Thứ Tư, 6 tháng 4, 2022

Hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

 - Thời gian qua, hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ ở nước ta đã được xây dựng, sửa đổi, bổ sung, qua đó, tạo nền tảng pháp lý cơ bản điều chỉnh các vấn đề có liên quan đến việc bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ. Hiện nay, trước yêu cầu quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và toàn diện, hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ cần tiếp tục được hoàn thiện để bảo đảm thực thi hiệu quả các cam kết quốc tế, thúc đẩy việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học - công nghệ vào sản xuất, kinh doanh, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

1- Luật Sở hữu trí tuệ được Quốc hội thông qua năm 2005 (Luật số 50/2005/QH11) có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2006, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 (Luật số 36/2009/QH12) và năm 2019 (Luật số 42/2019/QH14), là văn bản pháp luật với các quy định thống nhất, đồng bộ, minh bạch, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến loại tài sản đặc biệt - tài sản trí tuệ. Luật Sở hữu trí tuệ được ban hành là dấu mốc quan trọng trong quá trình xây dựng, phát triển và hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ của nước ta, có tác động tích cực trong việc thúc đẩy, hỗ trợ các hoạt động sáng tạo, khai thác và bảo vệ các tài sản trí tuệ, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh, tăng tính hấp dẫn đối với các chủ thể nước ngoài. Các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ bảo đảm nguyên tắc cân bằng lợi ích giữa cá nhân (chủ sở hữu) với công chúng (xã hội), tạo động lực thúc đẩy phát triển hoạt động nghiên cứu sáng tạo, sản xuất, kinh doanh, hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.

Luật Sở hữu trí tuệ tạo hành lang pháp lý, góp phần từng bước thúc đẩy các hoạt động đầu tư, kinh doanh, khai thác, góp vốn, liên doanh, liên kết, chuyển giao, chuyển nhượng các tài sản trí tuệ, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Theo đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có cơ sở pháp lý để công nhận, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể khi giải quyết tranh chấp, xâm phạm quyền trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.

Trong quá trình hội nhập quốc tế, Luật Sở hữu trí tuệ đã chú trọng tận dụng những linh hoạt mà các cam kết quốc tế cho phép, như đặt ra các điều kiện hạn chế và biện pháp chống lạm dụng quyền, áp dụng cơ chế nhập khẩu song song, chế độ cấp phép bắt buộc,... Do đó, Luật Sở hữu trí tuệ đã thực sự trở thành công cụ pháp lý quan trọng của nước ta trong việc bảo đảm lợi ích quốc gia trong quá trình hội nhập, đồng thời tôn trọng các điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ mà Việt Nam tham gia.

Các doanh nghiệp công nghệ ngày càng coi trọng việc tuân thủ pháp luật về sở hữu trí tuệ_Ảnh: bnews.vn

Hiện nay, về cơ bản, Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam đã đáp ứng các tiêu chuẩn đặt ra của Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (Hiệp định TRIPS) và các điều ước quốc tế cơ bản liên quan đến sở hữu trí tuệ, như Công ước Pa-ri (Công ước Paris) về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, Công ước Bơn (Công ước Berne) về bảo hộ các tác phẩm văn học và nghệ thuật, Công ước UPOV về bảo hộ giống cây trồng mới. Các tiêu chuẩn đó được thể hiện ở các khía cạnh: các loại đối tượng bảo hộ, tiêu chuẩn bảo hộ, nội dung và phạm vi quyền, thời hạn bảo hộ, cơ chế bảo hộ và thủ tục xác lập quyền sở hữu trí tuệ.

Trong các hiệp định thương mại tự do (FTA) được ký kết và có hiệu lực trước năm 2016, như FTA Việt Nam - Chi-lê, FTA Việt Nam - Hàn Quốc, FTA Việt Nam - Liên minh kinh tế Á - Âu..., phần lớn các nghĩa vụ về sở hữu trí tuệ mà Việt Nam cam kết cơ bản đều dẫn chiếu tới các nghĩa vụ đã cam kết tại Hiệp định TRIPS. Chỉ một số ít hiệp định có các quy định cụ thể, cao hơn hoặc chi tiết hơn Hiệp định TRIPS, nhưng các quy định này hoặc đã phù hợp với hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ hiện hành của Việt Nam, hoặc chủ yếu ở dạng không bắt buộc, chỉ đòi hỏi các bên phải nỗ lực thực hiện.

2- Tuy nhiên, sau hơn 15 năm thực thi, Luật Sở hữu trí tuệ còn tồn tại một số bất cập, hạn chế nhất định. Cụ thể là:

Thứ nhất, bất cập trong quy định về chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền liên quan trong các trường hợp chuyển nhượng quyền sở hữu, chuyển quyền sử dụng trong các hợp đồng chuyển giao quyền tác giả, quyền liên quan.

Thứ hai, bất cập ở quy định hiện hành khi chưa tạo được động lực khuyến khích các tổ chức, cá nhân vốn trực tiếp tạo ra, khai thác và phổ biến sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí được tham gia vào quá trình xác lập, khai thác và chuyển giao công nghệ, từ đó dẫn đến hoạt động thương mại hóa sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí bị hạn chế.

Thứ ba, bất cập về thủ tục đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan và xác lập quyền sở hữu công nghiệp. Đối với thủ tục đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan, chưa có quy định về thành phần hồ sơ để thực hiện đăng ký trực tuyến, chưa quy định rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân khi thực hiện thủ tục. Đối với thủ tục đăng ký xác lập quyền sở hữu công nghiệp, một số quy định còn phức tạp và chưa hoàn toàn hợp lý, dẫn đến kéo dài thời gian thẩm định đơn xác lập quyền sở hữu công nghiệp.

Thứ tư, bất cập trong việc bảo đảm mức độ bảo hộ thỏa đáng và cân bằng trong bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Trong lĩnh vực quyền tác giả, quyền liên quan, Luật Sở hữu trí tuệ quy định các trường hợp sử dụng tác phẩm đã công bố không phải xin phép, không phải trả tiền nhuận bút, thù lao, nhưng chưa quy định cụ thể đối với các trường hợp khai thác, sử dụng tại thư viện. Bên cạnh đó, Luật Sở hữu trí tuệ cũng chưa quy định rõ đối với việc sử dụng dưới hình thức bản ghi âm, ghi hình nhằm mục đích thương mại (đặc biệt đối với tác phẩm âm nhạc) trong các trường hợp sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao. Trong lĩnh vực quyền sở hữu công nghiệp, nhiều vấn đề phát sinh từ thực tiễn thi hành cần phải xử lý để bảo đảm mức độ bảo hộ thỏa đáng và cân bằng, như nguyên tắc đánh giá tính mới của sáng chế; các trường hợp cần thiết có thể dẫn đến hủy bỏ hiệu lực bằng độc quyền sáng chế, bằng độc quyền giải pháp hữu ích; xử lý trường hợp nhãn hiệu đăng ký với dụng ý xấu... Bên cạnh đó, một số quy định hiện nay chỉ được đề cập về mặt nguyên tắc trong Luật hoặc chỉ được quy định chi tiết trong các nghị định hoặc thông tư hướng dẫn thi hành đã gây ra một số bất cập trong việc thống nhất áp dụng pháp luật. Trong lĩnh vực giống cây trồng, quy định về ngoại lệ quyền đối với giống cây trồng theo Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành còn rộng, chưa có quy định về giới hạn một cách hợp lý. Điều này sẽ ảnh hưởng lớn đến lợi ích hợp pháp của tác giả, đồng thời khó bảo đảm tuân thủ cam kết quốc tế.

Thứ năm, bất cập trong hoạt động hỗ trợ về sở hữu trí tuệ. Quy định hiện hành về tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan chưa phù hợp với quy định về đại diện trong Bộ luật Dân sự và chưa theo thông lệ quốc tế. Ngoài ra, Luật Sở hữu trí tuệ cũng chưa quy định rõ quyền và trách nhiệm của tổ chức đại diện tập thể quyền tác giả, quyền liên quan.

Thứ sáu, thực thi (bảo vệ) quyền sở hữu trí tuệ chưa thực sự hiệu quả. Việc mở rộng phạm vi áp dụng biện pháp thực thi hành chính đối với các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã tạo ra gánh nặng không cần thiết cho ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó, các quy định về thực thi quyền trong môi trường số, hay xử lý tên miền vi phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ chưa cụ thể, rõ ràng, gây khó khăn cho các cơ quan thực thi trong việc xử lý các hành vi này.

Bên cạnh đó, các cam kết về sở hữu trí tuệ trong các FTA thế hệ mới gần đây (cụ thể là FTA giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu - EVFTA, Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương - CPTPP, Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực - RCEP) có mức độ mở cửa sâu, phạm vi các vấn đề điều chỉnh đa dạng; trong đó quyền sở hữu trí tuệ đã nâng cao mức bảo hộ vượt bậc so với Hiệp định TRIPS. Việc đặt ra hàng loạt các tiêu chuẩn cao về bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ của các FTA thế hệ mới đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung Luật Sở hữu trí tuệ, như quy định về bảo hộ nhãn hiệu âm thanh, về bảo hộ dữ liệu thử nghiệm nông hóa phẩm, về thẩm quyền chủ động áp dụng biện pháp kiểm soát tại biên giới, về cơ chế đền bù cho chủ sở hữu sáng chế do chậm trễ trong thủ tục cấp phép lưu hành thị trường của dược phẩm được sản xuất theo sáng chế đó,...

Ngoài ra, việc gia nhập một số điều ước quốc tế gần đây, như Thỏa ước La-hay về đăng ký quốc tế kiểu dáng công nghiệp và Hiệp ước Bu-đa-pét về nộp lưu chủng vi sinh dẫn tới yêu cầu phải sửa đổi, bổ sung một số quy định về thủ tục xác lập quyền sở hữu trí tuệ trong các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Sở hữu trí tuệ.

3- Trước yêu cầu của bối cảnh mới, Nghị quyết số 11-NQ/TW, ngày 3-6-2017, của Hội nghị Trung ương 5 khóa XII “Về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” đã đề ra một trong những nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện thể chế về sở hữu, phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp là hoàn thiện thể chế về sở hữu trí tuệ theo hướng khuyến khích sáng tạo, bảo đảm tính minh bạch và độ tin cậy cao; quyền sở hữu trí tuệ được bảo vệ và thực thi hiệu quả.

Nghị quyết số 38/NQ-CP, ngày 25-4-2017, của Chính phủ “Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW “Về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới”” cũng đề ra nhiệm vụ rà soát, bổ sung và hoàn thiện các văn bản pháp luật để bảo đảm sự tương thích giữa quy định của pháp luật hiện hành của Việt Nam với các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, đặc biệt là về sở hữu trí tuệ. Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27-9-2019, của Bộ Chính trị “Về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” xác định rõ yêu cầu cần hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ, bảo hộ và khai thác hiệu quả, hợp lý các tài sản trí tuệ do Việt Nam tạo ra; khuyến khích thương mại hóa và chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là đối với các sáng chế tại Việt Nam trên cơ sở tuân thủ pháp luật trong nước và bảo đảm lợi ích an ninh quốc gia; đồng thời, Nghị quyết cũng đề ra mục tiêu cụ thể đến năm 2030 là Việt Nam duy trì xếp hạng về chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN (trong tổng số 80 tiêu chí cấu thành chỉ số GII, có 8 tiêu chí (chiếm 10%) liên quan trực tiếp đến sở hữu trí tuệ). Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ là: “hoàn thiện hệ thống pháp luật, nhất là pháp luật về bảo hộ sở hữu trí tuệ”(1); “Tăng cường công tác bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ”(2). Do đó, việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ là cần thiết, nhằm thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về việc hoàn thiện thể chế sở hữu trí tuệ; khắc phục những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn thi hành Luật Sở hữu trí tuệ cũng như những bất cập nảy sinh giữa các quy định của Luật Sở hữu trí tuệ với các văn bản quy phạm pháp luật khác được Quốc hội ban hành; thể chế hóa, nội luật hóa các cam kết để phù hợp với thông lệ quốc tế; từ đó hoàn thiện thể chế về sở hữu trí tuệ theo hướng khuyến khích tổ chức, cá nhân sáng tạo, đầu tư nghiên cứu, phát triển, chuyển giao, ứng dụng có hiệu quả thành tựu khoa học - công nghệ trong các lĩnh vực của đời sống xã hội; bảo đảm tính ổn định, thống nhất, đồng bộ, minh bạch, khả thi; quyền sở hữu trí tuệ được bảo vệ và thực thi hiệu quả; đồng thời, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

a
Tăng cường bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với kiểu dáng công nghiệp các sản phẩm sản xuất bằng phương pháp công nghiệp hoặc thủ công nghiệp phục vụ xuất khẩu đến các thị trường quốc tế_Ảnh: vietnam.vnanet.vn

Các vấn đề cần sửa đổi của Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành tập trung vào 7 nhóm chính sách lớn đã được Chính phủ thông qua như sau:

Chính sách 1: Bảo đảm quy định rõ về tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, người biểu diễn, chủ sở hữu quyền liên quan trong các trường hợp chuyển nhượng, chuyển giao quyền tác giả, quyền liên quan.

Theo đó, các quy định liên quan đến xác định chủ thể nắm giữ quyền tài sản (chủ sở hữu, tác giả, người biểu diễn) cần được quy định rõ ràng và cụ thể hơn, giúp cho quá trình chuyển nhượng quyền sở hữu, chuyển quyền sử dụng trong các hợp đồng chuyển nhượng, chuyển giao quyền tác giả, quyền liên quan được thuận lợi hơn; quy định cho phép chuyển giao một số quyền nhân thân theo thỏa thuận (thỏa thuận đặt tên, sửa đổi tác phẩm) phù hợp với đặc thù của lĩnh vực quyền tác giả nhằm giải quyết những vướng mắc tồn tại thời gian qua, như trường hợp có nhu cầu thay đổi tên tác phẩm, sửa đổi, nâng cấp chương trình máy tính...

Chính sách 2: Khuyến khích tạo ra, khai thác và phổ biến sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí được tạo ra từ ngân sách nhà nước.

Đề xuất trao quyền đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí được tạo ra từ ngân sách nhà nước một cách tự động và không bồi hoàn cho tổ chức chủ trì trực tiếp tại Luật Sở hữu trí tuệ (và được hưởng quyền sở hữu khi các đối tượng này được cấp văn bằng bảo hộ); đồng thời, bổ sung các quy định để Nhà nước vẫn có thể kiểm soát được nhằm bảo đảm việc khai thác có hiệu quả và cân bằng lợi ích giữa tổ chức chủ trì (chủ văn bằng bảo hộ), lợi ích của Nhà nước với tư cách “chủ đầu tư” và lợi ích xã hội.

Chính sách 3: Tạo thuận lợi cho quá trình thực hiện thủ tục đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan, thủ tục xác lập quyền sở hữu công nghiệp theo hướng đơn giản, gọn nhẹ, nhanh chóng, thuận tiện, minh bạch. 

Một số sửa đổi cụ thể bao gồm: tạo cơ sở pháp lý để tổ chức, cá nhân thực hiện đăng ký trực tuyến quyền tác giả, quyền liên quan; phân luồng ý kiến người thứ ba để đẩy nhanh quá trình thẩm định đơn; đơn giản hóa bản mô tả kiểu dáng công nghiệp; giới hạn việc kiểm soát an ninh đối với sáng chế; cho phép trì hoãn công bố kiểu dáng công nghiệp; bổ sung một số quy định đặc thù về thủ tục giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp.

Chính sách 4: Bảo đảm mức độ bảo hộ thỏa đáng và cân bằng trong bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.

Bổ sung một số trường hợp ngoại lệ không xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan, các giới hạn quyền tác giả, quyền liên quan nhằm bảo đảm hài hòa lợi ích giữa chủ thể quyền tác giả với tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng và công chúng hưởng thụ tiếp cận tác phẩm, bảo đảm thực thi các cam kết quốc tế và phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam.

Bổ sung một số quy định nhằm kiểm soát sáng chế có sử dụng nguồn gen và tri thức truyền thống về nguồn gen; bổ sung một số căn cứ chấm dứt hiệu lực, hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ (sáng chế, nhãn hiệu); xử lý xung đột giữa nhãn hiệu với tên giống cây trồng, với đối tượng quyền tác giả, quyền liên quan; sửa đổi các quy định về chủ thể đối với chỉ dẫn địa lý; làm rõ điều kiện bị coi là cạnh tranh không lành mạnh giữa tên miền với nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý có trước.

Chính sách 5: Tăng cường hiệu quả hoạt động hỗ trợ về sở hữu trí tuệ.

Các nội dung sửa đổi nhằm đẩy mạnh hoạt động hỗ trợ cho hệ thống sở hữu trí tuệ (bao gồm hoạt động đại diện, giám định): phân loại phạm vi hoạt động đại diện sở hữu công nghiệp cụ thể và chi tiết hơn, đồng thời cắt giảm các điều kiện kinh doanh không thích hợp để phù hợp với quá trình cải cách thủ tục hành chính; xác định rõ phạm vi của giám định sở hữu trí tuệ và giám định tư pháp về sở hữu trí tuệ; nguyên tắc thực hiện giám định và giá trị của kết luận giám định.

Chính sách 6: Nâng cao hiệu quả của hoạt động bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.

Các quy định liên quan đến thực thi quyền được sửa đổi nhằm bảo đảm cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ được hiệu quả, hợp lý và khả thi hơn, trong đó đáng chú ý là các nội dung đề xuất việc thu hẹp phạm vi xử phạt vi phạm hành chính theo hướng chỉ xử lý bằng biện pháp hành chính các hành vi xâm phạm quyền đối với 5 đối tượng (quyền tác giả, quyền liên quan, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, giống cây trồng); bổ sung thẩm quyền chủ động áp dụng biện pháp kiểm soát tại biên giới nếu trong quá trình kiểm tra, giám sát và kiểm soát, cơ quan hải quan phát hiện căn cứ rõ ràng để nghi ngờ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là hàng giả mạo sở hữu trí tuệ.

Chính sách 7: Bảo đảm thi hành đầy đủ và nghiêm túc các cam kết quốc tế của Việt Nam về bảo hộ sở hữu trí tuệ trong quá trình hội nhập quốc tế.

Sửa đổi, bổ sung một số nội dung liên quan đến biện pháp công nghệ bảo vệ quyền và thông tin quản lý quyền để bảo đảm thực thi trong môi trường số; một số quy định về ngoại lệ quyền tác giả, quyền liên quan; một số nội dung liên quan đến bảo hộ nhãn hiệu âm thanh; chấm dứt hiệu lực văn bằng bảo hộ đối với nhãn hiệu; cơ chế bảo đảm thông tin cho chủ bằng sáng chế thực thi quyền trong thủ tục cấp phép lưu hành thị trường đối với dược phẩm; nghĩa vụ bảo hộ dữ liệu bí mật trong đơn xin cấp phép nông hóa phẩm; quyền, trách nhiệm của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trung gian trên môi trường internet và mạng viễn thông; nghĩa vụ chủ động tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu bị nghi ngờ là hàng giả mạo sở hữu trí tuệ...

Ngoài Luật Sở hữu trí tuệ, các văn bản quy định chi tiết hay hướng dẫn thi hành, như các nghị định, thông tư trong từng lĩnh vực, từng vấn đề liên quan đến quy định tại Luật Sở hữu trí tuệ cũng cần phải tiếp tục được sửa đổi, bổ sung để có thể áp dụng sau khi Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi, bổ sung) có hiệu lực. Bên cạnh đó, một số quy định chi tiết trong các nghị định, thông tư cũng cần sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam mới gia nhập. Có như vậy mới tạo được hệ thống pháp luật đồng bộ, có tính khả thi cao, bảo đảm vừa giải quyết vướng mắc, bất cập trong thực tiễn, vừa thi hành hiệu quả các điều ước quốc tế và phù hợp với trình độ phát triển của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

BÌNH DỊ NGƯỜI ĐƯA CƠM NUÔI BÁC HỒ Ở PẮC BÓ


    Sống trọn gần một thế kỷ, bà Hoàng Thị Khìn, người đưa cơm nuôi Bác Hồ khi Người ở hang Pác Bó (Cao Bằng) vừa về cõi vĩnh hằng. Suốt cuộc đời gắn bó với quê hương cách mạng, bà là tấm gương sáng về lòng trung thành, đức tính giản dị, hiếu nghĩa.

    Năm 1940, bố đẻ bà Hoàng Thị Khìn là cụ Hoàng Quốc Long (lão thành cách mạng) thường hay đón mấy người bạn tồng (theo tiếng Nùng có nghĩa là anh em kết nghĩa) như Hoàng Tô, Hoàng Sâm, Lê Quảng Ba... đến nhà bàn bạc việc đến khuya, rồi sáng sớm lại đi. Cụ thường nói với các con: Những người bạn tồng của pá (cha) là người tốt bụng đang tìm con đường đánh đuổi quan Tây, cường hào áp bức, cướp bóc dân bản Pác Bó để bản ta thoát khỏi kiếp sống bị áp bức đến cùng cực. Các con phải tuyệt đối trung thành bảo vệ, phục vụ những người bạn tồng của pá.

    Nghe lời pá dặn, bà Khìn và các chị em trong nhà tuyệt đối giữ bí mật, đưa đón bạn tồng của pá đi lại, ăn ở những ngày đến Pác Bó trước sự lùng sục gắt gao của quan Tây, lĩnh dõng...

    “Giáp Tết Nguyên đán năm Tân Tỵ (1941), ngoài trời lạnh buốt như kim châm, tôi thấy pá thức trắng đêm bên bếp lửa, vẻ mặt trầm tư... Rồi những ngày Tết, pá cùng mấy người bạn tồng không về nhà. Mấy mẹ con ở nhà ruột gan đỏ như than bếp... Khi pá về cùng ông Lê Quảng Ba, nói với tôi và chị gái Hoàng Thị Hoa rằng: Pá mới có thêm một người bạn tồng tốt bụng đang ở tạm tại hang Pác Bó đầu nguồn suối Giàng (tức suối Lênin bây giờ). Hai chị em nấu cơm đem lên cho bạn tồng của pá nhé!”

    Nghe vậy, hai chị em tôi lo lắng hỏi pá: “Ngày Tết trời lạnh buốt thế này, sao bạn tồng của pá không đến nhà mình mà lại ở trên rừng núi đá lạnh, nhiều thú dữ...?”. Pá nhíu mày, mặt trầm tư nói: “Hai con cứ bí mật làm như pá dặn, rồi sau này các con sẽ hiểu”-bà Khìn đã có lần kể với tôi như thế.

    Đang ngày Tết nên chị em bà Khìn đồ xôi và làm món thịt treo gói vào lá chuối, rồi theo ông Lê Quảng Ba đi lên đầu nguồn suối Giàng gặp ông Ké (sau này bà Khìn mới biết là Bác Hồ). Ông Ké nói tiếng Nùng rất ấm áp, ân cần hỏi thăm đời sống của dân bản và dạy dỗ hai chị em nhiều điều hay lẽ phải.

    Nghe theo lời ông Ké, bà Khìn xung phong làm công tác tiếp tế lương thực, thực phẩm cho Đội du kích Pác Bó ở vùng núi đá Lục khu, châu Hà Quảng (nay là huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng), rồi sau đó trở thành đội viên đội du kích tham gia cách mạng ở quê nhà (xã Trường Hà).

    Ngày 2-5-1945, khi nghe ông Ké nói hôm sau sẽ đi công tác xa (sau này bà Khìn mới biết là Người xuống Tân Trào, Tuyên Quang), bà con trong bản Pác Bó không ngủ được. Tốp thì khâu áo, túi, giày vải, tốp thì chuẩn bị cơm nắm, lương thực cho cả đoàn công tác. Sáng mờ sương ngày 3-5-1945, bà con Pác Bó bịn rịn tiễn Người và đoàn công tác...

    Cách mạng Tháng Tám thành công, bà Khìn và gia đình vẫn gắn bó với bản Pác Bó và trở thành nhân chứng sống về tấm gương vì nước, vì dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Năm 1961, khi Bác Hồ về thăm lại bản Pác Bó, bà Khìn được vinh dự ra tận đầu bản đón Bác. Tháng 9-1969 khi Bác Hồ đi xa, bà Khìn cũng vinh dự được thay mặt dân bản Pác Bó về Hà Nội viếng Bác.

    Nhiều câu chuyện bà Khìn kể về Bác Hồ những ngày hoạt động, làm việc ở Pác Bó đã trở thành tư liệu, nhân chứng sống sinh động phác họa chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, giản dị gắn bó với nhân dân trong nhiều bài viết, nhiều phim tư liệu quý về Bác Hồ của các cơ quan báo chí, trong đó có Báo Quân đội nhân dân.

    Noi gương Bác, bà Khìn luôn sống giản dị, tiết kiệm và dạy bảo con cháu trở thành người có ích.

    Ngày hôm nay (5-4-2022), đông đảo các thế hệ con cháu và người dân bản Pác Bó đưa tiễn bà Khìn về với mây trăng đầu nguồn cách mạng, về với Bác Hồ kính yêu.

ST

KỶ NIỆM 22 NĂM NGÀY TOÀN DÂN HIẾN MÁU TÌNH NGUYỆN 07/4: TRIỆU TRÁI TIM, CHUNG NHỊP ĐẬP


Hiến máu là hành động ý nghĩa và ngày càng được tuyên truyền sâu rộng với mọi đối tượng người dân. Ngày 7/4 hàng năm được chọn là Ngày Toàn dân hiến máu tình nguyện, có ý nghĩa vận động người dân ở mọi độ tuổi, ngành nghề, có đủ điều kiện tham gia hiến máu thường xuyên.

Hàng triệu người dân Việt Nam hiến máu mỗi năm dù ở lứa tuổi nào, dân tộc nào, dù là học sinh sinh viên hay người trung niên cũng đều có một trái tim nhân ái. Dù mỗi người có cuộc sống, tính cách khác nhau, nhưng qua hành động hiến máu tình nguyện, trái tim của họ đã và sẽ chung một nhịp đập sẻ chia, tràn đầy tình yêu thương ấm áp.

Bền bỉ, đều đặn theo tháng năm, như những chú ong góp cho đời giọt mật ngọt ngào, những người hiến máu đã làm nên một nguồn máu dồi dào đem lại sự sống cho biết bao người bệnh. Hiến máu thường xuyên không chỉ tốt cho sức khỏe bản thân người hiến máu mà còn là cách mà họ cùng chung tay gìn giữ, bảo vệ sức khỏe và sinh mệnh cho hàng triệu người bệnh cần máu.



THẤM TÌNH ĐỒNG CHÍ, NGHĨA ĐỒNG BÀO

 

9 năm làm nhiệm vụ ở căn cứ đầy gian khổ, ác liệt trong kháng chiến chống Mỹ là quãng thời gian nhiều ý nghĩa, sâu đậm tình đồng chí, nghĩa đồng bào


9 năm công tác ở căn cứ Krong (tỉnh Gia Lai), y tá Nguyễn Thị Tuất (ngụ TP Pleiku, tỉnh Gia Lai) cùng đồng đội đã kiên cường chịu đựng mọi gian khổ để cứu chữa thương, bệnh binh. Nhưng với bà, đấy lại là quãng thời gian hạnh phúc nhất trong cuộc đời mình.


Quanh năm chỉ lá mì, rau lang


"Ở căn cứ, cái ăn bấy giờ chủ yếu dựa vào nguồn tăng gia sản xuất tại chỗ, nên vô cùng thiếu thốn" - bà Tuất kể. Gạo, tiêu chuẩn cứ 3 người thì được 1 lon, nhiều khi phải dùng đến gạo mốc, mọt, cho nước vào là cứ nổi lều phều, bóp mạnh một chút đã vỡ vụn ra. Nói "cơm độn mì" nhưng đúng ra phải nói ngược lại "mì độn cơm" mới đúng.


Mỗi ngày được ăn ba bữa nhưng sáng và tối là chính, còn trưa thì mỗi người chỉ được 2 khúc mì luộc. Thường trực là mì nhưng không có nghĩa là được ăn thả cửa. Để tiết kiệm, rẫy mì nào trồng được 2 năm mới nhổ. Cơm nước đã vậy, thức ăn cũng kham khổ không kém. Trừ đôi lần anh em săn được thú rừng, đánh lưới được chút cá suối, còn thì quanh năm suốt tháng chỉ lá mì, rau lang nấu với muối pha chút bột ngọt. "Có lúc thiếu cả rau, chúng tôi phải chặt chuối rừng lấy lõi, giã ra nấu lên để đưa cơm" - giọng bà Tuất trầm xuống.


Có một kỷ niệm mà bà không thể nào quên. Lệ thường, cứ mỗi năm, vào kỳ tuốt lúa, anh em sẽ được cơ quan cho ăn thỏa sức 2 bữa cơm không độn cho bõ những ngày mài họng với củ mì. Thế nhưng, vụ lúa năm 1967 ấy, rẫy lúa tăng gia của cơ quan ở Buôn Lới bị địch rải chất độc hóa học.


"Lúc chúng tôi vào thu hoạch thì lúa đã mềm oặt, rã cả xuống bùn. Vì tiếc công và tiếc cả hai bữa cơm không độn, mọi người vẫn cố gắng nhặt nhạnh, mong vớt vát được hạt nào hay hạt ấy. Rồi thì cũng được một ít. Chúng tôi mừng rơn, mang về tíu tít xay, giã. Không khí vui nhộn cứ như ngày Tết. Lúc ấy, có người đề nghị rằng hôm nay phải nấu mỗi người 2 lon thì ăn mới đã. Người khác gàn có ăn hết không mà nấu nhiều thế!". Cuối cùng thì quyết nghị là cứ tính mỗi người nấu một lon rưỡi" - đôi mắt bà Tuất bỗng hoe đỏ, tràn ra những giọt nước mắt khiến lòng tôi chùng xuống.


Rồi bà kể lúc ấy háo hức quá, ai cũng ngồi chuyện gẫu cho quên đi quãng thời gian đợi chờ đến phút giây hạnh phúc. Nhưng nồi cơm vừa sôi, ai nấy đều khịt mũi. Quái, sao lại có cái mùi gì như thuốc Penicillin bốc ra từ nồi cơm? Bây giờ mọi người mới ngẩn ra: Hẳn là chất độc hóa học đã ngấm vào hạt lúa khiến nó bốc lên cái mùi kinh khủng ấy!


Vừa lúc ấy, thủ trưởng đơn vị đi qua, thấy vậy bèn la lớn: "Đổ nồi cơm đi. Tụi bây ăn vào là chết đấy!". Nghe vậy, mọi người đã toan làm theo lời thủ trưởng nhưng nghĩ tiếc công và quá thèm nên cứ chần chừ. Cuối cùng thì cái đói, cái thèm đã lấn át nỗi sợ. Mọi người vẫn lén xới cơm ăn.


"Riêng phần cơm cho thủ trưởng, tất nhiên là không thể để ông ăn như thế này được. Tôi lấy 1 lon gạo khác, nấu riêng, mang lên cho ông. Nhưng vừa giở nắp ăng gô cơm, ông đã hỏi ngay: "Sao cơm này lại có mùi khác? Nồi cơm lúc chiều đâu? Tôi thú thật là do đói quá, anh em đã lén ăn hết rồi. Nghe vậy, ông bật khóc, nghẹn ngào nói "cơm nhiễm chất độc hóa học, tụi bây ăn vào chết mất thì lấy ai bám trụ phục vụ cách mạng?". Rồi ông ngồi thừ ra không chịu ăn.


Mọi người phải năn nỉ mãi, nói thủ trưởng là người cầm cân nảy mực, anh em có thể mất người này người khác nhưng thủ trưởng mà mất là khó khăn cho toàn căn cứ. Rốt cuộc, ông phải chịu cầm đũa. Vừa ăn, ông vừa khóc: "Anh em sống chết có nhau, gian khổ sẻ chia cùng nhau. Tôi không thể sống khác anh em đồng đội được".


Gian khổ trở nên bình thường


Năm 1968, bà Tuất được điều sang trạm y tế tiền phương. Ở nơi đóng quân mới, đơn vị phục vụ chủ yếu là thương binh của các đơn vị 408, K31, K6 từ mặt trận chuyển về. Thuốc men được ưu tiên khá đầy đủ nhưng điều kiện ăn uống, sinh hoạt thì khó khăn, thiếu thốn còn hơn lúc trước ở căn cứ.


Để có đủ lương thực cho trạm, anh chị em phải thay phiên nhau vừa phục vụ thương binh, vừa tăng gia sản xuất. Đến mùa vụ thì đi tuốt lúa thuê cho đồng bào dân tộc để được bà con trả công bằng lương thực.


Bà Tuất kể: "Một lần, tôi cùng hai cô nhân viên của trạm đi tuốt lúa thuê thì đụng phải bọn biệt kích đi phục. Rất may, hai cô gái là người địa phương, bằng giác quan nhạy bén của mình đã phát hiện ra chúng từ xa, giúp chúng tôi thoát hiểm. Lương thực đã thiếu, thức ăn so với trong căn cứ lại càng kham khổ. Thường trực là lá dớn, môn vót, trái sung rừng, lá mì… cho vào chút cá bánh (cá muối ép thành bánh từ tuyến sau chuyển lên) quậy ra cho có hương vị rồi nấu thôi".


Thế nhưng không phải mọi thứ lúc nào cũng có đủ. Môn vót phải lấy tiết kiệm, chỉ được bứt lá và thân, để dành củ cho chúng còn mọc lại. Lá mì là phổ biến nhất nhưng ăn mãi cũng hết, đôi khi phải dùng đến cả thứ lá già. Chính thứ "rau" này mà bà đã có một kỷ niệm nhớ mãi.


Số là hôm đó, trạm có khách. May là lúc ấy còn ít mắm bánh, nhưng nếu chỉ độc món này thì không thể đưa cơm nổi. Phải có nồi canh nhưng lấy đâu ra rau bây giờ? Bí quá, bà Tuất quyết định ra rẫy mì bòn xem được chút lá nào không. Nhưng trước đó anh em đã bòn đi bòn lại bao lần rồi nên giờ rẫy mì đã xác xơ, trơ cây, chỉ còn những cọng lá đã chuyển sang vàng.


Thì đành vậy, cứ hầm cho nhừ là được. Nghĩ vậy nên bà cứ hái mang về. Thoạt thấy nồi canh bưng ra, mấy vị khách phấn khởi bảo hôm nay trạm chơi sang quá, đãi khách cả thịt bò hầm. Có người còn hít hà rằng chẳng biết bao lâu rồi không được ăn thịt bò. Đến khi vỡ lẽ đấy là lá mì già hầm với trái sung rừng thì mọi người được một phen cười đau cả ruột.


Trạm y tế tiền phương là nơi gần mặt trận nhất. Vả lại, mọi sự gian khổ thì cán bộ, chiến sĩ ở đây ai cũng từng, lâu dần trở nên bình thường. Lúc này, vượt lên tất cả là phải làm sao lo tròn nhiệm vụ cứu chữa, bảo vệ an toàn cho anh em thương binh. Không nhớ đã bao nhiêu lần họ phải di chuyển trạm vì địch dò tìm gắt gao. Mỗi lần di chuyển là tất cả phải làm lại từ đầu, vô cùng cực nhọc.


Bất lực, nhìn đồng đội mất


Chiến tranh, tất yếu không thể tránh khỏi hy sinh. Không chỉ các chiến sĩ ngoài mặt trận mà ngay tại trạm y tế tiền phương mà bà Tuất và đồng đội công tác cũng chịu nhiều mất mát. Cho đến bây giờ, trong câu chuyện kể của bà, tôi vẫn cảm được nỗi đau của trận bom B52 vào năm 1970. Hôm đó, 20 cán bộ, chiến sĩ được trạm phân công đi tăng gia sản xuất. Buổi sáng, khu vực ngoài trạm đã bị địch rải thảm một trận bom nên anh em chủ quan, cứ nghĩ theo quy luật đánh bom dạo đó thì nơi nào đã rải bom rồi chúng sẽ không lặp lại nữa. Nào ngờ, buổi chiều chúng quay lại ném bom.


Nguyên nhân sau này mới biết là do một đơn vị bộ đội làm lộ sóng truyền tin từ máy 15W. Nghe tiếng bom, mọi người vội chạy vào hang đá ẩn nấp. Bà Tuất kể: "Tôi và Thiên, Đậu, Bảo vừa kịp tới hang thì cũng vừa lúc bom rải tới gần. Mặt đất chao đảo như đưa võng. Hang đá rung lên răng rắc. Một khối đá to như đụn rơm bên ngoài cửa hang sập xuống, lăn lông lốc như trái bóng. Tiếng bom vừa dứt, chưa kịp tĩnh trí, tôi chợt nghe tiếng kêu đứt quãng chị Tuất ơi cứu em với".


Bà nhìn lại và bàng hoàng không tin vào mắt mình. Một người bị mảnh bom chém bay mất mảng cằm; người nữa mất cả phần bụng; rồi người còn lại thì mất hết phần mông. Cứu làm sao bây giờ khi trong tay không y cụ, không chút thuốc men. Vết thương của 3 người đều quá nặng mà máy bay địch vẫn lượn vòng trên đầu. Mọi người đành bất lực nhìn anh em lịm dần, rồi mất.


"Ở nơi tăng gia sản xuất thì đâu có vật dụng gì, nên tôi và một anh tên Phương, một anh tên Krít đành gạt nước mắt mang 3 người đồng đội tới chôn trần vào một cái hố nông bên cạnh chỗ một tảng đá vừa lăn xuống, rồi khẩn trương tìm cách quay về trạm. Trận bom của địch hôm đó còn làm ta mất 6 người nữa, là đồng chí trại trưởng trại sản xuất và 5 dân công tải hàng vừa tới trại nghỉ chân. Tất cả họ ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ, chỉ một người có vợ ở quê" - bà nói trong xót xa.


Sau khi Hiệp định Paris được ký kết, bà Tuất được tổ chức cho ra Bắc chữa bệnh. "Tính ra, tôi đã công tác tại căn cứ 9 năm và đi gần trọn những tháng năm gian khổ, ác liệt nhất. Đây chính là quãng thời gian đáng nhớ nhất của đời tôi - những tháng năm đã cho tôi thấm thía đến tâm can tình đồng chí, nghĩa đồng bào; cái giá phải đánh đổi để cuộc sống hôm nay có được những điều ngỡ như là bình thường nhất" - bà Tuất bùi ngùi.


Di dời ngay lập tức


"Tôi không quên được lần di chuyển trạm vào năm 1969. Bấy giờ, trước nguy cơ địch có thể càn tới trạm, lệnh trên truyền xuống phải di dời ngay lập tức. Lúc này trạm đang có 150 thương binh. Toàn trạm hối hả chuẩn bị. Tiếng súng chống càn dội về càng lúc càng gần khiến không khí ngày càng căng thẳng. Chỉ trừ những thương binh nặng được cáng, các thương binh còn lại phải tự mang tư trang theo đoàn. Bị người sau thúc, có anh em yếu trượt chân, lăn lông lốc xuống chân đồi" - y tá Nguyễn Thị Tuất kể và nhớ rõ may trận ấy quân ta chặn đánh quyết liệt, địch không thể tiến vào được nên đến chiều tối thì việc di chuyển hoàn thành. Tất cả thương binh đều được đưa về tới nơi ở mới an toàn./

"VỀ LÃNH ĐẠO, CÁN BỘ PHẢI THẬT SỰ ĐOÀN KẾT, NHẤT TRÍ, PHẢI ĐI SÂU ĐI SÁT, PHẢI LÃNH ĐẠO THIẾT THỰC VÀ TOÀN DIỆN”!

     Lời huấn thị trên được trích trong thông báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về nội dung đợt chỉnh huấn cho toàn Đảng, toàn dân, do Trung ương phát động, khi Người về thăm và nói chuyện với đồng bào, cán bộ tỉnh Bắc Giang ngày 6-4-1961.
     Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn yêu cầu đội ngũ cán bộ phải đề cao và thực hành đoàn kết, nhất trí, giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí như giữ gìn con ngươi của mắt mình, phải rèn luyện phong cách lãnh đạo sâu sát, tỉ mỉ, gắn bó với cơ sở, gần dân, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, phải thiết thực và toàn diện, tránh phô trương, hình thức. Theo Bác, sau khi nghị quyết được ban hành, phải tổ chức tốt việc thực hiện nghị quyết, để nghị quyết đi vào cuộc sống. Muốn vậy, đòi hỏi người cán bộ phải sâu sát, tỉ mỉ, phải “đi tận nơi, xem tận chỗ”.
     Thực hiện lời Bác dạy, Đảng ta luôn nhận thức sâu sắc ý nghĩa to lớn của việc xây dựng, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, xem đây là vấn đề quan trọng hàng đầu, là nhiệm vụ sống còn của Đảng, của dân tộc. Đặc biệt, trong thời kỳ mới, Đảng luôn quan tâm lãnh đạo công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất; kiên quyết chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.
     Sự nghiệp đổi mới đất nước đã thu được kết quả rất quan trọng, tiếp tục nâng cao vị thế, khẳng định năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng. Đại bộ phận cán bộ, đảng viên của Đảng đã luôn giữ gìn sự đoàn kết nhất trí, phấn đấu hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Tuy nhiên, cũng còn một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng…
     Để tiếp tục phát huy truyền thống tốt đẹp, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng, kiên quyết đấu tranh, khắc phục những hạn chế, yếu kém, mỗi cán bộ, đảng viên trong Đảng nói chung, trong Đảng bộ Quân đội nói riêng, luôn gương mẫu đi đầu thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng những việc làm cụ thể, thiết thực, hiệu quả, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của địa phương, đơn vị, chức trách, nhiệm vụ được giao. Cán bộ, đảng viên phải có tác phong dân chủ, quần chúng, sâu sát, gần gũi, chân thành lắng nghe tâm tư, nguyện vọng và thành tâm tiếp thu sự phê bình của quần chúng, luôn đề cao tự phê bình và phê bình./.
Môi Trường ST.

MỆNH LỆNH LỊCH SỬ CHO NGÀY TOÀN THẮNG!

         Cách đây 47 năm, 9 giờ 30 sáng 7/4/1975, Ðại tướng Võ Nguyên Giáp đã gửi Điện số 157-HÐKTK cho các đơn vị mệnh lệnh: "Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng!", cổ vũ tinh thần đối với cán bộ, chiến sỹ trên chiến trường vào thời điểm vô cùng quan trọng của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc./.
Yêu nước ST.

 

KHÔNG THỂ XUYÊN TÁC SỨ MỆNH LỊCH SỬ

CỦA GIAI CẤP CÔNG NHÂ

Hiện nay, có nhiều ý kiến cho rằng trong thời đại ngày nay, trong nền sản xuất hiện đại đã sử dụng nhiều robot - người máy, tự động hóa, người công nhân được tuyển dụng và sử dụng rất ít, cho nên học thuyết giá trị thặng dư của Mác, học thuyết về vai trò sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân... không còn phù hợp nữa. Trong điều kiện hiện đại thì nhà tư bản không còn bóc lột sức lao động của giai cấp công nhân lao động nữa. Giai cấp công nhân không còn vai trò trong nền sản xuất hiện đại mà chính tầng lớp trí thức mới là người quyết định vận mệnh tương lai của nhân loại.   

          Đây là quan điểm sai trái, được đưa ra một cách chủ quan mà không dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn. Bởi vì:

 Thứ nhất, về lý luận: Vai trò của trí thức đối với sự phát triển xã hội là quan trọng, cấp thiết, những đóng góp từ lao động của trí thức giúp cho quá trình sản xuất vật chất của công nhân và nông dân không ngừng nâng cao về năng xuất, chất lượng, năng lực cạnh tranh, tạo ra sự phát triển nhanh của đất nước. Nhưng trí thức không thể lãnh đạo xã hội vì trí thức không phải là một giai cấp, không đại diện cho một phương thức sản xuất độc lập nào; trí thức không có hệ tư tưởng riêng, tư tưởng của trí thức phụ thuộc hệ tư tưởng của các giai cấp thống trị xã hội. 

   Thứ hai, về thực tiễn: lịch sử loài người cho thấy, một giai cấp giữ vị trí thống trị xã hội bao giờ cũng phải là giai cấp đại diện cho lực lượng sản xuất phát triển, phương thức sản xuất tiến bộ, có hệ tư tưởng tiên tiến. Hiện nay, với sự phát triển của xã hội, số lượng người  lao động được  đào tạo ở trình độ, tay nghề cao ngày càng nhiều, không ngừng tham gia vào phương thức sản xuất công nghiệp, bổ sung cho giai cấp công nhân, làm cho giai cấp công nhân không ngừng tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng. Điều đó chứng tỏ giai cấp công nhân nước ta không hề suy yếu mà ngyà càng phát triển.

 Do đó, cho dù sự biến đổi kinh tế, xã hội đến đâu, khoa học, công nghệ có phát triển tới mức nào, thì một thực tế không thể phủ nhận đó là: giai cấp công nhân Việt Nam vẫn giữ nguyên sứ mệnh lịch sử lãnh đạo xã hội, lãnh đạo chính quyền, lãnh đạo hệ thống chính trị thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam.

 Do vậy, quan điểm cho rằng, trước sự phát triển của kinh tế tri thức và kinh tế số giai cấp công nhân đã bị phân hóa, bị suy giảm về nhiều mặt không còn vai trò lãnh đạo xã hội, vai trò lãnh đạo ấy đã chuyển sang trí thức, là quan điểm sai trái, thiếu cơ sở lý luận và thực tiễn, đó là chủ ý thổi phồng vai trò của trí thức, kích động đội ngũ trí thức, khơi dậy tham vọng quyền lực, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo xã hội của giai cấp công nhân thông qua Đảng Cộng sản Việt Nam.

HIỂU ĐÚNG VỀ TỰ DO NGÔN LUẬN, TỰ DO SÁNG TÁC Ở VIỆT NAM!

     Gần đây các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị, bất mãn đã đăng tải nhiều bài viết cho rằng ở Việt Nam không có hạnh phúc. Chúng dẫn lời các đối tượng là văn nghệ sĩ bất mãn, thường xuyên có những lời nói, bài viết, hành động gây rối, kích động, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa như Tuấn Khanh, Mai Khôi, Nguyễn Hữu Vinh… rồi quy chụp, xuyên tạc về hạnh phúc của người dân, nhất là tự do ngôn luận, tự do sáng tác ở Việt Nam.
Thứ nhất, bảo đảm tự do ngôn luận chứ không cổ súy thứ ngôn luận tự do vô chính phủ
Khi nói đến quyền tự do ngôn luận, một số phần tử cho rằng, tự do ngôn luận là được quyền tự do phát ngôn, bình luận, chia sẻ, phát tán thông tin mà không chịu bất cứ sự ngăn cản nào; vì thế nếu ai hạn chế quyền đó là vi phạm quyền tự do ngôn luận của công dân. Nhận thức như vậy là phiến diện, sai lầm, ngụy biện. Bởi trên thực tế, không có quyền tự do nào là tuyệt đối, mà chỉ có quyền tự do tương đối. Nếu để tự do tuyệt đối nghĩa là tự do vô giới hạn, vô chính phủ sẽ dẫn đến tình trạng mất kiểm soát, gây ra rối loạn xã hội. Quyền tự do ngôn luận cũng vậy. Nếu ai cũng phát ngôn tùy tiện, chia sẻ thông tin bất chấp đúng - sai, thật - giả lẫn lộn, không chỉ làm cho xã hội rơi vào tình trạng nhiễu loạn thông tin, mà còn gây mất ổn định an ninh chính trị, xã hội. 
Bất cứ quốc gia nào cũng vậy, quyền lợi luôn gắn liền với trách nhiệm. Con người muốn có tự do phải hiểu rõ nghĩa vụ, bổn phận của mình được làm những gì, không được phép làm những gì. Công dân muốn được hưởng đầy đủ các quyền tự do ngôn luận, tự do tiếp cận thông tin thì nhất thiết phải tuân thủ các quy định pháp luật để thực hiện quyền tự do của mình nhưng không được gây hại đến quyền tự do của người khác và tác động tiêu cực đến cộng đồng, đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Nhà nước bảo đảm tự do ngôn luận cho người dân nhưng cũng xử lý nghiêm minh hành vi tự do vô tổ chức, vô chính phủ. Lợi dụng tự do ngôn luận để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa, phá hoại cuộc sống bình yên của nhân dân.
Thứ hai, tự do sáng tác phải nằm trong khuôn khổ pháp luật
Trong thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, nhất là số văn nghệ sĩ bất mãn đã ra sức hô hào, cổ vũ, đòi hỏi “tự do sáng tác” trong văn học nghệ thuật. Chúng cho rằng, văn nghệ sĩ có quyền tự do sáng tác và công bố tác phẩm mà không bị ràng buộc bởi pháp luật như ở phương Tây, như “hạnh phúc” mà Mai Khôi ước ao: “trong tương lai hệ thống kiểm duyệt của Việt Nam, vốn hạn chế hạnh phúc sáng tác của người nghệ sĩ, sẽ không còn tồn tại, để nghệ sĩ được tự do sáng tác, được tự do ca hát, và những người thưởng thức âm nhạc sẽ được nghe những bài hát mà trước đây bị cấm. Chắc lúc đó mọi người sẽ rất hạnh phúc”. Thực tế đã chứng minh, đó chỉ là sự dối trá, bịp bợm, núp bóng văn nghệ sĩ để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta mà thôi.
Ở phương Tây, các tác giả trước khi hoàn thành bản thảo phải “tự kiểm duyệt”, sau đó ban biên tập nhà xuất bản sẽ tiến hành kiểm tra (kiểm duyệt nội bộ) và quyết định có được in hay không. Sau khi tác phẩm được công bố, nếu phát hiện vi phạm sẽ bị tịch thu. Việc làm này dựa vào các tiêu chí mà họ đưa ra trên cơ sở của pháp luật hiện hành. Ví dụ, ở Đức, cơ sở pháp lý để nhà xuất bản kiểm tra là những điều bị cấm được quy định trong các bộ luật, như trong Bộ Luật hình sự có các tội danh: “phổ biến tài liệu tuyên truyền của những tổ chức vi hiến”, “phỉ báng Nhà nước Đức và các biểu tượng quốc gia đã quy định”…. Người đọc cũng rất ít biết về các cuốn sách bị cấm và tịch thu vì lý do chính trị. Một số nước mà các thế lực thù địch, phản động tung hô là “hình mẫu về dân chủ” thường tự hào rằng nghệ sĩ của nước họ có quyền tự do sáng tác, rồi lớn tiếng đòi hỏi các quốc gia khác cũng phải theo. Nhưng sự thực lại không như vậy, ngay tại quốc gia đó, họ lại sử dụng nhiều nguyên tắc luật pháp để quản lý quá trình sáng tác và công bố tác phẩm văn học nghệ thuật. Xét đến cùng, tự do sáng tác theo quan niệm của họ cũng chỉ là chiêu bài nhằm gây sự mơ hồ về chế độ xã hội, thậm chí kích động thái độ chống đối hơn là tạo điều kiện giúp đỡ nghệ sĩ sáng tác.
Như vậy, những luận điệu của các thế lực thù địch, phản động đưa ra về tự do ngôn luận, tự do sáng tác để có được “hạnh phúc” chỉ là sự lừa bịp. Phải lên án, đấu tranh bác bỏ thứ ngôn luận tự do, tự do sáng tác kiểu vô trách nhiệm, vô tổ chức, cố tình đăng tải, phát tán những thông tin sai trái, bịa đặt, đổi trắng thành đen, xuyên tạc truyền thống lịch sử của dân tộc Việt Nam, bôi nhọ anh hùng dân tộc, phỉ báng chính quyền, sử dụng chiêu bài tự do thông tin, tự do ngôn luận để lèo lái dư luận theo chiều hướng tiêu cực, đen tối và tạo ra một góc nhìn sai lệch về Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam./.
Yêu nước ST.

Kỷ niệm 115 năm ngày sinh cố Tổng Bí thư Lê Duẩn: Phần 2, những cống hiến với cách mạng Việt Nam.



1. Đồng chí Lê Duẩn, người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam

Từ một thanh niên giàu lòng yêu nước, say mê với lý tưởng cách mạng, đồng chí Lê Duẩn sớm trở thành một chiến sĩ thuộc lớp cận vệ đầu tiên của Đảng. Vừa hoạt động cách mạng, vừa học tập, đồng chí say mê đọc Đường cách mệnh của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, báo Thanh niên, các tác phẩm của Mác, Ăng-ghen, Lê-nin... từng bước bồi đắp cho mình những tri thức mới, nâng cao tinh thần yêu nước và ý chí cách mạng. Do được hoạt động, gần gũi với Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí luôn nhận được sự dìu dắt và chỉ đạo trực tiếp của Người. Đó là điều kiện thuận lợi để đồng chí tiếp thu và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực công tác do tổ chức phân công. Quan điểm và phương pháp cách mạng của đồng chí Lê Duẩn chính là sự thể hiện trung thành và phát triển sáng tạo tư tưởng, phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh. Trên cương vị là Tổng Bí thư của Đảng, đồng chí đã thực hiện xuất sắc những điều mà toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã hứa trong Lễ truy điệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong quá trình hoạt động cách mạng kiên cường, phong phú của mình, đồng chí là một tấm gương tiêu biểu về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh. 

Là một người giản dị, khiêm tốn, giàu lòng nhân ái, hết lòng vì Đảng, vì dân. Cuộc đời hoạt động gần 60 năm của đồng chí Lê Duẩn gắn liền với quá trình cách mạng nước ta từ những năm 20 đến những năm 80 của thế kỷ XX. Đồng chí đã tham gia hoạt động ở cả ba miền: Bắc, Trung, Nam, từng trải qua mọi thử thách, gian nan, luôn luôn gần gũi cán bộ, chiến sĩ và nhân dân lao động. Từ cuối những năm 30 cho đến khi qua đời, đồng chí đã trải qua nhiều cương vị lãnh đạo quan trọng của Đảng, đặc biệt từ năm 1960 đến năm 1986, trên cương vị là Bí thư thứ nhất, rồi Tổng Bí thư BCHTW Đảng, đồng chí đã có những đóng góp to lớn vào sự lãnh đạo của Đảng, đưa sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Vai trò lãnh đạo của đồng chí Lê Duẩn thể hiện nổi bật ở những giai đoạn cách mạng sau:

- Năm 1939, khi được giao trọng trách Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng, đồng chí Lê Duẩn đã cùng với đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Tổng Bí thư của Đảng, chủ trì Hội nghị lần thứ sáu BCHTW Đảng (tháng 11-1939). Hội nghị đã mở ra thời kỳ mới cho cách mạng Việt Nam: từ đấu tranh đòi các quyền dân sinh, dân chủ, chuyển sang đấu tranh trực tiếp đánh đổ chính quyền đế quốc, thực dân và phong kiến tay sai, chuẩn bị những điều kiện cần thiết tiến tới giành chính quyền về tay nhân dân. Nghị quyết Hội nghị đã khẳng định những tư tưởng chiến lược của cách mạng Việt Nam mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định từ Hội nghị thành lập Đảng năm 1930. Đây là bước mở đầu của một cao trào cách mạng mới, tiến tới thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945.

- Trong thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, trên cương vị Phó bí thư, rồi Bí thư Xứ ủy Nam Bộ và từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (1951) là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Cục miền Nam, đồng chí đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giao phó, đó là: trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Nam Bộ. Đồng chí Lê Duẩn đã vận dụng sáng tạo đường lối, phương châm kháng chiến do Trung ương Đảng đề ra, cùng với Xứ ủy Nam Bộ, Trung ương Cục miền Nam giải quyết một loạt vấn đề quan trọng: tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, thống nhất các lực lượng vũ trang, chia ruộng đất cho nông dân nghèo, củng cố liên minh công nông, phát huy sức mạnh to lớn của Mặt trận thống nhất, động viên mọi tầng lớp nhân dân đứng lên chống giặc cứu nước. Quân và dân Nam Bộ đã anh dũng kháng chiến, làm thất bại hoàn toàn âm mưu của địch đánh chiếm Nam Bộ, tách Nam Bộ khỏi Việt Nam, lấy đó làm bàn đạp để thôn tính nước ta. Từ thành công của cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, Đảng ta đã rút ra được những kinh nghiệm quý báu cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.

- Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, trên cương vị Bí thư thứ nhất BCHTW Đảng ở vào thời điểm lịch sử đầy cam go và nặng nề, cùng một lúc phải thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, đương đầu với một đế quốc có tiềm lực quân sự với bộ máy chiến tranh khổng lồ, đồng chí Lê Duẩn là người chịu trách nhiệm chủ yếu trước Đảng về phong trào cách mạng ở miền Nam. Đồng chí đã cùng với tập thể Bộ Chính trị và BCHTW Đảng hoạch định, phát triển và từng bước hoàn chỉnh đường lối chiến lược, phương pháp cách mạng và phương thức tiến hành chiến tranh cách mạng. Bằng kinh nghiệm thực tiễn nhiều năm bám sát cuộc đấu tranh của đồng bào miền Nam, đồng chí đã soạn thảo văn kiện nổi tiếng Đề cương cách mạng miền Nam, góp phần hướng dẫn cán bộ, nhân dân tìm ra phương thức đấu tranh chống lại kẻ thù tàn bạo, làm dấy lên không khí phấn chấn, tràn đầy niềm tin tưởng, tạo ra phong trào đồng khởi mạnh mẽ của nhân dân miền Nam. Những tư tưởng đúng đắn và sáng tạo mà Đề cương cách mạng miền Nam nêu lên là cơ sở để ra Nghị quyết Trung ương 15 (khóa II), tiếp đó là Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, góp phần vào việc hoạch định chiến lược cách mạng hai miền Nam - Bắc trong suốt thời kỳ chống Mỹ cứu nước.  

Là người chịu trách nhiệm lãnh đạo tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, đồng chí Lê Duẩn không những là một kiến trúc sư chiến lược, một nhà tổ chức tài năng, góp phần to lớn vào việc lãnh đạo xây dựng miền Bắc từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ là chủ yếu, quá độ lên chủ nghĩa xã hội (viết tắt là CNXH), làm tròn nhiệm vụ hậu phương lớn và vững chắc của cả nước, đánh bại các cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của đế quốc Mỹ; mà còn là người chỉ đạo tổ chức cuộc chiến đấu của quân và dân ta ở tiền tuyến lớn miền Nam, lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của địch, từng bước bẻ gãy ý chí xâm lược của chúng. 

Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần, là người lãnh đạo cao nhất của Đảng, cùng với Bộ Chính trị và BCHTW Đảng, đồng chí Lê Duẩn đã lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta giữ vững quyết tâm chiến đấu, biến đau thương thành hành động cách mạng, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn, thực hiện xuất sắc Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên CNXH. 

- Đất nước thống nhất, cả nước đi lên CNXH, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (1976), lần thứ V (1982) của Đảng và nhiều Hội nghị Trung ương, đồng chí Lê Duẩn đã cùng với BCHTW từng bước xây dựng một hệ thống quan điểm về chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa (viết tắt là XHCN) ở Việt Nam và đã lãnh đạo thực hiện đạt được những thành tựu quan trọng, đó là: việc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật ban đầu của CNXH; là sự đảm bảo vững chắc về chính trị và an ninh quốc phòng của Tổ quốc; là những thành tựu về văn hóa, đạo đức, cùng quan hệ tốt đẹp giữa người với người do chế độ XHCN đem lại. Với những thành tựu đó, đất nước ta đã đứng vững trước những thử thách khắc nghiệt trong những năm sau chiến tranh với bao biến động chính trị quốc tế to lớn để tiếp tục tiến lên con đường cách mạng mà Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn lựa.

Suốt đời kiên cường đấu tranh cho lý tưởng cộng sản, cho độc lập của dân tộc, thống nhất của Tổ quốc, cho tự do, hạnh phúc của nhân dân, “lịch sử nước ta mãi mãi khẳng định công lao to lớn của đồng chí Lê Duẩn”. Đồng chí là hiện thân sinh động của một chiến sĩ cộng sản kiên trung, bất khuất, một nhà lãnh đạo kiệt xuất của Đảng ta. 

2. Đồng chí Lê Duẩn, nhà lý luận xuất sắc, một tư duy sáng tạo lớn của cách mạng Việt Nam

Có mặt trong đội ngũ những người cộng sản ngay từ khi Đảng mới ra đời, với gần 60 năm hoạt động cách mạng, trong đó có 26 năm trên cương vị Bí thư thứ nhất và Tổng Bí thư của Đảng, đồng chí Lê Duẩn thể hiện rõ là một nhà lãnh đạo kiệt xuất, một nhà lý luận xuất sắc, có tầm cỡ chiến lược của cách mạng Việt Nam.

Trưởng thành trong thực tiễn cách mạng, dày dạn kinh nghiệm đấu tranh, đồng chí Lê Duẩn rất coi trọng nghiên cứu lý luận, học tập lý luận, rèn luyện tư duy lý luận, trăn trở suy nghĩ nhằm tìm ra và giải quyết các vấn đề lý luận của cách mạng Việt Nam. Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, trên cơ sở tổng kết thực tiễn, đồng chí đã góp phần quan trọng cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh và BCHTW hoạch định đường lối chiến lược, phương pháp cách mạng của Đảng trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, trong các cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc cũng như trong việc tìm tòi con đường đưa nước ta từ một nền sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN. Đồng chí đã để lại cho chúng ta di sản tư tưởng lý luận phong phú trên nhiều lĩnh vực: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, ngoại giao, xây dựng Đảng…, mà nổi bật là tư duy lý luận về các vấn đề sau:

- Một là, về xây dựng Đảng: Đồng chí Lê Duẩn đã dành nhiều công sức cho xây dựng đường lối chính trị đúng đắn, kết hợp công tác tư tưởng với công tác tổ chức, nâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng ngang tầm yêu cầu của sự nghiệp cách mạng. Đồng chí chỉ rõ: Phải đặc biệt chú trọng tới chất lượng đảng viên, tổ chức cơ sở của Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ và sự đoàn kết trong Đảng, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Đảng - chính quyền - đoàn thể, mối quan hệ giữa Đảng - Nhà nước với nhân dân. Không ngừng nâng cao tính tiên phong gương mẫu của đảng viên, sức chiến đấu của Đảng, chăm lo củng cố khối đoàn kết dân tộc và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động bằng cách đem lại lợi ích thiết thân hằng ngày cho họ, thấu hiểu tâm tư nguyện vọng của họ, thuyết phục và thúc đẩy họ bằng việc làm, bằng hành động thực tế, lời nói đi đôi với việc làm, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân. Muốn vậy phải kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, xa dân, vi phạm quyền làm chủ của dân, ra sức học tập và thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư theo gương sáng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

- Hai là, về chiến tranh nhân dân Việt Nam: Đồng chí đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề về đường lối chiến lược và phương pháp cách mạng, về đường lối kháng chiến và phương thức tiến hành chiến tranh trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Đồng chí Lê Duẩn đã đúc kết rằng, chiến tranh nhân dân Việt Nam bao gồm 2 lực lượng: lực lượng vũ trang và lực lượng chính trị, đấu tranh vũ trang kết hợp với đấu tranh chính trị, kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng giành chính quyền, làm chủ ngay trong chiến tranh. Đường lối chính trị của Đảng trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân là dựa vào sức mạnh đoàn kết rộng rãi toàn dân tộc, lấy công - nông liên minh làm nền tảng, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân. Những quan điểm đó được đồng chí đúc rút và vận dụng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Đặc biệt, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đồng chí đã có những cống hiến quan trọng vào quá trình chỉ đạo cách mạng và chiến tranh cách mạng, nổi bật lên một số tư duy chiến lược như: tư tưởng dám đánh, dám thắng đế quốc Mỹ xâm lược; nắm vững tư tưởng chiến lược tiến công và nghệ thuật đánh thắng từng bước; sử dụng bạo lực cách mạng với hai lực lượng chính trị và vũ trang, với hai hình thức đấu tranh cơ bản chính trị và quân sự; đánh địch và thắng địch bằng sức mạnh tổng hợp. Một đặc trưng nổi bật trong tư duy chiến lược của đồng chí Lê Duẩn là tinh thần độc lập, tự chủ. Đồng chí thường nhắc nhở: ta đúng vì ta độc lập, tự chủ và có độc lập, tự chủ thì mới có sáng tạo. Trước những tác động khách quan của tình hình quốc tế, Đảng ta vẫn giữ vững đường lối, cách làm của mình đồng thời thực hiện chính sách đoàn kết quốc tế đúng đắn. Do đó cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta đã giành thắng lợi, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên CNXH.

- Ba là, về cách mạng XHCN ở Việt Nam: Đồng chí Lê Duẩn đã có những đóng góp quan trọng trong việc tìm ra con đường phù hợp để đưa nước ta từ nước nông nghiệp lạc hậu tiến lên chủ nghĩa xã hội. 

Trong tác phẩm “Dưới lá cờ vẻ  vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới”, đồng chí Lê Duẩn đã tổng kết những bài học mang tính lý luận về giai đoạn cách mạng đã qua, chỉ ra phương hướng, nhiệm vụ của giai đoạn mới, vừa tiến hành cách mạng XHCN trên miền Bắc, xây dựng hậu phương vững mạnh của cả nước, vừa tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới thống nhất Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế. 

Sau khi đất nước thống nhất, cả nước cùng tiến lên CNXH, đồng chí đã góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn nhằm xác định và hoàn chỉnh đường lối cách mạng XHCN ở nước ta. Đường lối ấy thể hiện những tư tưởng lớn của đồng chí về giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, kết hợp sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại; về nắm vững chuyên chính vô sản và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động; về tiến hành đồng thời 3 cuộc cách mạng, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt, coi công nghiệp hóa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ; về nền văn hóa mới và con người mới XHCN; về cơ chế Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý…

Là một nhà lãnh đạo kiệt xuất, một tư duy sáng tạo lớn của cách mạng Việt Nam, nhiều vấn đề đã được đồng chí Lê Duẩn làm sáng tỏ về mặt lý luận, được thực tiễn kiểm nghiệm là đúng đắn và sáng tạo. Đồng chí để lại cho chúng ta hàng loạt những tác phẩm lý luận có giá trị, tiêu biểu như: Đề cương cách mạng miền Nam, Thư vào Nam, Cách mạng XHCN, Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng…

Công lao, cống hiến của đồng chí Lê Duẩn cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam, đặc biệt những tư tưởng sáng tạo của đồng chí về lý luận và đường lối cách mạng trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đã nâng trình độ tư duy lý luận của Đảng ta, dân tộc ta lên một tầm cao mới, góp phần làm phong phú kho tàng lý luận của cách mạng thế giới.

3. Đồng chí Lê Duẩn, tấm gương người chiến sĩ cộng sản kiên cường, suốt đời phấn đấu vì lý tưởng cao đẹp của dân tộc; người chiến sĩ quốc tế trong sáng

Lịch sử nước ta mãi mãi khẳng định công lao to lớn và cống hiến xuất sắc của đồng chí Lê Duẩn. Cuộc đời hoạt động cách mạng kiên cường và phong phú của đồng chí là tấm gương đối với cán bộ, đảng viên và nhân dân ta, đó là lòng trung thành vô hạn đối với lợi ích tối cao của Tổ quốc và nhân dân, với lý tưởng cộng sản cao cả. Phẩm chất cao quý của đồng chí được thể hiện ở tinh thần cách mạng tiến công không ngừng. Bất chấp mọi thử thách của nhà tù đế quốc, của cuộc sống gian khổ kéo dài ở các chiến khu, cũng như những năm tháng hoạt động trong vùng địch tạm kiểm soát, đồng chí luôn luôn nêu cao nghị lực phi thường, sẵn sàng hy sinh tính mạng của mình vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Ngay trong những năm tháng bị tù đày, xiềng xích, trong những lúc cách mạng gặp muôn vàn khó khăn, đồng chí vẫn giữ vững chí khí cách mạng, kiên quyết đấu tranh tìm mọi cách để đưa phong trào cách mạng tiến lên. Đồng chí sống trung thực và giản dị, luôn luôn gần gũi đồng bào, với tình thương yêu tha thiết và chân thành đối với mọi người, quan tâm đến ý kiến và nguyện vọng của nhân dân. Với đồng chí, bạn bè, đồng chí Lê Duẩn luôn son sắt thủy chung và được tin yêu, kính trọng. Đồng chí đặc biệt coi trọng việc tổng kết kinh nghiệm của quần chúng và xuất phát từ những kinh nghiệm quý báu đó mà đề ra chủ trương, chính sách.

Đồng chí Lê Duẩn vừa là một nhà yêu nước lớn, vừa là một người quốc tế chủ nghĩa trong sáng, suốt đời noi gương Bác Hồ, chăm lo, góp phần củng cố và tăng cường đoàn kết quốc tế giữa các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế giới trong cuộc đấu tranh chung vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Đi theo con đường của Lê-nin vĩ đại, con đường Cách mạng Tháng Mười, đồng chí luôn luôn quan tâm vun đắp và tăng cường tình hữu nghị với các nước trong phe XHCN trước đây, các nước và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, đặc biệt giữa Việt Nam với Lào và Cam-pu-chia. Đồng chí thường xuyên chú ý nghiên cứu kinh nghiệm cách mạng quốc tế và theo dõi những diễn biến của tình hình thế giới để lãnh đạo cách mạng Việt Nam. 

CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU BÔI NHỌ PHẨM CHẤT BỘ ĐỘI CỤ HỒ


Vào thời điểm Đảng bộ Quân đội và toàn quân đang mở một đợt sinh hoạt chính trị, quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức quán triệt, sớm đưa Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, vào thực tiễn cách mạng và hoạt động quân sự, thì những kẻ hiềm khích cùng thế lực thù địch, ráo riết triển khai một đợt cao điểm chống phá, hòng hiện thực âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội. Chúng cố tình bôi nhọ, hạ bệ hình tượng Bộ đội Cụ Hồ, hạ thấp vai trò của quân đội và chia rẽ mối quan hệ đoàn kết máu thịt quân-dân.


Bài 1: Bóc trần âm mưu, thủ đoạn chống phá thâm độc


Xét về bản chất, âm mưu, thủ đoạn nêu trên của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị là nhằm tách rời sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, chuyển hướng chính trị Quân đội ta từ quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân sang kiểu quân đội tư bản, nhà nghề do giai cấp tư sản lãnh đạo, phục vụ cho mục đích của giai cấp tư sản.

Cùng với đó, những thủ đoạn cũng chĩa mũi nhọn vào bôi đen những giá trị chuẩn mực đạo đức Bộ đội Cụ Hồ, tạo sự lệch chuẩn trong nhận thức và hành động của một số cán bộ, chiến sĩ ở các cơ quan, đơn vị. Từ đó, hòng làm cho bộ đội ta mất phương hướng chính trị, không phân biệt rõ bạn-thù, đối tượng-đối tác; xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; tha hóa về đạo đức, lối sống; rệu rã về mặt tổ chức, không còn là công cụ sắc bén để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ và nhân dân.

Để thực hiện mưu đồ đó, chúng tìm trăm phương nghìn kế để chống phá, thúc đẩy “phi chính trị hóa” quân đội trong thời gian dài, nhưng “xới lên” rầm rộ ở từng thời điểm, mà dịp Quân đội ta triển khai Nghị quyết số 847 của Quân ủy Trung ương như vừa qua là một ví dụ.

Theo đó, các thế lực thù địch tập trung sự xuyên tạc vào những vấn đề cơ bản về chính trị, bản chất giai cấp, hệ tư tưởng, sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, đến những vấn đề về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu, tổ chức, công tác cán bộ, vũ khí, trang bị, mối quan hệ đoàn kết quân dân, mối quan hệ cán bộ-chiến sĩ, tình trạng vi phạm kỷ luật của bộ đội...

Các thế lực thù địch liên tục sử dụng nhiều chiêu bài khác nhau, tung hỏa mù hòng làm cho cán bộ, chiến sĩ lung lạc, mất phương hướng, không phân biệt được đúng-sai, khó nhận diện và đề phòng trước âm mưu, thủ đoạn chống phá.

Chúng còn đánh đồng bản chất với hiện tượng, nhằm xóa nhòa ranh giới giữa quân đội cách mạng với phản cách mạng; giữa xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị với sự thờ ơ, vô cảm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, đứng ngoài các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước; xóa nhòa cái đẹp, cái tốt của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ với những “mực thước” mà chúng tự bịa đặt về công lý, nhân quyền, hay sự lừa bịp “quân đội chỉ cần hiếu với dân, chứ không cần trung thành với Đảng”...

Thế nhưng, dù mưu mô, thủ đoạn có nham hiểm, tinh vi thế nào, Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam vẫn vững vàng trước thử thách, luôn xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành của Đảng, Nhà nước, Tổ quốc và nhân dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Thực tế cho thấy, dù không thể đạt mục đích và dã tâm đề ra, song mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội của các thế lực thù địch vẫn chưa bao giờ và không bao giờ thay đổi. Chúng tìm đủ mọi thủ đoạn, cách thức mới, thâm độc và xảo quyệt hơn, triệt để lợi dụng mọi cơ hội, điều kiện, kẽ hở... nhằm đạt cho bằng được mưu đồ bẩn thỉu; trong đó, bôi nhọ phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, hạ thấp vai trò của quân đội được cho là công cụ chủ đạo.

Không khó để nhận ra nhiều bài viết trên các trang mạng xã hội thời gian gần đây đưa ra những luận điệu bịa đặt, cố tình suy diễn rằng “mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội đã thay đổi” nên bị “khuất phục, làm ngơ trước sự xâm lấn biển, đảo của nước ngoài”.

Qua đó, đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, cổ xúy, kêu gọi “dân sự hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội. Lợi dụng việc xử lý vi phạm kỷ luật một số cán bộ cấp cao trong quân đội vừa qua, chúng chủ ý xuyên tạc công tác quản lý, giáo dục, tạo kẽ hở cho cán bộ vi phạm; dựa trên một số thông tin, tư liệu trong các sự kiện, nhân chứng chưa được làm sáng tỏ để tán phát nhiều tin, bài, video clip, phóng sự, bình luận, suy diễn, áp đặt ý kiến chủ quan gây nghi ngờ, mâu thuẫn giữa cán bộ, sĩ quan quân đội với cựu chiến binh, giữa cựu chiến binh với nhân chứng lịch sử; phát động phong trào đòi xét lại lịch sử dân tộc, quân đội...

Nguy hiểm hơn, chúng lợi dụng những bức xúc cá nhân liên quan đến đời sống riêng tư, gia đình... hòng “đánh tráo khái niệm”, “đổi trắng thay đen” cho đó thuộc phạm trù bản chất, truyền thống quân đội, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, mối quan hệ giữa cán bộ với chiến sĩ, chiến sĩ với chiến sĩ; từ đó, sử dụng chiêu trò “dương đông kích tây”, đưa thông tin hiện trường vụ việc, gây bán tín bán nghi, làm dư luận bị cuốn theo; đẩy “nóng vấn đề”, kích động cộng đồng mạng “tạo áp lực, yêu sách” với quân đội, nhen nhóm dư luận tiêu cực trong nhân dân nhằm tẩy chay, không cho con em nhập ngũ...

Thông qua những sự việc này, chúng còn nói xấu, hạ thấp uy tín đội ngũ cán bộ quản lý các cấp, bôi nhọ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, làm phai nhạt hình tượng quân đội cách mạng được nhân dân tôn vinh, trân quý từ ngày thành lập đến nay, hòng dễ bề phân rã về tư tưởng, chia rẽ sự đoàn kết quân dân, làm phai nhạt phẩm chất cao đẹp của cán bộ, chiến sĩ quân đội trong lòng nhân dân.

Có thể nói, bất kỳ một sự việc, hiện tượng nào trong quân đội có thể lợi dụng để xuyên tạc, chống phá theo kiểu “thổi tàn thành lửa” là chúng có thể tận dụng kỳ được, kích hoạt a dua, kéo bè kéo cánh, dùng mọi thủ đoạn để công kích, nói xấu, bội nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò của Quân đội ta.

Đặc biệt, trong các đợt phòng, chống dịch Covid-19 hai năm vừa qua thì sự chống phá của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị càng thể hiện rõ dã tâm và không từ bỏ bất kỳ mưu mô, thủ đoạn nào. Từ khi đại dịch Covid-19 bùng phát tới nay, hàng chục nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ QĐND được huy động phối hợp với các lực lượng chức năng tham gia giải quyết những vấn đề nóng về dịch bệnh tại nhiều địa phương trong cả nước.

Với tinh thần: Giúp dân là mệnh lệnh trái tim của Bộ đội Cụ Hồ; ở đâu dân cần, ở đâu khó khăn thì ở đó có Bộ đội Cụ Hồ và quyết tâm thực hiện “ba nhất”: Nhận thức, trách nhiệm cao nhất; giúp đỡ nhân dân được nhiều nhất; chấp hành pháp luật, bảo đảm an toàn tốt nhất. Tất cả những việc làm đó góp phần làm giảm gánh nặng phòng, chống dịch cho cấp ủy, chính quyền và nhân dân các địa phương. Thế nhưng, trên mạng xã hội, một số tổ chức, cá nhân thù địch lại cố tình rêu rao, xuyên tạc, bôi đen nghĩa cử cao đẹp ấy của cán bộ, chiến sĩ quân đội.

Để tăng phần hấp dẫn những người nhẹ dạ cả tin, chúng cắt ghép, ngụy tạo những bức ảnh, video clip... lồng vào tin, bài bóp méo, xuyên tạc, chế nhạo những việc làm của cán bộ, chiến sĩ quân đội trong giúp dân phòng, chống dịch.

Một số kẻ đăng trên mạng xã hội nhiều bài viết có nội dung suy diễn, xuyên tạc chủ trương đưa quân đội, công an tham gia phòng, chống đại dịch Covid-19 tại TP Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam là “trái Hiến pháp, pháp luật”, là vì “lý do an ninh, quốc phòng” chứ không vì nhiệm vụ phòng, chống dịch.

Khi nói về việc bộ đội đi chợ, đảm trách cung cấp lương thực, thực phẩm cho dân thì họ suy diễn mang tính chủ quan, phiến diện, một chiều: “Quân đội đi chợ cho dân, dân sợ mất hồn!”, vì theo họ: “Bộ đội vốn được huấn luyện, đào tạo để nhằm phục vụ cho sức mạnh trấn áp đối phương chứ nào phải để làm chuyện chi li nhỏ mọn là chợ búa...”...

Tất cả những giọng điệu, chiêu trò ấy của lực lượng thù địch, chống phá không nhằm mục đích nào khác là bóp méo, xuyên tạc chủ trương, giải pháp phòng, chống dịch của Đảng và Chính phủ ta; bôi nhọ phẩm chất, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, hạ thấp uy tín, làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Quân đội ta.

Lịch sử gần 78 năm xây dựng, chiến đấu và chiến thắng của QĐND Việt Nam cho thấy, quân đội luôn đồng hành với dân tộc, gắn bó máu thịt với nhân dân, vượt qua muôn vàn gian khổ, hy sinh, đánh bại đế quốc, thực dân, đưa non sông thu về một mối và hiện nay đang giữ vai trò nòng cốt trong sự nghiệp tăng cường quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, giúp nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.

Trải qua các giai đoạn cách mạng, trong bất luận mọi tình huống, trước mọi nhiệm vụ hay khó khăn, thử thách tột cùng, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ luôn tỏa sáng trên mọi lĩnh vực, vai trò của quân đội luôn được khẳng định, xứng đáng với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân, cùng bạn bè bốn bể, năm châu.

Hải Đăng ST 

ANH TUYÊN BỐ THỜI ĐẠI HỢP TÁC VỚI NGA ĐÃ CHẤM DỨT!

         'Thời đại hợp tác với Nga đã chấm dứt', Ngoại trưởng Anh Liz Truss tuyên bố như vậy tại bữa tối với các ngoại trưởng Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) ở Brussels ngày 6/4, thông cáo của Bộ Ngoại giao Anh cho biết.
Trong phát biểu của mình, bà Truss nói với những người đồng cấp NATO rằng “Đạo luật NATO - Nga đã chết và đã đến lúc loại bỏ cách tiếp cận lỗi thời để đối phó với Nga”.
Đạo luật được ký từ năm 1997 nói rằng “NATO và Nga không coi nhau là kẻ thù”.
“Thời đại hợp tác với Nga đã kết thúc. Chúng ta cần một cách tiếp cận mới đối với an ninh của châu Âu dựa trên năng lực chống chịu, quốc phòng và răn đe", bà Truss nói.
Phát biểu được đưa ra khi các ngoại trưởng NATO nhóm họp tại Brussels để thảo luận về cuộc xung đột ở Ukraine.
Trong tuyên bố đưa ra, bà Truss nhấn mạnh rằng NATO không thể để “khoảng trống an ninh” ở các biên giới phía đông và nên “nghĩ lại” về việc ủng hộ những nước “nằm trong tầm ảnh hưởng của Nga” như Georgia, Moldova, Thụy Điển và Phần Lan.
Ngoại trưởng Anh cũng thúc giục châu Âu cần có các biện pháp trừng phạt mạnh hơn và cung cấp vũ khí cho Ukraine “nhanh chóng và quyết liệt”, để bảo đảm Ukraine sẽ thắng.
Bà Truss cho biết bà đang làm việc với các đối tác trong G7 để tiếp tục trừng phạt các ngân hàng Nga. Trong bài viết đăng trên mục ý kiến riêng của báo Telegraph ngày 6/4, bà Truss ủng hộ việc gia tăng chi tiêu quân sự của NATO và hiện diện ở Đông Âu.
Báo The Times vừa đưa tin Chính phủ Anh đang lên kế hoạch đưa xe bọc thép đến Ukraine. Bộ Quốc phòng Anh đang tính toán các lựa chọn, bao gồm xe tuần tra Mastiff hoặc Jackal.
Những xe này sẽ được gỡ thiết bị nhạy cảm và binh lính Anh sẽ được điều sang một nước láng giềng của Ukraine để huấn luyện cách sử dụng, The Times dẫn nguồn tin quốc phòng cho biết.
Bên cạnh đó, trong mấy ngày tới, London dự kiến sẽ công bố việc cung cấp các loại tên lửa chống tăng và phòng không cho Ukraine./.
Yêu nước ST.