Thứ Ba, 5 tháng 4, 2022

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào đổi mới công tác thi đua, khen thưởng ngành Giáo dục.

 Trong tình hình mới, công tác thi đua, khen thưởng (TĐ-KT) trong ngành Giáo dục cần tiếp tục nghiên cứu bổ sung lý luận, bám sát thực tiễn, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm đổi mới toàn diện phong trào thi đua và công tác khen thưởng; góp phần nâng cao chất lượng chất lượng giáo dục, thực hiện thành công mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với các đại biểu dự Đại hội chiến sĩ thi đua và cán bộ gương mẫu toàn quốc ngày 1/5/1952. Ảnh: internet

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ THI ĐUA YÊU NƯỚC

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng khơi dậy, phát động phong trào thi đua yêu nước trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Người coi đây là một trong những biện pháp căn bản để tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước vừa chứa đựng những giá trị khoa học, nhân văn cao cả, vừa bao hàm những giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc.

Ngày 11/6/1948, giữa lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang trong giai đoạn khó khăn, cam go và quyết liệt nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc, chính thức phát động phong trào thi đua yêu nước trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta. Người kêu gọi: “Mỗi người dân Việt Nam, bất kỳ già, trẻ, trai, gái; bất kỳ giàu, nghèo, lớn, nhỏ, đều cần phải trở nên một chiến sĩ đấu tranh trên mọi mặt trận: quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa”. Từ đây, phong trào thi đua yêu nước do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng, phát động và tổ chức thực hiện ngày càng phát triển, gắn liền với lịch sử và thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Nói về thi đua, Người nhấn mạnh: “Tưởng lầm rằng thi đua là một việc khác với những việc hằng ngày. Thật ra công việc hằng ngày chính là nền tảng của thi đua. Thí dụ từ trước đến nay ta vẫn ăn, vẫn mặc, vẫn ở. Nay ta thi đua ăn, mặc, ở cho sạch, cho hợp vệ sinh, khỏi đau ốm. Xưa nay ta vẫn làm ruộng, nay ta thi đua làm cho ruộng tốt hơn, sản xuất nhiều hơn, mọi việc đều thi đua như vậy”Theo Hồ Chí Minh, công việc hàng ngày của mỗi người là nền tảng của thi đua yêu nước. Để có phong trào thi đua với sự tham gia đông đảo của các tầng lớp quần chúng phải chú trọng tất cả các mặt lợi ích; phải lấy lợi ích của dân tộc làm trọng, làm điểm tương đồng, phải kết hợp hài hòa lợi ích cá nhân, cộng đồng. “Thi đua ái quốc là lợi ích cho mình, lợi ích cho gia đình mình và lợi ích cho làng, cho nước, cho dân tộc”.

Người nói: “Thi đua là cải tạo con người, càng hăng hái thi đua thì người chiến sĩ càng phải ra sức tìm tòi, học hỏi tiến bộ”. Theo đó, thi đua yêu nước cũng là môi trường tu dưỡng, rèn luyện con người. Qua đó, mỗi người biết nâng cao ý thức, chủ động khám phá, sáng tạo, dám hy sinh vì nghĩa cả, biết sống vì đạo lý, hăng hái làm việc tốt, biết phấn đấu để trở thành người tốt.

Người cũng chỉ rõ: “Thi đua không phải là tranh đua… không giấu nghề, người đi trước hiểu biết, dẫn người đi sau, làm cho mọi người cùng tiến bộ”. Đó là “một cách rất tốt, rất thiết thực để làm cho mọi người tiến bộ”. Nhờ công tác thi đua mà bản thân thi đua thể hiện rõ sức thu hút, sự huy động đối với mọi nguồn lực vào thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị và mục tiêu, nhiệm vụ cho công cuộc đổi mới.

Thi đua phải gắn liền với công tác khen thưởng. Khen thưởng là kết quả của phong trào thi đua. Người nhấn mạnh: “Thi đua là gieo trồng, khen thưởng là thu hoạch”. Khen thưởng đúng người, đúng việc, kịp thời sẽ động viên, giáo dục và thúc đẩy phong trào thi đua phát triển liên tục; động viên, khuyến khích phát triển cái tốt để lấn át cái xấu, xây dựng con người mới.

Hồ Chí Minh chủ trương đa dạng các hình thức TĐ-KT, bởi “Số người và những tập thể được công nhận là anh hùng, chiến sĩ thi đua được tặng huân chương, huy chương vẫn chỉ là số ít so với hàng triệu, hàng chục triệu con người hàng ngày góp gió thành bão, đang gánh vác mọi việc nước, việc nhà… gọi là người tốt việc tốt”. Vì thế, bên cạnh hình thức tuyên dương Anh hùng, Chiến sĩ thi đua, Người còn đề xuất hình thức tuyên dương gương Người tốt, việc tốt để những việc bình thường nhưng ích nước lợi dân được trân trọng và nhân rộng trong xã hội. Người đề nghị xuất bản sách người tốt, việc tốt, phổ biến sâu rộng trong nhân dân, qua đó nhân lên nhiều tấm gương điển hình tiên tiến mới.

Ngày 27/3/1948, trong bối cảnh khó khăn, thách thức của những năm đầu cuộc kháng chiến kiến quốc, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã ra Chỉ thị về phát động phong trào thi đua ái quốc, trong đó nêu rõ “Thi đua ái quốc là gì? Là ai nấy đều gắng làm nhanh, làm tốt, làm đẹp, không kể công việc của mình thuộc về đời sống vật chất hay tinh thần, không kể mình hoạt động ở hậu phương hay tiền tuyến, cốt sao lợi cho nước nhà mà mình tiến bộ. Nước nhà đang kháng chiến và kiến quốc, mục đích thi đua ái quốc là làm sao cho kháng chiến mau thắng lợi, kiến thiết chóng thành công”(1).

Trong các giai đoạn của sự nghiệp cách mạng, có thể nói, việc tổ chức triển khai thực hiện các phong trào thi đua và công tác khen thưởng trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã góp phần to lớn vào công cuộc giải phóng dân tộc, củng cố quốc phòng an ninh, xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể ngày càng vững mạnh; mang lại nhiều hiệu quả thiết thực, trở thành động lực và hành động cách mạng trong các cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện đi đến thắng lợi hoàn toàn.

Để phong trào thi đua yêu nước ngày càng phát triển, phù hợp với tình hình mới, đồng thời tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác TĐ-KT, từ năm 1998 đến nay, Bộ Chính trị đã ban hành nhiều chỉ thị về công tác TĐ-KT. Thể chế đường lối, chủ trương của Đảng về công tác TĐ-KT, năm 2003, Quốc hội ban hành Luật Thi đua, Khen thưởng và được sửa đổi bổ sung năm 2005 và 2013. Chính phủ ban hành nhiều nghị định quy định và hướng dẫn thi hành Luật Thi đua, Khen thưởng, tạo hành lang pháp lý quan trọng đưa chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về TĐ-KT vào đời sống xã hội.

ĐỔI MỚI CÔNG TÁC TĐ-KT ĐỂ GÓP PHẦN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC

Công tác TĐ-KT của ngành Giáo dục trong những năm qua luôn được thực hiện nghiêm túc, ngày càng hoàn thiện về chất lượng, bám sát yêu cầu của thực tiễn đất nước, thực tiễn của ngành; góp phần tạo chuyển biến sâu sắc về nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, công đoàn giáo dục, cơ sở giáo dục và đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, học sinh, sinh viên các cấp học.

Nhìn chung, công tác khen thưởng trong bình xét, khen thưởng đúng người, đúng thành tích, công khai, minh bạch, dân chủ và công bằng; kịp thời phát hiện và khen thưởng các tập thể, cá nhân có nhiều thành tích xuất sắc trong hoạt động. Nhiều phong trào thi đua yêu nước, như Mỗi thầy giáo, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”, “Cán bộ, công chức, viên chức thi đua thực hiện văn hóa công sở”, “Xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia”, “Giỏi việc trường, đảm việc nhà”, “Xã hội hóa giáo dục”... được ngành phát động và triển khai sâu rộng trên nhiều lĩnh vực của giáo dục với nội dung, hình thức phong phú, thu hút đông đảo nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, học sinh, sinh viên các cấp tham gia, mang lại hiệu quả thiết thực, góp phần thực hiện thắng mục tiêu, nhiệm vụ, kế hoạch năm học của ngành.

Công tác phát hiện, tôn vinh, bồi dưỡng và nhân rộng các gương “người tốt, việc tốt”, các mô hình, các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến, chiến sĩ thi đua được chú trọng triển khai thực hiện tích cực, bảo đảm khen thưởng kịp thời. Nhiều chính sách TĐ-KT trong ngành phát huy mạnh mẽ vai trò động viên, khuyến khích đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chính trị, chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm, vượt qua khó khăn để thi đua nghiên cứu, giảng dạy, đổi mới, sáng tạo phát huy sức mạnh tập thể hoàn thành tốt nhiệm vụ; đồng thời động viên, khích lệ học sinh, sinh viên thi đua học tập, khơi dậy tinh thần yêu nước, tích cực hưởng ứng tham gia các phong trào thi đua của ngành.

Đặc biệt, trong bối cảnh đại dịch COVID-19, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về việc ưu tiên nguồn lực hỗ trợ học sinh khó khăn không có phương tiện học tập trực tuyến, bảo đảm công bằng trong tiếp cận phương thức dạy và học mới, qua đó thúc đẩy phát triển xã hội số, hoạt động “Sóng và máy tính cho em” trong ngành đã được triển khai tích cực, mang lại hiệu quả thiết thực và ý nghĩa xã hội, nhân văn sâu sắc.

Trong tình hình mớicông tác TĐ-KT trong ngành Giáo dục cần tiếp tục nghiên cứu bổ sung lý luận, bám sát thực tiễn, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm đổi mới toàn diện phong trào thi đua và công tác khen thưởng; góp phần nâng cao chất lượng chất lượng giáo dụcthực hiện thành công mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; để TĐ-KT thực sự là động lực phát triển và xây dựng con người mới.

Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ X. Ảnh: Trí Dũng – TTXVN

Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ X. Ảnh: Trí Dũng – TTXVN

Thứ nhất, tiếp tục tổ chức tốt việc học tập, quán triệt chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về công tác TĐ-KT; tạo sự chuyển biến, nâng cao nhận thức của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục các cấp về đổi mới công tác TĐ-KT gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao theo tinh thần Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 7/4/2014 của Bộ Chính trị về  việc tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng. Đổi mới và nâng cao chất lượng, tổ chức hiệu quả các hoạt động, phong trào thi đua trong toàn ngành gắn với thực hiện hiệu quả chương trình, kế hoạch, nhiệm vụ của ngành giáo dục, góp phần triển khai hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp và Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về đẩy mạnh học tập  làm theo  tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh  cuộc vận động, phong trào thi đua “Mỗi thầy giáo, cô giáo  một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”, “Đổi mới, sáng tạo trong dạy và học”...

Thứ hai, đổi mới công tác quản lý nhà nước, lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện đồng bộ trong công tác TĐ-KT với nhiều hình thức, nội dung phong phú. Trước mắt, gắn công tác TĐ-KT với triển khai thực hiện nhiệm vụ đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông; tạo động lực đưa sự nghiệp giáo dục đất nước phát triển đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị trong tình hình mới. Tiếp tục tổng kết, đánh giá đầy đủ, cụ thể những vướng mắc, bất cập trong công tác TĐ-KT của ngành để đề xuất sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách; bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, phù hợp với thực tiễn của ngành. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, cải cách thủ tục hành chính, chuyển đổi số trong quản lý công tác TĐ-KT của ngành từ Trung ương đến cơ sở.

Trong tình hình mới, công tác TĐ-KT trong ngành Giáo dục cần tiếp tục nghiên cứu bổ sung lý luận, bám sát thực tiễn, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm đổi mới toàn diện phong trào thi đua và công tác khen thưởng; góp phần nâng cao chất lượng chất lượng giáo dụcthực hiện thành công mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; để TĐ-KT thực sự là động lực phát triển và xây dựng con người mới.

Thứ ba, việc tổ chức các phong trào TĐ-KT phải bao quát hết các lĩnh vực, đối tượng, bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng và hướng về cơ sở giáo dục, đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và người học; quyết tâm, quyết liệt khắc phục bệnh thành tích, hình thức. Quan tâm hơn nữa đến công tác TĐ-KT khu vực giáo dục ngoài công lập, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng biên giới, hải đảo. Đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cơ sở giáo dục trong công tác TĐ-KTCoi kết quả công tác TĐ-KT là một trong những tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của lãnh đạo, công chức, viên chức, nhân viên cơ sở giáo dục; tiêu chí để bề bạt, bổ nhiệm và thực hiện các chế độ đãi ngộ.

Thứ tư, xây dựng đội ngũ công chức, viên chức làm công tác TĐ-KT của ngành ngày càng chuyên nghiệp, đủ về số lượng và đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo trong tình hình mới. Thực hiện tốt công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ làm công tác TĐ-KT về phẩm chất chính trị, đạo đức, chuyên môn, kiến thức về công tác TĐ-KT. Nâng cao trách nhiệm của các thành viên Hội đồng TĐ-KT từ cấp sở, phòng đến các cơ sở giáo dục trong đề xuất, tham mưu nội dung các phong trào thi đua, xét công nhận danh hiệu thi đua và khen thưởng; chủ động, tích cực trong công tác tham mưu, đề xuất với cấp ủy, người đứng đầu đơn vị chỉ đạo, tổ chức triển khai công tác TĐ-KTcó giải pháp kịp thời đưa TĐ-KT ngày càng thực chất, hiệu quả hơn trong thúc đẩy đổi mới, sáng tạo trong dạy và học. Triển khai phần mềm quản lý, lưu trữ các dữ liệu về TĐ-KT trong toàn ngành để tạo thuận lợi trong việc tra cứu và thống kê.

Thứ năm, nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo về TĐ-KT trong ngành. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để kịp thời ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực trong công tác TĐ-KT; kịp thời hướng dẫn, chỉ đạo tổ chức thực hiện đúng các quy định về TĐ-KT; phát hiện những và chấn chỉnh những biểu hiện chạy theo thành tích, thực hiện hình thức - “làm cho có”, mâu thuẫn nội bộ...
Thứ sáu, phát huy sức mạnh tổng hợp của tổ chức Công đoàn Giáo dục với các tổ chức đoàn thể ở nhà trường trong việc phối hợp lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu giáo dục và TĐ-KT. Làm tốt công tác phối hợp giữa công đoàn với nhà trường, với cấp ủy, chi bộ, với các đoàn thể trong nhà trường và ngoài xã hội để chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng cho công đoàn viên. Qua đó, động viên, khích lệ đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong cơ sở giáo dục nhiệt tình tham gia, tích cực hưởng ứng các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động mang tính xã hội rộng lớn và triển khai thực hiện tốt việc đổi mới công tác TĐ-KT trong giai đoạn mới./.

Lời Bác dạy ngày này năm xưa: "Về lãnh đạo, cán bộ phải thật sự đoàn kết, nhất trí, phải đi sâu đi sát, phải lãnh đạo thiết thực và toàn diện”.

 

Lời huấn thị trên được trích trong thông báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nội dung đợt chỉnh huấn cho toàn Đảng, toàn dân, do Trung ương phát động, khi Người về thăm và nói chuyện với đồng bào, cán bộ tỉnh Bắc Giang ngày 6-4-1961.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu cầu đội ngũ cán bộ phải đề cao và thực hành đoàn kết, nhất trí, giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí như giữ gìn con ngươi của mắt mình, phải rèn luyện phong cách lãnh đạo sâu sát, tỉ mỉ, gắn bó với cơ sở, gần dân, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, phải thiết thực và toàn diện, tránh phô trương, hình thức. Theo Bác, sau khi nghị quyết được ban hành, phải tổ chức tốt việc thực hiện nghị quyết, để nghị quyết đi vào cuộc sống. Muốn vậy, đòi hỏi người cán bộ phải sâu sát, tỉ mỉ, phải “đi tận nơi, xem tận chỗ”.

Thực hiện lời Bác dạy, Đảng ta luôn nhận thức sâu sắc ý nghĩa to lớn của việc xây dựng, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, xem đây là vấn đề quan trọng hàng đầu, là nhiệm vụ sống còn của Đảng, của dân tộc. Đặc biệt, trong thời kỳ mới, Đảng luôn quan tâm lãnh đạo công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất; kiên quyết chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Sự nghiệp đổi mới đất nước đã thu được kết quả rất quan trọng, tiếp tục nâng cao vị thế, khẳng định năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Đại bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng đã luôn giữ gìn sự đoàn kết nhất trí, phấn đấu hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Tuy nhiên, cũng còn một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng…

Để tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng, kiên quyết đấu tranh, khắc phục những hạn chế, yếu kém, mỗi cán bộ, đảng viên trong Đảng nói chung, trong Đảng bộ Quân đội nói riêng, luôn gương mẫu đi đầu thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, hiệu quả, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của địa phương, đơn vị, chức trách, nhiệm vụ được giao. Cán bộ, đảng viên phải có tác phong dân chủ, quần chúng, sâu sát, gần gũi, chân thành lắng nghe tâm tư, nguyện vọng và thành tâm tiếp thu sự phê bình của quần chúng, luôn đề cao tự phê bình và phê bình.

HAIVAN

531 NĂM NGÀY SINH TRẠNG TRÌNH NGUYỄN BỈNH KHIÊM

 

Ngày 6-4-1491, là ngày sinh của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông sinh ra ở làng Trung An, huyện Vĩnh Lại, tỉnh Kiến An (nay là thôn Trung An, xã Lý Học, Vĩnh Bảo, Hải Phòng). Nguyễn Bỉnh Khiêm tài nǎng xuất sắc được thể hiện trên nhiều mặt: Triết học, vǎn học, giáo dục, quân sự... Nhưng sự đóng góp nhiều nhất, cụ thể nhất của ông cho nền vǎn hóa dân tộc phải kể đến giáo dục. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tạo được tiền đề cho sự phát triển của giáo dục nước ta, ông được xếp là một trong 13 danh nhân vǎn hóa lớn nhất của lịch sử dân tộc.

HAIVAN

Chiến thắng 30-4 cái nhìn từ báo chí thế giới.

 LTS: Trong không khí rộn ràng kỷ niệm 39 năm ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, Báo Công an TP Đà Nẵng xin gửi đến bạn đọc những đánh giá thực tế của dư luận thế giới xung quanh sự kiện có một không hai trong lịch sử thế giới này. Đặc biệt đó là cái nhìn của những người trực tiếp, gián tiếp ủng hộ cuộc đấu tranh trường kỳ và vĩ đại của dân tộc chúng ta.

chien-thang-30.4-bqllang.gov.vn

Xe tăng quân giải phóng tiến vào Dinh Độc Lập 30-4-1975. 
(Ảnh của AP giới thiệu tại triển lãm "Việt Nam, 35 năm sau")

Báo chí Nhật - "khâm phục, kính nể"

Mặc dù chiến tranh Việt Nam qua đi gần 4 thập kỷ, nhưng "dư chấn" về cuộc chiến tranh này vẫn được báo chí Nhật nhắc đến với sự khâm phục, kính nể. Mở đầu, tờ Asahi Shimbun số ra ngày 1-5-1975 có bài xã luận nóng tính thời sự: "Chiến tranh Việt Nam đã kết thúc với thắng lợi của lực lượng giải phóng, điều đó có thể khẳng định, thời mà các nước lớn dùng sức mạnh để bóp nghẹt chủ nghĩa dân tộc đã chấm dứt ".

30 năm sau, tờ Nikkei, ấn phẩm chuyên đề kinh tế lớn nhất Nhật Bản số ra ngày 28-4 đăng lại hình ảnh chiếc xe tăng đầu tiên của Quân giải phóng tiến vào Dinh Độc lập, kèm theo bình luận: "Việt Nam sau 30 năm chiến tranh". Bài báo nhấn mạnh: "Cuộc chiến tranh Việt Nam đã để lại dấu ấn sâu đậm và đầy ấn tượng trong tâm thức người Mỹ, tạo hiệu ứng dây chuyền trong toàn khu vực Đông Dương".

Theo bài báo: "Ngày nay Việt Nam đang tiến hành công cuộc Đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam giành được nhiều thành tựu rất đáng tự hào". Báo này dẫn chứng, năm 2000, Tổng thống B.Clinton sang thăm Việt Nam và sau đó Thủ tướng Phan Văn Khải "đáp lễ" bằng chuyến thăm Mỹ.

Trong khi đó, tờ Asahi số ra ngày 29-4-2005 có bài viết "Việt Nam: Vinh quang và thiện ý", tái hiện lại chiến tranh qua lời kể của các nhân chứng, những người đã trực tiếp tham gia trong cuộc chiến ở cả hai chiến tuyến.

Trong đó có đoạn văn cảm động nói về sự nhân đạo của một nữ du kích Việt Nam: "Tháng 4-1966, tại khu vực Củ Chi, nữ du kích mới 18 tuổi, phát hiện một nhóm lính Mỹ lọt vào bãi mìn của quân giải phóng. Nữ du kích này tận mắt chứng kiến cảnh lính Mỹ ngồi ngay trên bãi mìn đọc thư nhà, xem ảnh người thân và khóc, chị không nỡ nhấn nút phát hỏa. Toán lính Mỹ thoát chết mà không hề hay biết nữ du kích này đã không nỡ giết họ".

Báo chí Lào - "anh dũng, kiên cường"

Ngày 29-4-2010, tờ Pasason, tiếng nói của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã có bài viết tựa đề "Truyền thống đấu tranh anh dũng của nhân dân Việt Nam", ca ngợi sự lãnh đạo tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam và tinh thần chiến đấu ngoan cường và anh dũng của nhân dân ta trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân cũ và mới, tạo ra Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy tháng 5-1954 và Đại thắng mùa Xuân 1975.

Theo bài viết, Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng đã trở thành giây phút lịch sử của cuộc đấu tranh anh dũng của quân đội và nhân dân Việt Nam. Chiến thắng mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do và thống nhất.

chien-thang-30.4-bqllang.gov.vnb

Phản đối chiến tranh Việt Nam diễn ra tại Washington ngày 21-10-1967. 
(Ảnh của AP giới thiệu tại triển lãm "Việt Nam, 35 năm sau")

Báo chí Mỹ - "các đồng chí"

Phải nói ngay rằng, chiến tranh Việt Nam tốn nhiều tâm trí, sức lực, tiền của và thời gian của người Mỹ. Riêng về những năm cuối của cuộc chiến tranh, báo chí Mỹ có rất nhiều bài viết về cuộc chiến hao người tốn của này.

Hãng UPI, ngày 30-4-1975 viết: "Quân đội phía chiến thắng cưỡi xe tăng vào Dinh Tổng thống với nét mặt phấn khởi như vào chỗ không người, thậm chí còn xưng hô "các đồng chí" với những người đang đứng hai bên đường cũng như đối với các nhà báo.

Họ thật sự không để ý sự có mặt của các nhà báo đang tác nghiệp, đang ghi lại những khoảnh khắc hiếm hoi của lịch sử, sự đầu hàng lịch sử của chính quyền Sài Gòn trước những người cộng sản. 3 lá cờ trắng được kéo lên sở chỉ huy cảnh sát, một lúc sau khi ông Minh nói trên đài. Nhiều cờ trắng cũng treo lên ở ngoại ô phía bắc Sài Gòn. Dân chúng đi lại bình thường trên các đường phố".

Với tựa đề "Sài Gòn sụp đổ", tờ NewYork Times ngày 1-5-1975 chạy tít lớn suốt 8 cột trang nhất kèm theo hàng loạt tin, ảnh về sự sụp đổ của chính quyền ngụy và chiến thắng của các lực lượng cách mạng. Theo bài viết, ngày 30-4-1975 là ngày "lịch sử của thế giới".

Cũng trong số ra ngày 1-5-1975, hãng tin AP đăng một bài viết có đoạn "Xe tăng, xe bọc thép và xe tải ngụy trang của Quân Giải phóng tiến nhanh vào Dinh Tổng thống. Cũng trong thời gian này tướng trung lập, Dương Văn Minh đã lên đài phát thanh và truyền hình công bố lệnh đầu hàng".

Bên cạnh những tờ báo lớn, hầu hết các chương trình thuộc 3 hệ thống vô tuyến truyền hình Mỹ tối 1-5-1975 đều dành cho những đoạn phim về cuộc di tản người Mỹ ra khỏi Sài Gòn ngày 29-4-1975 và các tin về giây phút cuối cùng của chế độ được gọi là Việt Nam Cộng hòa, cùng với việc ra đời một chế độ mới tại miền Nam Việt Nam.

Và đánh dấu kỷ niệm 30 năm Việt Nam thống nhất, tờ Washington Time ra đặc san về Việt Nam, trong đó nêu bật những nỗ lực của nước ta trên đường đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế. Đặc san đem đến cho độc giả những thông tin chân thực và sinh động về đất nước, con người và sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam.

chien-thang-30.4-bqllang.gov.vnc

Máy bay lên thẳng AUH-1D của Mỹ rải chất độc da cam xuống miền Nam Việt Nam. (Ảnh của Bộ Quốc phòng Mỹ giới thiệu tại triển lãm "Việt Nam, 35 năm sau")

Báo chí Anh - "giây phút bước ngoặt"

Hãng tin Reuters danh tiếng của Anh cũng đã có bài viết lớn và liên tục cập nhật về cuộc chiến Việt Nam vào giờ phút bước ngoặt đó. Một nhà báo Reuters có mặt tại Sài Gòn 30-4-1975 viết: "Là phóng viên có mặt tại Phủ Tổng thống, tôi chứng kiến chiếc xe tăng đi đầu của quân giải phóng húc đổ cột bằng thép vững chắc và cán cờ ngụy rơi xuống đất, rồi vượt qua.

Gần 10 xe tăng khác nhanh chóng tiến vào theo. Bộ đội Chính phủ Cách mạng tỏa ra khắp khu vực Phủ tổng thống. Lính gác Nam Việt Nam lập tức giơ tay xin hàng và tập hợp thành hàng ngũ chờ lệnh mới. Cờ Chính phủ cách mạng lâm thời tung bay trong không khí chiến thắng ở lan can tầng hai ngay cả trong khi lá cờ ba sọc vẫn còn bay trên nóc mái nhà".

Báo chí Trung Quốc - "thắng lợi mãi mãi"

Cũng trong năm 2005, nhân kỷ niệm 30 năm chiến thắng lịch sử của dân tộc Việt Nam, tờ People Daily - Cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc số ra ngày 30-4 có bài bình luận dài về "Thắng lợi mãi mãi ghi vào sử sách" của chúng ta. Trong đó, tờ báo nhấn mạnh, ngày 30-4 là ngày lễ lớn của nhân dân Việt Nam và cũng là ngày đáng được những người yêu chuộng hòa bình, chính nghĩa trên toàn thế giới kỷ niệm.

Trong khi đó, Tân Hoa Xã số ra ngày 30-4 dành gần hết trang quốc tế cho chủ đề về chiến thắng 30-4 và cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Việt Nam. Giật tít: "30 năm thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, hình ảnh người cựu chiến binh Việt Nam", báo này đăng hai bức ảnh chụp hai cựu chiến binh Việt Nam ngực đầy huân chương, được nhân nhân thành phố Hồ Chí Minh trân trọng tặng hoa.

Báo chí Pháp - "chấn động địa cầu"

Một ngày sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, ngày 1-5-1975, hãng tin Pháp AFP viết "Trong năm 1975, sự kiện nổi bật nhất Châu Á là sự kiện 30-4 của Việt Nam, "dư chấn" rúng động địa cầu.

Theo hãng tin này, không còn nghi ngờ gì nữa, sự kiện trên sẽ có ảnh hưởng không nhỏ đến khu vực và thế giới trong tương lai gần". Năm 2010, nhân kỷ niệm 35 năm sự kiện 30-4, AFP cùng với hãng tin AP của Mỹ và nhiều hãng tin khác tham gia một cuộc triển lãm ảnh mang tên "Việt Nam, 35 năm sau", giới thiệu hàng trăm ấn phẩm ảnh đặc sắc liên quan đến chiến tranh Việt Nam. Theo AFP, đây là những khoảnh khắc trung thực của chiến tranh, hồi chuông cảnh tỉnh nhân loại hãy làm hết sức mình để không xảy ra một cuộc chiến tương tự, cho dù là bên thắng cuộc.

Ông Alain Rusco nhà sử học người Pháp, kiêm chuyên gia chuyên nghiên cứu về lịch sử Đông Dương, cho rằng, sự kiện 30-4 "gây tiếng vang lớn trên trường quốc tế về một dân tộc không chịu khuất phục trước quân thù".

Sự kiện 30-4-1975 có ý nghĩa trọng đại không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn cả với cộng đồng thế giới. Ông cũng có bài viết cho biết, để có được chiến thắng này hàng triệu người dân Việt Nam đã ngã xuống trong trong nhiều thập kỷ đầy cam go, quyết liệt. Gần như gia đình người Việt Nam nào cũng có đóng góp và mất mát, cho cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại này.

Không chỉ là chuyện vi hành.

 Trong thế kỷ 20, ở nước ta, nói đến những nhà lãnh đạo từng vi hành đến nhân dân để nghe nhân dân nói, thấy việc nhân dân làm, hiểu đời sống nhân dân, có thể khẳng định không ai vi hành nhiều bằng Bác Hồ. Việc vi hành cũng đã trở thành phong cách của Người. Việc vi hành của Bác không phải là việc tận dụng thời gian rỗi mà với Bác đó là nhiệm vụ, là trách nhiệm và là phương pháp làm việc. Khi cần biết điều gì trong nhân dân, Bác không chỉ dựa vào các báo cáo mà Bác đi vi hành để hỏi han nhân dân. Khi Bác đi vi hành đến dân chúng, không có tiền hô hậu ủng, không báo trước để các địa phương đón rước linh đình hoặc che dấu đi sự thật, cốt để nghe người dân nói thẳng, nói thật. Noi gương Bác, đã có không ít cán bộ lãnh đạo, đảng viên đã lăn lộn với quần chúng, đồng cam cộng khổ chia ngọt sẻ bùi, đương đầu với khó khăn, đặc biệt là trong giai đoạn đất nước trải qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân đế quốc, góp phần quan trọng vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc.


Thực tế đã chứng minh càng gần dân, hiểu dân và tận tâm vì dân thì hình ảnh của người cán bộ, đảng viên càng để lại trong dân những tình cảm, ấn tượng tốt đẹp. Chúng ta đã từng nghe chuyện ngày xưa, các vị vua quan giả dạng dân thường đi vi hành để xem dân sinh sống làm ăn ra sao để từ đó có những quyết sách ích nước lợi dân. Sử sách đã ghi, những vị vua quan đó để lại tiếng thơm đến bây giờ và đa số giai đoạn lịch sử đó, đất nước hay vùng miền nào có những vị quan như vậy, đều có cuộc sống thanh bình, ấm no.

Đất nước hòa bình, thống nhất, đây đó, đã xuất hiện tình trạng quan liêu, xa dân, hách dịch, nhũng nhiễu dân, đặc biệt là khi cơ chế thị trường len lỏi vào mọi ngóc ngách của cuộc sống, nhóm lợi ích hình thành trong bộ máy của đảng, chính quyền, từ đó hình thành “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống…” điều mà Nghị quyết Trung ương 4 đã thẳng thắn chỉ ra. Và chắc chắn trong cái “bộ phận không nhỏ” ấy có những vị cán bộ, đảng viên xa dân và không hiểu được dân!

Chúng ta không nên nhầm lẫn sự gần dân của cán bộ thể hiện qua những cuộc thăm viếng, kiểm tra thực tế trống dong cờ mở, thông báo trước cả tuần, khẩu hiệu băng rôn, phóng viên báo đài tháp tùng đông đảo. Điều đó nhiều khi chỉ là thể hiện sự phô trương, hình thức. Đối với những cuộc “vi hành” như vậy thì dù lãnh đạo, cán bộ có xuống đến cơ sở đấy nhưng vẫn khó mà gần dân, hiểu dân hết được, nếu chỉ đơn thuần dựa vào những bản báo cáo dạng “tốt khoe, xấu che” khá phổ biến ở nhiều nơi.

Trong thực tế, vẫn có những cán bộ, đảng viên, lãnh đạo, trong đó có cả những vị lãnh đạo cấp cao gần gũi, sát dân. Đó còn là hình ảnh của những bí thư tỉnh, thành ủy, chủ tịch UBND trực tiếp xuống địa bàn chỉ đạo các ban, ngành giúp dân phòng chống và sau đó là khắc phục hậu quả bão lũ; là những lãnh đạo cao nhất của các bộ ngành, các địa phương có mặt ngay sau những vụ tai nạn giao thông, tai nạn lao động, cháy nổ… thảm khốc để chỉ đạo cứu chữa, thăm hỏi, động viên nạn nhân...

Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh thời đã nói: "Làm cán bộ nhớ lấy dân làm gốc, coi trọng dân, vì có dân là có tất cả, đừng bao giờ xa rời dân, chuyên quyền, độc đoán". Lời dạy đó cần  phải được mỗi cán bộ, đảng viên ghi sâu vào “bộ nhớ” cũng như thể hiện trong lời nói và hành động của mình. Có như vậy thì hình ảnh người cán bộ, những công bộc của dân mới thực sự là những tấm gương, là chỗ dựa của nhân dân.

Học tập tư tưởng, tấm gương, phong cách của Bác Hồ, bác Giáp, cán bộ, đảng viên và nhất là các cán bộ lãnh đạo cần tăng cường việc đi cơ sở, thể hiện sự tiên phong gương mẫu đi đầu trong việc nêu gương để cán bộ, đảng viên noi theo. Việc đi cơ sở cần quan tâm tập trung vào những địa phương có những điểm nóng về các lĩnh vực kinh tế, xã hội, những dự án đang triển khai để giải quyết những khó khăn, bức xúc của nhân dân. Việc vi hành về cơ sở nhằm nắm tình hình và giải quyết các vấn đề tồn đọng, bức xúc trong dân và tháo gỡ khó khăn cho cơ sở, đồng thời bên cạnh đó còn kết hợp tham gia tổ chức các buổi đối thoại trực tiếp với nhân dân, qua đó giúp nhân dân tháo gỡ những khó khăn, những vấn đề bức xúc của dân được ghi nhận và giải quyết ngay tại chỗ. Việc vi hành của cán bộ lãnh đạo là để “lắng nghe tiếng nói người dân”, giải quyết có hiệu quả các kiến nghị của người dân, tạo niềm tin, thể hiện sự trân trọng các ý kiến góp ý của nhân dân.  

Vi hành đúng cách không còn là chuyện tận dụng thời gian lúc rảnh rỗi, nó trở thành một phương thức hữu hiệu của công tác tư tưởng, công tác dân vận, một biện pháp mang tính thực thi cao trong việc nắm bắt và chăm lo đời sống nhân dân, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức đảng, làm trong sạch bộ máy nhà nước và giữ vững bản chất nhà nước là nhà nước của dân, do dân và vì dân.


Bác Hồ thăm nông dân đang gặt lúa trên cánh đồng xã Hùng Sơn, huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên năm 1954

CHUYỆN THẬT NHƯ ĐÙA VỀ QUÂN GIẢI PHÓNG

 

          Ngày còn trên rừng, thỉnh thoảng nghe kể ngụy quyền Sài Gòn ra sức tuyên truyền, xuyên tạc rằng: "Việt Cộng chuyên ăn lá sắn thay cơm nên 7 tên đu 1 cọng đu đủ không gãy" hoặc "ở rừng nhiều nên Việt Cộng mọc đuôi như khỉ"... các chiến sĩ Đại đội xe tăng (XT) 4, Lữ đoàn 203 cứ cười ngặt nghẽo: "Nói thế mà cũng nói! Ai tin được chúng".

          Ấy thế nhưng khi giải phóng Đà Nẵng ngày 29.3.1975 và tiếp xúc với bà con những ngày sau đó, họ thật bất ngờ bởi đứng trước mặt họ rồi mà vẫn còn một số bà con vẫn bán tín, bán nghi không biết có thật hay không những chuyện trên.

          Giải phóng cũng ăn cơm như mình

          Chiều 29 tháng 3 năm 1975, sau khi vào thành phố Đà Nẵng, Đại đội XT4 được giao nhiệm vụ chiếm giữ Thương cảng Bạch Đằng. Đây là một cảng nhỏ nằm ngay trên bờ tây sông Hàn. 6 chiếc xe tăng dàn hàng ngang trên cảng, nòng pháo chĩa xuống sông đảm bảo không một con ruồi nào bay lọt.

          Sáng 30.3, cả đại đội rời cảng đi diễu hành một vòng trên các con đường chính của thành phố. Chắc là để thị uy và cũng là lời cảnh báo đối với đám tàn quân còn tản mát khắp nơi. Xong việc, đại đội được phép lui vào một con ngõ nhỏ đối diện với Thương cảng để trú quân.

          Chưa biết nếp tẻ thế nào nên bộ đội không dám vào nhà dân nhờ, Đại đội trưởng Bùi Quang Thận cho anh em nấu cơm ngay trên hè phố. Cũng không có gì khó khăn đối với những người lính chiến đã ăn ở trên rừng bao năm nay rồi.

          Chắc rằng sự kiện có mấy chiếc xe tăng giải phóng nằm giữa phố đã kích thích những người hiếu kỳ kéo đến. Lúc đầu họ còn đứng xa xa nhìn ngó, bàn tán. Sau dần dần họ kéo đến từng xe, người thì lấy gang tay đo nòng pháo, người thì xúm lại xem giải phóng ăn cái gì... Cuối cùng thì mỗi anh lính đều bị một đám đông xúm quanh với hàng trăm, hàng nghìn câu hỏi.

          Có lẽ đây là một tình huống nằm ngoài dự kiến, những bài học chính trị về công tác dân vận ở vùng mới giải phóng chưa đủ để quân ta trả lời nhiều câu hỏi "hóc búa" nên một số chiến sĩ thấy "bí" quá đành chọn giải pháp lỉnh vào xe ngồi tịt luôn trong đó.

          Ở chỗ nấu cơm bà con cũng đang xúm đông xúm đỏ. Thấy nồi hai mươi cơm gạo trắng tinh bốc hơi nghi ngút và mấy hộp thịt đã được bổ ra một người chửi đổng: "Tổ cha chúng nó! Thế ni mà biểu Giải phóng ăn toàn lá sắn, bảy người đu cọng đu đủ không gãy!".

          Có bà má còn đến sát gần các chiến sĩ, măt thì săm soi, tay thì sờ vào vai, vào mặt rồi lẩm bẩm: "Trắng trẻo, đẹp trai thế ni mà bọn hắn bảo các con da xanh như tàu lá, mọc đuôi như khỉ là răng?"...

          Xung quanh Chính trị viên Vũ Đăng Toàn và Đại đội trưởng Bùi Quang Thận là đông người nhất, chắc bà con cũng đoán ra đó là cán bộ nên cứ xúm lại hỏi han. Hai người tối tăm mặt mũi vì những câu hỏi được tuôn ra tới tấp.

          Tiếng Đà Nẵng đâu có dễ nghe, cứ phải hỏi đi hỏi lại hai ba lần mới hiểu lõm bõm, nhưng những câu trả lời của các anh đã làm bà con tương đối yên lòng.

          Đâu đâu cũng thơm thảo tấm lòng mẹ việt nam

          Một chiến sĩ trẻ ôm khẩu AK đứng ngay cạnh xe mình, nhiệm vụ của anh là không cho ai được đến gần và trèo lên xe nhưng cũng phải luôn mồm trả lời những câu hỏi của một đám đông quanh đó. Một bà má đã già lắm rồi len sát vào cạnh anh, bàn tay răn reo của má túm lấy cổ áo anh vạch ra và nghển cổ lên nhìn chăm chú.

          Cậu chiến sĩ đứng bất động không hiểu bà đang nhìn gì, gương mặt cực kỳ căng thẳng. Chợt bà má nói gì đó bằng thứ tiếng xứ Quảng rất nặng. Anh chiến sĩ cúi xuống hỏi lại. Bà má lại vạch cổ áo anh ra và hỏi to hơn: "Các con không có "mùng" à?".

          Đến lúc đó chắc anh chiến sĩ trẻ mới hiểu ra. Anh vội trả lời có và gật đầu lia lịa. Song có vẻ câu trả lời của anh làm má chưa hài lòng. Bà vẫn túm cổ áo anh vít xuống và vạch ra.

          Mọi người xung quanh cùng ồ lên. Cả cổ và một phần vầng ngực anh chiến sĩ chi chít nỗi muỗi đốt, cứ như tấm bánh đa vừng vậy. Bà lẩm bẩm đày xót xa: "Có mùng sao để mọi (muỗi) đốt nhiều thế ni".

          Anh chiến sĩ càng luống cuống không biết giải thích thế nào. Má đâu có biết, đêm hôm qua, sau ca gác đầu là anh ngồi vào ghế lái và chỉ kịp đắp cái khăn lên mặt là chìm vào giấc ngủ luôn. Sau hơn mười ngày hành quân chiến đấu liên miên, anh đã quá mệt mỏi. Mà gió sông Hàn thì mát rượi.

          Bà má vẫn chưa thôi. Sau khi sửa lại cổ áo cho anh, má kéo đầu anh xuống thấp dặn dò: "Lần sau phải nhớ mắc mùng (màn) khi đi ngủ nhé ! Mọi (muỗi) ở đây nhiều lắm". Không biết anh chiến sĩ trẻ có hiểu má nói gì không nhưng mắt cậu ta rưng rưng như có nước.

          Hành động vô kỷ luật nhưng cần thiết

          Đứng chân giữa một thành phố vừa mới được giải phóng, các quy định về sẵn sàng chiến đấu và nêu cao cảnh giác, phòng gian giữ bí mật phải hết sức chặt chẽ và nghiêm túc. Đặc biệt là việc đề phòng địch tập kích vào đội hình, phá hoại xe cộ, vũ khí.

          Vì vậy, bất cứ lúc nào bên cạnh mỗi chiếc xe tăng cũng có một chiến sĩ bồng khẩu AK đứng gác. Và có một điều quy định rất rõ ràng là "tuyệt đối không được cho ai đến gần, nhất là trèo lên xe".

          Ấy thế mà có một chiến sĩ đã vi phạm! Anh ta không những đã cho một thanh niên trẻ lên xe lại còn mở cửa xe cho cậu này vào xem trong xe nữa. Thật là không thể tha thứ được. Sự việc này ngay lập tức được báo cáo lên Ban chỉ huy Đại đội.

          Mặc dù còn rất đông người đứng xung quanh còn định hỏi han song Đại đội trưởng Bùi Quang Thận vẫn rẽ đám đông chạy tới chiếc xe có người vi phạm kỷ luật.

          Chắc vì không muốn làm lớn chuyện trước đám đông dân chúng nên anh kéo cậu chiến sĩ trẻ vào phía sau xe - chỗ giáp với tường nhà dân - và hỏi nhỏ nhưng giọng vẫn rất gay gắt: "Tại sao đồng chí lại vô kỷ luật như vậy?".

          Cậu chiến sĩ trẻ mặt đỏ lên tận mang tai, lúng túng một lát mới ấp úng giải thích: "Tại... tại nó cứ hỏi đi hỏi lại rằng... thì... là... anh em mình có bị xích chân trong xe không? Em bảo không thì nó nhất định không tin. Nó lại bảo nghe đài quốc gia nói vậy. Thế nên em mới cho nó lên xem chứ!".

          Đại đội trưởng Bùi Quang Thận quay lại cậu thanh niên trẻ lúc đó vẫn đang hoa chân múa tay nói gì đó với bà con quanh đấy, anh hỏi cậu ta: "Thế nào, quân giải phóng có bị xích trong xe không?". Cậu thanh niên hào hứng: "Cháu đã nói với bà con ở đây rồi. Không có xích nào cả. Bọn hắn toàn nói láo thôi!".

          Thấy cậu chiến sĩ trẻ của mình vẫn tỏ vẻ lo lắng, Đại đội trưởng Thận đến cạnh vỗ vai: "Đồng chí làm tốt lắm!". Gương mặt người chiến sĩ trẻ lúc đó mới giãn ra.