Thứ Tư, 6 tháng 4, 2022

Phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền và phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng - Những vấn đề lý luận

  - Trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta sử dụng phổ biến cụm từ phương thức lãnh đạo của Đảng. Trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng, cùng với khái niệm phương thức lãnh đạo của Đảng, lần đầu tiên Đảng sử dụng khái niệm phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Bài viết góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận về phương thức lãnh đạo của Đảng, phương thức cầm quyền của Đảng; quan hệ giữa phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền của Đảng; phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng.

Phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền và phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng - Những vấn đề lý luận

Ảnh minh họa - dangcongsan.vn

1. Về phương thức lãnh đạo của Đảng

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng các khái niệm: cách lãnh đạo, lối làm việc... của Đảng. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng cho đến trước thời kỳ đổi mới, Đảng ta dùng đồng thời các khái niệm: phương pháp lãnh đạo, phương pháp công tác, phong cách lãnh đạo, phong cách công tác, lề lối làm việc, quy chế công tác, quy trình làm việc... nhưng chủ yếu áp dụng đối với cá nhân cán bộ lãnh đạo, chưa đề cập đối với các tổ chức đảng. Từ Hội nghị Trung ương 6 khóa VI (tháng 3-1989) Đảng ta chính thức dùng khái niệm “phương thức lãnh đạo của Đảng” với cách đặt vấn đề “phương thức lãnh đạo” là khái niệm ở tầm tổng quát và cao hơn. Phương thức lãnh đạo của Đảng là tổng thể các cách thức, hình thức, phương pháp, quy chế, quy định, quy trình, lề lối làm việc... mà Đảng sử dụng để tác động vào đối tượng lãnh đạo nhằm thực hiện thắng lợi Cương lĩnh chính trị, đường lối, các nghị quyết và các nội dung lãnh đạo của Đảng trong từng thời kỳ cách mạng. 

Nội dung của phương thức lãnh đạo của Đảng (hay các phương thức lãnh đạo của Đảng), lần đầu tiên được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) kế thừa và bổ sung những nội dung cơ bản của phương thức lãnh đạo của Đảng được nêu trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Điều 41 Điều lệ Đảng do Đại hội XI của Đảng thông qua đã quy định rõ các phương thức Đảng lãnh đạo Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng một lần nữa xác định phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước: “Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng Cương lĩnh, chiến lược, các chủ trương, chính sách lớn, bằng công tác tổ chức, cán bộ, bằng kiểm tra, giám sát;... Các tổ chức của Đảng và đảng viên, nhất là tổ chức, đảng viên hoạt động trong các cơ quan nhà nước vừa phải gương mẫu tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, vừa phải nêu cao vai trò tiên phong trong thực hiện chủ trương, đường lối, các quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”(1)

Qua các văn kiện của Đảng, có thể khái quát phương thức lãnh đạo của Đảng gồm: một là, Đảng lãnh đạo bằng Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; hai là, Đảng lãnh đạo bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động; ba là, Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị và bằng công tác tổ chức, cán bộ; bốn là, Đảng lãnh đạo bằng công tác kiểm tra, giám sát; năm là, Đảng lãnh đạo bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Đó là những cách thức chủ yếu trong phương thức lãnh đạo của Đảng.

Trên thực tế, trong hoạt động lãnh đạo, Đảng còn sử dụng nhiều hình thức, biện pháp, quy chế, quy định, quy trình, lề lối làm việc cụ thể, như: tổ chức hội nghị phổ biến nghị quyết (trong cấp ủy, tổ chức đảng và đối với cán bộ chủ chốt các tổ chức trong hệ thống chính trị); hình thức giao ban giữa các cơ quan lãnh đạo đảng với lãnh đạo cơ quan nhà nước, MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; các cuộc làm việc giữa đại diện lãnh đạo cấp ủy đảng với lãnh đạo cơ quan nhà nước, MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội; cấp ủy viên cấp ủy cấp trên trực tiếp dự sinh hoạt của cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới; đối thoại giữa đại diện cấp ủy, tổ chức đảng với một số cá nhân; chỉ đạo làm thí điểm; xây dựng, hoàn thiện quy chế làm việc của cấp ủy, trong đó xác định đúng và rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng tập thể, cá nhân và các chế độ công tác chủ yếu, nhất là chế độ hội họp, chế độ thông tin, chế độ báo cáo; xây dựng các quy chế phối hợp công tác giữa các tổ chức, cơ quan có liên quan; việc phân công cấp ủy viên phụ trách một số tổ chức, một số lĩnh vực; phân công đảng viên theo dõi, phụ trách lĩnh vực công tác, đơn vị, hộ gia đình; tổ chức sơ kết, tổng kết việc thực hiện nghị quyết của Đảng; sử dụng văn bản và các hình thức thông tin khác; v.v.. Trong đánh giá thực trạng thực hiện phương thức lãnh đạo của Đảng, văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã nhắc đến các hình thức, phương pháp, quy trình cụ thể này. Có thể xem đây là nội hàm của khái niệm “chỉ đạo” vẫn thường được dùng sau từ “lãnh đạo”.

2. Về phương thức cầm quyền của Đảng

Trên bình diện chung nhất có thể định nghĩa: Phương thức cầm quyền của Đảng là tổng thể các cách thức, hình thức, phương pháp, quy chế, quy định, quy trình, lề lối làm việc... mà Đảng cầm quyền sử dụng để tác động vào các tổ chức, trước hết là Nhà nước, nhằm thực hiện đúng đắn, đầy đủ ý chí chính trị, quyền và trách nhiệm của Đảng cầm quyền, quyền làm chủ của nhân dân, nhằm thực hiện thắng lợi Cương lĩnh chính trị, đường lối, các nghị quyết của Đảng và phát triển đất nước trong từng thời kỳ xây dựng CNXH.

Về nội dung của phương thức cầm quyền của Đảng, hiện nay đang có các cách trình bày khác nhau ít nhiều. 

Các trình bày thứ nhất - gắn phương thức cầm quyền của Đảng với phương thức lãnh đạo của Đảng. 

Khái niệm “phương thức cầm quyền của Đảng” gắn liền với khái niệm Đảng cầm quyền, chỉ phương diện hoạt động của Đảng cầm quyền. Ở nước ta chỉ có một Đảng duy nhất, đồng thời là Đảng cầm quyền, nên hiện nay trên tổng thể, phương thức cầm quyền của Đảng cơ bản cũng là phương thức lãnh đạo của Đảng, chỉ có sự khác biệt là - xét từ vị thế, trách nhiệm của Đảng cầm quyền và đối tượng tác động chủ yếu của Đảng - cần nhấn mạnh một số nội dung trong phương thức lãnh đạo của Đảng. Theo đó, có thể xác định các phương thức cầm quyền của Đảng gồm:

Một là, Đảng cầm quyền bằng sử dụng Cương lĩnh, chiến lược, các nghị quyết, kết luận của Đảng làm căn cứ và chỉ đạo để Nhà nước thể chế hóa, cụ thể hóa thành pháp luật, chính sách, kế hoạch, chương trình và tổ chức thực hiện; MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch công tác và tổ chức thực hiện.

Hai là, Đảng cầm quyền bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động (nhất là đối với các đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp không là đảng viên) để các cơ quan nhà nước, MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân tán thành, hăng hái thực hiện thắng lợi đường lối của Đảng.

Ba là, Đảng cầm quyền bằng phát huy vai trò, trách nhiệm của tổ chức đảng và bố trí đúng, đề cao trách nhiệm của đảng viên giữ cương vị lãnh đạo trong các cơ quan nhà nước, MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội; Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác tổ chức và công tác cán bộ của các tổ chức trong hệ thống chính trị.

Bốn là, Đảng cầm quyền bằng công tác kiểm tra, giám sát đối với các tổ chức đảng và đảng viên công tác trong các tổ chức của hệ thống chính trị, qua đó kiểm tra, giám sát đối với các tổ chức trong hệ thống chính trị.

Năm là, Đảng cầm quyền bằng phát huy vai trò, trách nhiệm, nhất là trách nhiệm nêu gương, của đảng viên công tác trong các tổ chức của hệ thống chính trị. 

Cách trình bày thứ hai - nhấn mạnh phương thức cầm quyền đối với Nhà nước. 

Một là, Đảng cầm quyền bằng pháp luật và tuân theo pháp luật

Trong phương thức này nhấn mạnh việc Đảng lãnh đạo Quốc hội thể chế hóa Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng thành Hiến pháp, pháp luật; khi đường lối, chủ trương của Đảng đã trở thành Hiến pháp, pháp luật, thì tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức và mọi công dân đều phải chấp hành; chấp hành Hiến pháp, pháp luật cũng tức là đã chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng. Nếu đường lối, chủ trương của Đảng chỉ có hiệu lực tuyệt đối đối với các tổ chức đảng và đảng viên, còn đối với xã hội thì chỉ là sự định hướng, nhưng khi đường lối, chủ trương của Đảng đã được Quốc hội luật hóa thành Hiến pháp, pháp luật thì đường lối, chủ trương của Đảng trở thành bắt buộc, có hiệu lực cao nhất đối với cả xã hội; bản thân các tổ chức đảng và mọi đảng viên đều có trách nhiệm chấp hành, không được đứng ngoài, đứng trên pháp luật, hơn nữa phải gương mẫu trong chấp hành pháp luật; nếu có vi phạm, thì ngoài kỷ luật đảng, đảng viên còn bị xử lý theo pháp luật với tư cách là công dân. Phương thức này cũng bao hàm cả nghĩa Đảng phải chịu trách nhiệm trước nhân dân về các quyết định của mình: quyết định về đường lối và quyết định việc lãnh đạo Quốc hội thể chế hóa đường lối của Đảng thành pháp luật, Quốc hội và Chính phủ cụ thể hóa đường lối của Đảng thành chính sách, quy định.

Hai là, Đảng cầm quyền bằng công tác tư tưởng

Thông qua các tổ chức đảng trong cơ quan nhà nước, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội, Đảng tuyên truyền, phổ biến để thành viên của các cơ quan, tổ chức này không là đảng viên nắm được đường lối, chủ trương của Đảng; thuyết phục họ tán thành, nhất trí với đường lối, chủ trương của Đảng, đề ra chương trình, kế hoạch thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ của tổ chức mình; vận động họ hăng hái, sáng tạo trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và chương trình, kế hoạch công tác của cơ quan, tổ chức đã đề ra. Đảng sử dụng các cơ quan truyền thông của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội để tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước tới tất cả các tầng lớp nhân dân, tạo lập sự đồng thuận xã hội, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, qua đó củng cố uy tín của Đảng.

Ba là, Đảng cầm quyền bằng nắm công tác tổ chức, cán bộ của Nhà nước, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội  

Sau khi giành được chính quyền, Đảng lãnh đạo nhân dân thiết lập bộ máy nhà nước, hệ thống chính trị để thực hiện đường lối của Đảng và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Đảng thống nhất nắm, chỉ đạo công tác xây dựng tổ chức không chỉ của Đảng, mà của cả các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, trong đó đặc biệt chú trọng tổ chức bộ máy nhà nước. Đảng định hướng chính trị hoạt động của Nhà nước; thông qua các tổ chức đảng và cán bộ đảng trong các cơ quan nhà nước để sắp xếp, kiện toàn tổ chức và nắm chặt bộ máy nhà nước theo đúng đường lối chính trị và đường lối tổ chức của Đảng, bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng đối với toàn bộ hệ thống tổ chức của cả hệ thống chính trị. Đảng dùng đa số đảng viên trong Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp để bầu các đại biểu là đảng viên do cấp ủy đảng giới thiệu nắm giữ các vị trí then chốt của bộ máy nhà nước, nhất là ở cấp trung ương; để nắm quyền điều khiển, định hướng hoạt động của cơ quan nhà nước theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng. Đồng thời, Đảng cũng bố trí đảng viên tham gia, nắm giữ những vị trí then chốt của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội, một số tổ chức xã hội quan trọng.

Bốn là, Đảng cầm quyền bằng việc kiểm soát quyền lực đối với cán bộ, đảng viên trong việc thực thi quyền lực nhà nước

Đảng thực hiện việc kiểm soát quyền lực nhà nước bằng việc trực tiếp kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, đảng viên trong cơ quan nhà nước thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước và lãnh đạo tổ chức đảng, đảng viên trong cơ quan nhà nước kiểm soát quyền lực nhà nước. Các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên không chỉ phải nghiêm chỉnh chấp hành Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định của Đảng, mà còn phải thực hiện nghiêm pháp luật, chính sách của Nhà nước. Đảng giám sát hoạt động của đội ngũ đảng viên làm việc trong bộ máy nhà nước; giám sát việc thực thi chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước; giám sát, kiểm soát việc thực thi Hiến pháp và pháp luật của các cơ quan, công chức nhà nước, nhằm bảo đảm Nhà nước thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do Hiến pháp và pháp luật quy định. Các đảng viên nắm giữ những chức vụ trong bộ máy nhà nước có trách nhiệm báo cáo công tác trước tổ chức đảng (đảng đoàn, ban cán sự đảng), cấp ủy đảng, chi bộ nơi sinh hoạt đảng về mức độ hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao. Qua kiểm tra, Đảng xử lý nghiêm minh, kịp thời những đảng viên vi phạm kỷ luật đảng và pháp luật.

Như vậy, trong thực chất, hai cách trình bày nêu trên về các nội dung phương thức cầm quyền của Đảng cơ bản là giống nhau, cách trình bày thứ hai nhấn mạnh một số khía cạnh trong cách trình bày thứ nhất về các phương thức cầm quyền của Đảng đối với Nhà nước. 

3. Quan hệ giữa phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền của Đảng

Các phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền đã được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) và được Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định lại. Phương thức lãnh đạo gắn liền với hoạt động lãnh đạo của Đảng, nên được hình thành từ khi Đảng ra đời lãnh đạo cách mạng; là vấn đề cơ bản, xuyên suốt, có tính chất bao trùm và chi phối toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng. Do Đảng cầm quyền chỉ là Đảng lãnh đạo trong thời kỳ có chính quyền, nên phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền có sự giống nhau trên những nội dung cơ bản, chỉ có sự khác biệt nhất định về phạm vi, mức độ; trong đó, phương thức cầm quyền chỉ hình thành trong thời kỳ Đảng có chính quyền và nhấn mạnh hai nội dung của phương thức lãnh đạo: một là, Đảng sử dụng quyền lực của mình để tác động, chi phối việc xây dựng chính sách, pháp luật của Nhà nước; hai là, Đảng bố trí nhân sự chủ chốt của các cơ quan nhà nước, nhất là ở cấp trung ương.

Giữa phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền của Đảng có quan hệ mật thiết với nhau, vừa tương đồng, vừa có sự khác biệt nhất định. Tương đồng ở chỗ: cả phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền đều là của cùng một chủ thể là Đảng; trong điều kiện có chính quyền, đều tác động tới các đối tượng là Nhà nước, MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội, các lực lượng vũ trang, các doanh nghiệp nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công lập và nhân dân; cùng nhằm mục tiêu cao nhất là thực hiện có hiệu quả Cương lĩnh, chiến lược, đường lối, mục tiêu chính trị của Đảng; đều phải sử dụng các phương pháp tư tưởng, hành chính, tổ chức, kiểm tra, giám sát, nêu gương... Khác biệt ở chỗ: phương thức cầm quyền chú trọng việc chỉ đạo các cơ quan nhà nước thể chế hóa, cụ thể hóa cương lĩnh, chiến lược, đường lối, chủ trương của Đảng thành pháp luật, chính sách và định hướng hoạt động của Nhà nước; nắm công tác tổ chức, cán bộ của Nhà nước bằng việc định hướng kiện toàn tổ chức và đưa cán bộ, đảng viên vào nắm giữ quyền lực và trực tiếp điều hành, thực thi quyền lực nhà nước, kiểm soát quyền lực nhà nước; cùng với các phương pháp dân chủ, tuyên truyền, thuyết phục, vận động, Đảng sử dụng quyền lực của Đảng cầm quyền và các nguyên tắc của Đảng để tác động, chi phối hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị. 

Tuy nhiên, phương thức cầm quyền thực chất là phương thức lãnh đạo cơ bản của Đảng trong điều kiện có chính quyền, kể cả khi là lực lượng duy nhất cầm quyền, nên sự phân biệt giữa phương thức cầm quyền và phương thức lãnh đạo chỉ là tương đối. Ví dụ, Đảng cầm quyền cũng phải sử dụng các biện pháp công tác tư tưởng để tuyên truyền, thuyết phục, vận động và bảo vệ đường lối của Đảng. Đó cũng là phương thức lãnh đạo bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động để đưa đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với đội ngũ đảng viên và nhân dân, tạo sự đồng thuận trong xã hội. Khi nói Đảng cầm quyền bằng tổ chức, bằng công tác cán bộ, bằng công tác tư tưởng... thì khó có thể phân biệt rạch ròi với Đảng lãnh đạo bằng tổ chức, bằng cán bộ, bằng sự tác động tư tưởng.

4. Phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng

Đại hội XIII của Đảng lần đầu tiên chính thức dùng “khái niệm kép” “phương thức lãnh đạo, cầm quyền” của Đảng mà không phải là “phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền” hay “phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền” của Đảng. Việc sử dụng “khái niệm kép” này chứng tỏ, giữa phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền của Đảng hiện nay cơ bản là giống nhau (nên không tách bạch riêng phương thức lãnh đạo và phương thức cầm quyền), nhưng có sự khác biệt nhất định (nên phải bổ sung từ “cầm quyền” sau từ “lãnh đạo”). Việc bổ sung từ “cầm quyền” là để: một là, nhấn mạnh phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện Đảng là Đảng cầm quyền, Đảng vừa có quyền lãnh đạo, vừa phải chịu trách nhiệm về sự lãnh đạo của mình; hai là, nhấn mạnh trọng tâm cầm quyền của Đảng là đối với Nhà nước.

Từ quan niệm về phương thức lãnh đạo của Đảng và phương thức cầm quyền của Đảng, bước đầu có thể quan niệm: Phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền của Đảng là toàn bộ các cách thức, hình thức, biện pháp, quy trình, lề lối làm việc mà Đảng sử dụng quyền lực của Đảng cầm quyền để tác động, chi phối Nhà nước và xã hội nhằm thực hiện thắng lợi Cương lĩnh, đường lối của Đảng, xứng đáng với vai trò, vị thế và trách nhiệm của Đảng duy nhất cầm quyền. 

Có thể quan niệm phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng gồm các nội dung chính sau: 

Một là, Đảng lãnh đạo, cầm quyền bằng Cương lĩnh, chiến lược, nghị quyết và định hướng chủ trương, chính sách lớn; bằng đa số đảng viên để lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa, cụ thể hóa thành pháp luật, chính sách, chương trình, kế hoạch và tổ chức thực hiện; lãnh đạo MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội xây dựng các chương trình, kế hoạch công tác của tổ chức mình và tổ chức thực hiện.

Bằng đa số đảng viên trong Quốc hội, Đảng tác động vào công tác xây dựng pháp luật; bằng đa số đảng viên trong Quốc hội, Chính phủ, hội đồng nhân dân các cấp, ủy ban nhân dân các cấp, Đảng tác động vào việc ban hành các chính sách, chương trình, kế hoạch công tác của các cơ quan nhà nước và tổ chức thực hiện tốt pháp luật, các chính sách, chương trình, kế hoạch công tác đã đề ra; thông qua đảng viên là cán bộ chủ chốt trong cơ quan lãnh đạo của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội, Đảng tác động vào việc xây dựng các chương trình, kế hoạch công tác của các tổ chức này để bảo đảm theo đúng quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng và chức năng, vai trò của mỗi tổ chức. Nghị quyết của Đảng cũng là căn cứ để đánh giá, kiểm tra, giám sát việc thực hiện của tổ chức đảng, đảng viên trong các tổ chức của hệ thống chính trị.

Hai là, Đảng lãnh đạo, cầm quyền bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động các tổ chức trong hệ thống chính trị và cả xã hội tán thành, ủng hộ và tích cực thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Bằng hệ thống các cơ quan tuyên giáo, hệ thống cơ quan truyền thông của Đảng và Nhà nước, Đảng tuyên truyền, phổ biến để các tổ chức trong hệ thống chính trị, nhất là thành viên trong cơ quan lãnh đạo của tổ chức này không là đảng viên, nắm được đầy đủ, đúng đắn, kịp thời các đường lối, chủ trương của Đảng; thuyết phục các tổ chức và cá nhân tán thành, nhất trí với đường lối, chủ trương của Đảng, từ đó đề ra chương trình, kế hoạch thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ của tổ chức mình; vận động các tổ chức và cá nhân tích cực, sáng tạo thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và chương trình, kế hoạch của tổ chức đã đề ra; tuyên truyền sâu rộng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước tới tất cả các tầng lớp nhân dân, tạo lập và củng cố sự đồng thuận xã hội; phê phán các tư tưởng sai trái, đấu tranh chống các luận điệu thù địch.

Ba là, Đảng lãnh đạo, cầm quyền bằng việc giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín ứng cử các chức danh chủ chốt trong các cơ quan lãnh đạo của các tổ chức trong hệ thống chính trị; thống nhất lãnh đạo công tác tổ chức và công tác cán bộ của cả hệ thống chính trị.

Bằng việc đa số đảng viên là đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp phải chấp hành nghị quyết, chủ trương của cấp ủy trong việc bầu các đảng viên do cấp ủy đảng cùng cấp giới thiệu, Đảng nắm giữ các vị trí chủ chốt của bộ máy nhà nước, trước hết là cấp trung ương, để những cán bộ này nắm quyền theo quy định của pháp luật trực tiếp điều hành, định hướng cơ quan nhà nước thực hiện đúng đường lối, chủ trương của Đảng và kịp thời phản ánh với Đảng những vấn đề cần lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội. Đồng thời, Đảng cũng giới thiệu và thông qua đảng viên trong MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội để hiệp thương, bầu đảng viên tham gia, nắm giữ những vị trí chủ chốt trong cơ quan lãnh đạo của từng tổ chức. 

Bằng công tác tuyên truyền, Đảng động viên, lãnh đạo nhân dân tích cực tham gia xây dựng Nhà nước, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội. Đảng thống nhất lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện công tác tổ chức của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị, trong đó đặc biệt chú trong tổ chức bộ máy nhà nước. Đảng lãnh đạo, định hướng chính trị hoạt động của Nhà nước, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội; thông qua các tổ chức đảng và cán bộ đảng trong các cơ quan nhà nước, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội để sắp xếp, kiện toàn tổ chức theo đúng đường lối chính trị và đường lối tổ chức của Đảng. 

Bốn là, Đảng lãnh đạo, cầm quyền thông qua các tổ chức đảng, phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của đảng viên, nhất là cấp ủy viên, đảng viên ở cương vị người đứng đầu trong các tổ chức của hệ thống chính trị.

Đảng lập các tổ chức đảng (Đảng đoàn, ban cán sự đảng, cấp ủy đảng) trong các cơ quan nhà nước, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội; chỉ định cấp ủy viên là người đứng đầu Đảng đoàn, ban cán sự đảng để các tổ chức này trực tiếp lãnh đạo cơ quan nhà nước, cơ quan lãnh đạo của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội và chịu hoàn toàn trách nhiệm trước cấp ủy về chất lượng nội bộ và toàn bộ hoạt động của cơ quan, tổ chức; đề xuất với cấp ủy các chủ trương, thông qua đó Đảng thực hiện sự lãnh đạo đối với các cơ quan nhà nước, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội. Phương thức này vừa bảo đảm sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, vừa thực hiện đúng nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật: Đảng không chỉ thị, giao nhiệm vụ cho cơ quan nhà nước, chỉ chỉ thị, giao nhiệm vụ cho tổ chức đảng và cán bộ đảng trong các cơ quan nhà nước. Đảng lãnh đạo, cầm quyền bằng hành động gương mẫu của đảng viên, nhất là người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị các cấp. 

Năm là, Đảng lãnh đạo, cầm quyền bằng công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng đối với tổ chức đảng và đảng viên trong các cơ quan nhà nước, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc thực hiện các nghị quyết, quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Trong các cơ quan nhà nước, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội đều có tổ chức đảng và đa số thành viên cơ quan lãnh đạo của các tổ chức này là đảng viên, người đứng đầu các cơ quan nhà nước là cấp ủy viên, nên Đảng dùng công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng để kiểm tra, giám sát đối với các tổ chức đảng, đảng viên ở đó. Tuy chỉ là kiểm tra, giám sát đối với tổ chức đảng và đảng viên, nhưng thực chất cũng là việc kiểm tra, giám sát của Đảng đối với hoạt động của cơ quan nhà nước, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội mà không vi phạm Hiến pháp, pháp luật.

Nâng tầm đối ngoại quốc phòng, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới

 TCCS - Là một bộ phận trong hoạt động đối ngoại của Nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, trong thời gian qua, công tác đối ngoại quốc phòng đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần bảo vệ độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng, nâng cao uy tín, vị thế của đất nước và Quân đội nhân dân Việt Nam trên trường quốc tế.

Thành tựu của đối ngoại quốc phòng trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, quán triệt và thực hiện chủ trương, chính sách đối ngoại của Đảng: “cách mạng Việt Nam là một bộ phận của cách mạng thế giới”, “giúp bạn là tự giúp mình”, đối ngoại quốc phòng đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong liên minh chiến đấu với hai nước bạn Lào và Cam-pu-chia để chống kẻ thù chung trên bán đảo Đông Dương, góp phần củng cố sức mạnh đoàn kết chiến đấu giữa Quân đội ta với Quân đội nhân dân Lào, Cam-pu-chia. Cùng với đó, đối ngoại quốc phòng cũng trở thành kênh quan trọng để tiếp nhận sự ủng hộ, giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc và một số nước bạn bè, anh em trên thế giới, từ trang bị vũ khí, khí tài, hậu cần, quân y đến cử cán bộ sang các nước học tập kinh nghiệm chiến đấu, nâng cao trình độ lý luận chính trị quân sự và phương pháp tác chiến, đóng góp quan trọng vào việc xây dựng và phát triển Quân đội ta, kịp thời đáp ứng những đòi hỏi cấp thiết của kháng chiến. Thời kỳ này, Quân đội ta tổ chức giới thiệu kinh nghiệm xây dựng lực lượng, kinh nghiệm đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang và nghệ thuật tiến hành chiến tranh nhân dân với quân đội nhiều nước trên thế giới, qua đó mở rộng quan hệ về quân sự, quốc phòng và làm tăng uy tín, vị thế của Quân đội nhân dân Việt Nam với bạn bè quốc tế. Thông qua đối ngoại quốc phòng, chúng ta không những tranh thủ và phát huy hiệu quả sức mạnh đoàn kết quốc tế, mà còn góp phần tích cực củng cố, tăng cường đoàn kết trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa, góp phần thực hiện thắng lợi chủ trương đoàn kết quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, tạo sức mạnh tổng hợp đánh thắng quân xâm lược, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.


Thượng tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam và Thượng tướng Ngụy Phượng Hòa, Ủy viên Quốc vụ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Trung Quốc gặp gỡ nhân dân địa phương tại Lễ khánh thành Nhà văn hóa xã Đồng Văn, huyện Bình Liêu, Tỉnh Quảng Ninh trong khuôn khổ các hoạt động giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới hai nước Việt Nam - Trung Quốc_Ảnh: TTXVN

Trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là sau năm 1986, dưới ánh sáng đổi mới của Đại hội VI của Đảng, với đường lối đối ngoại “rộng mở”, chúng ta mở rộng quan hệ hợp tác quốc phòng với nhiều nước. Đối ngoại quốc phòng thời kỳ này tiếp tục là kênh ngoại giao quan trọng, có nhiều đổi mới, góp phần cùng với ngoại giao nhà nước phá thế bao vây cấm vận, thúc đẩy tiến trình bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và Mỹ, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng đất nước, tăng cường tiềm lực quốc phòng.

Trong giai đoạn hội nhập quốc tế, quán triệt và triển khai đường lối đối ngoại của Đảng qua các kỳ Đại hội, thực thi Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI, ngày 25-10-2013, “Về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 10-4-2013, của Bộ Chính trị, “Về hội nhập quốc tế” và Nghị quyết số 806-NQ/QUTW, ngày 31-12-2013, của Quân ủy Trung ương, “Về hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo”, công tác đối ngoại quốc phòng tiếp tục triển khai “tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả”, đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Hợp tác quốc tế và đối ngoại quốc phòng tiếp tục mở rộng và phát triển cả về bề rộng lẫn chiều sâu, trở thành một nội dung quan trọng trong đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân; xây dựng nền quốc phòng toàn dân, nhằm phát huy sức mạnh dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại, tạo sức mạnh tổng hợp - nền tảng vững chắc để thực hiện kế sách bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.

Những kết quả, thành công quan trọng của đối ngoại quốc phòng đã đóng góp thiết thực vào sự nghiệp bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; nâng cao uy tín và vị thế của đất nước nói chung, của Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng trên trường quốc tế; góp phần vào việc giải quyết các vấn đề biên giới, lãnh thổ, xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị; kết hợp linh hoạt giữa hợp tác và đấu tranh, xử lý tốt mối quan hệ quốc phòng với các nước trong và ngoài khu vực, đặc biệt là các nước lớn, tạo thế đan xen lợi ích, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, ngăn ngừa nguy cơ xung đột và chiến tranh, phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước; góp phần củng cố và tăng cường tiềm lực quốc phòng, xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ và hiện đại; nâng cao hiệu quả kết hợp đấu tranh chính trị, quân sự và ngoại giao trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Thực hiện quan điểm của Đảng “kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng”, đối ngoại quốc phòng chủ động mở rộng quan hệ song phương với các nước trên thế giới. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ quốc phòng với hơn 100 quốc gia, bao gồm 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và các cường quốc trên thế giới. Hợp tác quốc phòng giữa Việt Nam và các nước ngày càng đi vào chiều sâu với các nội dung, lĩnh vực hợp tác thiết thực, phù hợp với điều kiện, nhu cầu và lợi ích của ta và các nước đối tác, tập trung vào các lĩnh vực như trao đổi đoàn, các cơ chế tham vấn, đối thoại, đào tạo, hợp tác quân binh chủng, công nghiệp quốc phòng, quân y, cứu hộ - cứu nạn, tuần tra chung biên giới trên bộ, trên biển, giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới; chủ động tham gia và tổ chức đăng cai các hội thao quân sự quốc tế, như Army Games, Hội thao Quân sự ASEAN; đạt được hiệu quả cao trong hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh; xử lý ô nhiễm bom, mìn và chất độc da cam/đi-ô-xin, góp phần phát triển kinh tế - xã hội ở nhiều địa bàn trọng điểm trên cả nước.

Về đối ngoại quốc phòng đa phương, Việt Nam tích cực tham gia có trách nhiệm và từng bước chủ động đóng góp xây dựng và hoạch định chính sách, đề xuất nhiều sáng kiến có giá trị tại các cơ chế hợp tác về quốc phòng, an ninh của khu vực và quốc tế như: Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN (ADMM), Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng các nước ASEAN mở rộng (ADMM+), Diễn đàn An ninh khu vực ASEAN (ARF), Đối thoại Shangri-La, Hội nghị An ninh quốc tế Mát-xcơ-va, Diễn đàn Hương Sơn - Bắc Kinh, Đối thoại Quốc phòng Xơ-un,...


Thượng tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng Đoàn Đại biểu quân sự Việt Nam tham dự Hội nghị Bộ trưởng quốc phòng các nước ASEAN (ADMM) lần thứ 15, được tổ chức theo hình thức trực tuyến, ngày 15-6-2021_Ảnh: TTXVN

Đặc biệt, thành công của năm Chủ tịch ASEAN 2020 trên kênh quốc phòng, quân sự là một dấu son của đối ngoại quốc phòng. Bằng những nỗ lực vượt bậc, những biện pháp linh hoạt, sáng tạo, khắc phục những khó khăn, trở ngại do ảnh hưởng của đại dịch COVID-19, chúng ta đã hoàn thành thắng lợi tất cả các nội dung, hoạt động quốc phòng, quân sự, bảo đảm hiệu quả, thực chất về nội dung, trọng thị, chu đáo về lễ tân, tuyệt đối an toàn về an ninh, y tế, an ninh mạng. Kết quả tốt đẹp của các hội nghị quân sự, quốc phòng năm Việt Nam đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN, nổi bật là Hội nghị ADMM-14, ADMM+ lần thứ 7 và Lễ kỷ niệm 10 năm thành lập ADMM+, một lần nữa khẳng định vai trò, vị thế và uy tín của Việt Nam nói chung, của Quân đội nhân dân Việt Nam nói riêng trong khu vực và trên trường quốc tế.

Trong khuôn khổ Liên hợp quốc, từ năm 2014 đến nay, Việt Nam đã cử hơn 250 lượt cán bộ, nhân viên với ba lượt bệnh viện dã chiến đến phái bộ Gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc tại Nam Xu-đăng, Cộng hòa Trung Phi và trụ sở Liên hợp quốc; đang hoàn tất các công tác chuẩn bị để triển khai Đội Công binh tới Phái bộ UNISFA tại Xu-đăng. Qua đó, khẳng định trách nhiệm của Việt Nam trong việc thực hiện các nghĩa vụ của quốc gia thành viên Liên hợp quốc, tích cực đóng góp vào nền hòa bình thế giới.

Những thành tựu của đối ngoại quốc phòng thời gian qua bắt nguồn từ sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước, trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng; sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các bộ, ban, ngành, địa phương, các kênh đối ngoại và ý chí quyết tâm, nỗ lực vượt bậc của đội ngũ cán bộ, nhân viên thực hiện nhiệm vụ đối ngoại quốc phòng với tinh thần “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua”. Những thành tựu đó tiếp tục khẳng định và làm sâu sắc thêm bài học về nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, luôn đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết; vận dụng sáng tạo, linh hoạt và hiệu quả quan điểm đoàn kết quốc tế của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và đường lối quân sự, quốc phòng của Đảng, tư tưởng, phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh và truyền thống ngoại giao Việt Nam vào điều kiện mới của đất nước.

Một số nhiệm vụ, giải pháp nâng tầm đối ngoại quốc phòng, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới

Trong thời gian tới, môi trường chính trị, an ninh thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều rủi ro, bất ổn; sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đứng trước nhiều vận hội mới nhưng cũng gặp không ít khó khăn, thử thách, đặt ra những yêu cầu mới, ngày càng cao đối với đối ngoại quốc phòng. Cạnh tranh chiến lược, tập hợp lực lượng giữa các nước lớn tiếp tục diễn ra gay gắt. Trong khu vực, trên thế giới, nổi lên mâu thuẫn, cạnh tranh, đối đầu quyết liệt, thậm chí xảy ra xung đột, chiến tranh giữa các quốc gia, các tập hợp lực lượng mới. Bên cạnh đó, cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ vẫn còn nhiều khó khăn và thách thức; các thế lực thù địch chưa từ bỏ âm mưu “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng Việt Nam; các vấn đề an ninh phi truyền thống, như thảm họa thiên tai, an ninh môi trường, an ninh nguồn nước, an ninh mạng, tội phạm xuyên quốc gia, khủng bố,... ngày càng tác động sâu sắc đến nước ta trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có quốc phòng, đòi hỏi phải tăng cường hợp tác quốc tế mới có thể giải quyết.

Tình hình trên tác động trực tiếp đến nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc, đòi hỏi công tác đối ngoại quốc phòng phải tiếp tục vận dụng và phát huy thành quả đã đạt được; đồng thời, nâng tầm tư duy, hành động, đổi mới cả về nội dung lẫn hình thức, tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”(1), đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Để hoàn thành tốt các mục tiêu trên, đối ngoại quốc phòng cần tập trung thực hiện đồng bộ một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau đây:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước và điều hành của Chính phủ, trực tiếp là Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đối với công tác đối ngoại quốc phòng trong tình hình mới. Triển khai hiệu quả đường lối đối ngoại được xác định tại Văn kiện Đại hội XIII của Đảng; Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI, ngày 25-10-2013, “Về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”; Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 10-4-2013, của Bộ Chính trị khóa XI, “Về hội nhập quốc tế”; Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI và Nghị quyết số 806-NQ/QUTW, ngày 31-12-2013, của Quân ủy Trung ương, “Về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo”. Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực; kiên trì chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ theo phương châm “thêm bạn, bớt thù”; kết hợp chặt chẽ giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh; gắn đối ngoại quốc phòng với chiến lược tổng thể của đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước và đối ngoại nhân dân; giữa đấu tranh ngoại giao với đấu tranh trên thực địa của các lực lượng nhằm đánh bại mọi âm mưu, thủ đoạn xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia của Việt Nam; tăng cường củng cố thế trận quốc phòng Việt Nam trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc.

Hai là, tiếp tục đổi mới tư duy, nâng cao nhận thức của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân về vị trí, vai trò và nhiệm vụ của đối ngoại quốc phòng trong tổng thể công tác đối ngoại của Đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân, phục vụ nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Xác định đối ngoại quốc phòng là một trong những trụ cột để thúc đẩy quan hệ chính trị, xây dựng lòng tin với các nước, đồng thời là diễn đàn trực tiếp để hợp tác và đấu tranh nhằm giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; nâng cao uy tín, vị thế đất nước, quân đội trong khu vực và trên trường quốc tế, đóng góp tích cực vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trong khu vực và trên toàn thế giới; tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài để tăng cường tiềm lực quốc phòng, phục vụ đắc lực cho nhiệm vụ xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Ba là, nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu dự báo và tham mưu chiến lược về đối ngoại quốc phòng. Tăng cường nắm bắt, nghiên cứu, dự báo tình hình và tham mưu chiến lược, nhất là các xu thế, động thái mới ở khu vực và thế giới, cạnh tranh chiến lược, tập hợp lực lượng, can dự của các nước lớn, tình hình Biển Đông; biên giới lãnh thổ; chú trọng đánh giá, phân tích những thuận lợi, khó khăn, tác động trực tiếp đến an ninh - quốc phòng của đất nước và nhiệm vụ đối ngoại quốc phòng, làm cơ sở tham mưu giúp Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng xây dựng, hoạch định chiến lược, chính sách đối ngoại quốc phòng và các biện pháp xử lý kịp thời, đúng đắn mối quan hệ với các nước, các tổ chức quốc tế, phù hợp với bối cảnh quốc tế, khu vực và với quá trình hội nhập quốc tế của nước ta, đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Thường xuyên phối hợp chặt chẽ, hiệu quả với các bộ, ban, ngành, địa phương và lực lượng có liên quan trong nghiên cứu dự báo và tham mưu chiến lược về đối ngoại quốc phòng, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp trong phân tích, đánh giá tình hình, đưa công tác này đi vào chiều sâu, hiệu quả.

Bốn là, nâng cao hiệu quả đối ngoại quốc phòng song phương, đưa quan hệ hợp tác với các nước đi vào chiều sâu, thực chất. Thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc phòng song phương, củng cố tin cậy chính trị với các nước láng giềng, các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, các nước ASEAN và các nước bạn bè truyền thống, trên nguyên tắc bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, bình đẳng, cùng có lợi, tuân thủ luật pháp quốc tế. Trong quá trình triển khai, cần kiên định với những vấn đề mang tính nguyên tắc, nhưng khôn khéo, mềm dẻo, linh hoạt trong ứng xử, thực hiện “dĩ bất biến ứng vạn biến”; xác định rõ “đối tác, đối tượng” để vừa hợp tác, vừa đấu tranh, gia tăng hợp tác, tránh xung đột, đối đầu, tránh bị cô lập, lệ thuộc hoặc rơi vào thế phải “chọn bên”. Tăng cường các biện pháp xây dựng lòng tin chiến lược, hiểu biết lẫn nhau, “thêm bạn, bớt thù”; kiên trì giải quyết các bất đồng và xung đột bằng các biện pháp hòa bình, trên tinh thần tôn trọng luật pháp quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc. Đa dạng hóa các hình thức, nội dung đối ngoại quốc phòng; triển khai hiệu quả các nội dung hợp tác đã ký kết, tập trung thúc đẩy các cơ chế tham vấn, đối thoại, hợp tác quân binh chủng, đào tạo, công nghiệp quốc phòng, quân y, cứu hộ - cứu nạn, giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới, khắc phục hậu quả chiến tranh và gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc..., phù hợp với thế mạnh của từng đối tác và nhu cầu của Việt Nam.

Năm là, thực hiện tích cực, có hiệu quả Chỉ thị số 25-CT/TW của Ban Bí thư “Về đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương trong tình hình mới”. Tích cực, chủ động đóng góp xây dựng và hoạch định chính sách, đề xuất các sáng kiến và tham gia trách nhiệm, hiệu quả vào các cơ chế, diễn đàn an ninh khu vực và quốc tế, nhất là cơ chế hợp tác quốc phòng trong khuôn khổ Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), do ASEAN giữ vai trò chủ đạo, góp phần xây dựng Cộng đồng Chính trị - An ninh ASEAN, đóng góp tích cực vào duy trì hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực và thế giới. Tiếp tục đẩy mạnh tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc theo Nghị quyết số 130/2020/QH14, ngày 13-11-2020, của Quốc hội, “Về tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc” theo hướng mở rộng lĩnh vực, địa bàn và quy mô.


Trao Huy hiệu Bác Hồ tặng các sĩ quan của Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 2 và sĩ quan hoạt động độc lập hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc ở Phái bộ Nam Sudan và Cộng hòa Trung Phi, nhiệm kỳ 2020 - 2021, tại Lễ báo công dâng Bác_Ảnh: TTXVN

Sáu là, tích cực, chủ động nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại. Kết hợp đồng bộ nhiều lực lượng, biện pháp, kịp thời thông tin cho cán bộ, chiến sĩ, nhân dân, đồng bào Việt Nam ở nước ngoài và cộng đồng quốc tế hiểu rõ về chủ trương, đường lối đối ngoại, chính sách quốc phòng hòa bình, tự vệ của Đảng, Nhà nước ta, những thành tựu phát triển của đất nước, Quân đội nhân dân Việt Nam; làm cho thế giới biết đến Việt Nam không chỉ là một đất nước yêu chuộng hòa bình, đang phát triển mạnh mẽ, mà còn là một quốc gia đã và đang tham gia có trách nhiệm trong giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực, vì hòa bình, phát triển và thịnh vượng của nhân dân thế giới. Qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả đối ngoại quốc phòng; tạo sự đồng thuận, ủng hộ đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của Đảng, Nhà nước và Quân đội trong tình hình mới, chống lại các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, lợi dụng vấn đề hội nhập quốc tế, đối ngoại quốc phòng để chia rẽ Đảng, Quân đội với nhân dân ta.

Bảy là, tiếp tục hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến đối ngoại quốc phòng, bảo đảm phù hợp luật pháp, thông lệ quốc tế và đồng bộ, thống nhất với văn bản pháp luật đối ngoại quốc gia, phù hợp với đặc điểm hoạt động đối ngoại quốc phòng, đáp ứng cả yêu cầu trước mắt và lâu dài. Trước mắt, xây dựng và trình Chính phủ ban hành Chiến lược hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo, làm cơ sở để triển khai các nhiệm vụ đối ngoại quốc phòng, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tăng cường công tác phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị làm công tác đối ngoại quốc phòng trong toàn quân, đồng thời tăng cường phối hợp với các bộ, ban, ngành, địa phương có liên quan trong triển khai thực hiện hiệu quả nhiệm vụ đối ngoại quốc phòng.

Tám là, kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác hội nhập quốc tế và đối ngoại về quốc phòng. Tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan đối ngoại theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại quốc phòng có bản lĩnh chính trị vững vàng, ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm, phẩm chất, đạo đức, lối sống lành mạnh, trong sạch, có kiến thức toàn diện, thành thạo nghiệp vụ chuyên môn, ngoại ngữ, đáp ứng yêu cầu mở rộng và nâng tầm công tác đối ngoại quốc phòng trong tình hình mới.

18 ĐỜI VUA HÙNG GỒM NHỮNG AI?

Theo truyền thuyết, các vua Hùng nối nhau trị vì nước Văn Lang trong 18 đời, vậy 18 đời vua Hùng gồm những ai?

Hùng Vương là cách gọi dành cho các vị vua nước Văn Lang của người Lạc Việt, triều đại được cho là được lập ra hơn 4.000 năm trước. Câu chuyện các vua Hùng không có trong chính sử mà nằm trong các truyền thuyết dân gian của người Việt được kể lại qua nhiều đời. Với người Việt Nam, các vua Hùng đại diện cho tổ tiên, cho truyền thống dựng nước và là niềm tự hào về nền văn minh đậm đà bản sắc riêng suốt nhiều nghìn năm.

18 đời vua Hùng gồm những vị nào?

Theo Đại Việt sử lược và nhiều tài liệu khác, triều đại Hùng Vương được truyền qua 18 đời, gồm những vị sau. 

1. Kinh Dương Vương, húy Lộc Tục, tức Lục Dục Vương, sinh năm Nhâm Ngọ (2919 tr. TL) lên ngôi năm 41 tuổi, ở ngôi tất cả 86 năm, từ năm Nhâm Tuất (2879 trước tây lịch (tr. TL) đến Đinh Hợi (2794 tr. TL).

2. Lạc Long Quân, húy Sùng Lãm, tức Hùng Hiền Vương, sinh năm Bính Thìn (2825 tr. TL), lên ngôi 33 tuổi, ở ngôi tất cả 269 năm, từ năm Mậu Tý (2793 tr. TL) đến năm Bính Thìn (2525 tr. TL).

3. Hùng Quốc Vương, húy Hùng Lân, sinh năm Canh Ngọ (2570 tr. TL) lên ngôi khi 18 tuổi, ở ngôi 272 năm, từ năm Đinh Tỵ (2524 tr. TL) đến 2253 tr. TL.

4. Hùng Hoa Vương, húy Bửu Lang, lên ngôi năm Đinh Hợi (2252 tr. TL), ở ngôi tất cả 342 năm, từ năm Đinh Hợi (2254 tr. TL) đến năm Mậu Thìn (1913 tr. TL).

5. Hùng Hy Vương, húy Bảo Lang, sinh năm Tân Mùi (2030 tr. TL), lên ngôi khi năm 59 tuổi, ở ngôi tất cả 200 năm, từ năm Kỷ Tỵ (1912 tr. TL) đến Mậu Tý (1713 tr. TL).

6. Hùng Hồn Vương, húy Long Tiên Lang, sinh năm Tân Dậu (1740 tr. TL), lên ngôi khi 29 tuổi, ở ngôi tất cả 81 năm, từ năm Kỷ Sửu (1712 tr. TL) đến năm Kỷ Dậu (1632 tr. TL).


7. Hùng Chiêu Vương, húy Quốc Lang, sinh năm Quý Tỵ (1768 tr. TL), lên ngôi khi 18 tuổi, ở ngôi tất cả 200 năm, từ năm Canh Tuất (1631 tr. TL) đến năm Kỷ Tỵ (1432 tr. TL).


8. Hùng Vỹ Vương, húy Vân Lang, sinh năm Nhâm Thìn (1469 tr. TL) lên ngôi khi 39 tuổi, ở ngôi tất cả 100 năm, từ năm Canh Ngọ (1431 tr. TL) đến năm Kỷ Dậu (1332 tr. TL).


9. Hùng Định Vương, húy Chân Nhân Lang, sinh năm Bính Dần (1375 tr. TL), lên ngôi khi 45 tuổi, ở ngôi tất cả 80 năm, từ 1331 đến 1252 tr. TL.


10. Hùng Uy Vương, húy Hoàng Long Lang, trị vì 90 năm, từ 1251 đến 1162 tr. TL.


11. Hùng Trinh Vương, húy Hưng Đức Lang, sinh năm Canh Tuất (1211 tr. TL), lên ngôi khi 51 tuổi, ở ngôi tất cả 107 năm, từ năm Canh Tý (1161 tr. TL) đến năm Bính Tuất (1055 tr. TL).


12. Hùng Vũ Vương, húy Đức Hiền Lang, sinh năm Bính Thân (1105 tr. TL), lên ngôi khi năm 52 tuổi, ở ngôi tất cả 86 năm, từ năm Đinh Hợi (1054 tr. TL) đến năm Nhâm Tuất (969 tr. TL).


13. Hùng Việt Vương, húy Tuấn Lang, sinh năm Kỷ Hợi (982 tr. TL), lên ngôi khi 23 tuổi, ở ngôi tất cả 115 năm, từ năm Quý Hợi (968 tr. TL) đến Đinh Mùi (854 tr. TL).


14. Hùng Anh Vương, húy Viên Lang, sinh năm Đinh Mão (894 tr. TL) lên ngôi khi 42 tuổI, ở ngôi tất cả 99 năm, từ 853 đến 755 tr. TL.


15. Hùng Triệu Vương, húy Cảnh Chiêu Lang, sinh năm Quý Sửu (748 tr. TL), lên ngôi khi 35 tuổi, ở ngôi tất cả 94 năm, từ năm Đinh Hợi (754 tr. TL) đến năm Canh Thân (661 tr. TL).


16. Hùng Tạo Vương, húy Đức Quân Lang, sinh năm Kỷ Tỵ (712 tr. TL), ở ngôi tất cả 92 năm, từ năm Tân Dậu (660 tr. TL) đến năm Nhâm Thìn (569 tr. TL).


17. Hùng Nghị Vương, húy Bảo Quang Lang, sinh năm Ất Dậu (576 tr. TL) lên ngôi khi 9 tuổi, ở ngôi tất cả 160 năm, từ năm Quý Tỵ (568 tr. TL) đến năm Nhâm Thân (409 tr. TL).


18. Hùng Duệ Vương, sinh năm Canh Thân (421 tr. TL), lên ngôi khi 14 tuổi, ở ngôi tất cả 150 năm, từ năm Quý Dậu (408 tr. TL) đến năm Quý Mão (258 tr. TL).


Giỗ Tổ Hùng Vương là giỗ vị vua nào?


Nếu theo niên đại trong truyền thuyết và huyền sử, 18 đời vua Hùng nối nhau trị vì trong hơn 2.600 năm. Nếu chia trung bình thì mỗi đời vua kéo dài xấp xỉ 150 năm. Giải thích điều này, một số học giả cho rằng thực chất 18 đời vua Hùng không phải là 18 cá nhân cụ thể, mà là 18 chi, mỗi chi này có nhiều vị vua thay phiên nhau trị vì và dùng chung vương hiệu. Ngay cả con số 18 cũng chỉ mang tính tượng trưng, ước lệ cho thấy triều Hùng trải qua nhiều đời, vì 18 là bội số của 9 - con số thiêng đối với người Việt.


Nhiều vua Hùng như vậy, nhưng chỉ có một ngày Giỗ Tổ Hùng Vương; vậy đó là ngày giỗ vị vua nào? Đây là điều rất nhiều người vẫn thắc mắc.


Đầu tiên, phải nói đến nguồn gốc của dân tộc Việt Nam. Truyền thuyết kể rằng Kinh Dương Vương lấy Long Nữ sinh ra Lạc Long Quân. Lạc Long Quân sau đó kết duyên cùng Âu Cơ sinh ra Hùng Vương.


Hùng Vương như vậy là cháu đích tôn của Kinh Dương Vương, là niên hiệu được dùng cho hàng chục triều vua tiếp sau đó. Giỗ tổ vì vậy theo logic thì phải là giỗ Tổ Kinh Dương Vương, để tưởng nhớ vị tổ phụ đã khai sinh ra đất nước.


Trên thực tế, theo một số tài liệu lịch sử ghi lại, ngày giỗ tổ đã có từ cách đây 2.000 năm. Dưới thời Thục Phán An Dương Vương, cột đá thề đã được dựng trên núi Nghĩa Lĩnh, ghi rõ: "Nguyện có đất trời lồng lộng chứng giám, nước Nam được trường tồn lưu ở miếu Tổ Hùng Vương, xin đời đời trông nom lăng miếu họ Hùng và gìn giữ giang sơn mà Hùng Vương trao lại; nếu thất hẹn, sai thề sẽ bị gió giăng, búa dập".


Các đời vua khác sau này cũng luôn ghi nhớ, khẳng định vai trò các vua Hùng trong việc xây dựng giang sơn. Chính vì thế mà hàng năm, người Việt dành một ngày để tưởng nhớ những người đã xác lập và xây dựng nên đất nước - các vua Hùng nói chung.


Trước đây, người dân không có tục đi lễ đền Hùng vào ngày 10/3. Họ thường tự chọn ngày tốt theo bản mệnh của từng người và nô nức đến lễ bái các vua Hùng suốt năm, đông nhất là vào mùa xuân, mùa thu chứ không định rõ ngày nào. Lễ cúng Tổ ở địa phương thì được cử hành vào ngày 12/3 âm lịch kết hợp với thờ Thổ kỳ. Thường khi con cháu ở xa về sẽ làm giỗ trước một ngày (11.3) chứ không mở hội lớn với quy mô toàn quốc. 


Như vậy, thời gian lễ bái thường kéo dài liên miên, vừa tốn kém tiền của vừa không bày tỏ được rõ lòng thành kính, không tập hợp được lòng dân. Nhận thấy điều này, vào năm 1917 (triều Khải Định), Tuần phủ Phú Thọ là Lê Trung Ngọc làm bản tấu trình lên Bộ Lễ, xin định lệ lấy ngày 10.3 Âm lịch hàng năm làm ngày tế của cả nước. Từ đó về sau, cứ vào ngày 10.3, nhân dân cả nước lại hướng về vùng đất cội nguồn - xã Hy Cương, Lâm Thao, Phú Thọ để tôn vinh công lao của các vị vua Hùng. Ngày 10.3 được gọi là ngày Giỗ Tổ Hùng Vương.


Đến nay, Giỗ Tổ Hùng Vương vẫn được coi là Quốc giỗ, là ngày lễ quan trọng của đất nước. Người lao động được nghỉ làm việc trong ngày này./.

Kiên quyết, kiên trì đấu tranh trong bối cảnh mới

 


- Trong bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều phức tạp, chúng ta kiên quyết, kiên trì đấu tranh giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội.

- Nhận thức về mục tiêu, yêu cầu bảo vệ Tổ quốc; về vị trí, vai trò của quốc phòng, an ninh trong tình hình mới; về quan hệ đối tác, đối tượng có bước phát triển.

- Chủ động, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng các biện pháp phù hợp, bảo vệ được chủ quyền, biển, đảo, vùng trời và giữ được hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

- Chủ trương, giải pháp trong chiến lược quốc phòng, quân sự, chiến lược an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện. Thế trận quốc phòng toàn dân gắn kết chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân tiếp tục được tăng cường, củng cố, nhất là trên các địa bàn chiến lược quan trọng; sức mạnh về mọi mặt của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân được tăng cường.

 - Kết hợp có hiệu quả giữa nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; giữa kinh tế với quốc phòng, an ninh, đối ngoại.

 - Đấu tranh làm thất bại âm mưu "diễn biến hòa bình", hoạt động phá hoại, gây rối, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch; bước đầu đối phó có hiệu quả với mối đe dọa an ninh phi truyền thống, kiềm chế được tốc độ gia tăng tội phạm.

Giải pháp về QP-AN trong chính sách dân tộc ở Việt Nam

 


-Củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, nâng cao ý thức cảnh giác của nhân dân

Củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng, nâng cao ý thức cảnh giác làm thất bại chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, pháthuy sức mạnh tại chỗ để sẵn sàng đập tan mọi âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch

-Tăng cường công tác bảo đảm an ninh chính trị, trật tư an toàn xã hội,

 Tăng cường công tác bảo đảm an ninh chính trị, trật tư an toàn xã hội,không để xả ra những “điểm nóng” về an ninh, trật tự xã hội ở vùng dân tộc và miền núi. Tiêp tục xây dựng, phát triển nhanh các khu kinh tế kết hợp với quốc phòng ở vùng sâu, vùng xa, biên giới. Tiếp tục giải quyết tốt các vấn đề liên quan đến tôn giáo ở các vùng dân tộc. Xử lý đúng những vụ việc, những tình huống hoặc điểm nóng có thể xảy ra do việc lợi dụng quan hệ đồng tộc, kích động chia rẽ đaòn kết của đồng bào các dân tộc.

Tăng cường xây dựng Đảng, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân

 

       

          - Xây dựng Đảng

         Đảng Cộng sản Việt Nam đã rất coi trọng công tác xây dựng Đảng, coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt. Nội dung xây dựng Đảng bao gồm xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức, phương thức lãnh đạo và phong cách công tác. Mục đích nhằm xây dựng Đảng trong sạch ,vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động; đẩy mạnh nghiên cứu lý luận về Đảng cầm quyền, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với tình hình mới; phòng và chống những nguy cơ lớn đối với một Đảng cầm quyền: sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu, mất dân chủ và sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên. Đảng khẳng định phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, kiên định nguyên tắc tập  trung dân chủ, kiên định đường lối đổi mới, chống giáo điều, bảo thủ hoặc chủ quan, nóng vội, cực đoan.

        Đảng tăng cường nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, làm sáng tỏ một số vấn đề về đảng cầm quyền, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, những vấn đề mới nảy sinh từ thực tiễn đổi mới; tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, khắc phực suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; đấu tranh chống âm mưu  và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Tổ chức việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trong Đảng và nhân dân.

        Tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức, bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị theo hướng xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm từng tổ chức, sáp nhập một số ban, bộ, ngành Trung ương để giảm bớt đầu mối, thực hiện cải cách hành chính trong Đảng, phát huy dân chủ trong sinh hoạt Đảng.

        Chú trọng kiện toàn tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đảng viên, tăng cường công tác quản lý, phát triển đảng viên.

        Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ đồng bộ các khâu của công tác cán bộ (đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm, sử dụng và chính sách cán bộ). Đổi mới và tăng cường công tác dân vận; nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị- xã hội.

          - Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

        Việt Nam đã đẩy mạnh việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; khẳng định nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công; phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Trong thời kỳ đổi mới, Việt Nam đã ban hành Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013 và một loạt các bộ luật, luật và pháp lệnh theo hướng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đề cao vai trò tối cao của Hiến pháp, pháp luật trong đời sống xã hội. Trên cơ sở đó tiến hành đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, của Chính phủ, các cơ quan tư pháp và chính quyền địa phương các cấp.

          - Phát huy quyền làm chủ của nhân dân

        Ở Việt Nam việc đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa. Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, là động lực của sự ngiệp đổi mới. Dân chủ  gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và được thể chế hóa bằng pháp luật,. được pháp luật bảo đảm.

Giải pháp về văn hóa-xã hội trong chính sách dân tộc ở Việt Nam

 


-Khai thác và sử dụng hợp lý đặc điểm từng địa phương.

Khai thác và sử dụng hợp lý tri thức địa phương. Đánh giá phát hiện các vấn đề thuận lợi để khai thác, điểm hạn chế cho phát triển để điều chỉnh, khắc phục, tránh trở ngại, hoặc định hướng, dẫn dắt sự phát triển KT, VH,XH theo chiều thuận mà khôngtạo nên những xung đột văn hóa, tâm lý xã hội

-Phát triển và hiện đại hóa mạng lưới thông tin đại chúng

Phát triển và hiện đại hóa mạng lưới thông tin đại chúng, nâng cao chất lượng các sản phẩm văn hóa, thôngtin phù hợp. Đảy mạnh và phát huy hiệu quả công cụ phát thanh, truyền hình phù hợp với đồng bào các dân tộc thiểu số. Xây dựng đồng bộ và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các thiết ché văn hóa cộng đồng, thực sự phát huy vai tròcủa cộng đồng trong tổ chức các hoạt động văn hóa cộng đồng, phát huy hiệu quả thực sự của các thiết chế văn hóa

-Chăm lo xây dựng đời sống văn hóa mới trong các vùng DTTS.

Tôn trọng, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc, gắn liền với xây dưnmgjnền văn hóa Việt Nam tiên tiến, giàu bản sắc, thống nhát trong da dạng. Đẩy mạnh các hoạt động bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số kết hợp với các chương trình phát triển kinh té, phát triển nghè thủ công truyền thống, du lịch cộng đồng với xóa đói giảm nghèo.

- Nâng cao chất lượng giáo dục- đào tạo

Phát triển giáo dục ở tất cả các cấp học nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, bồi dưỡng tri thức dân tộc thiểu số. Tăng cường hiệu quả các chính sách dạy nghề nhằm nâng cao kỹ năng lao động cho người DTTS, nhất là đối tượng thanh niên. Tập trung ưu tiên cho đối tượng đồng bào DTTS, vùng có điều kiện kinh té khó khăn và đặc biệt khó khăn. Nâng cao chất lượng giáo dục ở các cấp từ mầm non đến trung học cơ sở, bảo đảm đièu kiện cơ sở vật chất trường lớp học, cải tiến nội dung, phương pháp dạy và học, kết hợp giữa kiến thức và rèn luyện kỹ năng. Tổchức dạy tiếng dân tộc cho con em đồng bào dân tộc có nhu cầu. Thực hiện có kết quả đè án xóa mũ chữ triển khai trên địa bàn 14 tỉnh miền núi và vùng DTTS, trong đó tập trung vào các vùng ưu tiên trọng điểm, các nhóm dan tộc có chất lượng nguồn nhan lực thấp. Đẩy mạnh việc tổ chức các lớp xoa mù chữ, đổi mới phương pháp, kỹ năng dạy học. Chú trọng các biện pháp kết hợp sau xóa mũ chữ để tránh tái mù chữ

- Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh cho nhân dân

Tập trung xây dựng, củng cố, mở rộng cơ sở y tế, khám chữa bệnh; bảo đảm thuốc phòng và chữa cho đồng bào các dân tộc ở vùng có điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn. Xây dựng các chính sách ưu tiên chăm sóc sức khỏe nhân dân miền núi, vùng sâu, vùng xa, đặc biệt quan tâm tới đồng bào các dân tộc thiẻu số, nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ y tế có chất lượng cho nhân dân vùng nghèo, DTTS, vùng sâu, vùng khó khăn. Mở rộng các phương thức trả trước và chia sẻ rủi ro trong khám chữa bệnh thông qua phát triển bảo hiểm y tế toàn dân; cải cách và đơn giản hóa thủ tục mua, thanh toán bảo hiểm y tế, tạo thuận lợi cho người có bảo hiểm y tế trong khám, chữa bệnh; tiếp tục triển khai tốt chính sách BHYT cho người nghèo, cận nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi, người cao tuổi, đồng bào DTTS vùng KT-XH khó khăn và các đối tượng dễ bị tổn thương.

-Bảo đảm nâng cao chất lượng dân số

Bảo đảm nâng cao chất lượng dân số, phát triển dân số hợp lý của từng dân tộc theo quy định của pháp luật, nhất là đối với các dân tộc có số dân dưới 10.000 người.

Những thành tựu phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc ở nước ta hiện nay

 


Sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố; dân chủ xã hội chủ nghĩa tiếp tục được phát huy. Đã ban hành và thực hiện có hiệu quả nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật nhằm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy quyền hạn làm chủ của nhân dân. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, vận động đông đảo nhân dân tham gia các phong trào thi đua yêu nước, phát huy ngày càng tốt hơn vai trò đại diện quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân; chủ động tham gia giám sát và phản biện xã hội; làm tốt vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị, góp phần tích cực vào những thành tựu chung của đất nước.

Bài học rút ra từ khủng hoảng của CNXH hiện thực thế giới đối với CNXH hiện thực hiện nay

 


Một là, xây dựng CNXH phải luôn luôn dựa trên nền tảng tư tưởng: đó là chủ nghĩa Mác - Lênin. Việc vận dụng đòi hỏi phái thường xuyên sáng tạo: vận dụng và bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin về CNXH phù hợp với điều kiện đặc thù của mỗi nước.

Hai là, mô hình CNXH phải xuất phát từ nguyên tắc kết hợp giữa tính phổ biến và tính đặc thù, CNXH phải dược hiện thực hóa theo điều kiện từng quốc gia - dân tộc; không thể áp đặt, hành chính hóa.

Ba là, con đường đi lên CNXH là rất đa dạng, phong phú. Mỗi quốc gia - dân tộc phải tự xác định con dường đi lên CNXH cho phù hợp với điều kiện của nước mình, không rập khuôn, giáo điều.

Bốn là, xây dựng Đảng, phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản chân chính luôn luôn có ý nghĩa quyết định cho thành bại của CNXH hiện thực.

Năm là, phải đặt thể chế XHCN trong bối cảnh mới: sự song song tồn tại của CNXH và chủ nghĩa tư bản. Toàn cầu hóa đòi hỏi sự tham gia của nhiều quốc gia, khu vực. Vì vậy, CNXH vừa hợp tác, vừa đấu tranh trong quá trình tham gia toàn cầu hóa.

Giải pháp về kinh tế trong công tác dân tộc ở Việt Nam

 

    

 

- Tiếp tục quy hoạch, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu gắn với xây dựng nông thôn mớ,

Tiếp tục quy hoạch, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu gắn với xây dựng nông thôn mới, trọng tâm là giao thông, điện, trường học và thủy lợi; gắn với bố trí, sắp xếp lại dân cư, giải quyết cơ bản vấn đề đất ở, đát sản xuất, đất phục vụ cộng đồng, nước sinhhoạt, bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ môi trường, khia thác và sử dụng hợp lý tài nguyên. Chú trọng tới những hộ đồng bào thiếu đất sản xuất, các điểm nóng vè di cư tự phát, dự án tái định cư thủy lợi, thủy điện

- Tập trung phát triển sản xuất gắn với thị trường, chế biến và tiêu thụ sản phẩm;

 Tập trung phát triển sản xuất gắn với thị trường, chế biến và tiêu thụ sản phẩm; hình thành các mô hình quan hệ sản xuất mới, phát triển doanh nghiệp xã hội; đào tạo nghề, giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo nhanh, beenf vững, tăng dần mức thu nhập cho người dân; tạo điều kiện và cơ hội giúp đồng bào các DTTS nâng cao mức sống.

-Tiếp tục thể chế hóa những chính sách ưu tiên thúc đẩy việc làm đối với nhóm lao động trong khu vực phi chính thức

Tiếp tục thể chế hóa những chính sách ưu tiên thúc đẩy việc làm đối với nhóm lao động trong khu vực phi chính thức, đặc biệt đối với lao động là người DTTS ở khu vực nông thôn, lao động tư do…nhằm tăng cường tính bền vững đối với việc làm ở các khu vực này, vì đây là khu vực chịu nhiều rủi ro về đièu kiện, môi trường làm việc, thu nhập và thiếu tính ổn định hơn so với khu vực chính thức.

Thứ Ba, 5 tháng 4, 2022

Tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ là người DTTS bảo đảm về số lượng và chất lượng

 


Tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ là người DTTS nhằm tăng cường sự tham gia vào bộ máy nhà nước ở Trung ương và chính quyền địa phương các cấp đủ mạnh. Chú trọng làm tốt công tác quy hoạch dự nguồn cán bộ DTTS để có chính sách đào tạo, bồidưỡng và sử dụng hợp lý, hình thành đội ngũ cácn bộ DTTS đông về số lượng, giỏi về chuyên môn, đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH của các địa phương. Xây dựng đội ngũ trí thức người DTTS, chính sách đối với người tiêu biểu củacác DTTS. Cụ thể hóa thêm chính sách cán bộ đối với một số vùng, nhóm dân tộc để đáp ứng yêu cầu thực tiễn của sự nghiệp cách mạng trong giai đoạn mới.

 Xây dựng chế độ trách nhiệm thực thi nhiệm vụ của cán bộ, công chức, nhất là cán bộ công tác ở vùng DTTS

Xây dựng chế độ trách nhiệm thực thi nhiệm vụ của cán bộ, công chức, nhất là cán bộ công tác ở vùng DTTS, bảo đảm mỗi ngườicó thể phát huy hết năng lực các nhân; đồng thời xác định cụ thể trách nhiệm của mìnhtrong quá trình thực thi công vụ, giảm thiểunguy cơ có thể xâm phạm các quyền của công dân, quyền con người đối với đồng bào dân tộc là các đối tượng có trình độ, năng lực pháp lý hạn chế, dễ bị tổn thương và ít có khả năng tự vệ

Tăng cường mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trong chính sách dân tộc ở Việt Nam

 


        -  Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, vì lợi ích quốc gia, dân tộc, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh vì hòa binh, độc lập, dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

- Phát huy được nội lực, tranh thủ ngoại lực, tiếp thu những thành tựu về khoa học- công nghệ, về kinh tế trí thức, kinh nghiệm quốc tế, văn minh của nhân loại… để phát triển, hiện đại hóa lực lượng sản xuất, xây dựng đất nước.

Trong những năm đổi mới, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã có nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp để tăng cường, mở rộng hợp tác quốc tế, tham gia các quan hệ song phương và tổ chức đa phương như ASEAN, APEC, ASEM, WTO…, thu hút mạnh mẽ vốn đầu tư nước ngoài (FDI,ODA), xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư, mở rộng thị trường xuất nhập khẩu, khai thác hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc tế, các nguồn lực về vốn, khoa học-công nghệ, trình độ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến.

- Mở rộng quan hệ quốc tế

Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao  với 170 nước ( trong đó xác lập quan hệ đối tác chiến lược với 15 nước), quan hệ thương mại với 230 nước và vùng lãnh thổ, ký trên 90 hiệp định thương mại song phương, gần 60 hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư. Hội nhập quốc tế của Việt Nam ngày càng sâu rộng, vị thế và uy tín quốc tế của Việt nam ngày càng được nâng lên.

PHÁT TRIỂN CÁC MÔ HÌNH HOẠT ĐỘNG VÌ CỘNG ĐỒNG TRONG NHÂN DÂN

 Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã tổ chức nghiên cứu, hội thảo về hoạt động của mô hình tự quản ở cộng đồng dân cư thôn, tổ dân phố. Trong thực tế, hoạt động tự quản của nhân dân luôn là nội dung được quan tâm tổ chức thực hiện ở nhiều nơi.

Tổ chức hoạt động tự quản chính là hình thức phát huy quyền làm chủ của nhân dân tham gia quản lý xã hội. Từ đó phát huy tinh thần đoàn kết, gắn bó nhân dân trong cộng đồng dân cư, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống.
Tại nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước, các mô hình hoạt động của nhân dân hướng về cộng đồng, hướng về người nghèo đã tồn tại, phát triển trong nhiều năm qua và đạt được những kết quả cụ thể. Ở nhiều nơi, tùy thuộc vào điều kiện và nhu cầu cụ thể của người dân mà các mô hình tiếp tục được thành lập.
Theo thông tin từ Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhiều mô hình của nhân dân, do nhân dân đã và đang có những tác động rất tích cực trong đời sống xã hội. Trong đó, có thể kể đến mô hình "Giúp gạo hộ khó" được triển khai tại một số xã trên địa bàn huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu đã và đang giúp cho những hộ khó khăn có gạo ăn hằng tháng. Tại ấp Nhân Ðức (xã Xuyên Mộc) mô hình "Giúp gạo hộ khó" đã giúp 24 hộ neo đơn, hộ đặc biệt khó khăn luân phiên được nhận gạo. Hằng tháng, có sáu hộ-mỗi hộ được nhận 10 kg gạo, sau đó quay vòng đến sáu hộ khác. Nguồn gạo do cán bộ của ban ấp đóng góp, vận động nhà hảo tâm và từ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, huyện cấp. Ngoài 24 hộ xoay vòng nhận gạo ở ấp Nhân Ðức, tại ấp Nhân Tâm (xã Xuyên Mộc), Mặt trận Tổ quốc xã cũng vận động một nhà máy xay lúa trên địa bàn ủng hộ mỗi tháng một tạ gạo, trao tặng tới hộ nghèo, hộ đặc biệt khó khăn vào các dịp lễ, Tết.
Thông tin từ Ủy ban Mặt trận Tổ quốc huyện Xuyên Mộc, hiện có sáu xã: Phước Thuận, Xuyên Mộc, Bông Trang, Hòa Hội, Bàu Lâm, Bưng Riềng thực hiện mô hình "Giúp gạo hộ khó" với hơn 70 hộ được hỗ trợ gạo hằng tháng (từ 10 kg-20 kg gạo/hộ). Hoạt động hỗ trợ gạo được thực hiện đồng bộ, thường xuyên, đúng đối tượng. Tuy giá trị vật chất không lớn, nhưng mang ý nghĩa nhân văn, giúp các gia đình vơi bớt khó khăn trong cuộc sống. Ðáng chú ý, cùng với mô hình "Giúp gạo hộ khó", Mặt trận huyện còn hỗ trợ đột xuất, trao vốn giúp vật nuôi, cây trồng tặng các hộ nghèo.
Tại thôn 6, xã Xuân Sinh, huyện Thọ Xuân, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Thanh Hóa đã phối hợp Mặt trận Tổ quốc huyện Thọ Xuân tổ chức Hội nghị truyền thông thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường và ra mắt mô hình "Khu dân cư tự quản bảo vệ môi trường". Các đại biểu tham dự hội nghị đã được nghe tuyên truyền về vai trò của Mặt trận, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp và cộng đồng dân cư trong công tác bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu; triển khai hướng dẫn xây dựng mô hình điểm "Khu dân cư tự quản bảo vệ môi trường" năm 2022.
Tại đây, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã Xuân Sinh đã công bố quyết định thành lập ban điều hành; quyết định về việc ban hành quy chế hoạt động của ban điều hành và cam kết thực hiện "Khu dân cư tự quản bảo vệ môi trường" năm 2022. Hoạt động có nội dung như nêu trên cũng vừa được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã Ninh Tân, thị xã Ninh Hòa (Khánh Hòa) tổ chức, với lễ ra mắt mô hình tự quản về giảm chất thải nhựa, bảo vệ môi trường.
Việc triển khai và nhân rộng các mô hình này sẽ góp phần quan trọng nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi của người dân về trách nhiệm bảo vệ môi trường ngay tại khu dân cư. Qua đó giúp người dân hiểu rõ và thực hiện tốt các quy định như: Chứa rác thải bằng vật dụng bảo đảm vệ sinh; bỏ rác đúng nơi quy định; không xả nước thải, không vứt vật nuôi chết bừa bãi gây mất vệ sinh môi trường... xây dựng khu dân cư trong sạch, không ô nhiễm môi trường sống. Bên cạnh đó, các mô hình này sẽ góp phần tuyên truyền, vận động nhân dân nâng cao nhận thức, trách nhiệm, ý thức chấp hành pháp luật về công tác bảo vệ môi trường gắn với Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh", góp phần thúc đẩy kinh tế-xã hội ở từng khu dân cư phát triển bền vững.
Thông qua mô hình còn phát huy vai trò của Mặt trận các cấp, các đoàn thể chính trị, sự phối hợp có hiệu quả của các ban, ngành, cơ quan chức năng trong việc vận động nhân dân thi đua xây dựng khu dân cư văn hóa tiêu biểu, khu dân cư kiểu mẫu, khu dân cư xanh-sạch-đẹp.
Theo Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nước ta hiện chưa có nghiên cứu toàn diện dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề hoạt động tự quản của nhân dân. Nhiều mô hình tự quản ở cộng đồng dân cư được thành lập từ các phong trào, cuộc vận động do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị-xã hội và tổ chức khác trong hệ thống chính trị triển khai. Tuy nhiên, bên cạnh những mô hình đang phát huy hiệu quả, có những mô hình có sự trùng lặp về nội dung hoạt động; trên cùng một địa bàn nhiều mô hình, nhiều chủ thể tham gia hoặc một chủ thể tham gia nhiều mô hình do đó hiệu quả, chất lượng chưa cao.
Thời gian tới, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sẽ tiếp tục thảo luận, trao đổi để nhằm bổ sung thêm những căn cứ lý luận và thực tiễn để xây dựng các mô hình tự quản ở cộng đồng dân cư thôn, tổ dân phố. Ðồng thời, đánh giá làm rõ những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân trong tổ chức thực hiện mô hình tự quản ở cộng đồng dân cư giai đoạn hiện nay... Từ đó đề xuất các nhiệm vụ và giải pháp để tổ chức thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động mô hình tự quản góp phần giúp cấp ủy Ðảng, chính quyền ở cơ sở nâng cao chất lượng quản lý xã hội.

"ĐỊA CHỈ ĐỎ" KẾT NỐI NHỮNG TẤM LÒNG NHÂN ÁI

 Dịch Covid-19 tác động tiêu cực đến nhiều lĩnh vực, trong đó đã ảnh hưởng nặng nề đến đời sống xã hội, nhất là các hộ nghèo, cận nghèo. Trong khó khăn ấy, các hoạt động thiện nguyện vì cộng đồng lại tỏa sáng, kết nối những tấm lòng nhân ái cùng nhau chia sẻ khó khăn giữa mùa dịch.

Ðó là những ngôi nhà Chữ thập đỏ, những chuyến xe yêu thương chở theo hàng trăm tấn rau củ, thực phẩm đi vào vùng có dịch, là những bếp cơm thiện nguyện đêm ngày đỏ lửa cung cấp hàng trăm nghìn suất cơm miễn phí cho người dân…
Hà Nội những tháng ngày giãn cách vì dịch bệnh, cuộc sống của người dân bị xáo trộn, đảo lộn với khó khăn chồng chất. Nhưng với tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái, không một người dân nào bị bỏ lại phía sau, các mảnh đời khốn khó, hoàn cảnh éo le, vất vả đã nhận được những động viên, chia sẻ, giúp đỡ kịp thời từ các cấp, ngành, tổ chức, đoàn thể, hội nhóm, nhà hảo tâm.
Tại huyện Phúc Thọ (Hà Nội), mỗi khi có khách đến chúc Tết, thăm nhà, bà Ðỗ Thị Viễn, ở xã Tam Thuấn lại hồ hởi về ngôi nhà Chữ thập đỏ khang trang, có đầy đủ đồ dùng thiết yếu. "Ước mơ những năm tháng tuổi già được sống trong ngôi nhà vững chãi của tôi đã toại nguyện. Mùa xuân năm nay là mùa xuân ấm áp nhất của tôi", bà Viễn xúc động chia sẻ. Theo lời kể, bà Viễn thuộc đối tượng cao tuổi neo đơn, sức khỏe yếu, hoàn cảnh gia đình gặp nhiều khó khăn, cho nên việc xây dựng nhà ở mới cần đến sự chung tay hỗ trợ của cộng đồng xã hội.
Còn tại khu trọ nghèo thuộc phường Trung Văn, quận Nam Từ Liêm, phần lớn nơi đây tập trung thành phần lao động tự do, người già neo đơn… bị ảnh hưởng nghiêm trọng về đời sống sau khi dịch Covid-19 bùng phát. Họ phải dừng toàn bộ công việc kiếm sống, không có thu nhập, cạn lương thực, thực phẩm, nỗi lo lắng dịch bệnh, quê thì không về được vì giãn cách… Nhiều đoàn thể, cá nhân, nhà hảo tâm đã trực tiếp trao những suất quà là các nhu yếu phẩm, gạo, mì tôm, rau xanh… cho người dân. Ông Trần Toàn, trú tại La Khê, quận Hà Ðông cho biết, công việc hằng ngày làm bảo vệ vốn dĩ chỉ tạm đủ ăn với đồng lương ít ỏi, khi lệnh giãn cách được ban hành, công ty đóng cửa, cô con gái làm nghề tự do cũng rơi vào tình trạng thất nghiệp. Không có thu nhập, không việc làm, mọi thứ lo lắng cứ thế đè nặng lên vai người đàn ông gần 60 tuổi. Giữa bộn bề đó, ông và gia đình đã nhận được hỗ trợ thực phẩm, nhu yếu phẩm của những tấm lòng thiện nguyện.
Không riêng gì ông Toàn, những lao động nghèo mắc kẹt lại Thủ đô tại xóm trọ này cũng cạn tiền mua thực phẩm, họ đều vui sướng, hạnh phúc khi đón nhận sự quan tâm, đùm bọc của cộng đồng. Không những vậy, họ còn được giúp đỡ tiền phòng trọ, tiền mặt, thuốc men, khẩu trang, nước sát khuẩn để có thể phòng, chống dịch bệnh một cách an toàn nhất. Giữa khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19, những tấm lòng "nhường cơm sẻ áo", "một miếng khi đói bằng một gói khi no" lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng, thể hiện tinh thần đoàn kết, tương trợ cùng nhau của người dân Thủ đô nói riêng và những người Việt Nam khắp mọi miền đất nước nói chung.
Không chỉ kịp thời hỗ trợ cho những đối tượng có hoàn cảnh khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19, dịp Tết Nhâm Dần 2022 vừa qua, với vai trò là cầu nối giữa những tấm lòng hảo tâm và những người gặp khó khăn, các cấp Hội Chữ thập đỏ thành phố Hà Nội đã tổ chức chương trình "Chợ Tết nhân đạo - Tết ấm yêu thương xuân Nhâm Dần 2022" trao tặng 300 suất quà cho các gia đình có hoàn cảnh khó khăn, người khuyết tật, nạn nhân chất độc da cam/dioxin. Tuy phần quà không lớn, mỗi suất trị giá 300 nghìn đồng cùng các nhu yếu phẩm như: Gạo, dầu ăn, miến… nhưng vẫn làm ấm lòng những gia đình có hoàn cảnh khó khăn.
Theo lãnh đạo Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, Phong trào "Tết vì người nghèo và nạn nhân chất độc da cam" Xuân Nhâm Dần 2022, các cấp Hội trong cả nước đã vận động và trao hơn 2,555 triệu suất quà tặng người nghèo và nạn nhân chất độc da cam và các hoạt động hỗ trợ khác (tặng sổ tiết kiệm, tặng nhà Chữ thập đỏ, tặng bò, hỗ trợ học bổng…) với tổng trị giá đạt hơn 1.156 tỷ đồng. Hình thức hỗ trợ bao gồm: tặng quà trực tiếp (suất quà bao gồm tiền mặt và hiện vật) và các hình thức hỗ trợ khác (vận động giúp xây nhà Chữ thập đỏ; sửa chữa, cải tạo nhà ở; tặng thẻ bảo hiểm y tế, khám, chữa bệnh nhân đạo, tặng học bổng cho học sinh nghèo vượt khó, hỗ trợ sinh kế cho người có hoàn cảnh khó khăn bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19...).
Trong đó, mô hình Chợ Tết nhân đạo vẫn tiếp tục được các cấp Hội tổ chức với nhiều hình thức phong phú, thích ứng linh hoạt với tình hình dịch bệnh. Nhiều tỉnh, thành Hội tổ chức chương trình trao tặng quà Tết với nhiều hình thức phong phú, kết hợp các hoạt động tư vấn sức khỏe, văn hóa, văn nghệ tạo không khí vui tươi, đầm ấm. Trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, Trung ương Hội đã chỉ đạo Hội Chữ thập đỏ các tỉnh, thành phố triển khai các hoạt động hỗ trợ và tặng quà Tết bằng các hình thức phù hợp tình hình, diễn biến và chỉ đạo về phòng, chống dịch tại địa phương.
Phát huy kết quả đạt được, để xứng đáng là "địa chỉ đỏ" của những tấm lòng nhân ái, thời gian tới, các cấp Hội Chữ thập đỏ Việt Nam cần tiếp tục chuẩn bị mọi mặt để tổ chức thực hiện tốt phong trào vì người nghèo, góp phần thực hiện chính sách an sinh xã hội của Ðảng, Nhà nước. Theo đó, hoạt động Chữ thập đỏ, cần đặc biệt chú trọng công tác xã hội nhân đạo, tham gia phòng ngừa và ứng phó với thiên tai, chăm sóc sức khỏe nhân dân dựa vào cộng đồng, hiến máu nhân đạo; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền các cấp và của toàn xã hội về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác nhân đạo. Qua đó, vận động, thu hút ngày càng nhiều tổ chức, cá nhân, các nhà hảo tâm tham gia hoạt động nhân đạo với hình thức đa dạng, khả năng phù hợp.
Nguồn Báo Nhân Dân

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA

 “Quân nhân phải biết võ, phải biết văn, võ là như tay phải, văn là như tay trái của quân nhân. Biết võ, biết văn, mới là quân nhân hoàn toàn. Muốn biết thì phải thi đua học.

Học không bao giờ cùng.
Học mãi để tiến bộ mãi.
Càng tiến bộ, càng thấy càng phải học thêm”
Báo “Quân nhân học báo”, là tờ báo chuyên hướng dẫn bộ đội ta học tập văn hóa, xuất bản tại Việt Bắc trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.
Ngay sau cách mạng tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động phong toàn dân, toàn quân xóa nạn mù chữ. Hưởng ứng và thực hiện lời kêu gọi của Người, các đơn vị bộ đội đã phát động phong trào bộ đội tích cực học tập xóa nạn mù chữ, theo tinh thần người biết chữ dạy cho người chưa biết chữ, người biết nhiều, dạy cho người biết ít, nhằm làm cho các binh sĩ đều biết đọc, biết viết để diệt giặc dốt, để phục vụ quân đội, phục vụ kháng chiến. Bởi theo Bác địch dốt nát giúp cho địch ngoại xâm. Địch ngoại xâm dựa vào địch dốt nát để thi hành chiến lược ngu dân. Đối với cán bộ, chiến sĩ quân đội, bên cạnh việc học chữ, còn phải tích cực học tập quân sự, nâng cao trình độ kỹ chiến thuật, rèn luyện thể lực để đủ sức khỏe, bản lĩnh chiến đấu, chiến thắng địch ngoại xâm.
Lời động viên, khen ngợi của Bác đã kịp thời cổ vũ, động viên, tinh thần tích cực học tập văn hóa của cán bộ, chiến sỹ trong quân đội mà còn thể hiện tư tưởng, chỉ đạo, phương châm giáo dục học phải đi đôi với hành, lý luận phải gắn liền với thưc tiễn, nhà trường gắn liền với chiến trường, quân sự gắn liền với chính trị (văn võ song toàn). Bởi theo Bác “Một quân đội văn hay võ giỏi, là một quân đội vô địch”.
Lời Bác dạy vẫn còn nguyên giá trị để cán bộ, chiến sỹ quân đội không ngừng tích cực học tập, nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, quán triệt sâu sắc và chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật chiến đấu mới, hiện đại đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao. Luôn đề cao và thực hành tự học, học nữa, học mãi, học suốt đời; tích cực rèn luyện thân thể để có đủ trí, đủ lực đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

TÌNH QUÂN DÂN NƠI MIỀN CAO PHONG THỔ

 Giống như nhiều gia đình ở xã Sì Lở Lầu (Phong Thổ, Lai Châu), nhà anh Tẩn Vần Sâu thuộc diện hộ nghèo, khó khăn về nhà ở nhiều năm nay. Mặc dù cố gắng làm ăn nhưng gia đình anh không đủ điều kiện xây dựng nhà mới.

Ngày bộ đội Đoàn Kinh tế-Quốc phòng (KT-QP) 356, Quân khu 2 về giúp gia đình khởi công xây căn nhà kiên cố, anh Vần Sâu mừng lắm. Anh bàn với vợ vay mượn thêm hai bên gia đình nội ngoại và người thân để đổ mái bằng ngôi nhà cho vững chắc.
Tẩn Vần Sâu kể lại: “Trước đây, vợ chồng mình ở trong căn nhà vách đất xiêu vẹo. Còn bây giờ thì nhà mình đã khá khang trang, không còn phải lo mưa gió nữa”. Căn nhà mới của anh Sâu có diện tích 64m2, gồm hai phòng ngủ, một phòng khách khép kín, phía trên hai phòng ngủ anh làm gác xép để thóc, ngô, lương thực dự trữ. Ngôi nhà có tổng kinh phí 124 triệu đồng, trong đó Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) hỗ trợ 60 triệu đồng, Đoàn KT-QP 356 hỗ trợ ngày công xây dựng, số tiền còn lại do gia đình tích cóp, vay mượn.
Theo Thiếu tá Nguyễn Minh Đức, Phó đội trưởng Đội sản xuất và xây dựng cơ sở chính trị số 1, Đoàn KT-QP 356, gia đình anh Tẩn Vần Sâu là một trong 5 hộ được Đảng ủy, chỉ huy Đoàn KT-QP 356 giao nhiệm vụ cho Đội 1 khảo sát, giúp đỡ làm nhà. Trong quá trình thi công, đơn vị hỗ trợ ngày công xây dựng, giúp gia đình anh giảm một phần chi phí.
Chúng tôi có mặt tại gia đình anh Lầu A Páo, bản Pa Vây Sử, xã Pa Vây Sử (Phong Thổ) đúng thời điểm cả nhà đang hối hả dọn dẹp nhà mới. Vừa thấy Thượng tá Hà Văn Đoan, cán bộ cơ quan chính trị Đoàn KT-QP 356 vào đầu ngõ, Lầu A Páo đã hớn hở: “Cán bộ à, vợ chồng mình có nhà mới rồi, mừng lắm! Hôm trước, mình bàn với vợ góp tiền cùng bà con trong bản mua con lợn to để mời dân bản đến chung vui đấy". Được biết, anh Lầu A Páo cũng vừa được nhận hỗ trợ 60 triệu đồng từ Vietcombank để làm nhà mới, Đoàn KT-QP 356 hỗ trợ 30 ngày công xây dựng.
Đại tá Nguyễn Quyết Thắng, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Đoàn KT-QP 356 chia sẻ: "Đơn vị được Bộ tư lệnh Quân khu 2 giao nhiệm vụ giúp 9 hộ nghèo, khó khăn về nhà ở trên địa bàn hai xã Sì Lở Lầu và Pa Vây Sử xây dựng nhà mới. Để hoàn thành nhiệm vụ, Đảng ủy, chỉ huy đoàn giao nhiệm vụ cho Thượng tá Nguyễn Đức Huy, Phó đoàn trưởng phụ trách, thành lập ban chỉ đạo, tổ giúp việc, lực lượng thi công. Quá trình thi công, Đoàn KT-QP 356 yêu cầu các đội sản xuất đứng chân trên địa bàn phối hợp chặt chẽ với gia đình, giám sát công trình, hỗ trợ ngày công". Sau hơn 3 tháng, toàn bộ 9 ngôi nhà do Đoàn KT-QP 356 đảm nhiệm thi công hoàn thành đúng tiến độ, bảo đảm tiêu chuẩn 3 cứng: Nền cứng, khung tường cứng, mái cứng, tránh được tác động của khí hậu, thời tiết, phù hợp với phong tục tập quán và nhu cầu sinh hoạt của bà con nơi biên giới.
Bà Mai Thị Hồng Sim, Phó chủ tịch UBND huyện Phong Thổ cho biết: "Chúng tôi thường xuyên tuyên truyền để nhân dân hiểu được ý nghĩa nhân văn từ chủ trương hỗ trợ làm nhà mới cho hộ nghèo, khó khăn về nhà ở của Bộ tư lệnh Quân khu 2 và Vietcombank. UBND huyện giao cho các xã tiến hành khảo sát kỹ từng hộ gia đình, chỉ đạo các địa phương cử lực lượng hỗ trợ ngày công xây dựng, đồng thời phối hợp tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho lực lượng quân đội thi công bảo đảm tiến độ và chất lượng công trình".

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA

  “Về lãnh đạo, cán bộ phải thật sự đoàn kết, nhất trí, phải đi sâu đi sát, phải lãnh đạo thiết thực và toàn diện”
Lời huấn thị trên được trích trong thông báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nội dung đợt chỉnh huấn cho toàn Đảng, toàn dân do Trung ương phát động, khi Người về thăm và nói chuyện với đồng bào, cán bộ tỉnh Bắc Giang, ngày 06 tháng 4 năm 1961.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu cầu đội ngũ cán bộ phải đề cao và thực hành đoàn kết, nhất trí, giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí như con ngươi của mắt mình, phải rèn luyện phong cách lãnh đạo sâu sát, tỉ mỉ, gắn bó với cơ sở, gần dân, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, phải thiết thực và toàn diện, tránh phô trương, hình thức. Theo Bác, sau khi nghị quyết đã được ban hành, thì phải tổ chức tốt việc thực hiện nghị quyết, để nghị quyết đi vào cuộc sống. Muốn vậy, đòi hỏi người cán bộ phải sâu sát, tỷ mỉ, phải “đi tận nơi”, “xem tận chỗ”.
Thực hiện lời Bác dạy, hơn 80 năm qua Đảng ta luôn nhận thức sâu sắc ý nghĩa to lớn của việc xây dựng, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, xem đây là vấn đề quan trọng hằng đầu, là nhiệm vụ sống còn của Đảng, của dân tộc. Đặc biệt, trong thời kỳ mới, Đảng luôn quan tâm lãnh đạo công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của mình, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất, kiên quyết chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ. Sự nghiệp đổi mới đất nước đã thu được kết quả rất quan trọng, tiếp tục nâng cao vị thế, khẳng định năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Đại bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng đã luôn giữ gìn sự đoàn kết nhất trí, phấn đấu hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng.
Tuy nhiên, bên cạnh đó còn không ít cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng…
Để tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng, kiên quyết đấu tranh, khắc phục được những hạn chế, yếu kém, mỗi cán bộ, đảng viên trong Đảng nói chung, cán bộ, đảng viên Đảng bộ Quân đội nói riêng, gương mẫu đi đầu thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, hiệu quả phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của địa phương, đơn vị, chức trách, nhiệm vụ được giao; có tác phong dân chủ, quần chúng, sâu sát, tỉ mỉ, gần gũi, chân thành lắng nghe tâm tư, nguyện vọng và thành tâm tiếp thu sự phê bình của quần chúng, luôn đề cao tự phê bình và phê bình.