Thứ Năm, 7 tháng 4, 2022

ĐỜI NGƯỜI CHỈ SỐNG CÓ MỘT LẦN, PHẢI SỐNG SAO CHO KHỎI XÓT XA, ÂN HẬN!

         "Cái quý nhất của con người ta là sự sống. Đời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa, ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và hèn đớn của mình, để khi nhắm mắt xuôi tay có thể nói rằng: tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người..."(N.OSTROVSKI)
Mỗi người chỉ sống có một lần, nhưng nếu sống thật tốt, thật ý nghĩa, thì một lần đó thôi cũng là đủ để ta cảm thấy mãn nguyện về bản thân, về cuộc sống mà ta đã sống hết mình.

Tôi đang làm theo sự mách bảo của trái tim và trực giác
Hãy sống vì những ước mơ của mình. Sống cuộc đời mà bạn muốn, trở thành người mà bạn vẫn ao ước, ngay từ lúc này.

Hãy dũng cảm quyết định và hành động không nao núng. Có thể phạm sai lầm, vấp ngã và đứng lên làm lại. Dù đã ngã cả chục, cả trăm lần thì ít nhất bạn cũng không phải hối tiếc vì đã không có gan thử. Ít nhất bạn đã sống hết mình, cố gắng hết sức để thực hiện ước mơ.

Trong trái tim mỗi người đều có một ngọn lửa thắp sáng, ngọn lửa đó là niềm khao khát cháy bỏng nhưng thầm kín. Trách nhiệm của chúng ta là giữ cho nó cháy sáng. Mỗi chúng ta chỉ sống có một lần thôi. Cuộc sống ngắn ngủi lắm. Đừng dại dột để những người thiếu lòng tin, hay nản lòng dập tắt ngọn lửa của bạn. Phải cố làm bằng được điều mình muốn, đi tới những nơi mình thích, hành động theo trực giác mách bảo và dũng cảm đối diện với những khó khăn. Mỗi ngày hãy cố gắng hơn một chút. Khi nhìn lại, bạn sẽ thấy mình đã đi một quãng đường dài.

Trong quá trình cố gắng đạt được mục đích, bạn sẽ gặp những cơn mưa rào khiến bạn thất vọng, mệt mỏi, chán nản. Nhưng đừng ngã lòng, con đường đến thành công có bao giờ trải lụa? Hãy coi những thất bại, những nỗi buồn là thử thách dành cho sự kiên nhẫn và lòng dũng cảm. Sau cùng, người ta thường chỉ nuối tiếc vì đã không làm hết sức, chẳng ai hối tiếc vì đã dám thử nghiệm.

Tôi tự hào về
bản thân tôi
Bản thân ta vừa là người bạn tốt nhất cũng là kẻ thù lớn nhất của ta. Bất kể khen chê của người đời, cuối ngày, khi bạn đứng một mình trước gương và nhìn vào đó, hình ảnh bạn thấy trong gương mới là con người thật sự của bạn. Hãy học cách chấp nhận mọi ưu và khuyết điểm ở bản thân mình. Tôi là tôi, đơn giản có thế thôi, đừng thất vọng hay nuối tiếc về những gì đã qua.

Những người biết cách tự hào về bản thân thường tìm được niềm vui trong cuộc sống, cảm thấy hài lòng và trở thành hình mẫu của nhiều người khác. Hãy hình dung ra con người mà bạn muốn trở thành và cố gắng hết sức để trở thành hình mẫu do chính mình đặt ra.

Tự hào về bản thân không phải là khoe mẽ hoặc phô ra mọi ưu điểm của mình, nó chỉ đơn giản là sự âm thầm cảm nhận rằng mình rất đáng giá, rất quý báu và mình đặc biệt. Bạn không cần phải là người hoàn hảo bởi chẳng có ai là hoàn hảo cả, nhưng bạn xứng đáng được yêu thương và trân trọng. Tất cả những gì bạn cần làm là sống thật với chính mình, sống thật tốt cuộc đời của mình - một bộ phim tuyệt hay và chân thực mà trong đó bạn là nhân vật chính. Hãy tự tin nhé bởi bạn không biết đang có nhiều người nhìn vào và ước rằng họ được như bạn đâu.

Tôi khác biệt
Chúng ta sống trên đời này là để giúp đỡ lẫn nhau, để tạo nên cuộc đời và định mệnh của nhau. Khi bạn làm được một điều tốt đẹp cho người khác, bạn cũng đang dành tặng điều tốt đẹp đó cho chính mình. Hãy nhìn ra xung quanh để xem mình có thể làm điều gì cho ai không? Để cuộc đời họ bớt đi một phút buồn và có thêm vài phút vui.

Bạn là một thực thể riêng có trên hành tinh này. Bạn không thể làm tốt mọi việc nhưng bạn có thể làm tốt một vài việc đơn giản và ý nghĩa: Mỉm cười và tận hưởng cuộc sống này một cách yên bình.

Tôi hạnh phúc và biết ơn cuộc đời
Hạnh phúc nằm trong bạn, nó chính là cách bạn suy nghĩ. Cách bạn nhìn nhận bản thân, cách đưa ra lựa chọn và tạo lập thói quen. Lăng kính mà bạn chọn để nhìn nhận cuộc sống tiết lộ cách bạn đối xử với chính bản thân mình.

Sống biết ơn, học cách tự hài lòng và bạn sẽ cảm nhận được hạnh phúc. Nếu bạn thấy thật khó khăn để cảm nhận được hạnh phúc, hãy ngồi xuống, nhắm mắt lại và hít sâu, rồi thở ra chậm rãi. Này nhé, hãy cảm ơn Trái Đất vì đã có đủ o-xy cho sự sống của bạn. Mỗi hơi thở bạn hít vào đều có ít nhất một người trút hơi thở cuối cùng. Bạn may mắn đấy chứ, bởi bạn vẫn còn thời gian để sống, để tận hưởng những yêu thương, hờn giận.

Tôi đang dần
hoàn thiện hơn
Hãy là con người đặc biệt riêng có, đừng cố gắng bắt chước ai cả. Chỉ khi thực sự là mình, bạn mới có thể sống hết mình. Nếu cố tỏ ra giống một ai đó, bạn chỉ đang tồn tại thôi, không phải là sống thật sự.

Bạn có một tính cách riêng, hãy trân trọng những nét riêng trong suy nghĩ, hành động, ngoại hình của mình bởi không ai có những tất cả những điều đó giống bạn. Không ngừng cải thiện bản thân mình, hãy chăm sóc vóc dáng, khuôn mặt, sức khỏe để trở thành con người hoàn thiện nhất có thể.

Tôi đang sử dụng tốt thời gian
Thời gian là thứ tài sản quý báu mà cuộc sống trao tặng công bằng cho tất cả mọi người. Hãy dành thời gian cho những gì bạn quan tâm. Hãy thực sự sống trong từng khoảnh khắc, tìm ra niềm đam mê trong cuộc sống của mình. Quan sát và nhìn ngắm thế giới xung quanh, đi du lịch thật nhiều và ở bên cạnh những con người thú vị, làm những việc khiến bản thân mình vui, ăn những món mình thích và biết tận hưởng những niềm vui giản dị đời thường.

Hãy nhớ thời gian là vô giá và nó cũng hoàn toàn miễn phí. Bạn không thể sở hữu nó nhưng bạn có thể tận dụng nó một cách hữu hiệu nhất. Một khi bạn để tuột mất một khoảnh khắc, bạn vĩnh viễn không thể lấy lại. Bạn chỉ có 60 năm cuộc đời để thực sự sống mà thôi. Hãy dám ước mơ những điều lớn lao và chiến đấu với nỗi sợ hãi. Làm nhiều, thử nghiệm nhiều, nói ít hơn, nhưng lắng nghe nhiều hơn.

Tôi trung thực với bản thân mình
Hãy phân định rõ ràng điều gì là đúng, là sai, điều gì cần thay đổi, sửa chữa. Thực thà với bản thân mình về những điều bạn mong muốn đạt được, muốn trở thành người như thế nào. Thẳng thắn, sòng phẳng với người, với mình trong mọi mặt cuộc sống. Bản thân ta mới là người mà cả cuộc đời này ta có thể tin tưởng dựa vào.

Hãy tìm hiểu tâm hồn mình để biết thực sự tâm tư, tình cảm của mình ra sao. Một khi làm được điều này, bạn sẽ hiểu rõ mình đang đứng ở đâu và làm thế nào để tiến tới cái đích mà mình đặt ra. Biết mình, biết người, trăm trận trăm thắng.

Tôi sống tốt với những người tôi quan tâm

Trong mối quan hệ giữa người với người, khoảng cách không đo bằng thời gian, không gian, nó đo bằng sự thương yêu. Hai người có thể ở ngay cạnh nhau nhưng mãi xa cách nhau về tâm tưởng. Đừng bao giờ bỏ quên những người mà bạn quan tâm, bởi thiếu đi sự yêu thương chăm sóc còn khiến họ đau hơn nhiều những khi bạn cãi vã, cáu giận họ. Hãy luôn duy trì mối quan hệ chặt chẽ với những ai bạn cho là quan trọng. Không phải vì họ sẽ đem lại lợi ích gì, chỉ bởi họ xứng đáng nhận được sự quan tâm đó.

Lần cuối bạn cùng gia đình đi chơi là khi nào? Đã bao lâu rồi bạn không gặp nhóm bạn thân? Hãy dành thời gian cho những người quan trọng trong cuộc đời bạn, dù chỉ một lúc thôi để thể hiện rằng bạn rất quan tâm, để chứng minh rằng họ rất quan trọng. Hãy trích ra một ít thời gian từ lịch trình bận rộn để nói chuyện, lắng nghe và thấu hiểu những người làm nên ý nghĩa cuộc đời bạn.

Tôi biết thế nào là yêu thương vô điều kiện
Tình yêu đó có thể là dành cho con cái, người yêu, chồng vợ, cha mẹ, hay anh chị em... Nếu bạn có thể cho đi mà không cần nhận lại, đó chính là tình yêu vô điều kiện. Cuộc sống có tình yêu vô điều kiện sẽ là những cuộc dạo chơi thú vị khiến chúng ta cảm thấy mình sống ý nghĩa hơn. Nó sẽ cho ta sức mạnh để vượt qua mọi khó khăn và tiếp tục làm những việc ý nghĩa cho người ta quan tâm.

Tình yêu là thứ đẹp đẽ và không thể đoán định trước. Mọi tình yêu bắt đầu từ việc ta biết yêu thương bản thân mình, chúng ta để nó lớn dần rồi san sẻ cho những người xung quanh. Khi yêu thương ai đó, bạn đừng nên đòi hỏi người ta phải thật hoàn hảo để xứng với những gì mình dành cho họ, bạn yêu thương họ bởi bạn nhìn thấy những khiếm khuyết và muốn bù đắp, giúp đỡ, thế thôi.

Tôi đã tha thứ cho những người từng làm tổn thương tôi
Chúng ta đều đã từng bị tổn thương bởi một ai đó vào một thời điểm nào đó trong cuộc sống. Có thể chúng ta bị bạc đãi, bị lừa dối, và trái tim ta đau. Có thể nỗi đau đó không lớn nhưng nó lại âm ỉ suốt một thời gian dài. Chúng ta chữa lành vết thương từng chút từng chút một, những cảm xúc tệ hại cứ luẩn quẩn trong đầu và phải mất một thời gian ta mới có thể quên đi.

Nhưng hận thù là kẻ thù lớn nhất của hạnh phúc, nó khiến ta quên mất những điều đẹp đẽ khác trong cuộc sống. Vì vậy tha thứ chính là giải phóng mình khỏi cãi cũi chật hẹp, nhỏ nhen để hòa vào những niềm vui lớn đang đợi ta trên con đường dài phía trước.

Tôi hoàn toàn
chịu trách nhiệm
về cuộc sống của mình
Hãy tự chịu trách nhiệm về những lựa chọn và sai lầm của mình, hãy sẵn sàng làm những gì có thể để khắc phục nếu sai sót xảy ra. Hãy tự chịu trách nhiệm với bản thân, đừng để ai đó kiểm soát vận mệnh cuộc đời bạn, đừng sống như một cây tầm gửi yếu đuối để mãi lệ thuộc vào suy nghĩ và quyết định của người khác thay vì dấn thân sống cuộc đời của mình.

Bạn là người duy nhất có thể thực sự kiểm soát cuộc đời mình. Tuy cuộc sống không dễ dàng nhưng ai mà chẳng gặp phải những khó khăn trắc trở. Hãy can đảm đương đầu để tận hưởng hết những niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống.

Tôi không hối tiếc
điều gì
Hãy đi theo tiếng gọi của trái tim, thực sự là chính mình, làm những việc khiến ta hạnh phúc, ở bên cạnh người có thể khiến ta vui cười. Hãy cười thật nhiều, yêu thương khi trái tim còn đập, nói những điều cần nói, giúp đỡ những ai có thể, trân trọng những gì mình có, tận hưởng thành công đến trong đời, học hỏi từ những sai lầm, biết tha thứ, chấp nhận từ bỏ những gì mình không thể kiểm soát. Cuối cùng, hãy luôn mỉm cười./.




Yêu nước ST.

ĐIỆN ẢNH VÀ TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM NỢ LỊCH SỬ NƯỚC NHÀ MỘT LỜI XIN LỖI ĐẦY NƯỚC MẮT

          Trong những năm gần đây, chưa bao giờ điện ảnh và truyền hình nước nhà lại phát triển rực rỡ đến vậy, hàng trăm hàng nghìn tập phim, bộ phim, cả điện ảnh và truyền hình ra mắt mỗi năm trên cả màn ảnh nhỏ và màn ảnh lớn, vô vàn các bộ phim truyền hình tâm lý tình cảm xã hội nở rộ, có thể nói là thời kỳ rực rỡ vàng son nhất. Tuy nhiên mô típ, kịch bản, tình tiết của những bộ phim này đều rất cũ. Một loạt những bộ phim quanh đi quẩn lại cũng chỉ có những diễn viên đấy, những kịch bản đấy, tình huống đấy, đôi lứa trai gái yêu đương nhăng nhít, tiểu tam ghen tuông vớ vẩn ba lăng nhăng, đánh ghen vùi dập số phận một con người quanh đi quẩn lại cũng chỉ có thế.
 
Những bộ phim này làm cho khán giả bị chìm đắm trong những thứ suy nghĩ vụn vặt nhỏ nhen tầm thường, ru ngủ tầng lớp thị dân, dân trí thế nào thì phim ảnh thế đấy, không có thời gian suy nghĩ những thứ lớn lao to tát vĩ đại hơn, không thể làm nên điều gì lớn lao cho xã hội được. 

Giống như Trúc Nhân đã từng hát trong Thật Bất Ngờ:
Thế nên, bây giờ
Điều quan tâm nhất
Là anh kia cặp với chị này
Anh kia lừa dối chị này
Anh kia đập đánh chị này
Và chị ngã xuống đây
Cư dân cùng với đồng bào
Thông tin miệng đói cồn cào
Ba hoa lời ra lời vào
Một ngày mới nhốn nhao-ao-ao-ao-ao
Nhốn nhao-ao-ao-ao-ao

Trong khi đó nhìn sang các nước khác, điện ảnh và truyền hình đa dạng về kịch bản, phong phú về chủ đề, từ tâm lý xã hội, thanh xuân vườn trường, học đường sôi động, trinh thám xã hội đen, tội phạm hình sự, chính luận chính trị, thương trường sóng gió đến lịch sử, dã sử, chiến tranh, xuyên không, khoa học viễn tưởng, kinh dị, đủ các kiểu thể loại, vô cùng phong phú, hay ho. 

Người ta thường đổ lỗi điện ảnh Việt Nam kém là do kiểm duyệt, nhưng kiểm duyệt ở Việt Nam còn quá nhẹ nhàng nếu so với sự kiểm duyệt ở nền điện ảnh của các quốc gia Hồi giáo như Iran chẳng hạn, nền điện ảnh không bạo lực, không cảnh nóng, không hở hang, vậy mà nền điện ảnh Iran vẫn phát triển đồ sộ, huy hoàng, đã từng giành 2 giải Oscar phim nói tiếng nước ngoài hay nhất, cùng vô số giải thưởng điện ảnh vinh dự tự hào khác nữa. 

Điện ảnh Việt Nam kém là do đạo diễn kém, diễn viên kém, công nghệ làm phim, kỹ xảo kém, biên kịch kém, các tác phẩm, tác giả chưa đủ tầm vóc,... Nhưng chẳng ai nhìn nhận vấn đề này, cứ đổ lỗi hết cho bên kiểm duyệt bóp nghẹt sự sáng tạo, phủi tay, thế là xong. 

Đã từ rất lâu mảng phim điện ảnh truyền hình Việt Nam về đề tài lịch sử cổ trang chiến tranh vắng bóng hoàn toàn trên màn ảnh nhỏ và màn ảnh lớn. Không nhà sản xuất phim nào chịu làm, không đạo diễn biên kịch nào chịu làm phim về đề tài này. Ai cũng biết những khó khăn khi làm phim về đề tài lịch sử: Không có tư liệu để tái hiện lịch sử, những nghiên cứu về lịch sử không đầy đủ, không có phim trường cổ trang, đầu tư trang thiết bị phục trang, binh khí, xây thành đắp lũy, kinh phí lớn hơn rất nhiều so với các phim thông thường, các cách diễn xuất của diễn viên cũng phải khác hẳn, diễn viên phải học thêm rất nhiều thứ mới diễn phim lịch sử cổ trang được: học cách xưng hô, cách cưỡi ngựa, võ thuật,... đủ thứ. Khó khăn như vậy nên không ai làm, chẳng ai muốn làm, dại gì mà làm, ai cũng chọn việc nhẹ nhàng, gian khổ sẽ dành phần ai ??? Làm mấy phim hài nhảm nhí, dễ dãi rẻ tiền, lấy cảnh nóng, đồng tính câu view cho nhanh, thu hồi vốn dễ dàng. 

Điện ảnh là một cuộc chơi khốc liệt, để làm một phim về đề tài lịch sử chiến tranh tiêu tốn ngay lập tức 100 tỷ đồng (4-5 triệu $), mà chưa biết có thu lại được gì không. Giá trị văn hóa nó không như dùng tiền để đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Không nhìn thấy được, khó để đo lường đong đếm. 

Trước đây năm 2010 chúng ta cũng đã từng nhờ, hợp tác với Trung Quốc để sản xuất một vài bộ phim lịch sử, nhưng sau đó, không có sau đó nữa, những bộ phim không bao giờ được công chiếu vì lý do gì ai cũng biết. 

Nhưng nếu bây giờ chúng ra không bắt tay vào làm, thế hệ bây giờ không bắt tay vào làm thì còn đợi đến lúc nào ??? Chúng ta chỉ biết xem phim lịch sử Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Âu Mỹ,... đến lúc nào nữa. 

Các nhà làm phim, các đạo diễn, biên kịch, diễn viên, quay phim,... đây là cơ hội để làm những bộ phim để đời, trở thành huyền thoại. 

Nếu muốn người dân thông thuộc lịch sử, tự hào về lịch sử dựng nước, giữ nước, truyền thống hào hùng của cha ông thì bản thân lịch sử phải mưa dầm thấm lâu, điện ảnh truyền hình phải chiếu phim lịch sử từ ngày này qua ngày khác, từ tháng này qua tháng khác, từ năm này qua năm khác, lịch sử Việt Nam ngấm dần vào từng trái tim khối óc của từng người dân Việt Nam. 

Lịch sử chúng ta quá hào hùng và oanh liệt:
Hai Bà Trưng xây nền độc lập
Ngô Quyền đánh tan quân Nam Hán, rồi thì Lý Thường Kiệt trên sông Như Nguyệt, Lê Thánh Tông đại phá quân Minh, rồi thì Tây Sơn Nguyễn Huệ, Nguyễn Ánh Gia Long, Bắc Nam Triều phân tranh, rồi kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, bảo vệ biên giới phía Bắc, biên giới Tây Nam,... có quá nhiều chất liệu lịch sử, kịch bản phim để các nhà làm phim có thể khai thác. Nhưng không ai làm. 

Không thể trông chờ vào nhà nước mãi được. Đã đến lúc phải có những tập đoàn tư nhân hùng mạnh, ví dụ như tập đoàn V chẳng hạn, đã đầu tư vào rất nhiều ngành nghề, nhưng vẫn thiếu V**Media, tập trung đầu tư vào công cuộc sản xuất phim. Nhà nước không đầu tư, không làm thì sứ mệnh vinh quang này đành phải giao cho các tập đoàn tư nhân làm vậy. 

Lịch sử đất nước 4000 năm, đất nước anh hùng, dân tộc anh hào, nhân dân anh dũng, thế hệ cha ông trong suốt chiều dài lịch sử giành lại độc lập dân tộc từ trong biển máu, dựng xây đất nước từ đống tro tàn, đứng lên chiến đấu bảo vệ đất nước chiến thắng bao cuộc chiến tranh, đánh bại biết bao kẻ thù xâm lược vậy mà điện ảnh và truyền hình không hề tương xứng với lịch sử quốc gia. Đó chính là bi kịch lớn nhất của nền điện ảnh Việt Nam, đó cũng là nỗi thất vọng lớn nhất, đối với những nhà quản lý văn hóa, những nhà làm phim, đạo diễn, diễn viên, biên kịch,... nước ta. 

Thế hệ già trước đây 7X 8X thì thông thuộc lịch sử Tàu, lớn lên qua những bộ phim Tàu, Tây Du Ký, Đông Chu Liệt Quốc, Thủy Hử, Tam Quốc Diễn Nghĩa,... rồi thì đủ các kiểu thể loại phim chưởng Kim Dung,... thế hệ trẻ 9X 10X sau này thì biết lịch sử Tàu thông qua Diên Hy Công Lược, Cung Tâm Kế,... rồi đủ thứ phim truyện ngôn tình các thể loại. Ngoài ra còn vô số phim lịch sử Hàn Quốc: Truyền thuyết Jumong, Nàng Đê Chang Kum, Nữ hoàng Sơn Đốc,... 

Thế hệ sau này, không những thông thuộc sử Tàu, mà còn thông thuộc sử Hàn, Nhật, Ấn Độ, Thái Lan,... 
Còn lịch sử Việt Nam, chẳng ai hình dung ra nó như thế nào, tất cả chỉ là mớ sách vở chữ nghĩa trên giấy hoặc cùng lắm là vài bức tranh vẽ vội, chẳng ai hình dung ra sao, hoặc có hình dung ra thì mỗi người hình dung một cách khác nhau, không đầy đủ, không thống nhất, không chính xác. Chẳng ai biết cha ông chúng ta ngày xưa đánh giặc như thế nào, trang phục, vũ khí trang thiết bị ra sao, đánh giặc với đội hình nào, bày binh bố trận ra sao, nghệ thuật chiến tranh đánh giặc, bao vây diệt viện, tiên phát chế nhân như thế nào, không ai biết, chẳng ai hay. 

Dòng phim lịch sử chiến tranh không ai làm, ngày 27/7, ngày thương binh liệt sĩ, cũng không có bộ phim mới nào được sản xuất, có chiếu thì chiếu lại những bộ phim cũ cách đây 30-40 năm, những năm tháng đói nghèo, nhưng lại làm ra những bộ phim lịch sử chiến tranh xuất sắc kinh điển. 

Ngoài biên giới hải đảo, vùng biển vùng trời mênh mông của chúng ta, các nước đế quốc bành chướng, huy động tàu thuyền, máy bay quần thảo, chưa bao giờ ngơi nghỉ, luôn có ý đồ nhăm nhe xâu xé. Trong nước còn vô vàn khó khăn, các thế lực thù địch chưa bao giờ ngơi nghỉ tìm cách chống phá chúng ta. Hơn lúc nào hết, đây là lúc thông qua điện ảnh truyền hình, khích lệ lòng yêu nước, tinh thần tự tôn, tự hào dân tộc, bỏ qua những ích kỷ vụn vặt tầm thường, cùng nhau đoàn kết vượt qua mọi khó khăn gian khổ, để đưa đất nước đến ngày vinh quang./.
Yêu nước ST.

NGUYỄN THÁI BÌNH, MỘT TẤM GƯƠNG TIÊU BIỂU CHO LỚP THANH NIÊN TRÍ THỨC YÊU NƯỚC TRONG NHỮNG NĂM CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC!

         Nguyễn Thái Bình là con thứ 2 trong 9 người con của bà Lê Thị Anh và ông Nguyễn Văn Hai một gia đình công chức nhỏ. Anh sinh ngày 14 tháng 1 năm 1948 tại thôn Trường Bình, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.

Lúc còn nhỏ Nguyễn Thái Bình học tiểu học tại Cần Giuộc, khi học xong tiểu học anh theo cha lên Sài Gòn và anh học tại trường Petrus Ký, Nguyễn Thái Bình rất thông minh, học giỏi. Những năm học ở trường Trung học, anh cần cù học tập tích cực tham gia các hoạt động xã hội.

Năm 1966, Nguyễn Thái Bình thi đỗ vào nhiều trường đại học, nhưng anh chọn vào học tại trường Cao đẳng Nông Lâm sản Ngư nghiệp. Tháng 3 năm 1968, sau khi đã tốt nghiệp, Nguyễn Thái Bình được cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) cấp học bổng đặc biệt cho anh sang Mỹ để học. Ở trên nước Hoa Kỳ, Nguyễn Thái Bình theo học tại trường Đại học Cộng đồng ở Fresno Califorlia một năm rồi chuyển đến trường Đại học Washington. Trong thời gian học tập tại đây, Nguyễn Thái Bình đã tham gia vào các cuộc biểu tình chống “chiến tranh Việt Nam”. Anh gửi thư cho Tổng thống Mỹ Nichxơn (Nixon) vạch trần những luận điệu hòa bình giả dối, xảo trá và tố cáo tội ác dã man của bọn Mỹ xâm lược trên đất nước Việt Nam. Nguyễn Thái Bình viết báo, làm thơ cổ vũ những người Việt Nam sống trên đất nước Hoa Kỳ hướng về tổ quốc, anh ra sức thuyết phục những người Hoa Kỳ yêu chuộng hòa bình và công lý để phản đối cuộc chiến tranh tại Việt Nam.

Ngày 10 tháng 2 năm 1972, Nguyễn Thái Bình cùng bạn học tại Hoa Kỳ đến Lãnh sự quán Ngụy quyền miền Nam ở Xan Phơranxixcô phản đối Mỹ - Thiệu đàn áp phong trào đấu tranh chính trị ở miền Nam, đòi trả tự do cho những người tham gia phong trào hòa bình ở Sài Gòn (Việt Nam), chồng bè lũ Mỹ - Thiệu, chống Việt Nam hóa chiến tranh. Sau đó, Nguyễn Thái Bình và sáu sinh viên khác bị trục xuất về nước.

Trước khi về nước, Nguyễn Thái Bình viết hai lá thư ngỏ, một cho “những người yêu chuộng hòa bình và công lý trên thế giới” và một lá gửi cho tổng thống Rixchard Nixon, trong thư Nguyễn thái Bình chỉ trích các tội ác của Mỹ đối với nhân dân Việt Nam.

Ngày 2 tháng 7 năm 1972, anh đã bị bọn Mỹ bắn chết khi máy bay vừa hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất.

Nguyễn Thái Bình, anh là một tấm gương tiêu biểu cho lớp thanh niên trí thức yêu nước. làm bùng lên ngọn lửa đấu tranh của học sinh, sinh viên miền Nam (Việt Nam) và sinh viên Mỹ lúc bấy giờ. Cuộc đời và cái chết bi hùng của anh đã chấn động dư luận báo chí đương thời.
Sau này, Nguyễn Thái Bình được Nhà nước Việt Nam tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân. Tên anh được đặt cho một con đường tại quận 1, thành phố Hồ Chí Minh, tại tỉnh Long An. Đặc biệt, còn có Quỹ học bổng Nguyễn Thái Bình, nơi ươm mầm, tiếp sức cho những tài năng tương lai của đất nước./.
Yêu nước ST.

NHỮNG VIÊN GẠCH MANG HÌNH QUỐC HUY!

         Có thể bạn chưa biết những viên gạch để xây dựng các công trình trên Quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa đều được in hình Quốc huy khẳng định chủ quyền Việt Nam.
Viên gạch được thiết kế rất đặc biệt và được nung theo đơn đặt hàng riêng: gạch chỉ có hai lỗ, rất dày và nặng khoảng 1kg. Điểm nhấn ấn tượng nhất là được in nổi hình Quốc huy nước Cộng hoà XHCN VN.
Đây là một trong những viên gạch đầu tiên được vận chuyển ra xây dựng chùa ở đảo Song Tử Tây, ngôi chùa đầu tiên của Quần đảo Trường Sa.
Những viên gạch được nâng niu, cẩn trọng từng động tác khi chuyển xuống đảo.
Tự hào Việt Nam!
Môi Trường ST.

Đoàn công tác Học viện Quốc phòng nghiên cứu thực tế tại tỉnh Cao Bằng

 Biên phòng - Ngày 6-4, tại khu vưc thác Bản Giốc (xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng), đoàn cán bộ, học viên Lớp Đào tạo cao cấp chỉ huy - tham mưu cấp chiến dịch, chiến lược, khóa 11, Học viện Quốc phòng do Trung tướng Trương Đức Nghĩa, Phó Giám đốc Học viện Quốc phòng làm trưởng đoàn có buổi nghiên cứu thực tế quân sự - quốc phòng trên địa bàn biên giới tỉnh Cao Bằng. Tham gia đoàn công tác có đại diện lãnh đạo Bộ Tư lệnh Quân khu I, Bộ Chỉ huy BĐBP và Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Cao Bằng.

Tại buổi tham quan, học tập, nghiên cứu, đoàn công tác nghe đại diện Bộ Chỉ huy BĐBP Cao Bằng giới thiệu về đường biên, hệ thống mốc quốc giới và tiềm năng phát triển du lịch tại khu vực thác Bản Giốc. Theo đó, những năm qua, Đảng ủy, Bộ Chỉ huy BĐBP Cao Bằng đã quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị, mệnh lệnh của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh BĐBP và nghị quyết của Tỉnh ủy Cao Bằng; chủ động tham mưu, đề xuất nhiều chủ trương, biện pháp giải quyết tốt các vụ việc xảy ra trên biên giới. Đồng thời, làm tốt công tác quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia; đấu tranh phòng, chống tội phạm; quản lý, kiểm soát xuất, nhập cảnh. Ngoài ra, đơn vị còn tích cực tham gia phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội tại địa phương, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị... 

Thay mặt đoàn công tác, Trung tướng Trương Đức Nghĩa cảm ơn Bộ Chỉ huy BĐBP Cao Bằng đã tạo điều kiện giúp đỡ đoàn trong quá trình nghiên cứu thực tế, giúp cán bộ, học viên của Học viện thu nhận được nhiều kiến thức bổ ích, làm cơ sở thực hiện hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, an ninh khi trở về công tác tại cơ quan, đơn vị, địa phương.

Son PB

Đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân tộc

 


Đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, mà hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức Đảng, được thực hiện bằng nhiều hình thức, biện pháp

Xác định chủ thể xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc là toàn thể dân tộc, bao gồm mỗi người dân, mỗi cộng đồng, cả hệ thống chính trị. Đây không phải là nhiệm vụ của riêng bất cứ giai cấp nào, càng không phải là việc riêng của Đảng, Nhà nước.

 Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, cơ sở vững chắc để xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bởi vì, Đảng là hạt nhân của hệ thống chính trị. Đảng lãnh đạo toàn xã hội. Đường lối đúng đắn của Đảng là yếu tố quan trọng hàng đầu để khơi dậy và phát huy sức mạnh toàn dân tộc. Đổi mới, chỉnh đốn, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng để Đảng đoàn kết, nhất trí cao, thật sự trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đào tạo, xây dựng một đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất và năng lực, gắn bó mật thiết với nhân dân là việc làm có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại.”2.

Đoàn kết trong Đảng, chính quyền từ Trung ương đến các địa phương phải xứng đáng là tấm gương sáng, làm hạt nhân lãnh đạo, làm nòng cốt cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mỗi đảng viên, cán bộ công chức phải thực sự là công bộc của dân, gương mẫu về phẩm chất, đạo đức, năng lực; đi đầu trong mọi việc là tấm gương cho nhân dân, lôi cuốn, tập hợp, giáo dục nhân dân trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Do đó, Đảng Cộng sản phải thực sự trí tuệ, trong sạch, vững mạnh, đủ năng lực tổ chức, lãnh đạo; đoàn kết vững chắc làm gương cho nhân dân. Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng phải đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng, lợi ích của nhân dân và yêu cầu của cách mạng. Đảng cần đổi mới phương thức lãnh đạo đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; cần có cơ chế, quy chế phối hợp công tác giữa các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị. Cán bộ, đảng viên phải thực sự là tấm gương của quần chúng về phẩm chất, năng lực, trách nhiệm; thực sự là công bộc của nhân dân.

 Phát huy sức mạnh toàn dân tộc là trách nhiệm của Nhà nước. Vì Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị, người tổ chức thực hiện đường lối của Đảng. Cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nguyên tắc: tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân; cán bộ, công chức phải thực sự là công bộc của nhân dân. Đảng, Nhà nước phải thường xuyên đối thoại, lắng nghe, tiếp thu ý kiến, giải quyết các khó khăn, vướng mắc của nhân dân.

 Phát huy sức mạnh toàn dân tộc là trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc. Là tổ chức liên minh chính trị, Mặt trận có vai trò rất quan trọng trong việc củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, thắt chặt mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước, góp phần tạo nên sự đồng thuận cao trong xã hội, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, tích cực tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh, gắn bó mật thiết với nhân dân.

 Giữ gìn và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, là trách nhiệm của mọi người dân, của cả dân tộc.

Đại đoàn kết toàn dân tộc phải được thực hiện bằng nhiều biện pháp, hình thức phù hợp, trong đó các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước có ý nghĩa quan trọng hàng đầu.

Tùy từng lực lượng khác nhau trong xã hội mà có biện pháp, hình thức tập hợp lực lượng khác nhau. Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo của mình thông qua đường lối, chính sách và liên hệ mật thiết với nhân dân. Nhà nước không ngừng đổi mới tổ chức, bộ máy, đẩy mạnh cải cách hành chính; chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; xây dựng đội ngũ công chức liêm chính, tôn trọng dân, gắn bó với nhân dân, phục vụ nhân dân..., đảm bảo mọi quyền lực thuộc về nhân dân. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội là nơi tập hợp, quy tụ, giáo dục  nhân dân; đại diện cho lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân, cho trí tuệ, nguyện vọng của nhân dân. Mặt trận và các đoàn thể phải không ngừng đổi mới tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động, lề lối, tác phong công tác để xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở liên minh giai cấp

 


Đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Quan điểm trên khẳng định sự nhất quán trong quan điểm của Đảng về vấn đề xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đoàn kết dân tộc là đường lối chiến lược, là mục tiêu và động lực của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới.

Đại hội XI tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố có ý nghĩa quyết định thắng lợi của cách mạng và sự nghiệp đổi mới ở nước ta. Đồng thời, phản ánh nhận thức mới của Đảng ta về vị trí, vai trò của các giai tầng trong xã hội, nhất là của tầng lớp trí thức. Trong cương lĩnh 1991, lần đầu tiên Đảng ta nêu lên khái niệm mới về khối liên minh công - nông - trí làm nền tảng cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là nhận thức mới của Đảng ta về vị trí, vai trò, của các giai tầng trong xã hội, nhất là tầng lớp trí thức trong điều kiện cách mạng khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ và kinh tế tri thức có vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất.

Khẳng định nguồn sức mạnh và động lực to lớn nhất của đại đoàn kết toàn dân tộc trong tiến trình của cách mạng, nhất là trong giai đoạn hiện nay. Theo đó, so với các động lực khác (vấn đề lợi ích và dân chủ xã hội...), đại đoàn kết toàn dân tộc là động lực tổng hợp và là động lực to lớn nhất. Chính vì vậy, Văn kiện Đại hội XI của Đảng có nêu lên 5 bài học lớn, trong có bài học: “không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đó là truyền thống quý báu và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta”. Đại hội XIII của Đảng xác định:     “Mọi hoạt động của hệ thống chính trị, của cán bộ đảng viên, công chức, viên chức phải phục vụ lợi ích của nhân dân. Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích trong xã hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân”.

Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc theo tinh thần đại hội XIII của Đảng

 


Đại hội XIII của Đảng nêu lên quan điểm chung là: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững”

Một số bài học kinh nghiệm rút ra trong xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực

 


Một là, trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam.

Hai là, đổi mới phải luôn luôn quán triệt quan điểm "dân là gốc", vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò làm chủ, tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của nhân dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.

Ba là, đổi mới phải toàn diện, đồng bộ, có bước đi phù hợp; tôn trọng quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, tập trung giải quyết kịp thời, hiệu quả những vấn đề do thực tiễn đặt ra.

Bốn là, phải đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên hết; kiên định độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động và tích cực hội nhập quốc tế trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi; kết hợp phát huy sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Năm là, phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực và phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và của cả hệ thống chính trị; tăng cường mối quan hệ mật thiết với nhân dân.

 

 

BẢN SẮC VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG HÙNG VƯƠNG

 


Đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh tỉnh Phú Thọ là trung tâm phát khởi của Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương. Lễ hội Đền Hùng và Giỗ Tổ Hùng Vương được tổ chức hàng năm khoảng một tuần vào đầu tháng 3 Âm lịch

Sự ra đời và tồn tại lâu dài của Đền Hùng và lễ hội Đền Hùng cùng Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là sự khẳng định niềm tin vào bản sắc truyền thống văn hóa đối với các thế hệ cha ông đi trước, những người đã đổ biết bao công sức và xương máu để dựng nước và giữ nước. Chính từ ý nghĩa tâm linh thiêng liêng ấy mà Lễ hội Đền Hùng đã trường tồn với thời gian, trường tồn cùng lịch sử dân tộc, đúng như câu ca dao được truyền tụng suốt nhiều thế kỷ qua:“Dù ai đi ngược về xuôi/Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng mười tháng ba”. Vua Hùng là vị Tổ dựng nước hay như nhân dân ta thường gọi là Quốc Tổ.

Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là di sản văn hóa phi vật thể bao gồm các tập quán xã hội, nghi lễ và sự kiện lễ hội liên quan đến Hùng Vương. Theo PGS, TS Đặng Văn Bài: “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương không chỉ là đỉnh cao của sự thăng hoa tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt từ xa xưa mà còn là biểu tượng văn hóa thiêng liêng của tình cảm yêu nước, thương người, được phát triển, nâng cao thành chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân văn Việt Nam. Nét đẹp đạo đức và văn hóa đó đã kết tinh thành giá trị bền vững trong văn hóa truyền thống của cả dân tộc”.

Giỗ Tổ Hùng Vương và Lễ hội Đền Hùng đã hình thành từ rất sớm và sự tồn tại của nó luôn gắn chặt với quá trình phát triển của lịch sử dân tộc. Với truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” và đạo lý “Ăn quả nhớ người trồng cây”, các Vua Hùng, vợ con vua và các tướng lĩnh thời Hùng Vương luôn được nhân dân các làng xã trên phạm vi cả nước tôn thờ.

Từ giữa thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVII, cả nước có 73 làng xã thờ Vua Hùng. Hiện nay có 1417 di tích thờ Hùng Vương và các nhân vật có liên quan đến thời đại Hùng Vương, phân bổ ở hầu hết các tỉnh thành  trong cả nước. Riêng tỉnh Phú Thọ có 345 di tích thờ Vua Hùng và các nhân vật, vị thần, những người có công với nước thời đại Hùng Vương.

Thời Lê (thế kỷ XV – XVII) lễ Giỗ Tổ Hùng Vương diễn ra trong ba ngày (từ mùng 9 đến 11 tháng 3 Âm lịch). Diễn trường của lễ hội bao gồm từ đình làng Cổ Tích  đến núi Hùng. Vua Lê Hiển Tông (1715 – 1786) khi về thắp hương tưởng niệm các Vua Hùng đã có thơ đề vịnh tại Đền Hùng: “Quốc tịch Văn Lang cổ/Vương thư Việt sử tiên/Hiển thừa thập bát đại/Hình thắng nhất tam xuyên/Cựu trưng cao phong bán/Sùng từ tuấn lĩnh biên/Phương dân ngung trắc dáng/Hương hỏa đáo kim truyền”.

Thế kỷ thứ XVII – XVIII do sự phát triển của dân địa phương các làng mới lập là làng Vi, làng Trẹo vốn gốc từ dân làng Cổ Tích, theo truyền thống văn hóa tín ngưỡng cùng làm lễ mở cửa đền vào ngày 10-3 (Âm lịch) hàng năm, lễ hội đã mở rộng trong cả một vùng rộng lớn với nhiều làng xã tham gia. Lễ hội Đền Hùng lúc đầu chỉ ở một làng, một vài làng rồi lan ra một vùng và lan rộng trong toàn quốc trở thành nghi lễ mang tính quốc gia.

Đây cũng là điểm độc đáo, khác biệt của văn hóa tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Việt Nam với tục thờ cúng tổ tiên ở các nước khác như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc… Giỗ Tổ ở các nước trên là sự độc quyền của Hoàng tộc, giới thượng lưu và giới tăng lữ, nếu của dân chúng thì chỉ tiến hành trong phạm vi một địa phương, còn Giỗ Tổ ở Việt Nam là của toàn dân tộc.

Thời kỳ nhà Nguyễn, theo lệ cứ 5 năm (vào những năm chẵn 5, chẵn 10), nhà nước đứng ra tổ chức lễ hội Giỗ Tổ, những năm lẻ do địa phương đăng cai tổ chức. Diễn trường trung tâm của lễ hội là núi Hùng và xung quanh chân núi Hùng. Tới năm 1917, quan tuần phủ Phú Thọ Lê Trung Ngọc trình Bộ lễ ấn định ngày Quốc lễ vào ngày mùng 10 tháng 3 (Âm lịch, trước ngày húy của Vua Hùng một ngày, ngày 11 tháng 3) để dân sở tại làm lễ. Thời gian tổ chức lễ hội thường bắt đầu từ ngày mùng 8 đến ngày mùng 10 tháng 3 (Âm lịch).

Tiết trời tháng 3 mùa xuân, thời tiết rất đẹp, trước hội bao giờ cũng có những trận mưa rào đầu hạ có ý nghĩa như là “tráng đền”, rửa sạch đền trước khi vào hội. Những trận mưa ấy có tác dụng làm cho cây rừng Đền Hùng đã xanh lại càng xanh hơn, không khí trong lành, mát mẻ, dễ chịu khiến du khách đi dự lễ hội cảm thấy mình được trở về thuở hoang sơ mở nước.

Các thủ tục hành lễ được tuân theo quy định rất chặt chẽ. Phần lễ được diễn ra trang nghiêm, trọng thể tại các đền và chùa Thiên Quang trên núi Nghĩa Lĩnh. Phần hội được tổ chức trong một không gian rộng khoảng vài km2 với nhiều trò chơi dân gian phong phú và hấp dẫn, tạo ra cho lễ hội không khí tấp nập, náo nhiệt. Vào ngày Giỗ Tổ, “những người dân ở các làng xung quanh trong trang phục lộng lẫy thi kiệu, thi làm lễ vật, chọn ra chiếc kiệu đẹp nhất và lễ vật ngon nhất cùng chiêng, trống, nghi trượng rước lên đền Hùng để thờ cúng Ngài. Cộng đồng làm lễ vật là những đặc sản từ gạo như bánh chưng, bánh giầy, và diễn xướng dân gian như đánh trống đồng, hát xoan, cầu cúng. Việc thờ vọng Hùng Vương ở các nơi thờ tự trong nước suốt năm”

Còn các kiệu của các làng xã khác đoạt giải thấp hơn thì rước xung quanh để mọi người chiêm ngưỡng và tạo không khí trang nghiêm cho lễ hội. Ngoài ra, nhiều trò diễn, các trò chơi dân gian như: Đánh trống đồng, hát Xoan, hát Ghẹo, đâm đuống, rước lúa thần, đấu vật, chọi gà, kéo lửa thổi cơm thi, đánh cờ người… khiến cho không khí ngày hội thêm tưng bừng, phấn khởi. Bên cạnh đó, những hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao hiện đại cũng được tổ chức để phục vụ đồng bào cả nước về dự lễ hội, tạo nên màu sắc của lễ hội càng thêm vui tươi, rực rỡ.

Hằng năm, đồng bào ta trên mọi miền Tổ quốc và kiều bào ta ở nước ngoài, hàng chục triệu người hội tụ về Đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh thuộc thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ “để tưởng nhớ tổ tiên và cầu mong mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu, cầu may mắn, sức khỏe”.     

Hai năm qua do đại dịch Covid -19, để đảm bảo an toàn cho nhân dân, tỉnh Phú Thọ chỉ tổ chức phần lễ, không tổ chức phần hội nên hạn chế nhiều số người về dự lễ hội Đền Hùng.

Cùng với giá trị lịch sử, lòng yêu nước, giá trị văn hóa tâm linh…, “Truyền thống tôn thờ Hùng Vương là dịp để hiểu biết về cội nguồn dân tộc, giá trị đạo đức và bản sắc văn hóa Việt Nam… đây là một thực hành thể hiện lòng tri ân tổ tiên nhằm nâng cao niềm tự hào và cố kết xã hội”

Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương có vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của người Việt. Với những giá trị đặc trưng và lớn lao, ngày 6-12-2012, “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” đã được UNESCO vinh danh là “Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại”.

NHIỆM VỤ CỦA ĐẢNG VIÊN TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Đảng, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước; đồng thời đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch, những luận điệu xuyên tạc, bịa đặt, thông tin xấu độc, cố tình bôi xấu cán bộ, đảng viên, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, chia rẽ đoàn kết, gây mất niềm tin trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân…
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn chú trọng công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, coi đây là một bộ phận quan trọng trong công tác tư tưởng, lý luận của Đảng, một nội dung cốt lõi của công tác xây dựng Đảng.
Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị xác định rõ: “Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng là một nội dung cơ bản, sống còn của công tác xây dựng Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng tuyên giáo các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị-xã hội các cấp; của từng địa phương, cơ quan, đơn vị và của từng cán bộ, đảng viên”.
Thực tế thời gian qua cho thấy liên tục xuất hiện một số cá nhân đăng tải, chia sẻ, bình luận trên mạng xã hội những thông tin phiến diện, thiếu chính xác, chưa được kiểm chứng hoặc thông tin về những vụ việc đang trong quá trình điều tra, chưa có kết luận chính thức… dẫn đến tâm lý hoang mang, phản ứng trái chiều trong dư luận xã hội, tạo cơ hội cho các thế lực thù địch và các đối tượng phản động, cực đoan chính trị tuyên truyền xuyên tạc, chống phá gây mất ổn định chính trị, kinh tế, xã hội. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đang sử dụng không gian mạng để chống phá trực diện khuếch trương thanh thế, cổ súy “giá trị” văn hóa phương Tây. Chúng lập những tài khoản, website giả mạo các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo bộ, ngành, địa phương, những người có uy tín, nhân vật nổi tiếng… để tung tin gieo rắc hoài nghi trong xã hội, nhất là trước những vấn đề nhạy cảm, kích động, lôi kéo người dân tụ tập trái phép, biểu tình, phá rối an ninh trật tự và có các hành vi phạm pháp.
Theo Bộ Thông tin-Truyền thông, từ đầu năm 2020 đến nay, qua rà quét, giám sát, Bộ đã gỡ bỏ gần 400 trang giả mạo tên các đồng chí Trung ương, 4.500 tin bài xấu độc trên Facebook và 30.000 video xấu độc trên Youtube.
Trung tâm giám sát xử lý an toàn thông tin mạng quốc gia có thể rà soát, phân tích, xử lý khoảng 300 triệu tin giả, tin xấu độc mỗi ngày; tỷ lệ tháo gỡ các video xấu, độc trên kênh Youtube hiện nay đã lên đến 90%; mỗi tháng gỡ bỏ hàng ngàn video xấu độc. 
Năm 2020 Sở Thông tin - Truyền thông tỉnh Thanh Hóa đã phối hợp tham mưu phát hiện, ngăn chặn và xử lý một số vụ việc lợi dụng danh nghĩa báo chí để trục lợi và vi phạm pháp luật trong hoạt động báo chí; xử lý nhiều cá nhân đăng tải thông tin sai sự thật trên mạng xã hội; rà soát và phối hợp với các đơn vị của Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện gỡ bỏ nhiều video xấu độc trên mạng xã hội.
Để phòng ngừa, ngăn chặn hiệu quả tác động từ thông tin xấu, độc trên mạng xã hội, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên cần:
1. Nhận thức đầy đủ, sâu sắc những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, coi đó là nền tảng tinh thần của xã hội; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Tiếp tục thực hiện nghiêm các Nghị quyết TW 4 khoá (XI, XII), Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị gắn với các quy định về nêu gương của cán bộ, đảng viên; tự giác tu dưỡng rèn luyện nâng cao trình độ chính trị, trau dồi đạo đức cách mạng.
2. Tích cực đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng, cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; đồng thời luôn tỉnh táo, cảnh giác, chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả mọi âm mưu, thủ đoạn, hành động chống phá của các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội chính trị, những phần tử bất mãn. Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ; tỉnh táo, cân nhắc kỹ lưỡng trước khi phát ngôn, chia sẻ nhận định, đánh giá về vấn đề, sự kiện, hiện tượng nào đó.
3. Chú trọng nâng cao ý thức tự giác, kỷ luật trong khi tiếp xúc thông tin; nắm vững và chấp hành tốt các quy định về quyền thông tin, phạm vi thông tin theo quy định của Hiến pháp, Luật Tiếp cận thông tin và Luật An ninh mạng. Khi tham gia mạng xã hội cần nghiêm túc thực hiện điều lệ và quy định kỷ luật của Ðảng, của tổ chức mà mình là thành viên, đồng thời thể hiện là công dân gương mẫu.
4. Nhiệm vụ của mỗi cán bộ, đảng viên trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng còn xuất phát từ những hành động cụ thể gắn với công việc, cuộc sống hằng ngày; không xa hoa, lãng phí, không gây mất đoàn kết nội bộ. Tăng cường đăng tải những thông tin chính thống, lan tỏa những thông điệp tốt đẹp mỗi ngày, đồng thời phản biện lại những thông tin sai trái, phiến diện của các thế lực thù địch trên không gian mạng./.

Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới

Hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức xuyên tạc, đưa ra những quan điểm sai trái với mưu đồ xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà trọng tâm là xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng. Bài viết phân tích cơ sở lý luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; ý đồ phá hoại của các thế lực thù địch, phản động và tình hình bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đề xuất giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới.



1. Cơ sở lý luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Ngày 22/10/2018, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Nghị quyết nêu rõ: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”(1). Đó là nội dung cơ bản, hệ trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng tuyên giáo các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu. Do đó, cần nhận diện rõ nền tảng tư tưởng của Đảng ta đã được quy định trong Điều lệ Đảng: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn của đất nước để đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân”. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản”.

Cùng với đó, cần phải nhận diện chính xác những nhóm đối tượng đang ra sức chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay, đó là:

Một là, nhóm đối lập về hệ tư tưởng. Đảng ta là hệ tư tưởng vô sản thì những người theo hệ tư tưởng tư sản, kể cả tàn dư phong kiến sẽ quyết liệt chống lại chúng ta.

Hai là, các thế lực thù địch về chính trị luôn chống lại chế độ XHCN của chúng ta, với mục đích làm con đường phát triển đất nước của Đảng chệch hướng, thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam.

Ba là, những người vốn là đảng viên cộng sản nhưng không chịu rèn luyện, tu dưỡng, học tập, nâng cao tư tưởng, đạo đức cách mạng dẫn tới tha hóa về tư tưởng chính trị, xa rời chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thậm chí là phai nhạt lý tưởng, “tự chuyển hóa, tự diễn biến” trong nội bộ.

Nhận diện các nhóm đối tượng nêu trên cho thấy, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng dù rất khó khăn, phức tạp và lâu dài, nhưng khó khăn và phức tạp đến đâu cũng phải làm để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Các thế lực thù địch bao gồm cả những người nghiên cứu lý luận, thực tiễn ở các nước trên thế giới trong cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa CNXH và chủ nghĩa tư bản. Ngay ở các nước tư bản phát triển, những nhà hoạt động chính trị thuộc giới cầm quyền có tư tưởng tư bản theo kiểu truyền thống và các nhà hoạt động chính trị thuộc giới cầm quyền có tư tưởng XHCN cũng đấu tranh lẫn nhau. Các lực lượng cực đoan người Việt ở nước ngoài luôn lôi kéo, kết hợp với những đối tượng chống đối, bất mãn ở trong nước lập ra các tổ chức để chống phá cách mạng nước ta. Một số cán bộ, đảng viên (trong đó có cả những đảng viên đã từng giữ chức vụ cao trong hệ thống chính trị) suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Nhóm người này không khó để nhận ra, nhưng lại rất khó đấu tranh. Đây là những người phản bội lại lý tưởng cộng sản và nguyên nhân của sự phản bội đó đôi khi lại bắt nguồn từ sự bất mãn, không đồng ý một số vấn đề cụ thể trong chính sách, ứng xử của những cơ quan, đơn vị nơi người đó công tác(2).

2. Sự phá hoại của các thế lực thù địch, phản động và nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

2.1. Sự phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng của các thế lực thù địch, phản động

Sau nhiều thập kỷ thực hiện chính sách thù địch, chống phá không đạt hiệu quả, các thế lực phản động ở trong nước và nước ngoài đang thay đổi phương thức hoạt động. Tuy nhiên, mục tiêu của họ vẫn không thay đổi là nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, “phi chính trị hóa”, vô hiệu hóa quân đội, tiến tới xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam. Họ tấn công, phủ định, xuyên tạc học thuyết Mác - Lênin, đưa ra các luận điệu cổ vũ cho bạo lực, chiến tranh; phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò và thành tựu lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngoài ra, họ còn bôi xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước với nhiều thủ đoạn tinh vi; chống phá chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước.

Phương thức chống phá của họ chủ yếu là sử dụng phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là xuất bản báo chí ở nước ngoài, sản xuất băng, đĩa hình chuyển về trong nước; tài trợ cho một số cơ quan báo chí nước ngoài chuyên chống phá Việt Nam… Họ sử dụng internet và truyền thông xã hội để chống phá; lợi dụng  những hạn chế trong quản lý nhà nước để kích động biểu tình trái phép và xuyên tạc đường lối; tổ chức các hội thảo đòi xem xét lại các vấn đề liên quan đến lịch sử… Cách làm của họ âm thầm và lâu dài nhưng tác hại thực sự rất khó lường. Ngang ngược hơn, họ còn đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013, đòi đa đảng; phá bỏ nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ; vu cáo Đảng chiếm quyền của dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền, “độc đoán, đảng trị”; đối lập Đảng với Nhà nước và đối lập Đảng, Nhà nước với nhân dân...

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch còn lôi kéo, kích động một bộ phận người dân và cả một số cán bộ hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo vào các mục đích sai trái, bất hợp pháp, gây ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội... Đây cũng là những vấn đề cần được nhận diện đầy đủ để có biện pháp, phương hướng xử lý, đấu tranh phù hợp, hiệu quả(3).

2.2. Thực trạng công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Trong những năm qua, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần ngăn chặn và đẩy lùi các âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố và tăng cường niềm của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế như: chưa đa dạng hóa các hình thức thông tin, chất lượng thông tin chưa hoàn toàn đáp ứng nhu cầu của người dân; chưa tích cực, chủ động đấu tranh phản bác các thông tin, quan điểm sai trái, thù địch; chưa phát huy vai trò giám sát, phản biện của các cơ quan báo chí, đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội...

Chưa hoàn toàn chủ động định hướng, cung cấp kịp thời để làm chủ thông tin, lấy thông tin tích cực, chính thống đấu tranh chống lại các thông tin sai trái, bịa đặt, vu cáo, phản động trên mạng xã hội, internet. Việc khai thác, phát triển những tiện ích, lợi thế của thông tin điện tử, mạng xã hội… còn hạn chế. Việc giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại chưa được quan tâm đúng mức; chưa làm tốt việc dự báo, định hướng để góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Công tác tuyên truyền, quảng bá hình ảnh Việt Nam ổn định và phát triển, nâng cao uy tín, vị thế và ảnh hưởng của Việt Nam ở khu vực và trên trường quốc tế còn hạn chế. Việc kết hợp đưa thông tin ra nước ngoài và thông tin chính thống từ thế giới vào Việt Nam chưa chặt chẽ, hiệu quả; do đó chưa hạn chế được nhiều tác động tiêu cực của những thông tin, luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực cơ hội, thù địch.

Chưa phát triển nhanh, mạnh, vững chắc với cơ cấu, quy mô hợp lý các loại hình thông tin theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, chất lượng, hiệu quả, phù hợp xu thế phát triển khoa học và công nghệ, thông tin, truyền thông thế giới, đáp ứng quyền tiếp cận thông tin của nhân dân, phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, ngang tầm khu vực và thế giới… Vẫn còn tình trạng thông tin thiếu cân đối, chưa đảm bảo sự đồng đều về phân bố và khoảng cách hưởng thụ thông tin của nhân dân giữa các vùng, miền(4).

3. Giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới

Một là, tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội; xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng; đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục đối với các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, nhằm nâng cao tinh thần, trách nhiệm, khả năng chủ động đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch.

Hai là, tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta trong tình hình mới. Hệ thống hóa, phổ biến những thành tựu lý luận mà Đảng ta đã đạt được trên cơ sở vận dụng đúng đắn, sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới. Tiếp tục khẳng định bản chất và mô hình của thể chế chính trị và bộ máy nhà nước đã được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013. Đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch theo hướng chủ động, có tính thuyết phục cao, hấp dẫn. Khẩn trương thực hiện nghiêm quy hoạch báo chí đã được phê duyệt. Chủ động tăng cường thông tin tích cực đi đôi với ngăn chặn có hiệu quả, xử lý, xóa bỏ thông tin xấu, độc trên internet, mạng xã hội.

Ba là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh, Điều lệ Đảng. Siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong Đảng. Các cấp ủy và tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn; nghiêm cấm để lộ bí mật của Đảng, Nhà nước, lan truyền những thông tin sai lệch hoặc tán phát những đơn thư có nội dung xấu, xuyên tạc, vu khống, kích động. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý và sử dụng internet, mạng xã hội. Trong đó, chú trọng xây dựng, hoàn thiện pháp luật và có các giải pháp kỹ thuật phù hợp với sự phát triển nhanh của internet, mạng xã hội. Phát huy trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, trước hết là người đứng đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch(5),...

Bốn là, tập trung đổi mới nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng; hệ thống hoá, phổ biến các thành tựu lý luận trong thời gian qua; nâng cao chất lượng nghiên cứu, học tập nghị quyết để vận dụng vào thực tiễn; đổi mới nội dung, phương thức nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước(6); phát huy vai trò của báo chí trong việc tuyên truyền chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; xử lý nghiêm khắc, đúng pháp luật đối với đảng viên, cán bộ vi phạm các quy định, Điều lệ Đảng... Bên cạnh “chống”, cần tăng cường biện pháp “xây”,  thực hiện tốt công tác xây dựng Đảng ở cơ sở; giải quyết có hiệu quả khiếu nại, tố cáo; tổ chức thực hiện tốt các nghị quyết của Đảng. Các địa phương sớm kiện toàn tổ chức tuyên giáo, xây dựng đội ngũ cán bộ sẵn sàng “phản ứng nhanh” với những thông tin sai trái, thù địch trên không gian mạng. Tích cực, chủ động cung cấp những thông tin chính thống để định hướng dư luận về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước...

Năm là, Ban Tuyên giáo các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên cần đẩy mạnh tuyên truyền Chỉ thị số 35-CT/TW của Bộ Chính trị về Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII của Đảng. Tuyên truyền sâu rộng chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Bên cạnh đó, cần đánh giá lại “tâm lý” xã hội hiện nay, trong đó phải phân tích sâu đến từng giai tầng xã hội để đánh giá đúng thực trạng nhận thức, nhu cầu, nguyện vọng của các đối tượng, từ đó có cách thức tổ chức đấu tranh cho phù hợp, đạt hiệu quả cao(7)./.

"Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân...”

 

“Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Đó là lời khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam nhân kỷ niệm lần thứ 20 Ngày thành lập (22-12-1944 / 22-12-1964) và đó cũng chính là truyền thống vẻ vang của Quân đội ta, là chuẩn mực của Bộ đội Cụ Hồ.

QĐND Việt Nam được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, luôn vững vàng trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, hy sinh phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xứng đáng với vai trò là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị đặc biệt tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Trung với Đảng, trung với nước, hiếu với dân trở thành phẩm chất hàng đầu của người cách mạng và mỗi quân nhân trong QĐND Việt Nam. Phẩm chất đó là cơ sở vững chắc của sức mạnh đoàn kết, thống nhất về tư tưởng và hành động; là động lực mạnh mẽ thúc đẩy cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn nêu cao ý chí quyết tâm, huy động mọi sức lực và trí tuệ, phấn đấu vươn lên hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Trung với Đảng, trung với nước của Quân đội ta trước hết thể hiện ở sự tuyệt đối phục tùng sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước, là trung thành với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước. Hiếu với dân là phải gắn bó với nhân dân, gần gũi nhân dân, dựa vào dân, nắm vững dân tình, dân tâm, dân trí, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, để dân tin, dân yêu, dân giúp đỡ, bao bọc chở che.

Trong suốt hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, cùng với toàn dân tộc kinh qua các cuộc trường chinh kháng chiến, QĐND Việt Nam luôn kiên cường, bất khuất dù phải đối mặt với đế quốc, thực dân hung bạo, với niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng, thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, với tinh thần tự tôn dân tộc. Tinh thần bất khuất, kiên trung, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân đã được lớp lớp cán bộ, chiến sĩ kế thừa, phát huy, làm cho bản chất và truyền thống cách mạng của Quân đội ta càng thêm sâu sắc, phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ ngày càng tỏa sáng. Đó là cội nguồn tạo nên sức mạnh thần kỳ, giúp Quân đội ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách, từng bước tiến lên chính quy, hiện đại, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong bài “Đạo đức cách mạng” đăng trên Tạp chí Học tập số 12 (tháng 12-1958), khẳng định: “Đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào, người đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết”. Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, xuất hiện tương đối sớm và có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội. Hồ Chí Minh là người bàn nhiều về đạo đức, nhất là đạo đức cách mạng; theo Bác, đạo đức không chỉ là “gốc”, là nền tảng, là sức mạnh và nhân tố chủ chốt của người cách mạng, mà còn là thước đo lòng cao thượng của con người, là gốc của cây, ngọn nguồn của sông nước. Đối với người đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, thì điều đầu tiên và vô luận trong mọi hoàn cảnh phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết. Ở đây chính là việc đảng viên thực hiện trọn vẹn lời hứa tại lễ kết nạp đảng viên và giải quyết tốt 3 mối quan hệ cơ bản của mỗi con người (với mình, với người và với việc). Người đảng viên có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại... cũng không rụt rè lùi bước, khi gặp thuận lợi và thành công vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, khiêm tốn, chất phác, không công thần, địa vị, kèn cựa hưởng thụ, thật sự trở thành người “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Người đảng viên thật sự có đức thì bao giờ cũng luôn cố gắng học tập, nâng cao trình độ, rèn luyện năng lực để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, lớp lớp cán bộ, đảng viên trong quân đội luôn không ngừng phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện, trở thành hạt nhân lãnh đạo, trung tâm đoàn kết và là tấm gương sáng về tinh thần sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì CNXH, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua; thuyết phục, chinh phục cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền bằng chính đạo đức cách mạng, năng lực, trách nhiệm, tinh thần chịu đựng, vượt qua khó khăn, gian khổ, tận tâm, tận lực, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trong giai đoạn hiện nay, để xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, giữ vững và không ngừng phát huy tốt phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với việc xây dựng, rèn luyện và phát huy tính tiền phong gương mẫu, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội; nhất là đối với đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp.

 

“Chúng ta toàn dân, giáo cũng như lương, đoàn kết kháng chiến để Tổ quốc được độc lập, tôn giáo được tự do”. Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thư gửi đồng bào công giáo nhân dịp Lễ Noel năm 1947.

Đây là thời điểm diễn ra Chiến dịch Việt Bắc Thu-Đông năm 1947, thực dân Pháp tiến hành kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh”, mở cuộc hành quân Xanh-tuya càn quét vùng tứ giác Tuyên Quang - Thái Nguyên - Phủ Lạng Thương - Việt Trì, nhằm tiêu diệt đầu não kháng chiến của Việt Minh, để hoàn tất việc tái chiếm Đông Dương. Nhưng chúng đã bị các lực lượng của ta, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh bại, buộc Pháp phải rơi vào bẫy “đánh lâu, thắng lâu”, kéo căng lực lượng do Việt Minh đã giăng sẵn và cuối cùng là thất bại hoàn toàn vào ngày 7-5-1954 tại Điện Biên Phủ.

Dù ở nơi chiến khu rừng núi xa xôi, đường sá cách trở, dù phải đối mặt với bao hiểm nguy của cuộc càn quét, tấn công tổng lực của thực dân Pháp, dù bận trăm công nghìn việc của Chính phủ lâm thời... nhưng trước sự kiện trong đại của đồng bào công giáo, Hồ Chí Minh vẫn dành thời gian để viết thư chúc mừng và động viên. Trong thư, Bác Hồ đã nhắn nhủ đồng bào ta, dù giáo cũng như lương phải đoàn kết để kháng chiến chống lại thực dân xâm lược, bảo vệ độc lập của Tổ quốc và tự do cho các tôn giáo.

Đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo là một nội dung quan trọng, nhất quán trong các văn kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nước ta; là truyền thống tốt đẹp ngàn đời của dân tộc ta. Đã là người Việt Nam, dù theo tôn giáo, tín ngưỡng hay không theo tôn giáo, tín ngưỡng nào cũng có chung một dân tộc, đều là con cháu của dòng dõi Lạc Hồng.

Thực hiện chức năng đội quân công tác, các đơn vị quân đội luôn quán triệt sâu sắc và tích cực vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo; sống tốt đời, đẹp đạo, đồng hành cùng dân tộc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Kiên quyết đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch xuyên tạc, chống phá đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về tôn giáo, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết lương, giáo và truyền bá các tà đạo trái phép; giữ vững và tăng cường mối quan hệ đoàn kết, gắn bó máu thịt quân-dân.

“... phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết”

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong bài “Đạo đức cách mạng” đăng trên Tạp chí Học tập số 12 (tháng 12-1958), khẳng định: “Đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào, người đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết”.

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, xuất hiện tương đối sớm và có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội. Hồ Chí Minh là người bàn nhiều về đạo đức, nhất là đạo đức cách mạng; theo Bác, đạo đức không chỉ là “gốc”, là nền tảng, là sức mạnh và nhân tố chủ chốt của người cách mạng, mà còn là thước đo lòng cao thượng của con người, là gốc của cây, ngọn nguồn của sông nước. Đối với người đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, thì điều đầu tiên và vô luận trong mọi hoàn cảnh phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết. Ở đây chính là việc đảng viên thực hiện trọn vẹn lời hứa tại lễ kết nạp đảng viên và giải quyết tốt 3 mối quan hệ cơ bản của mỗi con người (với mình, với người và với việc).

Người đảng viên có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại... cũng không rụt rè lùi bước, khi gặp thuận lợi và thành công vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, khiêm tốn, chất phác, không công thần, địa vị, kèn cựa hưởng thụ, thật sự trở thành người “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Người đảng viên thật sự có đức thì bao giờ cũng luôn cố gắng học tập, nâng cao trình độ, rèn luyện năng lực để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, lớp lớp cán bộ, đảng viên trong quân đội luôn không ngừng phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện, trở thành hạt nhân lãnh đạo, trung tâm đoàn kết và là tấm gương sáng về tinh thần sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì CNXH, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua; thuyết phục, chinh phục cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền bằng chính đạo đức cách mạng, năng lực, trách nhiệm, tinh thần chịu đựng, vượt qua khó khăn, gian khổ, tận tâm, tận lực, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Trong giai đoạn hiện nay, để xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, giữ vững và không ngừng phát huy tốt phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với việc xây dựng, rèn luyện và phát huy tính tiền phong gương mẫu, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội; nhất là đối với đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp.