Thứ Năm, 7 tháng 4, 2022
ĐỜI NGƯỜI CHỈ SỐNG CÓ MỘT LẦN, PHẢI SỐNG SAO CHO KHỎI XÓT XA, ÂN HẬN!
ĐIỆN ẢNH VÀ TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM NỢ LỊCH SỬ NƯỚC NHÀ MỘT LỜI XIN LỖI ĐẦY NƯỚC MẮT
NGUYỄN THÁI BÌNH, MỘT TẤM GƯƠNG TIÊU BIỂU CHO LỚP THANH NIÊN TRÍ THỨC YÊU NƯỚC TRONG NHỮNG NĂM CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC!
NHỮNG VIÊN GẠCH MANG HÌNH QUỐC HUY!
Đoàn công tác Học viện Quốc phòng nghiên cứu thực tế tại tỉnh Cao Bằng
Biên phòng - Ngày 6-4, tại khu vưc thác Bản Giốc (xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng), đoàn cán bộ, học viên Lớp Đào tạo cao cấp chỉ huy - tham mưu cấp chiến dịch, chiến lược, khóa 11, Học viện Quốc phòng do Trung tướng Trương Đức Nghĩa, Phó Giám đốc Học viện Quốc phòng làm trưởng đoàn có buổi nghiên cứu thực tế quân sự - quốc phòng trên địa bàn biên giới tỉnh Cao Bằng. Tham gia đoàn công tác có đại diện lãnh đạo Bộ Tư lệnh Quân khu I, Bộ Chỉ huy BĐBP và Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Cao Bằng.
Tại buổi tham quan, học tập, nghiên cứu, đoàn công tác nghe đại diện Bộ Chỉ huy BĐBP Cao Bằng giới thiệu về đường biên, hệ thống mốc quốc giới và tiềm năng phát triển du lịch tại khu vực thác Bản Giốc. Theo đó, những năm qua, Đảng ủy, Bộ Chỉ huy BĐBP Cao Bằng đã quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị, mệnh lệnh của Đảng ủy, Bộ Tư lệnh BĐBP và nghị quyết của Tỉnh ủy Cao Bằng; chủ động tham mưu, đề xuất nhiều chủ trương, biện pháp giải quyết tốt các vụ việc xảy ra trên biên giới. Đồng thời, làm tốt công tác quản lý, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới quốc gia; đấu tranh phòng, chống tội phạm; quản lý, kiểm soát xuất, nhập cảnh. Ngoài ra, đơn vị còn tích cực tham gia phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội tại địa phương, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị...
Thay mặt đoàn công tác, Trung tướng Trương Đức Nghĩa cảm ơn Bộ Chỉ huy BĐBP Cao Bằng đã tạo điều kiện giúp đỡ đoàn trong quá trình nghiên cứu thực tế, giúp cán bộ, học viên của Học viện thu nhận được nhiều kiến thức bổ ích, làm cơ sở thực hiện hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, an ninh khi trở về công tác tại cơ quan, đơn vị, địa phương.
Son PB
Đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân tộc
Đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị,
mà hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức Đảng, được thực hiện bằng nhiều hình thức,
biện pháp
Xác định chủ thể xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc là toàn thể dân
tộc, bao gồm mỗi người dân, mỗi cộng đồng, cả hệ thống chính trị. Đây không
phải là nhiệm vụ của riêng bất cứ giai cấp nào, càng không phải là việc riêng
của Đảng, Nhà nước.
Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân,
cơ sở vững chắc để xây dựng và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân
tộc. Bởi vì, Đảng là hạt nhân của hệ thống chính trị. Đảng
lãnh đạo toàn xã hội. Đường lối đúng đắn của Đảng là yếu tố quan trọng hàng đầu
để khơi dậy và phát huy sức mạnh toàn dân tộc. Đổi mới, chỉnh đốn, nâng cao
năng lực và sức chiến đấu của Đảng để Đảng đoàn kết, nhất trí cao, thật sự
trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đào tạo, xây dựng
một đội ngũ cán bộ, đảng viên đủ phẩm chất và năng lực, gắn bó mật thiết với
nhân dân là việc làm có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp đại đoàn kết
toàn dân tộc. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng xác định: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của
Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng
cố tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ
nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý
chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại.”2.
Đoàn kết trong Đảng, chính quyền từ Trung ương đến các địa phương phải
xứng đáng là tấm gương sáng, làm hạt nhân lãnh đạo, làm nòng cốt cho khối đại
đoàn kết toàn dân tộc. Mỗi đảng viên, cán bộ công chức phải thực sự là công bộc
của dân, gương mẫu về phẩm chất, đạo đức, năng lực; đi đầu trong mọi việc là
tấm gương cho nhân dân, lôi cuốn, tập hợp, giáo dục nhân dân trong khối đại
đoàn kết toàn dân tộc. Do đó, Đảng Cộng sản phải thực sự trí tuệ, trong sạch,
vững mạnh, đủ năng lực tổ chức, lãnh đạo; đoàn kết vững chắc làm gương cho nhân
dân. Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng phải đáp ứng nhu cầu, nguyện
vọng, lợi ích của nhân dân và yêu cầu của cách mạng. Đảng cần đổi mới phương
thức lãnh đạo đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính
trị - xã hội; cần có cơ chế, quy chế phối hợp công tác giữa các bộ phận cấu
thành hệ thống chính trị. Cán bộ, đảng viên phải thực sự là tấm gương của quần
chúng về phẩm chất, năng lực, trách nhiệm; thực sự là công bộc của nhân dân.
Phát huy sức mạnh toàn dân tộc là
trách nhiệm của Nhà nước. Vì Nhà nước là trụ cột của hệ thống chính trị, người
tổ chức thực hiện đường lối của Đảng. Cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nguyên tắc: tất cả quyền lực Nhà nước
thuộc về nhân dân; cán bộ, công chức phải thực sự là công bộc của nhân dân.
Đảng, Nhà nước phải thường xuyên đối thoại, lắng nghe, tiếp thu ý kiến, giải
quyết các khó khăn, vướng mắc của nhân dân.
Phát huy sức mạnh toàn dân tộc là
trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc. Là tổ chức liên minh chính trị, Mặt trận có
vai trò rất quan trọng trong việc củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn
dân, thắt chặt mối quan hệ giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước, góp phần tạo nên
sự đồng thuận cao trong xã hội, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, tích
cực tham gia xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh, gắn bó mật thiết
với nhân dân.
Giữ gìn và phát huy sức mạnh khối
đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, là trách nhiệm của mọi người
dân, của cả dân tộc.
Đại đoàn kết toàn dân tộc phải được thực hiện bằng nhiều biện pháp, hình
thức phù hợp, trong đó các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà
nước có ý nghĩa quan trọng hàng đầu.
Tùy từng lực lượng khác nhau trong xã hội mà có biện pháp, hình thức tập
hợp lực lượng khác nhau. Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo của mình thông qua
đường lối, chính sách và liên hệ mật thiết với nhân dân. Nhà nước không ngừng
đổi mới tổ chức, bộ máy, đẩy mạnh cải cách hành chính; chống quan liêu, tham
nhũng, lãng phí; xây dựng đội ngũ công chức liêm chính, tôn trọng dân, gắn bó
với nhân dân, phục vụ nhân dân..., đảm bảo mọi quyền lực thuộc về nhân dân. Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội là nơi tập hợp, quy
tụ, giáo dục nhân dân; đại diện cho lợi
ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân, cho trí tuệ, nguyện vọng của nhân dân.
Mặt trận và các đoàn thể phải không ngừng đổi mới tổ chức, nội dung, phương
thức hoạt động, lề lối, tác phong công tác để xây dựng và phát huy sức mạnh của
khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở liên minh giai cấp
Đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên
minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh
đạo của Đảng là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh,
động lực chủ yếu bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Quan điểm trên khẳng định sự nhất quán trong quan điểm của Đảng về vấn
đề xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đoàn kết dân tộc là đường lối chiến lược, là mục tiêu
và động lực của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới.
Đại hội XI tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố có ý
nghĩa quyết định thắng lợi của cách mạng và sự nghiệp đổi mới ở nước ta. Đồng
thời, phản ánh nhận thức mới của Đảng ta về vị trí, vai trò của các giai tầng
trong xã hội, nhất là của tầng lớp trí thức. Trong cương lĩnh 1991, lần đầu
tiên Đảng ta nêu lên khái niệm mới về khối liên minh công - nông - trí làm nền
tảng cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là nhận thức mới của Đảng ta về vị
trí, vai trò, của các giai tầng trong xã hội, nhất là tầng lớp trí thức trong
điều kiện cách mạng khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ và kinh tế tri
thức có vai trò ngày càng quan trọng trong quá trình phát triển lực lượng sản
xuất.
Khẳng định nguồn sức mạnh và động lực to lớn nhất của đại đoàn kết toàn
dân tộc trong tiến trình của cách mạng, nhất là trong giai đoạn hiện nay. Theo
đó, so với các động lực khác (vấn đề lợi ích và dân chủ xã hội...), đại đoàn
kết toàn dân tộc là động lực tổng hợp và là động lực to lớn nhất. Chính vì vậy, Văn kiện Đại hội XI của Đảng có nêu lên 5
bài học lớn, trong có bài học: “không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn
kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đó là
truyền thống quý báu và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta”. Đại
hội XIII của Đảng xác định: “Mọi hoạt
động của hệ thống chính trị, của cán bộ đảng viên, công chức, viên chức phải
phục vụ lợi ích của nhân dân. Giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích trong xã
hội; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; không ngừng
nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân”.
Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc theo tinh thần đại hội XIII của Đảng
Đại hội XIII của Đảng nêu lên quan điểm chung là:
“Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý
chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển
đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng
hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng
sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút,
trọng dụng nhân tài, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và
công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư,
tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững”
Một số bài học kinh nghiệm rút ra trong xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực
Một là, trong quá trình đổi mới phải chủ động, không
ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã
hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân
loại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam.
Hai là, đổi mới phải luôn luôn quán triệt quan điểm
"dân là gốc", vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai
trò làm chủ, tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của nhân dân;
phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Ba là, đổi mới phải toàn diện, đồng bộ, có bước đi
phù hợp; tôn trọng quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực
tiễn, coi trọng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, tập trung giải quyết
kịp thời, hiệu quả những vấn đề do thực tiễn đặt ra.
Bốn là, phải đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trên
hết; kiên định độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động và tích cực hội nhập quốc tế
trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi; kết hợp phát huy sức mạnh dân tộc với sức
mạnh thời đại để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa.
Năm là, phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn,
nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ,
nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực và phẩm chất, ngang tầm
nhiệm vụ; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc,
các tổ chức chính trị - xã hội và của cả hệ thống chính trị; tăng cường mối
quan hệ mật thiết với nhân dân.
BẢN SẮC VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG HÙNG VƯƠNG
Đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh tỉnh Phú Thọ
là trung tâm phát khởi của Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương. Lễ hội Đền Hùng và
Giỗ Tổ Hùng Vương được tổ chức hàng năm khoảng một tuần vào đầu tháng 3 Âm lịch
Sự ra đời và tồn tại lâu dài của Đền Hùng
và lễ hội Đền Hùng cùng Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là sự khẳng định niềm
tin vào bản sắc truyền thống văn hóa đối với các thế hệ cha ông đi trước, những
người đã đổ biết bao công sức và xương máu để dựng nước và giữ nước. Chính từ ý
nghĩa tâm linh thiêng liêng ấy mà Lễ hội Đền Hùng đã trường tồn với thời gian,
trường tồn cùng lịch sử dân tộc, đúng như câu ca dao được truyền tụng suốt nhiều
thế kỷ qua:“Dù ai đi ngược về xuôi/Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng mười tháng ba”. Vua
Hùng là vị Tổ dựng nước hay như nhân dân ta thường gọi là Quốc Tổ.
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương là di sản
văn hóa phi vật thể bao gồm các tập quán xã hội, nghi lễ và sự kiện lễ hội liên
quan đến Hùng Vương. Theo PGS, TS Đặng Văn Bài: “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương
không chỉ là đỉnh cao của sự thăng hoa tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt
từ xa xưa mà còn là biểu tượng văn hóa thiêng liêng của tình cảm yêu nước,
thương người, được phát triển, nâng cao thành chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa
nhân văn Việt Nam. Nét đẹp đạo đức và văn hóa đó đã kết tinh thành giá trị bền
vững trong văn hóa truyền thống của cả dân tộc”.
Giỗ Tổ Hùng Vương và Lễ hội Đền Hùng đã
hình thành từ rất sớm và sự tồn tại của nó luôn gắn chặt với quá trình phát triển
của lịch sử dân tộc. Với truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” và đạo lý “Ăn quả
nhớ người trồng cây”, các Vua Hùng, vợ con vua và các tướng lĩnh thời Hùng
Vương luôn được nhân dân các làng xã trên phạm vi cả nước tôn thờ.
Từ giữa thế kỷ XV đến cuối thế kỷ XVII, cả
nước có 73 làng xã thờ Vua Hùng. Hiện nay có 1417 di tích thờ Hùng Vương và các
nhân vật có liên quan đến thời đại Hùng Vương, phân bổ ở hầu hết các tỉnh
thành trong cả nước. Riêng tỉnh Phú Thọ
có 345 di tích thờ Vua Hùng và các nhân vật, vị thần, những người có công với
nước thời đại Hùng Vương.
Thời Lê (thế kỷ XV – XVII) lễ Giỗ Tổ Hùng
Vương diễn ra trong ba ngày (từ mùng 9 đến 11 tháng 3 Âm lịch). Diễn trường của
lễ hội bao gồm từ đình làng Cổ Tích đến
núi Hùng. Vua Lê Hiển Tông (1715 – 1786) khi về thắp hương tưởng niệm các Vua
Hùng đã có thơ đề vịnh tại Đền Hùng: “Quốc tịch Văn Lang cổ/Vương thư Việt sử
tiên/Hiển thừa thập bát đại/Hình thắng nhất tam xuyên/Cựu trưng cao phong
bán/Sùng từ tuấn lĩnh biên/Phương dân ngung trắc dáng/Hương hỏa đáo kim truyền”.
Thế kỷ thứ XVII – XVIII do sự phát triển của
dân địa phương các làng mới lập là làng Vi, làng Trẹo vốn gốc từ dân làng Cổ
Tích, theo truyền thống văn hóa tín ngưỡng cùng làm lễ mở cửa đền vào ngày 10-3
(Âm lịch) hàng năm, lễ hội đã mở rộng trong cả một vùng rộng lớn với nhiều làng
xã tham gia. Lễ hội Đền Hùng lúc đầu chỉ ở một làng, một vài làng rồi lan ra một
vùng và lan rộng trong toàn quốc trở thành nghi lễ mang tính quốc gia.
Đây cũng là điểm độc đáo, khác biệt của
văn hóa tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Việt Nam với tục thờ cúng tổ tiên ở
các nước khác như Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc… Giỗ Tổ ở các nước trên là sự
độc quyền của Hoàng tộc, giới thượng lưu và giới tăng lữ, nếu của dân chúng thì
chỉ tiến hành trong phạm vi một địa phương, còn Giỗ Tổ ở Việt Nam là của toàn
dân tộc.
Thời kỳ nhà Nguyễn, theo lệ cứ 5 năm (vào
những năm chẵn 5, chẵn 10), nhà nước đứng ra tổ chức lễ hội Giỗ Tổ, những năm lẻ
do địa phương đăng cai tổ chức. Diễn trường trung tâm của lễ hội là núi Hùng và
xung quanh chân núi Hùng. Tới năm 1917, quan tuần phủ Phú Thọ Lê Trung Ngọc
trình Bộ lễ ấn định ngày Quốc lễ vào ngày mùng 10 tháng 3 (Âm lịch, trước ngày
húy của Vua Hùng một ngày, ngày 11 tháng 3) để dân sở tại làm lễ. Thời gian tổ
chức lễ hội thường bắt đầu từ ngày mùng 8 đến ngày mùng 10 tháng 3 (Âm lịch).
Tiết trời tháng 3 mùa xuân, thời tiết rất
đẹp, trước hội bao giờ cũng có những trận mưa rào đầu hạ có ý nghĩa như là
“tráng đền”, rửa sạch đền trước khi vào hội. Những trận mưa ấy có tác dụng làm
cho cây rừng Đền Hùng đã xanh lại càng xanh hơn, không khí trong lành, mát mẻ,
dễ chịu khiến du khách đi dự lễ hội cảm thấy mình được trở về thuở hoang sơ mở
nước.
Các thủ tục hành lễ được tuân theo quy định
rất chặt chẽ. Phần lễ được diễn ra trang nghiêm, trọng thể tại các đền và chùa
Thiên Quang trên núi Nghĩa Lĩnh. Phần hội được tổ chức trong một không gian rộng
khoảng vài km2 với nhiều trò chơi dân gian phong phú và hấp dẫn, tạo ra cho lễ
hội không khí tấp nập, náo nhiệt. Vào ngày Giỗ Tổ, “những người dân ở các làng
xung quanh trong trang phục lộng lẫy thi kiệu, thi làm lễ vật, chọn ra chiếc kiệu
đẹp nhất và lễ vật ngon nhất cùng chiêng, trống, nghi trượng rước lên đền Hùng
để thờ cúng Ngài. Cộng đồng làm lễ vật là những đặc sản từ gạo như bánh chưng,
bánh giầy, và diễn xướng dân gian như đánh trống đồng, hát xoan, cầu cúng. Việc
thờ vọng Hùng Vương ở các nơi thờ tự trong nước suốt năm”
Còn các kiệu của các làng xã khác đoạt giải
thấp hơn thì rước xung quanh để mọi người chiêm ngưỡng và tạo không khí trang
nghiêm cho lễ hội. Ngoài ra, nhiều trò diễn, các trò chơi dân gian như: Đánh trống
đồng, hát Xoan, hát Ghẹo, đâm đuống, rước lúa thần, đấu vật, chọi gà, kéo lửa
thổi cơm thi, đánh cờ người… khiến cho không khí ngày hội thêm tưng bừng, phấn
khởi. Bên cạnh đó, những hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao hiện đại cũng được
tổ chức để phục vụ đồng bào cả nước về dự lễ hội, tạo nên màu sắc của lễ hội
càng thêm vui tươi, rực rỡ.
Hằng năm, đồng bào ta trên mọi miền Tổ quốc
và kiều bào ta ở nước ngoài, hàng chục triệu người hội tụ về Đền Hùng trên núi
Nghĩa Lĩnh thuộc thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ “để tưởng nhớ tổ tiên và cầu
mong mưa thuận, gió hòa, mùa màng bội thu, cầu may mắn, sức khỏe”.
Hai năm qua do đại dịch Covid -19, để đảm
bảo an toàn cho nhân dân, tỉnh Phú Thọ chỉ tổ chức phần lễ, không tổ chức phần
hội nên hạn chế nhiều số người về dự lễ hội Đền Hùng.
Cùng với giá trị lịch sử, lòng yêu nước,
giá trị văn hóa tâm linh…, “Truyền thống tôn thờ Hùng Vương là dịp để hiểu biết
về cội nguồn dân tộc, giá trị đạo đức và bản sắc văn hóa Việt Nam… đây là một
thực hành thể hiện lòng tri ân tổ tiên nhằm nâng cao niềm tự hào và cố kết xã hội”
Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương có vị trí
quan trọng trong đời sống tinh thần của người Việt. Với những giá trị đặc trưng
và lớn lao, ngày 6-12-2012, “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ” đã được
UNESCO vinh danh là “Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại”.
NHIỆM VỤ CỦA ĐẢNG VIÊN TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn chú trọng công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, coi đây là một bộ phận quan trọng trong công tác tư tưởng, lý luận của Đảng, một nội dung cốt lõi của công tác xây dựng Đảng.
Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị xác định rõ: “Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng là một nội dung cơ bản, sống còn của công tác xây dựng Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng tuyên giáo các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị-xã hội các cấp; của từng địa phương, cơ quan, đơn vị và của từng cán bộ, đảng viên”.
Thực tế thời gian qua cho thấy liên tục xuất hiện một số cá nhân đăng tải, chia sẻ, bình luận trên mạng xã hội những thông tin phiến diện, thiếu chính xác, chưa được kiểm chứng hoặc thông tin về những vụ việc đang trong quá trình điều tra, chưa có kết luận chính thức… dẫn đến tâm lý hoang mang, phản ứng trái chiều trong dư luận xã hội, tạo cơ hội cho các thế lực thù địch và các đối tượng phản động, cực đoan chính trị tuyên truyền xuyên tạc, chống phá gây mất ổn định chính trị, kinh tế, xã hội. Các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đang sử dụng không gian mạng để chống phá trực diện khuếch trương thanh thế, cổ súy “giá trị” văn hóa phương Tây. Chúng lập những tài khoản, website giả mạo các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, lãnh đạo bộ, ngành, địa phương, những người có uy tín, nhân vật nổi tiếng… để tung tin gieo rắc hoài nghi trong xã hội, nhất là trước những vấn đề nhạy cảm, kích động, lôi kéo người dân tụ tập trái phép, biểu tình, phá rối an ninh trật tự và có các hành vi phạm pháp.
Theo Bộ Thông tin-Truyền thông, từ đầu năm 2020 đến nay, qua rà quét, giám sát, Bộ đã gỡ bỏ gần 400 trang giả mạo tên các đồng chí Trung ương, 4.500 tin bài xấu độc trên Facebook và 30.000 video xấu độc trên Youtube.
Trung tâm giám sát xử lý an toàn thông tin mạng quốc gia có thể rà soát, phân tích, xử lý khoảng 300 triệu tin giả, tin xấu độc mỗi ngày; tỷ lệ tháo gỡ các video xấu, độc trên kênh Youtube hiện nay đã lên đến 90%; mỗi tháng gỡ bỏ hàng ngàn video xấu độc.
Năm 2020 Sở Thông tin - Truyền thông tỉnh Thanh Hóa đã phối hợp tham mưu phát hiện, ngăn chặn và xử lý một số vụ việc lợi dụng danh nghĩa báo chí để trục lợi và vi phạm pháp luật trong hoạt động báo chí; xử lý nhiều cá nhân đăng tải thông tin sai sự thật trên mạng xã hội; rà soát và phối hợp với các đơn vị của Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện gỡ bỏ nhiều video xấu độc trên mạng xã hội.
Để phòng ngừa, ngăn chặn hiệu quả tác động từ thông tin xấu, độc trên mạng xã hội, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên cần:
1. Nhận thức đầy đủ, sâu sắc những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, coi đó là nền tảng tinh thần của xã hội; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Tiếp tục thực hiện nghiêm các Nghị quyết TW 4 khoá (XI, XII), Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị gắn với các quy định về nêu gương của cán bộ, đảng viên; tự giác tu dưỡng rèn luyện nâng cao trình độ chính trị, trau dồi đạo đức cách mạng.
2. Tích cực đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng, cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; đồng thời luôn tỉnh táo, cảnh giác, chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả mọi âm mưu, thủ đoạn, hành động chống phá của các thế lực thù địch, những phần tử cơ hội chính trị, những phần tử bất mãn. Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ; tỉnh táo, cân nhắc kỹ lưỡng trước khi phát ngôn, chia sẻ nhận định, đánh giá về vấn đề, sự kiện, hiện tượng nào đó.
3. Chú trọng nâng cao ý thức tự giác, kỷ luật trong khi tiếp xúc thông tin; nắm vững và chấp hành tốt các quy định về quyền thông tin, phạm vi thông tin theo quy định của Hiến pháp, Luật Tiếp cận thông tin và Luật An ninh mạng. Khi tham gia mạng xã hội cần nghiêm túc thực hiện điều lệ và quy định kỷ luật của Ðảng, của tổ chức mà mình là thành viên, đồng thời thể hiện là công dân gương mẫu.
4. Nhiệm vụ của mỗi cán bộ, đảng viên trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng còn xuất phát từ những hành động cụ thể gắn với công việc, cuộc sống hằng ngày; không xa hoa, lãng phí, không gây mất đoàn kết nội bộ. Tăng cường đăng tải những thông tin chính thống, lan tỏa những thông điệp tốt đẹp mỗi ngày, đồng thời phản biện lại những thông tin sai trái, phiến diện của các thế lực thù địch trên không gian mạng./.
1. Cơ sở lý luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Ngày 22/10/2018, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Nghị quyết nêu rõ: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”(1). Đó là nội dung cơ bản, hệ trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng tuyên giáo các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu. Do đó, cần nhận diện rõ nền tảng tư tưởng của Đảng ta đã được quy định trong Điều lệ Đảng: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn của đất nước để đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân”. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu rõ: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản”.
Cùng với đó, cần phải nhận diện chính xác những nhóm đối tượng đang ra sức chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay, đó là:
Một là, nhóm đối lập về hệ tư tưởng. Đảng ta là hệ tư tưởng vô sản thì những người theo hệ tư tưởng tư sản, kể cả tàn dư phong kiến sẽ quyết liệt chống lại chúng ta.
Hai là, các thế lực thù địch về chính trị luôn chống lại chế độ XHCN của chúng ta, với mục đích làm con đường phát triển đất nước của Đảng chệch hướng, thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam.
Ba là, những người vốn là đảng viên cộng sản nhưng không chịu rèn luyện, tu dưỡng, học tập, nâng cao tư tưởng, đạo đức cách mạng dẫn tới tha hóa về tư tưởng chính trị, xa rời chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thậm chí là phai nhạt lý tưởng, “tự chuyển hóa, tự diễn biến” trong nội bộ.
Nhận diện các nhóm đối tượng nêu trên cho thấy, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng dù rất khó khăn, phức tạp và lâu dài, nhưng khó khăn và phức tạp đến đâu cũng phải làm để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Các thế lực thù địch bao gồm cả những người nghiên cứu lý luận, thực tiễn ở các nước trên thế giới trong cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa CNXH và chủ nghĩa tư bản. Ngay ở các nước tư bản phát triển, những nhà hoạt động chính trị thuộc giới cầm quyền có tư tưởng tư bản theo kiểu truyền thống và các nhà hoạt động chính trị thuộc giới cầm quyền có tư tưởng XHCN cũng đấu tranh lẫn nhau. Các lực lượng cực đoan người Việt ở nước ngoài luôn lôi kéo, kết hợp với những đối tượng chống đối, bất mãn ở trong nước lập ra các tổ chức để chống phá cách mạng nước ta. Một số cán bộ, đảng viên (trong đó có cả những đảng viên đã từng giữ chức vụ cao trong hệ thống chính trị) suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Nhóm người này không khó để nhận ra, nhưng lại rất khó đấu tranh. Đây là những người phản bội lại lý tưởng cộng sản và nguyên nhân của sự phản bội đó đôi khi lại bắt nguồn từ sự bất mãn, không đồng ý một số vấn đề cụ thể trong chính sách, ứng xử của những cơ quan, đơn vị nơi người đó công tác(2).
2. Sự phá hoại của các thế lực thù địch, phản động và nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
2.1. Sự phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng của các thế lực thù địch, phản động
Sau nhiều thập kỷ thực hiện chính sách thù địch, chống phá không đạt hiệu quả, các thế lực phản động ở trong nước và nước ngoài đang thay đổi phương thức hoạt động. Tuy nhiên, mục tiêu của họ vẫn không thay đổi là nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, “phi chính trị hóa”, vô hiệu hóa quân đội, tiến tới xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam. Họ tấn công, phủ định, xuyên tạc học thuyết Mác - Lênin, đưa ra các luận điệu cổ vũ cho bạo lực, chiến tranh; phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò và thành tựu lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngoài ra, họ còn bôi xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước với nhiều thủ đoạn tinh vi; chống phá chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước.
Phương thức chống phá của họ chủ yếu là sử dụng phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là xuất bản báo chí ở nước ngoài, sản xuất băng, đĩa hình chuyển về trong nước; tài trợ cho một số cơ quan báo chí nước ngoài chuyên chống phá Việt Nam… Họ sử dụng internet và truyền thông xã hội để chống phá; lợi dụng những hạn chế trong quản lý nhà nước để kích động biểu tình trái phép và xuyên tạc đường lối; tổ chức các hội thảo đòi xem xét lại các vấn đề liên quan đến lịch sử… Cách làm của họ âm thầm và lâu dài nhưng tác hại thực sự rất khó lường. Ngang ngược hơn, họ còn đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013, đòi đa đảng; phá bỏ nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ; vu cáo Đảng chiếm quyền của dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền, “độc đoán, đảng trị”; đối lập Đảng với Nhà nước và đối lập Đảng, Nhà nước với nhân dân...
Bên cạnh đó, các thế lực thù địch còn lôi kéo, kích động một bộ phận người dân và cả một số cán bộ hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo vào các mục đích sai trái, bất hợp pháp, gây ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội... Đây cũng là những vấn đề cần được nhận diện đầy đủ để có biện pháp, phương hướng xử lý, đấu tranh phù hợp, hiệu quả(3).
2.2. Thực trạng công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng
Trong những năm qua, công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần ngăn chặn và đẩy lùi các âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, củng cố và tăng cường niềm của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế như: chưa đa dạng hóa các hình thức thông tin, chất lượng thông tin chưa hoàn toàn đáp ứng nhu cầu của người dân; chưa tích cực, chủ động đấu tranh phản bác các thông tin, quan điểm sai trái, thù địch; chưa phát huy vai trò giám sát, phản biện của các cơ quan báo chí, đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội...
Chưa hoàn toàn chủ động định hướng, cung cấp kịp thời để làm chủ thông tin, lấy thông tin tích cực, chính thống đấu tranh chống lại các thông tin sai trái, bịa đặt, vu cáo, phản động trên mạng xã hội, internet. Việc khai thác, phát triển những tiện ích, lợi thế của thông tin điện tử, mạng xã hội… còn hạn chế. Việc giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại chưa được quan tâm đúng mức; chưa làm tốt việc dự báo, định hướng để góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Công tác tuyên truyền, quảng bá hình ảnh Việt Nam ổn định và phát triển, nâng cao uy tín, vị thế và ảnh hưởng của Việt Nam ở khu vực và trên trường quốc tế còn hạn chế. Việc kết hợp đưa thông tin ra nước ngoài và thông tin chính thống từ thế giới vào Việt Nam chưa chặt chẽ, hiệu quả; do đó chưa hạn chế được nhiều tác động tiêu cực của những thông tin, luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực cơ hội, thù địch.
Chưa phát triển nhanh, mạnh, vững chắc với cơ cấu, quy mô hợp lý các loại hình thông tin theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, chất lượng, hiệu quả, phù hợp xu thế phát triển khoa học và công nghệ, thông tin, truyền thông thế giới, đáp ứng quyền tiếp cận thông tin của nhân dân, phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, ngang tầm khu vực và thế giới… Vẫn còn tình trạng thông tin thiếu cân đối, chưa đảm bảo sự đồng đều về phân bố và khoảng cách hưởng thụ thông tin của nhân dân giữa các vùng, miền(4).
3. Giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới
Một là, tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội; xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng; đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục đối với các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, nhằm nâng cao tinh thần, trách nhiệm, khả năng chủ động đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch.
Hai là, tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta trong tình hình mới. Hệ thống hóa, phổ biến những thành tựu lý luận mà Đảng ta đã đạt được trên cơ sở vận dụng đúng đắn, sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới. Tiếp tục khẳng định bản chất và mô hình của thể chế chính trị và bộ máy nhà nước đã được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013. Đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch theo hướng chủ động, có tính thuyết phục cao, hấp dẫn. Khẩn trương thực hiện nghiêm quy hoạch báo chí đã được phê duyệt. Chủ động tăng cường thông tin tích cực đi đôi với ngăn chặn có hiệu quả, xử lý, xóa bỏ thông tin xấu, độc trên internet, mạng xã hội.
Ba là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh, Điều lệ Đảng. Siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong Đảng. Các cấp ủy và tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn; nghiêm cấm để lộ bí mật của Đảng, Nhà nước, lan truyền những thông tin sai lệch hoặc tán phát những đơn thư có nội dung xấu, xuyên tạc, vu khống, kích động. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý và sử dụng internet, mạng xã hội. Trong đó, chú trọng xây dựng, hoàn thiện pháp luật và có các giải pháp kỹ thuật phù hợp với sự phát triển nhanh của internet, mạng xã hội. Phát huy trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, trước hết là người đứng đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch(5),...
Bốn là, tập trung đổi mới nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng; hệ thống hoá, phổ biến các thành tựu lý luận trong thời gian qua; nâng cao chất lượng nghiên cứu, học tập nghị quyết để vận dụng vào thực tiễn; đổi mới nội dung, phương thức nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước(6); phát huy vai trò của báo chí trong việc tuyên truyền chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; xử lý nghiêm khắc, đúng pháp luật đối với đảng viên, cán bộ vi phạm các quy định, Điều lệ Đảng... Bên cạnh “chống”, cần tăng cường biện pháp “xây”, thực hiện tốt công tác xây dựng Đảng ở cơ sở; giải quyết có hiệu quả khiếu nại, tố cáo; tổ chức thực hiện tốt các nghị quyết của Đảng. Các địa phương sớm kiện toàn tổ chức tuyên giáo, xây dựng đội ngũ cán bộ sẵn sàng “phản ứng nhanh” với những thông tin sai trái, thù địch trên không gian mạng. Tích cực, chủ động cung cấp những thông tin chính thống để định hướng dư luận về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước...
Năm là, Ban Tuyên giáo các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên cần đẩy mạnh tuyên truyền Chỉ thị số 35-CT/TW của Bộ Chính trị về Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII của Đảng. Tuyên truyền sâu rộng chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Bên cạnh đó, cần đánh giá lại “tâm lý” xã hội hiện nay, trong đó phải phân tích sâu đến từng giai tầng xã hội để đánh giá đúng thực trạng nhận thức, nhu cầu, nguyện vọng của các đối tượng, từ đó có cách thức tổ chức đấu tranh cho phù hợp, đạt hiệu quả cao(7)./.
"Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân...”
“Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.
Đó là lời khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam nhân kỷ niệm lần thứ 20 Ngày thành lập (22-12-1944 / 22-12-1964) và đó cũng chính là truyền thống vẻ vang của Quân đội ta, là chuẩn mực của Bộ đội Cụ Hồ.
QĐND Việt Nam được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp tổ chức, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện, luôn vững vàng trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, hy sinh phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xứng đáng với vai trò là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị đặc biệt tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.
Trung với Đảng, trung với nước, hiếu với dân trở thành phẩm chất hàng đầu của người cách mạng và mỗi quân nhân trong QĐND Việt Nam. Phẩm chất đó là cơ sở vững chắc của sức mạnh đoàn kết, thống nhất về tư tưởng và hành động; là động lực mạnh mẽ thúc đẩy cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn nêu cao ý chí quyết tâm, huy động mọi sức lực và trí tuệ, phấn đấu vươn lên hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Trung với Đảng, trung với nước của Quân đội ta trước hết thể hiện ở sự tuyệt đối phục tùng sự lãnh đạo của Đảng, quản lý, điều hành của Nhà nước, là trung thành với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước. Hiếu với dân là phải gắn bó với nhân dân, gần gũi nhân dân, dựa vào dân, nắm vững dân tình, dân tâm, dân trí, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, để dân tin, dân yêu, dân giúp đỡ, bao bọc chở che.
Trong suốt hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, cùng với toàn dân tộc kinh qua các cuộc trường chinh kháng chiến, QĐND Việt Nam luôn kiên cường, bất khuất dù phải đối mặt với đế quốc, thực dân hung bạo, với niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng, thắng lợi của sự nghiệp cách mạng, với tinh thần tự tôn dân tộc. Tinh thần bất khuất, kiên trung, tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân đã được lớp lớp cán bộ, chiến sĩ kế thừa, phát huy, làm cho bản chất và truyền thống cách mạng của Quân đội ta càng thêm sâu sắc, phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ ngày càng tỏa sáng. Đó là cội nguồn tạo nên sức mạnh thần kỳ, giúp Quân đội ta vượt qua mọi khó khăn, thử thách, từng bước tiến lên chính quy, hiện đại, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong bài “Đạo đức cách mạng” đăng trên Tạp chí Học tập số 12 (tháng 12-1958), khẳng định: “Đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào, người đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết”. Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, xuất hiện tương đối sớm và có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội. Hồ Chí Minh là người bàn nhiều về đạo đức, nhất là đạo đức cách mạng; theo Bác, đạo đức không chỉ là “gốc”, là nền tảng, là sức mạnh và nhân tố chủ chốt của người cách mạng, mà còn là thước đo lòng cao thượng của con người, là gốc của cây, ngọn nguồn của sông nước. Đối với người đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, thì điều đầu tiên và vô luận trong mọi hoàn cảnh phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết. Ở đây chính là việc đảng viên thực hiện trọn vẹn lời hứa tại lễ kết nạp đảng viên và giải quyết tốt 3 mối quan hệ cơ bản của mỗi con người (với mình, với người và với việc). Người đảng viên có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại... cũng không rụt rè lùi bước, khi gặp thuận lợi và thành công vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, khiêm tốn, chất phác, không công thần, địa vị, kèn cựa hưởng thụ, thật sự trở thành người “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Người đảng viên thật sự có đức thì bao giờ cũng luôn cố gắng học tập, nâng cao trình độ, rèn luyện năng lực để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, lớp lớp cán bộ, đảng viên trong quân đội luôn không ngừng phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện, trở thành hạt nhân lãnh đạo, trung tâm đoàn kết và là tấm gương sáng về tinh thần sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì CNXH, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua; thuyết phục, chinh phục cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền bằng chính đạo đức cách mạng, năng lực, trách nhiệm, tinh thần chịu đựng, vượt qua khó khăn, gian khổ, tận tâm, tận lực, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trong giai đoạn hiện nay, để xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, giữ vững và không ngừng phát huy tốt phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với việc xây dựng, rèn luyện và phát huy tính tiền phong gương mẫu, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội; nhất là đối với đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp.
“Chúng ta toàn dân, giáo cũng như lương, đoàn kết kháng chiến để Tổ quốc được độc lập, tôn giáo được tự do”. Đó là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thư gửi đồng bào công giáo nhân dịp Lễ Noel năm 1947.
Đây là thời điểm diễn ra Chiến dịch Việt Bắc Thu-Đông năm 1947, thực dân Pháp tiến hành kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh”, mở cuộc hành quân Xanh-tuya càn quét vùng tứ giác Tuyên Quang - Thái Nguyên - Phủ Lạng Thương - Việt Trì, nhằm tiêu diệt đầu não kháng chiến của Việt Minh, để hoàn tất việc tái chiếm Đông Dương. Nhưng chúng đã bị các lực lượng của ta, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh bại, buộc Pháp phải rơi vào bẫy “đánh lâu, thắng lâu”, kéo căng lực lượng do Việt Minh đã giăng sẵn và cuối cùng là thất bại hoàn toàn vào ngày 7-5-1954 tại Điện Biên Phủ.
Dù ở nơi chiến khu rừng núi xa xôi, đường sá cách trở, dù phải đối mặt với bao hiểm nguy của cuộc càn quét, tấn công tổng lực của thực dân Pháp, dù bận trăm công nghìn việc của Chính phủ lâm thời... nhưng trước sự kiện trong đại của đồng bào công giáo, Hồ Chí Minh vẫn dành thời gian để viết thư chúc mừng và động viên. Trong thư, Bác Hồ đã nhắn nhủ đồng bào ta, dù giáo cũng như lương phải đoàn kết để kháng chiến chống lại thực dân xâm lược, bảo vệ độc lập của Tổ quốc và tự do cho các tôn giáo.
Đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo là một nội dung quan trọng, nhất quán trong các văn kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nước ta; là truyền thống tốt đẹp ngàn đời của dân tộc ta. Đã là người Việt Nam, dù theo tôn giáo, tín ngưỡng hay không theo tôn giáo, tín ngưỡng nào cũng có chung một dân tộc, đều là con cháu của dòng dõi Lạc Hồng.
Thực hiện chức năng đội quân công tác, các đơn vị quân đội luôn quán triệt sâu sắc và tích cực vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo; sống tốt đời, đẹp đạo, đồng hành cùng dân tộc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Kiên quyết đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch xuyên tạc, chống phá đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về tôn giáo, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết lương, giáo và truyền bá các tà đạo trái phép; giữ vững và tăng cường mối quan hệ đoàn kết, gắn bó máu thịt quân-dân.
“... phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết”
Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong bài “Đạo đức cách mạng” đăng trên Tạp chí Học tập số 12 (tháng 12-1958), khẳng định: “Đạo đức cách mạng là vô luận trong hoàn cảnh nào, người đảng viên cũng phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết”.
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, xuất hiện tương đối sớm và có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội. Hồ Chí Minh là người bàn nhiều về đạo đức, nhất là đạo đức cách mạng; theo Bác, đạo đức không chỉ là “gốc”, là nền tảng, là sức mạnh và nhân tố chủ chốt của người cách mạng, mà còn là thước đo lòng cao thượng của con người, là gốc của cây, ngọn nguồn của sông nước. Đối với người đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, thì điều đầu tiên và vô luận trong mọi hoàn cảnh phải đặt lợi ích của Đảng lên trên hết, trước hết. Ở đây chính là việc đảng viên thực hiện trọn vẹn lời hứa tại lễ kết nạp đảng viên và giải quyết tốt 3 mối quan hệ cơ bản của mỗi con người (với mình, với người và với việc).
Người đảng viên có đạo đức cách mạng thì khi gặp khó khăn, gian khổ, thất bại... cũng không rụt rè lùi bước, khi gặp thuận lợi và thành công vẫn giữ vững tinh thần gian khổ, khiêm tốn, chất phác, không công thần, địa vị, kèn cựa hưởng thụ, thật sự trở thành người “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”. Người đảng viên thật sự có đức thì bao giờ cũng luôn cố gắng học tập, nâng cao trình độ, rèn luyện năng lực để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.
Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, lớp lớp cán bộ, đảng viên trong quân đội luôn không ngừng phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện, trở thành hạt nhân lãnh đạo, trung tâm đoàn kết và là tấm gương sáng về tinh thần sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì CNXH, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua; thuyết phục, chinh phục cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền bằng chính đạo đức cách mạng, năng lực, trách nhiệm, tinh thần chịu đựng, vượt qua khó khăn, gian khổ, tận tâm, tận lực, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Trong giai đoạn hiện nay, để xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, giữ vững và không ngừng phát huy tốt phẩm chất cao đẹp Bộ đội Cụ Hồ đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với việc xây dựng, rèn luyện và phát huy tính tiền phong gương mẫu, năng lực của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội; nhất là đối với đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp.







