Thứ Tư, 6 tháng 4, 2022

 

Nâng cao nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội ở Việt Nam hiện nay

Thực trạng mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội

Cho dù đến Đại hội XIII, Đảng ta mới chính thức nêu lên mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, đặt nó trong sự tác động biện chứng của các mối quan hệ lớn khác, song trên thực tế, suốt hơn 35 năm đổi mới, chúng ta đã phải thường xuyên giải quyết mối quan hệ này, không chỉ trong xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị mà còn trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Những kết quả, thành tựu, những tiến bộ trong thực hành dân chủ, tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội ở nước ta trong những năm đổi mới vừa qua có thể khái quát như sau:

Thứ nhất, thực hành dân chủ thông qua dân chủ hóa kinh tế. Bên thềm đổi mới và trong những năm đầu khởi động công cuộc đổi mới, Chỉ thị số 100/CT-TW, ngày 13-1-1981, của Ban Bí thư, “Cải tiến công tác khoán, mở rộng “khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động” trong hợp tác xã nông nghiệp” và Nghị quyết số 10/NQ-TW, ngày 5-4-1988, của Bộ Chính trị, “Về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” là những quyết sách có ý nghĩa đột phá, tạo nên những chuyển biến nhanh chóng và mạnh mẽ trong phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn nước ta. Đó là khởi đầu của dân chủ hóa kinh tế, cũng là mở đầu cho thực hành dân chủ rộng rãi trong xã hội. Từ đây, nông dân và người lao động ở nước ta được giải phóng khỏi cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, được quyền tự chủ sản xuất - kinh doanh, làm chủ tư liệu sản xuất và các tư liệu sinh hoạt của mình (ra khỏi tình trạng thụ động, bị động). Thực tiễn đã khẳng định rằng, chủ trương của Đảng đề ra ngay từ những năm đầu đổi mới giải phóng sức sản xuất, giải phóng ý thức, tinh thần và mọi tiềm năng của xã hội để đổi mới toàn diện các lĩnh vực của đời sống gắn liền với dân chủ hóa xã hội là một bước tiến lớn, một thành tựu to lớn của dân chủ hóa kinh tế, của thực hành dân chủ.

Đến Hội nghị Trung ương 5 khóa XII, Đảng ta đã thay đổi căn bản nhận thức về kinh tế tư nhân, đề ra chủ trương khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển, đánh giá cao tiềm năng và sự đóng góp của kinh tế tư nhân trong tăng trưởng, phát triển nền kinh tế quốc dân, khẳng định kinh tế tư nhân không những tồn tại lâu dài mà còn là một trong những động lực quan trọng phát triển nền kinh tế, phát triển đất nước. Tư nhân, không ai khác, chính là người dân làm kinh tế trên tư cách người chủ và làm chủ xã hội. Sự thống nhất giữa lợi ích và trách nhiệm, giữa quyền và nghĩa vụ được thực hiện. Mọi người dân, mọi thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, được pháp luật bảo vệ.

Cùng với việc xóa bỏ bình quân, bao cấp, nhận thức mới về công bằng xã hội cũng đã được hình thành. Trong cơ chế thị trường, buộc phải chấp nhận cạnh tranh và phân hóa giàu nghèo, dùng pháp luật và cơ chế để điều chỉnh, điều tiết việc phân phối lợi ích, vì lợi ích chung của xã hội, tạo ổn định để phát triển, không để xảy ra bần cùng hóa, làm tổn hại tới những thành phần cơ bản trong xã hội. Tuy nhiên, công bằng và bình đẳng xã hội không chỉ được thể hiện trong phân phối lợi ích, cái cốt yếu, sâu xa, thực chất hơn của công bằng và bình đẳng xã hội là công bằng và bình đẳng về cơ hội phát triển. Mọi người dân, mọi thành viên trong cộng đồng được đặt trong môi trường đổi mới để phát triển. Đó là sự gắn kết giữa lợi ích kinh tế với bảo đảm tính nhân văn trong phát triển. Trong môi trường và điều kiện ấy, người lao động, trước hết là người nông dân đã “trở lại với chính mình”, sống và làm việc thực sự với tư cách chủ thể sáng tạo. Tâm lý, ý thức, tư duy của người nông dân cũng thay đổi căn bản, từ tư duy hiện vật (một sào ruộng làm ra bao nhiêu ki-lô-gam thóc) sang tư duy giá trị (một héc-ta đất trồng thu được bao nhiêu triệu đồng). Đó là bước tiến lớn của thực hành dân chủ trong kinh tế và trong văn hóa.

Thứ hai, thực hành dân chủ trong chính trị, trong hoạt động tham chính, trong tham gia quản lý xã hội của công dân, có những biểu hiện nổi bật sau đây:

Tổ chức các hội nghị tiếp xúc, gặp gỡ, trao đổi giữa các đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân với cử tri trước khi diễn ra các kỳ họp để các đại biểu lắng nghe ý kiến, nguyện vọng cùng những kiến nghị của người dân về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, cũng như sau khi các kỳ họp kết thúc để các đại biểu báo cáo kết quả tiếp thu ý kiến của nhân dân. Tiếng nói của người dân ở cơ sở được lắng nghe, được tôn trọng. Những kiến nghị hợp lý của người dân về đường lối, chính sách đã được các đại biểu tiếp thu, kiến nghị với các cơ quan có trách nhiệm giải quyết và trên thực tế đã có những điều chỉnh kịp thời, đáp ứng những đòi hỏi của người dân. Đó không chỉ là kinh tế mà còn là chính trị và quản lý xã hội, ở chỗ, quyền làm chủ của người dân, sự tham gia của người dân vào đánh giá đường lối, chính sách, đổi mới chính sách và cơ chế cho phù hợp với thực tiễn được tôn trọng và thực hiện.

Trong việc tiếp dân, giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân về những biểu hiện vi phạm dân chủ, làm sai các quy định của chính sách, pháp luật của Nhà nước; những biểu hiện quan liêu, xa dân, vô trách nhiệm; những việc làm bất minh, trái đạo đức; những hành vi ức hiếp, trù dập, sách nhiễu, tham nhũng của những người thi hành công vụ khi ứng xử với người dân đã được tập hợp, nghiên cứu, điều tra và xử lý. Đó là thái độ tôn trọng dân và bằng những việc làm thiết thực mà phục vụ dân, bảo vệ dân. Đã có những bước tiến đáng kể trong việc khắc phục tình trạng tiếp dân một cách hình thức, lời hứa không đi liền với thực hiện, tình trạng đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan trong bộ máy công quyền. Tổ chức cho nhân dân tham gia đóng góp ý kiến vào các dự thảo văn bản luật, các dự thảo văn kiện của Đảng qua các kỳ đại hội.

Việc đẩy mạnh thực hành dân chủ trong những năm gần đây còn được chú trọng bằng cách, tạo môi trường và cơ chế để nhân dân tham gia kiểm soát quyền lực, ngăn ngừa những hành vi lợi dụng chức quyền của các cán bộ, đảng viên vi phạm các nguyên tắc hoạt động của Đảng và pháp luật của Nhà nước, làm những điều sai trái, mưu cầu danh lợi và những cấu kết nhóm lợi ích, gây tổn hại tới lợi ích chung của xã hội, làm hoen ố thanh danh của Đảng và sức mạnh của Nhà nước.

Thực hành dân chủ, do đó, gắn chặt với thực thi pháp luật, pháp chế và siết chặt kỷ luật, kỷ cương. Nhờ đẩy mạnh thực hành dân chủ với tiếng nói của người dân, hành vi của người dân được tôn trọng mà cuộc đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng có những kết quả rất rõ rệt. Việc xử lý nghiêm minh các vụ án tham nhũng đã góp phần quan trọng vào việc làm trong sạch bộ máy, loại bỏ những kẻ thoái hóa, biến chất, bảo vệ lợi ích, tài sản quốc gia, làm tăng niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Thứ ba, thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở và Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn đã tạo động lực thúc đẩy quần chúng nhân dân phát huy vai trò làm chủ, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng và củng cố hệ thống chính trị, nhất là ở cơ sở nông thôn.

Thực hiện hai văn bản quan trọng này, đã tạo chuyển biến tích cực về tâm lý, nhận thức, ý thức làm chủ từ hai phía người dân và cán bộ, công chức, giữ vững ổn định về chính trị, tiến tới tăng trưởng mạnh về kinh tế và thúc đẩy sự phát triển toàn diện (xã hội, chính trị, văn hóa,...). Những mâu thuẫn, xung đột trong nội bộ nhân dân được kịp thời giải quyết. Hiểu biết về chính sách, pháp luật, thực hiện kỷ luật, kỷ cương của người dân được nâng cao. Đảng và Nhà nước đã kịp thời bổ sung, hoàn thiện các văn bản pháp quy về dân chủ ở cơ sở, về thực hành dân chủ từ cơ sở gắn với thực hiện dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp - là hai phương thức cơ bản về thực hành dân chủ ở nước ta.

Cùng với việc thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở và Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, đã hình thành các phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng văn hóa khu dân cư, xây dựng gia đình văn hóa và xây dựng nông thôn mới. Đây là giải pháp rất thiết thực, tạo xung lực và sự bổ trợ cần thiết để đẩy mạnh thực hành dân chủ, tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.

Thứ tư, áp dụng phương thức hội nghị toàn dân hay đại diện dân cử (các chủ hộ trong từng gia đình) để dân bầu trực tiếp trưởng thôn (ở nông thôn), tổ trưởng khu dân cư (ở đô thị). Đây là công việc thể hiện rõ vai trò của người dân: được tự do lựa chọn người đại diện xứng đáng của mình để ủy quyền và trao quyền. Qua đó, có thể khẳng định, hiệp thương dân chủ của Mặt trận Tổ quốc kết hợp với tập trung dân chủ làm phong phú các hình thức và phương thức thực hành dân chủ, xây dựng nền dân chủ ở nước ta trong đổi mới và dân chủ hóa.

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hành dân chủ, tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội ở nước ta hiện nay còn một số hạn chế, yếu kém.

Một là, vẫn còn không ít biểu hiện của dân chủ hình thức trong sinh hoạt đảng, trong hoạt động quản lý nhà nước và hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị. Việc thực hiện, tuân thủ pháp luật và pháp chế trong đời sống xã hội chưa thật nghiêm chỉnh. Vẫn còn những biểu hiện coi thường luật pháp, cố ý làm trái hoặc lợi dụng những kẽ hở trong các văn bản pháp luật vốn chưa hoàn thiện để làm sai, làm trái, liên kết lợi ích nhóm vì lợi ích cục bộ, lợi ích cá nhân, làm phương hại tới lợi ích chung.

Hai là, nguyên tắc tập trung dân chủ bị vi phạm khá phổ biến và nghiêm trọng. Dân chủ trong Đảng và trong xã hội còn bị vi phạm. Kỷ cương, kỷ luật ở nhiều cấp, nhiều lĩnh vực không nghiêm. Một số cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ lãnh đạo thiếu tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của đảng viên, ít lắng nghe ý kiến cấp dưới; cán bộ lãnh đạo ở một số nơi còn có biểu hiện gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền, mất dân chủ hoặc dân chủ hình thức. Còn thiếu những quy chế xác định trách nhiệm cụ thể của cán bộ, đảng viên, dẫn đến vừa có hiện tượng dựa dẫm vào tập thể, không rõ trách nhiệm cá nhân, vừa không khuyến khích được những cán bộ, đảng viên nhiệt tình, tâm huyết, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. 

Ba là, vẫn còn không ít nơi, không ít cán bộ, đảng viên chưa thực hiện sự nêu gương, chưa coi nêu gương là trách nhiệm, nghĩa vụ, bổn phận như Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25-10-2018, của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương” đã đề ra. Tình trạng này cũng gắn liền với sự tha hóa quyền lực, tha hóa nhân cách ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp cao.

Bốn là, còn có sự không đồng bộ và thiếu nhất quán giữa đổi mới tổ chức thiết chế với hệ thống thể chế, với chất lượng cán bộ, rộng hơn là nguồn nhân lực trong hệ thống chính trị, kể cả việc giáo dục ý thức chính trị, thói quen tuân thủ pháp luật và coi trọng đạo đức trong nhân dân. Những biểu hiện của việc coi thường kỷ cương, luật pháp, phép nước không nghiêm, sự “nhờn luật”, thói quen ứng xử “phép vua thua lệ làng” còn khá phổ biến và nặng nề. Đó là biểu hiện yếu kém về thực hiện văn hóa dân chủ, văn hóa pháp luật.

Năm là, tệ nạn thường đi liền với tiêu cực. Phòng, chống tham nhũng chưa đủ mạnh. Trong phòng, chống tham nhũng, chưa chú ý đúng mức đến việc phê phán và xử lý các tiêu cực xã hội, trước hết là trong hệ thống Đảng  các cơ quan công quyền. Những sự việc, vụ việc tiêu cực vẫn thường xảy ra làm cho xã hội bất an, đời sống bất ổn, con người sống trong cảm giác không an toàn... là bằng chứng cho thấy thực hành dân chủ, tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương còn tồn đọng rất nhiều vấn đề nhức nhối cần phải giải quyết.

Việc tồn tại một số hạn chế, yếu kém về thực hành dân chủ, tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội bắt nguồn từ những nguyên nhân cụ thể sau:

Một là, sự chỉ đạo, lãnh đạo của một số cấp ủy và chính quyền trong việc tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước vẫn là khâu yếu kéo dài, có nơi buông lỏng, thực hiện một cách hình thức, hời hợt nên các quyết sách dù rất quan trọng nhưng chậm đi vào cuộc sống, ít tác dụng, hiệu quả. Chủ nghĩa quan liêu, chủ nghĩa kinh nghiệm, bệnh hình thức, giáo điều, chủ quan, duy ý chí ở nhiều nơi vẫn còn tồn tại dai dẳng, tác động và ảnh hưởng rất nặng nề tới tư duy và hành động của nhiều tổ chức trong hệ thống chính trị và nhiều cán bộ, đảng viên.

Hai là, do tác động của mặt trái của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, khuynh hướng thiên về những lợi ích vật chất, sự nảy sinh tâm lý làm giàu bằng mọi cách, lối sống hưởng thụ, thực dụng trong xã hội ngày càng gia tăng, trong khi ở một số nơi lại chưa chú trọng giáo dục đạo đức, định hướng các giá trị đạo đức, tinh thần lành mạnh cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Việc xây dựng nền văn hóa mới và con người mới ở nhiều nơi chưa được coi trọng và đầu tư đúng mức, chưa ngang tầm với đầu tư phát triển kinh tế. Đó là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến tình trạng suy đồi, xuống cấp của đạo đức xã hội vẫn còn nguy cơ gia tăng.

Ba là, việc định hướng dư luận xã hội tích cực ở nhiều nơi chưa được thực hiện tốt; việc quản lý không chặt chẽ, xử lý không nghiêm minh những thông tin xấu, độc tràn lan trên các phương tiện truyền thông xã hội, làm ô nhiễm đời sống tinh thần xã hội, nhất là đối với thế hệ trẻ, cũng là biểu hiện của sự hạn chế, yếu kém trong thực hành dân chủ, tăng cường pháp chế, siết chặt kỷ luật, kỷ cương xã hội.

Bốn là, việc thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở và Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn có lúc, có nơi không được thường xuyên, nghiêm túc. Nguyên tắc tập trung dân chủ khi vận dụng vào thực tiễn có nhiều sai sót, thậm chí bị biến dạng, làm phương hại tới việc thực hành dân chủ, suy giảm sức mạnh của pháp chế, kỷ cương xã hội.

Năm là, sự buông lỏng quản lý, kiểm tra, giám sát, không thực hiện nghiêm trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trong đó có nêu gương về đạo đức, tuân thủ pháp luật, pháp chế, kỷ cương xã hội cũng là tác nhân dẫn tới những ảnh hưởng xấu trong xã hội, trong nhân dân, và khi những ảnh hưởng xấu đó được những thế lực thù địch, cơ hội chính trị xuyên tạc, kích động thì dễ dẫn tới những lộn xộn, mất an ninh, trật tự.

Quan điểm, phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội

Để nâng cao nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, trong thời gian tới cần quán triệt các quan điểm sau: 

Thứ nhất, nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội phải phù hợp với nguyên tắc quyền lợi đi đôi với nghĩa vụ, trách nhiệm cá nhân, vì lợi ích quốc gia, dân tộc.

Ngày nay, nhận thức, thực hành dân chủ phải trên cơ sở các nguyên tắc và tinh thần của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa gắn quyền, lợi ích của công dân với sự phát triển bền vững của xã hội. Quyền, nghĩa vụ, tự do đi liền với trách nhiệm - đó là tiền đề, là điều kiện bảo đảm cuộc sống của mỗi người dân, cộng đồng, các quốc gia và toàn nhân loại. Nghĩa vụ pháp lý là thành tố tất yếu của mối quan hệ tương tác giữa nhà nước, pháp luật và cá nhân; nếu thiếu nó thì không thể có được sự cân bằng trong các mối quan hệ xã hội, các loại lợi ích, trong hoạt động xã hội và môi trường xã hội. Cũng như đối với quyền con người, nghĩa vụ pháp lý cũng mang tính phổ quát và tính đặc thù, cái làm nên những điểm tương đồng và khác biệt tất yếu của các bản hiến pháp trên thế giới. Nghĩa vụ là mặt thứ hai của một thể thống nhất biện chứng của quyền và nghĩa vụ, do vậy, có tính giá trị hữu ích cho sự tồn tại của con người và các tổ chức do con người lập ra. Nghĩa vụ pháp lý, nhất là các nghĩa vụ hiến định, chính là vật cản hợp pháp trong cuộc sống thường ngày đối với mọi sự lạm quyền, độc đoán, tùy tiện, vô chính phủ và đối với tất cả những hiện tượng tiêu cực khác ảnh hưởng đến các quyền, tự do luật định của con người. 

Thứ hai, nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội phải trên cơ sở phát huy vai trò, tăng cường hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở.

Hệ thống chính trị ở cơ sở có vai trò to lớn trong việc nâng cao nhận thức và triển khai thực hiện dân chủ ở cơ sở, vận động nhân dân chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Cần phát huy vai trò và đổi mới hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở, đặc biệt là các cấp ủy cơ sở. Các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn trước hết phải được quán triệt và thông suốt trong cán bộ, đảng viên ở cấp cơ sở, tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động.

Các cấp ủy phải thường xuyên lãnh đạo chặt chẽ quá trình thực hiện pháp luật về dân chủ ở xã, phường, thị trấn; cùng với đó, phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân để có chương trình, kế hoạch tổ chức và thực hiện hiệu quả. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân không chỉ là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân và đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân tham gia quản lý nhà nước, mà còn có vai trò to lớn trong việc phát huy và thực hành dân chủ. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân là những diễn đàn thể hiện tiếng nói của nhân dân trong tham gia đóng góp ý kiến với Đảng và Nhà nước, đồng thời tham gia kiểm tra, giám sát, phản biện xã hội đối với hoạt động của Đảng và Nhà nước.

Thứ ba, nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội phải đáp ứng yêu cầu tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, tuân thủ pháp luật, xây dựng văn hóa, phẩm chất đạo đức, nhân văn.

Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nhận thức, thực hành dân chủ phải trên cơ sở nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và bảo đảm kỷ cương xã hội. Yêu cầu đó không chỉ được đặt ra đối với Nhà nước, pháp luật mà đối với tất cả mọi cá nhân, tổ chức. Cần hình thành văn hóa dân chủ theo nguyên tắc pháp quyền, trên cơ sở quyền và lợi ích con người, vì sự phát triển xã hội.

Nhận thức và thực hành dân chủ phải trên cơ sở các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền. Tiêu biểu trong số đó là các nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc công bằng, nhân đạo; nguyên tắc bình đẳng; nguyên tắc tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm các quyền, tự do của con người và công dân; nguyên tắc thượng tôn hiến pháp, pháp luật; nguyên tắc “được làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm”; nguyên tắc “chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép”; nguyên tắc công khai, minh bạch,...

Thứ tư, nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội phải đáp ứng yêu cầu xử lý nghiêm minh mọi hành vi lợi dụng quyền con người, tự do, dân chủ để vi phạm pháp luật, chống phá chế độ, xâm phạm lợi ích cá nhân, tổ chức.

Pháp chế và kỷ cương xã hội là điều kiện cần thiết để duy trì dân chủ trên cả hai bình diện: các giá trị, nguyên tắc dân chủ và các định chế dân chủ. Điều đó là tất yếu, bởi dân chủ không thể tồn tại nếu thiếu một môi trường pháp lý, khung pháp luật. Dân chủ chỉ có thể được bảo đảm và thực thi trên thực tế trong khuôn khổ của một chế độ pháp chế vững chắc.

Thượng tôn pháp luật là điều kiện tiên quyết để dân chủ được thực hành rộng rãi và thực chất. Theo đó, đòi hỏi mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội, từ cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội đến mọi công dân, đều phải tôn trọng và thực hiện các nghĩa vụ pháp lý và phải chịu trách nhiệm bắt buộc khi vi phạm pháp luật, lợi dụng quyền con người, tự do, dân chủ để vi phạm pháp luật, chống phá chế độ, xâm phạm lợi ích cá nhân và tổ chức.

Phương hướng nâng cao nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội là:

Bám sát Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, đặc biệt là phương châm, chủ đề của Đại hội, những bài học kinh nghiệm quý báu được Đảng tổng kết từ thực tiễn đổi mới, những quan điểm chỉ đạo của Đảng trong thực hiện các nhiệm vụ phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045; lấy đó làm cơ sở, định hướng đẩy mạnh thực hành dân chủ, tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. Đó là những phương hướng lớn, vừa thể hiện định hướng mục tiêu, vừa là những quan điểm chỉ đạo đổi mới, nhất là đổi mới hệ thống chính trị, để phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, thực hành dân chủ, tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, phục vụ cuộc sống, hạnh phúc của người dân trên cơ sở phát huy tính chủ động, sáng tạo của người dân. Theo đó, thực hành dân chủ gắn với tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội là để củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện và phát huy vai trò chủ thể của nhân dân, tạo ra động lực mạnh mẽ từ nhân dân, trong các phong trào thi đua yêu nước của nhân dân, trong đổi mới, kiến tạo xã hội dân chủ, phát triển nhanh và bền vững đất nước, thực hiện khát vọng phát triển đất nước, làm cho đất nước cường thịnh, dân tộc trường tồn. Đó vừa là khát vọng, mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vừa là khát vọng, mong muốn của toàn Đảng, toàn dân.

Nhằm tiếp tục nâng cao nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức về mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.

Cơ sở quan trọng để có thể giải quyết đúng đắn, đầy đủ mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, đó chính là nhận thức đúng bản chất, ý nghĩa, tầm quan trọng của mối quan hệ cốt lõi này. Nhận thức đúng đắn mối quan hệ này được đặt ra đối với từng cá nhân, tổ chức và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước, lãnh đạo các tổ chức đảng, đoàn thể nhân dân.

Cần có những giải pháp bền vững, trong đó có giải pháp xây dựng văn hóa thực hành dân chủ và pháp luật. Để người dân có thể thực hiện đúng, đầy đủ quyền và trách nhiệm của mình, cần nâng cao năng lực làm chủ cho người dân, tức là tạo cho người dân có kiến thức, kỹ năng và thái độ, thói quen trong thực hiện dân chủ. Năng lực làm chủ của người dân phụ thuộc trực tiếp vào hai yếu tố: quyền được tiếp cận thông tin và trình độ học vấn, sự hiểu biết về xã hội của người dân.

Cần chú trọng đầu tư công tác giáo dục dân chủ, pháp luật và đạo đức. Quan tâm nâng cao trình độ dân trí và bảo đảm quyền được tiếp cận thông tin của người dân. Đây là các giải pháp chủ yếu để nâng cao năng lực làm chủ, bảo đảm quyền và trách nhiệm của người dân trong thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa nói chung và dân chủ ở cơ sở nói riêng.

Hai là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong việc nâng cao nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa thực hành dân chủ, tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.

Sự lãnh đạo của Đảng có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao nhận thức và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội, bảo đảm cho các nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được thực hiện trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước. Mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội đều phải tuân thủ pháp luật và tôn trọng pháp luật.

Đảng lãnh đạo, cầm quyền phải thực sự trong sạch, vững mạnh, gương mẫu thực hành dân chủ trong Đảng và tuân thủ Hiến pháp, pháp luật. Đây là giải pháp then chốt và có tính quyết định; đồng thời, cũng là điều mong đợi, quyết tâm của Đảng và là điều mong muốn của toàn dân đối với Đảng.

Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước phải bảo đảm tính minh bạch, công khai, tuân thủ đúng pháp luật, không áp đặt, bao biện, làm thay công việc quản lý của Nhà nước. Các cấp ủy, chi bộ, đặc biệt là các chi bộ thôn, buôn, làng cần tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo việc phổ biến, học tập và thảo luận, đóng góp ý kiến đối với Quy chế Dân chủ ở cơ sở và Pháp lệnh Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn để việc thực hiện dân chủ ở cơ sở đạt hiệu quả cao hơn nữa.

Chủ động đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên. Các cấp ủy cần làm tốt công tác nắm bắt diễn biến tư tưởng cũng như những biểu hiện về hành vi của cán bộ, đảng viên trong cơ quan, đơn vị để có giải pháp ngăn chặn, đẩy lùi phù hợp, kịp thời. Cần thường xuyên tổ chức diễn đàn trao đổi, đối thoại về những vấn đề còn có nhận thức, quan điểm khác nhau liên quan đến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Có biện pháp xử lý nghiêm minh đối với những hành vi lợi dụng dân chủ, nhân quyền để gây rối trật tự công cộng, chống phá đất nước.

Ba là, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, góp phần đẩy mạnh thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội.

Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật là điều kiện đặc biệt quan trọng để đẩy mạnh thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. Đây là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài và vô cùng phức tạp.

Các nhóm giải pháp chủ yếu về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật bao gồm: giải pháp về cơ chế phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan có trách nhiệm xây dựng pháp luật; về nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác xây dựng pháp luật; về chế độ kiểm soát, trách nhiệm, xử lý vi phạm trong xây dựng pháp luật; về góp ý, phản biện xã hội, đánh giá tác động của pháp luật; về kiểm soát chất lượng văn bản pháp luật;...

Thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa trên cả hai mặt - dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, đã được quy định trong Hiến pháp năm 2013. Vì vậy, cần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý rõ ràng và hiệu quả để thực hiện quy định này. Tiếp tục sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý đối với dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện cho phù hợp với tình hình mới.

Bốn là, củng cố nền tảng đạo đức của các thể chế công vụ và tư pháp.

Một yêu cầu quan trọng đối với việc thực hành dân chủ, tăng cường pháp chế và bảo đảm kỷ cương xã hội là củng cố nền tảng đạo đức của các thiết chế công vụ và tư pháp. Thực tiễn thực thi pháp luật ở Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực công vụ và tư pháp đã cho thấy, pháp luật cần song hành với các yếu tố, giá trị khác trong xã hội như đạo đức, sự liêm chính, tài năng và sự tận tụy. Một hệ thống tư pháp liêm chính và có uy tín có ý nghĩa quan trọng trong việc đấu tranh chống tham nhũng và duy trì trật tự pháp luật.

Hoàn thiện thủ tục xét xử giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao theo hướng minh bạch, nâng cao chất lượng xét xử, đề cao trách nhiệm và năng lực kiểm tra giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để thiết chế đó thực sự là đỉnh cao của công lý, làm cho người dân thực sự tin tưởng vào thiết chế đó. Định hướng cải cách đó được đặt ra trên cơ sở nhận thức sâu sắc rằng, việc tòa án xét xử các vụ án hành chính, các khiếu kiện của công dân đối với các quyết định và hành vi của cơ quan công quyền có tác dụng làm giảm thiểu các hiện tượng tiêu cực, quan liêu, tham nhũng, lộng quyền, trốn tránh trách nhiệm trong bộ máy hành chính nhà nước.

Năm là, nâng cao năng lực của công dân trong việc sử dụng, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng.

Tiếp tục nâng cao dân trí và ý thức pháp luật, sự hiểu biết pháp luật cho người dân. Đây là vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm. Tri thức, ý thức pháp luật, sự hiểu biết pháp luật, tình cảm, thái độ đối với pháp luật và hành vi của các cá nhân con người có ảnh hưởng quan trọng đến quá trình giáo dục ý thức chấp hành pháp luật cho họ, giúp họ biết sống và làm việc theo pháp luật, nhận thức được về quyền, biết tôn trọng quyền của người khác, biết bảo vệ quyền của mình khi bị xâm hại. Cần tạo thói quen tuân thủ pháp luật và đề cao trách nhiệm của công dân; củng cố niềm tin của công dân vào pháp luật và các cơ quan thực thi pháp luật.

Sáu là, tăng cường sự tham gia của người dân vào quản trị nhà nước, phòng, chống tham nhũng và tiêu cực.

Sự tham gia của người dân vào quản trị nhà nước, phòng, chống tham nhũng và tiêu cực có mối quan hệ với việc thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở. Điều đó đòi hỏi phải bổ sung vào Quy chế Dân chủ ở cơ sở các nguyên tắc, tiêu chí hiện đại về sự tham gia của người dân vào quản trị quốc gia, phòng, chống tham nhũng và tiêu cực. Người dân và các tổ chức cần được tạo đầy đủ cơ hội để tham gia vào hoạt động xây dựng chính sách, pháp luật. Đây là điều kiện bảo đảm dân chủ trong pháp luật ngay từ khâu xây dựng, ban hành, bảo đảm những tiêu chuẩn về tính công khai, minh bạch ngay từ khi mới hình thành ý tưởng chính sách. Sự tham gia phản biện chính sách, pháp luật của người dân cũng là điều kiện bảo đảm cân bằng các loại lợi ích giữa các thành viên trong xã hội, tránh “nhóm lợi ích” thao túng, tham nhũng chính sách.

Để góp phần tăng cường sự tham gia của người dân vào quản trị nhà nước, phòng, chống tham nhũng và tiêu cực, cần thực hiện tốt công tác hòa giải ở cơ sở, không để xảy ra tình trạng khiếu kiện, mất đoàn kết kéo dài trong nhân dân. Thường xuyên kiểm tra, lấy ý kiến góp ý của người dân về cán bộ, công chức tiếp nhận và giải quyết công việc. Xử lý nghiêm những cán bộ, công chức có hành vi sách nhiễu, hách dịch người dân, vô trách nhiệm trong công việc; kịp thời khen thưởng cán bộ, công chức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Bố trí lịch tiếp dân, địa điểm tiếp dân thật chu đáo. Tiếp tục triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hành chính. Chuẩn bị các điều kiện kỹ thuật, nhân lực để có thể xây dựng chính quyền điện tử tới cấp xã.

Một số điều kiện cơ bản bảo đảm sự tham gia của người dân vào quản trị nhà nước, phòng, chống tham nhũng và tiêu cực ở nước ta hiện nay theo hướng bền vững và hiệu quả là: điều kiện về khung khổ chính sách, pháp luật; điều kiện về bảo đảm cung cấp thông tin, pháp luật, kiến thức cần thiết; điều kiện về bảo đảm sự minh bạch, công khai.

Thực hiện nghiêm chỉnh chế độ trách nhiệm giải trình, đối thoại giữa các cơ quan nhà nước và xã hội, giữa đơn vị, tổ chức xã hội với các thành viên. Tăng cường vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể nhân dân đối với việc bảo đảm sự tham gia của người dân vào quản trị nhà nước, phòng, chống tham nhũng và tiêu cực.

Đổi mới cách thức, nội dung phổ biến, giáo dục về sự tham gia của người dân vào quản trị nhà nước, phòng, chống tham nhũng và tiêu cực. Tạo lập, nuôi dưỡng niềm tin bền vững trên cơ sở cân bằng lợi ích, bảo đảm lợi ích trong việc tham gia của người dân vào quản trị nhà nước, phòng, chống tham nhũng và tiêu cực.

Bảy là, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về khiếu nại của công dân.

Bảo đảm quyền khiếu nại của công dân sẽ góp phần quan trọng vào việc phòng, chống tham nhũng, lãng phí và tiêu cực, trong sạch hóa bộ máy nhà nước. Việc tăng cường hoạt động bảo đảm quyền khiếu nại của công dân phải dựa trên nhận thức đúng về mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, phải được tiến hành đồng thời với quá trình dân chủ hóa.

Cần xây dựng hệ thống pháp luật về khiếu nại đầy đủ, đồng bộ, thống nhất với hệ thống pháp luật nói chung, hệ thống quy phạm pháp luật về khiếu nại nói riêng. Hoàn thiện cơ chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả, trách nhiệm thanh tra, kiểm tra, giám sát của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với việc bảo đảm quyền khiếu nại của công dân. Xây dựng, thực hiện chế độ trách nhiệm đối với việc bảo đảm quyền khiếu nại và xử lý nghiêm minh các vi phạm quyền khiếu nại của công dân. Đồng thời, nâng cao năng lực và phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức, đặc biệt là các cán bộ, công chức thực hiện những nhiệm vụ liên quan đến việc bảo đảm quyền khiếu nại của công dân. Đây là giải pháp có tính chất quyết định.

Tám là, gắn chặt thực hành dân chủ với thực hành đại đoàn kết, xây dựng xã hội đồng thuận, đồng thời đẩy mạnh học tập và làm theo theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minhnhất là phong cách dân chủ, gần dân, tin dân, trọng dân, thương dân, vì dân của Người.

Theo đó, cần đề cao thực hành đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: chống chủ nghĩa cá nhân như chống “giặc nội xâm” nguy hiểm nhất. Chú trọng nêu gương, bởi “một tấm gương sống còn quý hơn hàng trăm bài diễn văn tuyên truyền”, thực hiện “lời nói đi đôi với việc làm”. Giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tôn trọng pháp luật, gương mẫu thi hành pháp luật và Điều lệ Đảng, thực hiện đúng những điều đảng viên không được làm để bảo đảm sự nghiêm minh, chặt chẽ của pháp chế, kỷ luật và kỷ cương xã hội./.

 

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về tinh thần trách nhiệm để khơi dậy khát vọng phát triển đất nước.

 Tinh thần trách nhiệm là một giá trị văn hóa, được gọi là văn hóa trách nhiệm hay văn hóa bổn phận. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tinh thần trách nhiệm “Là khi Đảng, Chính phủ, hoặc cấp trên giao cho ta việc gì, bất kỳ to hay nhỏ, khó hay dễ, ta cũng đưa cả tinh thần, lực lượng ra làm cho đến nơi đến chốn, vượt mọi khó khăn, làm cho thành công”(1).


Tinh thần trách nhiệm trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Nêu cao tinh thần trách nhiệm, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân là tư tưởng xuyên suốt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Trách nhiệm đó được thể hiện trong mọi hoạt động của Người: trong học tập, lao động, nghiên cứu lý luận, hoạt động thực tiễn, cùng Đảng lãnh đạo toàn thể dân tộc Việt Nam tiến hành Cách mạng Tháng Tám thành công và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một đất nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, kém phát triển...

Với thân phận của một người dân sống trong một đất nước mất độc lập, dân nô lệ, lầm than, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận rõ trách nhiệm của một người dân mất nước, quyết tâm đi tìm đường cứu nước, giải phóng đồng bào. Trách nhiệm đó thấm sâu vào từng suy nghĩ và hành động của Người, để rồi trong suốt 30 năm, chàng thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã tìm đến các nước tư bản phát triển, các nước thuộc địa, sẵn sàng làm nhiều nghề để vừa nuôi sống bản thân, vừa hoạt động cách mạng. Người đã thể hiện trách nhiệm và quyết tâm cháy bỏng tìm con đường cứu nước bằng cách khám phá thế giới, tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau khẩu hiệu “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” rồi trở về giúp đồng bào. Không lo cho bản thân mình, Người sẵn sàng tranh luận, trao đổi các vấn đề lớn liên quan tới vận mệnh của nhân dân Việt Nam cũng như các dân tộc thuộc địa. Bản lĩnh và trách nhiệm của một chiến sĩ cách mạng dần hé lộ trong tư duy và hành động của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh.

Khi trở thành người đứng đầu Đảng và Nhà nước, Bác vẫn thể hiện rõ trách nhiệm của một người đứng ở vị trí cao nhất. Người khẳng định: “chính sách của Đảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Đảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Đảng và Chính phủ có lỗi”(2). Người cũng chỉ rõ, muốn làm tròn bổn phận, chúng ta nên lợi dụng mấy khẩu hiệu của người Trung Hoa: “1. Khổ cán (làm việc hết sức mình). 2. Hạnh cán (làm việc chất lượng). 3. Thực cán (làm việc có hiệu quả, có năng suất)”(3).

Chủ tịch Hồ Chí Minh thực thi công vụ với ý thức trách nhiệm của một người lãnh đạo chủ chốt, đứng đầu không phải bằng việc sử dụng hay lạm dụng quyền lực mà thuyết phục bằng cảm hóa, bằng phong cách nói đi đôi với làm. Ý thức trách nhiệm của Người thể hiện từ những việc lớn như hoạch định đường lối, chính sách đến những việc nhỏ như lo tương cà, mắm muối cho dân. Người sống đời sống của dân, cùng nhịp đập với trái tim của dân, lo toan, trăn trở khi dân ốm, dân đói, dân rét, dân bị bóc lột, bị mù chữ, nghèo nàn… Theo Bác, người nấu bếp, lo làm cho luôn luôn cơm lành canh ngon, bát đũa sạch sẽ. Không phí phạm của công. Tìm cách tăng gia trồng rau, nuôi gà… Khi anh em ốm yếu, thì có bát canh bát cháo. Khi bộ đội đang mải đánh giặc thì tìm cách đưa cơm đến nơi cho anh em ăn. Khi tiếp tế khó khăn thì tìm cách vượt qua, không để anh em thiếu thốn. Như thế là có tinh thần trách nhiệm.

Người cán bộ quân sự, thì luôn luôn học hỏi chính trị và kỹ thuật, chiến thuật. Luôn luôn săn sóc đến tinh thần và vật chất của đội viên. Đoàn kết nội bộ. Giúp đỡ nhân dân. Kiên quyết chấp hành mệnh lệnh trên giao xuống. Khi đánh giặc thì làm cho toàn đội thấm nhuần tinh thần quyết chiến, quyết thắng. Gặp việc khó khăn thì cố tìm cách giải quyết đúng. Như thế là có tinh thần trách nhiệm.

Đảng và Chính phủ đề ra chính sách. Cán bộ phải nghiên cứu, hiểu suốt, thấm nhuần chính sách ấy. Theo chính sách ấy mà điều tra, nghiên cứu, thấu hiểu hoàn cảnh thiết thực của đơn vị mình, địa phương mình. Rồi đặt kế hoạch rõ ràng, tỉ mỉ, thiết thực để giải thích, tuyên truyền, cổ động quần chúng, làm cho mọi người hiểu và ủng hộ chính sách của Đảng và Chính phủ như là của họ, rồi thi đua thực hiện đầy đủ chính sách ấy. Như thế là làm trọn nhiệm vụ.

Để thực hiện chính sách, làm tròn nhiệm vụ, cán bộ chẳng những phải chịu khó giải thích, tuyên truyền, cổ động mà còn phải đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết; liên hệ chặt chẽ với nhân dân; việc gì cũng bàn bạc với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ; có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân và hoanh nghênh nhân dân phê bình mình; sẵn sàng học hỏi nhân dân; tự mình là gương mẫu cần, kiệm, liêm, chính để nhân dân noi theo. Thế là có tinh thần trách nhiệm đối với Đảng, Chính phủ và đối với Nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, mọi suy nghĩ và hành động của cán bộ công chức phải đi đúng đường lối quần chúng. Đi đúng đường lối quần chúng là một nét đặc sắc trong tư duy Hồ Chí Minh về đạo đức công vụ. Người khẳng định: “Tinh thần trách nhiệm là: nắm vững chính sách, đi đúng đường lối quần chúng, làm tròn nhiệm vụ”(4).

Ý thức trách nhiệm, tinh thần trách nhiệm, hành động có trách nhiệm là nhân tố có tính quyết định trong hoạt động thực tiễn của con người, là khía cạnh quan trọng nhất của đạo đức nghề nghiệp. Ngày 20-5-1950, Người đã ký Sắc lệnh 76/SL ban hành Quy chế công chức Việt Nam, trong đó, Điều 2 quy định: “Công chức Việt Nam phải phục vụ Nhân dân, trung thành với Chính phủ, tôn trọng kỷ luật, có tinh thần trách nhiệm và tránh làm những việc có hại đến thanh danh công chức hay đến sự hoạt động của bộ máy nhà nước”. Theo đó, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, cán bộ công chức phải đặt lên hàng đầu ý thức và tinh thần trách nhiệm, hết lòng hết sức phục sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.

Còn nhiều tập thể, cá nhân thiếu tinh thần trách nhiệm

Hiện nay, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đặt ra yêu cầu ngày càng cao. Đại đa số cán bộ, đảng viên và quần chúng đều nêu cao vai trò trách nhiệm, thực hiện nghiêm quy định, quy chế làm việc của tổ chức, cơ quan, đơn vị; giữ gìn đạo đức, phẩm chất cách mạng, sống mẫu mực, đoàn kết, gắn bó mật thiết với nhân dân… Tuy nhiên, vẫn còn một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện thiếu tinh thần trách nhiệm, bớt xén giờ giấc, làm không đúng quyền hạn, chức trách, nói nhiều, làm ít. Đặc biệt, một số cán bộ, đảng viên có chức, có quyền đã thiếu tinh thần trách nhiệm trong quá trình thực thi nhiệm vụ gây thất thoát lớn tài sản của Nhà nước và Nhân dân như các vụ án liên quan đến: Đảng đoàn Hội Chữ thập đỏ Việt Nam đã thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo trong công tác tổ chức - cán bộ, quản lý tài chính, quy hoạch, sắp xếp và quản lý các cơ quan báo chí trực thuộc Cơ quan Trung ương Hội; Ban Thường vụ Đảng ủy Cảnh sát biển Việt Nam nhiệm kỳ 2015-2020 đã thiếu trách nhiệm, thiếu kiểm tra, giám sát trong công tác quản lý, sử dụng tài chính, thực hiện dự án đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm vật tư, trang bị kỹ thuật và trong đấu tranh phòng, chống buôn lậu, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn trên biển; Ban Cán sự đảng Bộ Y tế đã thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo trong công tác xây dựng, ban hành thể chế, chính sách; trong việc cấp phép nhập khẩu thuốc, thực hiện liên doanh liên kết, đấu thầu, mua sắm thuốc, trang thiết bị y tế; để nhiều cán bộ, đảng viên bị kỷ luật, một số bị xử lý hình sự… Những vi phạm nêu trên đã gây hậu quả nghiêm trọng làm thất thoát, lãng phí tiền, tài sản của Nhà nước, gây bức xúc trong xã hội, ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng, cá nhân và các ngành có liên quan.

Nâng cao tinh thần trách nhiệm để xây dựng đất nước phồn vinh

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong thực hiện công việc người cán bộ, phải tích cực, tự giác thực hiện nhiệm vụ được giao, ý thức đúng đắn về trách nhiệm của mình trên mọi cương vị, vị trí công tác, “có gan phụ trách”, dám nghĩ dám làm, chủ động sáng tạo và đặc biệt phải có khát vọng vươn lên để có kết quả cao nhất. Nói đến khát vọng là nói đến yếu tố tinh thần, là sự mong muốn, khao khát, quyết tâm dồn sức lực, trí tuệ để đạt cho được mục tiêu; là nguồn động lực có sức mạnh vô biên để thực hiện những nhiệm vụ nặng nề nhằm đạt được ước mơ, không khuất phục trước mọi thử thách… là động lực để cho mọi tầng lớp nhân dân đem hết sức mình thực hiện khát vọng, mà cụ thể ở thời điểm này khát vọng của dân tộc Việt Nam là đưa đất nước đi tới phồn vinh, hùng cường, thịnh vượng. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”(5).

Trong thời gian tới, để góp phần nâng cao tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên nhằm thực hiện khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hùng cường, xin đề xuất một số giải pháp sau:

Một là, tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị gắn với hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức; xác định rõ quan hệ giữa tập thể lãnh đạo với cá nhân phụ trách; quyền hạn đi đôi với trách nhiệm và đề cao trách nhiệm của người đứng đầu; có cơ chế, quy định cụ thể, rõ ràng và ràng buộc trách nhiệm của cá nhân trong hệ thống chính trị, hệ thống công quyền.

Hai là, mỗi cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị cần thực sự tiên phong, gương mẫu về tinh thần trách nhiệm trước công việc và nhân dân theo phương châm “nói đi đôi với làm”, nói ít làm nhiều, chủ yếu là hành động; cán bộ cấp trên nêu gương cho cán bộ cấp dưới; đảng viên nêu gương cho quần chúng noi theo.

Ba là, từng cán bộ, đảng viên cần nêu cao tính chủ động, sáng tạo trước công việc được giao. Khi thực hiện nhiệm vụ, công việc cần có chương trình, kế hoạch, tránh để chậm trễ gây tồn đọng, ách tắc, cấp trên hoặc lãnh đạo phải nhắc nhở hoặc nhân dân phải phàn nàn, chê trách, góp ý phê bình về ý thức và tinh thần trách nhiệm. Trong thực hiện nhiệm vụ cần thực hiện nghiêm chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đúng quy trình, thủ tục, đồng thời linh hoạt, sáng tạo, đổi mới, dám nghĩ, dám làm để hoàn thành công việc với hiệu quả cao nhất.

Bốn là, nâng cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, viên chức phải gắn với trao đổi, tự phê bình và phê bình, đóng góp ý kiến xây dựng cho cán bộ, đảng viên. Kịp thời khen thưởng, biểu dương những việc làm tốt và uốn nắn những hạn chế, khuyết điểm, có biện pháp phù hợp để cán bộ, đảng viên nhận thức được sai sót, hạn chế của mình, từ đó phấn đấu sửa chữa. Nghiêm túc đấu tranh chống bệnh tranh công, đổ lỗi cho khách quan hoặc đổ trách nhiệm cho người khác; những biểu hiện né tránh, bao biện hoặc kiểm điểm, phê bình một cách hình thức, chiếu lệ, qua loa.

Hơn 70 năm đã qua đi, nhưng những lời chỉ dẫn của Hồ Chí Minh trong tác phẩm Tinh thần trách nhiệm vẫn còn nguyên giá trị để Đảng và Nhà nước Việt Nam “Khơi dậy tinh thần và ý chí, quyết tâm phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; dân tộc cường thịnh, trường tồn; phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam”(6) nhằm đưa đất nước cùng tiến bước, sánh vai với các cường quốc năm châu, thực hiện thành công tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và ước vọng của toàn dân tộc.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG BẢO VỆ AN NINH QUỐC GIA TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG THEO TINH THẦN ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG


Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”(5). Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, các thế lực thù địch, phản động luôn lợi dụng thành tựu khoa học - kỹ thuật để chống phá Việt Nam, đặc biệt là gia tăng các hoạt động tuyên truyền phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng, do đó, để bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng, cần làm tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là, tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân, nhất là các cán bộ, đảng viên về âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, phá hoại của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng. Trên thực tế, không gian mạng đã, đang và sẽ là môi trường để các thế lực thù địch tìm mọi cách lợi dụng vào các hoạt động chống Đảng, Nhà nước ta. Hoạt động thường xuyên, phổ biến của chúng trên không gian mạng là tuyên truyền phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Trong khi đó, số lượng người dân Việt Nam được tiếp cận, sử dụng in-tơ-nét ngày càng nhiều, kiến thức, kỹ năng về tự bảo vệ bản thân trên không gian mạng của một bộ phận không nhỏ người dân còn hạn chế, dẫn đến tình trạng số lượng người dân tiếp cận với các thông tin tuyên truyền, phá hoại tư tưởng của các thế lực thù địch ngày một lớn, dễ bị các đối tượng lôi kéo, tiêm nhiễm các quan điểm sai trái, thù địch. Để mỗi người dân có thể “miễn dịch” với các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của kẻ địch và cao hơn có thể trở thành chiến sĩ kiên trung, đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, chúng ta cần tiếp tục tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức cảnh giác, để mỗi người dân có thể nhận thức rõ âm mưu, hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng của các đối tượng.  

Hai là, làm tốt công tác phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Thời gian qua, xuất hiện ngày càng nhiều các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng, từ hoạt động của các đối tượng tình báo, gián điệp, phản động, cho tới các loại đối tượng tội phạm khác, nhất là tội phạm công nghệ cao. Do đó, yêu cầu làm tốt công tác phòng, ngừa, phát hiện, đấu tranh chống các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng ngày càng trở nên cấp thiết. Cần làm tốt công tác quản lý, giám sát không gian mạng để phòng ngừa và phát hiện sớm các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân, của cả hệ thống chính trị trong đấu tranh phòng, chống các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng. Đầu tư xây dựng đội ngũ, lực lượng nòng cốt chuyên trách, tinh nhuệ, tinh thông nghiệp vụ, đủ khả năng đấu tranh với các loại tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng.      

Ba là, phòng ngừa không để chiến tranh mạng xảy ra. Mặc dù chưa xảy ra chiến tranh mạng, tuy nhiên, thời gian qua, chúng ta đã chứng kiến nhiều hoạt động tấn công mạng nguy hiểm, gây ra những thiệt hại lớn cho Việt Nam. Do đó, yêu cầu phòng ngừa không để chiến tranh mạng xảy ra là hết sức cần thiết. Để đối phó với nguy cơ xảy ra chiến tranh mạng, chúng ta phải triển khai ngay các giải pháp tổng thể, đồng bộ bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng, khẩn trương nghiên cứu và có giải pháp hiệu quả phòng, chống chiến tranh mạng, chiến tranh điện tử, chiến tranh sử dụng vũ khí công nghệ cao, chiến tranh thông tin. Tăng cường quản lý nhà nước về an ninh thông tin, an ninh không gian mạng quốc gia trong lĩnh vực an ninh - quốc phòng, bảo vệ vững chắc các cơ sở hạ tầng quân sự, mục tiêu trọng yếu; có chiến lược phát triển nhân lực chuyên ngành công nghệ thông tin trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Đầu tư trọng điểm xây dựng các đơn vị an ninh mạng, tác chiến điện tử đủ mạnh để thực hiện nhiệm vụ phòng thủ quốc gia trên không gian mạng, sẵn sàng ứng chiến khi có chiến tranh mạng xảy ra.   

Bốn là, tăng cường công tác bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trên không gian mạng. Để bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trên không gian mạng, trước hết cần chú trọng công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, tăng cường tuyên truyền, phổ biến kiến thức về bảo đảm an ninh, an toàn thông tin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chủ động phòng ngừa những sơ hở, thiếu sót, không để các thế lực thù địch, phản động và các loại đối tượng lợi dụng xâm phạm hệ thống thông tin, thu thập, chiếm đoạt bí mật nhà nước, thông tin nội bộ gây phương hại đến an ninh quốc gia, lợi ích của các cơ quan, tổ chức và cá nhân. Tuân thủ các quy định của Luật An toàn thông tin mạng năm 2015. Chấp hành nghiêm các quy định về bảo mật nhà nước, quy chế phát ngôn, cung cấp thông tin, tài liệu. Kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý nghiêm các hành vi làm mất an ninh, an toàn thông tin; lộ, lọt bí mật nhà nước, thông tin nội bộ hoặc lợi dụng bí mật nhà nước, thông tin nội bộ để thực hiện các hành vi trái pháp luật.

Năm là, xây dựng nguồn nhân lực công nghệ thông tin chất lượng cao, đủ về số lượng, đồng thời nghiên cứu, nắm bắt, tiến tới chủ động về công nghệ, trang thiết bị và dịch vụ mạng. Hiện nay Việt Nam có đội ngũ kỹ sư, chuyên gia công nghệ thông tin đông đảo nhưng số lượng làm việc trong các cơ quan nhà nước còn hạn chế, trong đó, không ít người giỏi, có năng lực chuyên môn tốt đã chuyển ra ngoài khu vực Nhà nước làm việc. Đáng chú ý là, số lượng người có chuyên môn sâu về an ninh, an toàn thông tin mạng còn thiếu, đặc biệt là trên lĩnh vực bảo mật mạng. Do đó, trong thời gian tới, cần có chiến lược đào tạo phù hợp để có nguồn nhân lực đủ cả về số lượng và bảo đảm về chất lượng, có thể đáp ứng được những đòi hỏi, yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đặt ra. Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác nghiên cứu, hợp tác quốc tế, chuyển giao công nghệ, tự chủ sản xuất các trang thiết bị, tiến tới có thể tự chủ trong sử dụng, cao hơn là trong sản xuất các trang thiết bị và ứng dụng dịch vụ mạng./.

                                                                                           VHT.

 

LUẬN CHỨNG PHẢN BÁC NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, SAI TRÁI HIỆN NAY VỀ HÌNH ẢNH VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

Trong giai đoạn hiện nay, để tấn công trực diện vào những vấn đề cốt lõi thuộc nền tảng tư tưởng của Đảng ta, nhất là xuyên tạc về cuộc đời, sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là âm mưu, thủ đoạn thâm độc, nham hiểm của các thế lực thù địch. Các đối tượng tung thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch về hình ảnh và tư tưởng Hồ Chí Minh bao gồm các tổ chức phản động lưu vong, nhất là những phần tử trong chế độ cũ; những phần tử cơ hội, cực đoan, bất mãn chính trị trong nước; những đối tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, suy thoái, biến chất, “trở cờ”,… Phương thức và thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, xảo quyệt, nhất là khoác áo “khách quan khoa học”, đội lốt “phản biện xã hội” để ngụy tuyên truyền, đánh tráo học thuật, xảo biện các vấn đề cốt lõi trong tư tưởng Hồ Chí Minh; triệt để lợi dụng những đặc tính vốn là ưu thế nổi trội của các phương tiện truyền thông xã hội biến thành công cụ đắc lực chống phá con đường và sự nghiệp cách mạng Việt Nam… Việc nhận diện bản chất, bóc trần các thủ đoạn, từ đó xây dựng hệ luận cứ căn bản để phản bác những luận điệu sai trái, thù địch xuyên tạc về tư tưởng Hồ Chí Minh, qua đó góp phần giữ vững trận địa tư tưởng, củng cố địa vị chủ đạo hệ tư tưởng của Đảng ta trong đời sống tinh thần xã hội, có vai trò đặc biệt quan trọng. 

Thứ nhất, phản bác luận điệu liên quan đến việc phủ nhận Hồ Chí Minh là nhà tư tưởng thiên tài, nhà lý luận kiệt xuất. Tư tưởng của Người không chỉ ở những câu chữ hoặc trước tác mà nằm ở chiều sâu nội dung và ý nghĩa cao cả của nó, vừa kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, chứa đựng khát vọng cháy bỏng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thấm đẫm triết lý nhân sinh, thân dân... Ở Hồ Chí Minh thể hiện sự thống nhất, hòa quyện giữa tư tưởng, đạo đức và phong cách; giữa lý luận và thực tiễn; giữa tri và hành; giữa lời nói và việc làm. Dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, xuất phát từ thực tiễn và nguyện vọng của quần chúng bị áp bức, Hồ Chí Minh đã thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc mình và góp phần giải phóng các dân tộc thuộc địa. Do đó, có thể hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh với ý nghĩa là “học thuyết”, là một hệ thống những luận điểm, quan điểm về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam được xây dựng trên một nền tảng thế giới quan và phương pháp luận duy vật biện chứng nhất quán, đại biểu cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, được hình thành theo đúng quy luật phát triển và trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, cải tạo hiện thực.

Các thế lực thù địch công kích, xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, coi tư tưởng của Người chỉ là sự sao chép nguyên bản, áp dụng khiên cưỡng chủ nghĩa Mác - Lê-nin hoặc “đi trên cỗ xe Nho giáo đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin” Vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo thắng lợi cuộc cách mạng ở Việt Nam, mở đường cho các dân tộc và thuộc địa vùng lên thực hiện sự nghiệp giải phóng. Những tư tưởng của Người đã được kiểm nghiệm trong điều kiện cụ thể của Việt Nam, mở ra những tiềm năng chưa từng có cho các phong trào giải phóng dân tộc”.

Thứ hai, phản bác luận điệu khẳng định không có tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh chọn giải phóng dân tộc theo con đường cách mạng vô sản, để đấu tranh chống ách áp bức, bóc lột tàn bạo, vô nhân đạo, đấu tranh xóa bỏ nghèo nàn, “giặc dốt” và lạc hậu, nhằm tạo ra một xã hội mới theo mục tiêu, lý tưởng tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội. Đây là vấn đề hiện hữu trên thế giới, có ý nghĩa thời đại cấp bách cần phải giải quyết. Cống hiến lớn của Bác cho cách mạng Việt Nam là tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó là sự lựa chọn duy nhất đúng, một đột phá lý luận rất cơ bản về con đường, mục tiêu và phương thức phát triển của cách mạng. Từ cách mạng giải phóng dân tộc phải đi tới cách mạng xã hội chủ nghĩa và trong khi tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa vẫn tiến hành giải phóng dân tộc theo phương thức thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng. Theo Người, trong hoàn cảnh một nước thuộc địa thì trước hết phải giành cho kỳ được độc lập dân tộc.

Thứ ba, phản bác luận điệu cho rằng không có nghị quyết của UNESCO tôn vinh Hồ Chí Minh là nhà văn hóa kiệt xuất. Luận điệu xuyên tạc trên không chỉ nhằm bôi nhọ, hạ thấp hình tượng lãnh tụ Hồ Chí Minh, mà còn tấn công vào những giá trị của nền văn hóa xã hội chủ nghĩa được xây dựng trên cơ sở hệ giá trị tư tưởng cách mạng của giai cấp công nhân, kế thừa, phát triển tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại, mà ở Người chính là sự hội tụ và phát huy đến mức cao nhất những tinh hoa văn hóa đó.

Thứ tư, phản bác luận điệu cho rằng tư tưởng, đạo đức của Hồ Chí Minh đã “lỗi thời”, không còn phù hợp. Các thế lực thù địch xuyên tạc rằng, hiện nay là thời đại của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, khoa học - công nghệ hiện đại..., nên những tư tưởng hay những quan niệm về đạo đức của Hồ Chí Minh đã bộc lộ những “sự lỗi thời”, “lạc hậu”, “khắc kỷ”, “không còn phù hợp” với thời đại Sự thật là, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên sức sống và giá trị thời đại, bởi bản chất cách mạng, khoa học và nhân văn của chính những tư tưởng, đạo đức đó và bởi sự vận dụng sáng tạo những tư tưởng vượt trước thời đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam, của Đảng Cộng sản Việt Nam, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa chiến lược và sách lược cách mạng trong toàn bộ tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh thể hiện tấm gương ngời sáng của người cộng sản mẫu mực, người chiến sĩ suốt đời đấu tranh, dâng hiến cả cuộc đời và sự nghiệp của mình cho lý tưởng và mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người. Người đã thâu thái những giá trị văn hóa đạo đức của nhân loại để làm giàu trí tuệ của mình, định hướng giá trị đạo đức trong thời đại mới về tinh thần quốc tế trong sáng, chống chia rẽ, bất bình đẳng, phân biệt chủng tộc. Giá trị thời đại trong tư tưởng, đạo đức của Người còn được đánh giá cao bởi sự kết hợp hài hòa giữa lợi ích dân tộc và lợi ích cộng đồng quốc tế, giữa chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế trong sáng, phù hợp với xu thế vận động, phát triển của quan hệ quốc tế hiện đại. Đạo đức và tinh thần quốc tế trong sáng, thủy chung, trước sau như một của Hồ Chí Minh là tài sản vô giá của dân tộc Việt Nam và nhân loại. Giá trị đạo đức Hồ Chí Minh không phải là con số cộng cơ học của những giá trị trên, mà là sự tổng hòa, hội tụ, hòa hợp tự nhiên tất cả lại để làm giàu trí tuệ và phẩm chất của mình. Đó là một giá trị đạo đức phổ quát mà nhân loại đang nỗ lực xây dựng, phát huy, tôn vinh và học hỏi để nâng tầm thời đại và tiến bộ trong xã hội văn minh hiện đại ngày nay./.

                                                                                 VHT.

 

Hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động.

 Phó Thủ tướng Lê Minh Khái vừa ký Quyết định số 08/2022/QĐ-TTg quy định về việc thực hiện chính sách hỗ trợ tiền thuê nhà cho người lao động.



Theo đó, hai đối tượng sẽ được nhận hỗ trợ là người lao động đang làm việc trong doanh nghiệp và người lao động quay trở lại thị trường lao động, với mức 500.000 đồng/người/tháng và 1.000.000 đồng/người/tháng.

Hỗ trợ người lao động đang làm việc trong doanh nghiệp

Cụ thể, Quyết định quy định người lao động đang làm việc trong doanh nghiệp tại khu công nghiệp, khu chế xuất hoặc khu vực kinh tế trọng điểm được hỗ trợ khi có đủ các điều kiện sau: (1) Ở thuê, ở trọ trong khoảng thời gian từ ngày 1-2-2022 đến ngày 30-6-2022; (2) Có hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc hợp đồng lao động xác định thời hạn từ 01 tháng trở lên được giao kết và bắt đầu thực hiện trước ngày 1-4-2022; (3) Đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc (có tên trong danh sách tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc của cơ quan bảo hiểm xã hội) tại tháng liền kề trước thời điểm doanh nghiệp lập danh sách lao động đề nghị hỗ trợ tiền thuê nhà.

Trường hợp người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại khoản 4 Điều 2 Nghị định số 115/2015/NĐ-CP ngày 11-11-2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc thì phải có tên trong danh sách trả lương của doanh nghiệp của tháng liền kề trước thời điểm doanh nghiệp lập danh sách lao động đề nghị hỗ trợ tiền thuê nhà.

Người lao động đang làm việc trong doanh nghiệp đáp ứng đủ các điều kiện trên thì được nhà nước hỗ trợ 500.000 đồng/người/tháng. Thời gian hỗ trợ tối đa 3 tháng. Phương thức chi trả hằng tháng.

Hỗ trợ người lao động quay trở lại thị trường lao động

Quyết định quy định người lao động đang làm việc trong doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh tại khu công nghiệp, khu chế xuất hoặc khu vực kinh tế trọng điểm được hỗ trợ khi có đủ các điều kiện sau: (1) Ở thuê, ở trọ trong khoảng thời gian từ ngày 1-4-2022 đến ngày 30-6-2022; (2) Có hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc hợp đồng lao động xác định thời hạn từ 1 tháng trở lên được giao kết và thực hiện trong khoảng thời gian từ ngày 1-4-2022 đến ngày 30-6-2022, trừ hợp đồng lao động giao kết tiếp nối của hợp đồng lao động đã giao kết và thực hiện trước đó; (3) Đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc (có tên trong danh sách tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc của cơ quan bảo hiểm xã hội) tại tháng liền kề trước thời điểm người sử dụng lao động lập danh sách lao động đề nghị hỗ trợ tiền thuê nhà.

Trường hợp người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định tại khoản 4 Điều 2 Nghị định số 115/2015/NĐ-CP ngày 11-11-2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc, người lao động mới tuyển dụng và có giao kết hợp đồng lao động nhưng chưa có tên trong danh sách tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc của cơ quan bảo hiểm xã hội thì phải có tên trong danh sách trả lương của người sử dụng lao động của tháng liền kề trước thời điểm người sử dụng lao động lập danh sách lao động đề nghị hỗ trợ tiền thuê nhà.

Mức hỗ trợ áp dụng cho đối tượng này là 1.000.000 đồng/người/tháng. Thời gian hỗ trợ tối đa 3 tháng. Phương thức chi trả hằng tháng.

Hồ sơ đơn giản

Quyết định nêu rõ hồ sơ đề nghị hỗ trợ gồm: Danh sách người lao động đề nghị hỗ trợ tiền thuê nhà có xác nhận của cơ quan bảo hiểm xã hội. Trường hợp trong danh sách có người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, người lao động mới được tuyển dụng thì bổ sung thêm bản sao danh sách trả lương của tháng liền kề trước thời điểm đề nghị.

Về trình tự, thủ tục, thời gian thực hiện chủ yếu tại doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh, thời gian từ lúc Ủy ban nhân dân cấp huyện tiếp nhận hồ sơ đến khi Ủy ban nhân dân tỉnh ra quyết định hỗ trợ và chi trả cho người lao động là 4 ngày.

Trình tự, thủ tục cụ thể như sau: Người sử dụng lao động tổng hợp danh sách người lao động đề nghị hỗ trợ trên cơ sở đơn đề nghị của người lao động, niêm yết công khai tại nơi làm việc ít nhất 3 ngày làm việc. Người sử dụng lao động chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực thông tin của người lao động.

Sau đó, người sử dụng lao động gửi cơ quan bảo hiểm xã hội để xác nhận người lao động đang tham gia bảo hiểm xã hội (thời gian xử lý của cơ quan bảo hiểm xã hội là 2 ngày). Người sử dụng lao động nộp hồ sơ đề nghị hỗ trợ đến Ủy ban nhân dân cấp huyện để thẩm định trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành quyết định phê duyệt danh sách, kinh phí hỗ trợ và chỉ đạo thực hiện chi trả hỗ trợ (thời gian xử lý của Ủy ban nhân dân cấp huyện là 2 ngày, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh là 2 ngày).

Người sử dụng lao động chi trả cho người lao động trong vòng 2 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kinh phí hỗ trợ.

HỘI THẢO XÂY DỰNG NGHỊ QUYẾT CỦA QUÂN ỦY TRUNG ƯƠNG VỀ CÔNG TÁC GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

 

          Sáng 5-4, Ban chỉ đạo tổng kết Nghị quyết 86 Bộ Quốc phòng tổ chức Hội thảo xây dựng Nghị quyết của Quân ủy Trung ương về công tác giáo dục và đào tạo theo hình thức trực tuyến. Trung tướng Ngô Minh Tiến, Phó tổng Tham mưu trưởng, Phó trưởng ban Thường trực Ban chỉ đạo chủ trì hội thảo.

          Thực hiện các chỉ thị, quyết định của thủ trưởng Bộ Quốc phòng về tổng kết thực hiện Nghị quyết số 86/NQ-ĐUQSTW ngày 29-3-2007 của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) về công tác giáo dục, đào tạo trong tình hình mới và xây dựng Nghị quyết của Quân ủy Trung ương về công tác giáo dục và đào tạo, thời gian qua, Cục Nhà trường (Bộ Tổng Tham mưu) đã phối hợp với các cơ quan, đơn vị xây dựng, xin ý kiến các cấp vào các dự thảo bảo đảm chặt chẽ, chất lượng, đúng thời gian.

          Tại hội thảo, các ý kiến thống nhất đề nghị lấy tên nghị quyết mới là “Nghị quyết về đổi mới công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội trong tình hình mới”. Bố cục gồm 4 phần, trong đó đề xuất các quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ, nhất là nhấn mạnh các giải pháp: Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp với đổi mới công tác giáo dục và đào tạo; xây dựng nhà trường quân đội theo hướng tinh, gọn, mạnh, hiện đại, đổi mới căn bản công tác quản lý; tiếp tục đổi mới toàn diện và đồng bộ quy trình, chương trình, nội dung đào tạo, hình thức, phương pháp giảng dạy.

          Xây dựng, phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đủ số lượng, hợp lý về cơ cấu, đạt chuẩn theo định; đổi mới toàn diện công tác quy hoạch, tạo nguồn, bồi dưỡng, đào tạo và sử dụng nhân lực đã được đào tạo, bồi dưỡng. Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học với giáo dục và đào tạo; chuẩn hóa, hiện đại hóa trang thiết bị đào tạo, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số…

          Phát biểu kết luận hội thảo, Trung tướng Ngô Minh Tiến ghi nhận, đánh giá cao Cục Nhà trường-Cơ quan thường trực Ban chỉ đạo đã phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị xây dựng các dự thảo công phu, chất lượng. Đồng thời yêu cầu, sau hội thảo này, Cục Nhà trường tổng hợp, tiếp thu có chọn lọc các ý kiến đóng góp, tiếp tục làm tốt công tác phối hợp, bổ sung, hoàn thiện báo cáo tổng kết và dự thảo nghị quyết trình Quân ủy Trung ương xem xét, thông qua trong thời gian tới. QĐND.

                                                                                      St PQ