nước luôn sát cánh bên Đảng và đồng bào, chiến sĩ trong nước, đóng góp ngày càng nhiều cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hướng về kỷ niệm 47 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 – 30/42022), dù bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19, song qua truyền thông và mạng xã hội, người dân Việt Nam, nhiều tổ chức, cá nhân kiều bào ở các quốc gia, vùng lãnh thổ đã hướng về quê hương bằng những chương trình hành động thiết thực. Bạn bè quốc tế cũng dành sự ngưỡng mộ, tình cảm tốt đẹp nhất cho Đảng, Chính phủ, quân và dân Việt Nam. Đó là những thanh âm, sắc màu thể hiện giá trị nhân văn, tinh thần đoàn kết, góp phần nâng cao niềm tin, vị thế đất nước trên trường quốc tế.

 

  

ĐẤU TRANH PHÊ PHÁN CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI PHỦ NHẬN TƯ TƯỞNG VÀ SỰ NGHIỆP CỦA HỒ CHÍ MINH TRÊN MẠNG INTERNET

 

Những năm gần đây, các phần tử cơ hội chính trị ráo riết đẩy mạnh việc truyền bá các quan điểm sai trái, phủ nhận tư tưởng và sự nghiệp của Hồ Chí Minh trên mạng Internet. Đặc biệt là từ sau khi toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang đẩy mạnh thực hiện việc Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch và các phần tử chống đối cách mạng ngày càng tinh vi, thâm độc, xảo quyệt hơn.

Với những ưu thế vượt trội trong lưu giữ và chuyển tải thông tin, hình thức thiết kế hấp dẫn, lôi cuốn người xem, mạng Internet được các thế lực thù địch sử dụng như một trong những công cụ chủ yếu, đắc lực nhất phục vụ cho hoạt động chống phá cách mạng nước ta; đặc biệt chúng tìm mọi cách xúc phạm, hạ thấp uy tín để đi đến "hạ bệ" thần tượng Hồ Chí Minh, phủ nhận tư tưởng của Người với tư cách là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng ta.

 Thực hiện âm mưu thâm độc này, các thế lực thù địch đã xuyên tạc cả thân thế, sự nghiệp cũng như đạo đức và tư tưởng, phong cách của Hồ Chí Minh. Đây là những phương thức, thủ đoạn của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch nhằm trực tiếp tác động vào nhận thức, tâm tư, tình cảm của các đối tượng khai thác thông tin trên mạng Internet, làm xuất hiện tâm lý hoài nghi, hoang mang, dao động về giá trị của tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, từng bước làm giảm sút niềm tin vào con đường mà Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn.

Đấu tranh chống các quan điểm sai trái để bảo vệ tư tưởng và sự nghiệp của Hồ Chí Minh là trách nhiệm chính trị của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta. Để hoàn thành tốt nhiệm vụ này, một mặt phải không ngừng nghiên cứu phát triển, hoàn thiện và hiện thực hoá tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong đời sống. Mặt khác, phải vạch trần âm mưu, bản chất, thủ đoạn của các thế lực thù địch, có như vậy mới tạo được sức đề kháng cao cho các đối tượng tham gia khai thác thông tin trên mạng Internet.

 

 

Xử lý quyết liệt vi phạm chứng khoán, phát hành trái phiếu doanh nghiệp

 

Xử lý quyết liệt vi phạm chứng khoán, phát hành trái phiếu doanh nghiệp

Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rõ Chính phủ đã chỉ đạo các cơ quan chức năng xử lý quyết liệt các vi phạm trong lĩnh vực bất động sản, thị trường chứng khoán, phát hành trái phiếu doanh nghiệp.

Sáng nay 5-4, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã chủ trì Hội nghị trực tuyến của Thường trực Chính phủ với Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố về tình hình kinh tế-xã hội, chương trình phục hồi và phát triển; việc phân bổ, giải ngân vốn đầu tư công và triển khai các công trình giao thông quan trọng quốc gia.

Phát biểu khai mạc Hội nghị, Thủ tướng Phạm Minh Chính cho biết hội nghị nhằm đánh giá tình hình triển khai Kết luận của Trung ương, Nghị quyết của Quốc hội,… trọng tâm là thảo luận tình hình kinh tế-xã hội tháng 3 và 3 tháng năm 2022, việc triển khai Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội; tình hình và giải pháp đẩy mạnh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công; việc triển khai các công trình giao thông quan trọng quốc gia.

Thủ tướng nêu rõ, so với thời điểm tổ chức Hội nghị trực tuyến Chính phủ với các địa phương ngày 5-1, tình hình hiện nay đã có nhiều diễn biến mới khác, phức tạp, khó lường. Tình hình có thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen, nhưng khó khăn, thách thức nhiều hơn thời cơ và thuận lợi.

Cụ thể là xung đột ở Ukraine ảnh hưởng đến kinh tế, xã hội, chính trị, quốc phòng, an ninh trên toàn cầu, tác động đến thị trường năng lượng, tài chính và cung cầu hàng hóa. Cạnh tranh nước lớn tiếp tục diễn ra gay gắt. Giá nguyên liệu đầu vào trên thế giới, chi phí logistics và lạm phát ở nhiều nước tăng cao.

Ở trong nước, những khó khăn nội tại của nền kinh tế bộc lộ khi tình hình có những biến động. Vi phạm pháp luật liên quan tới bất động sản, thị trường chứng khoán, phát hành trái phiếu doanh nghiệp là vấn đề nổi lên.

Trong quý I/2022, sức ép lạm phát trong và ngoài nước rất lớn nhưng chỉ số giá tiêu dùng bình quân được kiểm soát ở mức 1,92% với các giải pháp tích cực, chủ động, linh hoạt về thuế, phí, giá… 

"Chính phủ cũng đã chỉ đạo các cơ quan chức năng xử lý quyết liệt các vi phạm trong lĩnh vực bất động sản, thị trường chứng khoán, phát hành trái phiếu doanh nghiệp, cần tiếp tục giám sát, thanh tra, kiểm tra, giám sát, ngăn chặn, xử lý, làm lành mạnh hóa thị trường"- Thủ tướng nhấn mạnh.

Người đứng đầu Chính phủ cho rằng thời gian tới, dự báo vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức và đề nghị các đại biểu tham dự hội nghị tập trung phân tích, mổ xẻ những việc đã và chưa làm được trong quý I, nguyên nhân, bài học kinh nghiệm, những khó khăn, thách thức chính đối với Việt Nam hiện nay (cả nội tại lẫn tác động bên ngoài); giải pháp tháo gỡ, những trọng tâm cần triển khai trong thời gian tới để đạt mục tiêu đề ra.

Thủ tướng lưu ý một số nội dung cụ thể như việc triển khai các dự án hạ tầng giao thông chiến lược, phân bổ và giải ngân vốn đầu tư công bảo đảm trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải, phân tán, kéo dài; đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tinh giản biên chế gắn với cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức; tiếp tục rà soát, hoàn thiện thể chế cho phát triển…